Qua bài viết của tác giả Thúy Anh Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng thấy nội dung bài viết của tác giả không đúng với sự thật nội dung vụ việc, thông tin nghe và viết từ một phía, không đi s
Trang 1TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGJHĨA VIỆT NAM HUYỆN BÙ ĐĂNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Số: 03/2007/ CV - TA Bù Đăng, ngày 24 tháng 4 năm 2007
Kính gửi : Hội đồng nhân dân huyện Bù Đăng
Qua bài báo “Điều bất thường trong một bản án dân sự sơ thẩm của TAND huyện Bù Đăng” đăng trên báo Bình Phước số 1153, thứ 6 ngày 20/ 4/ 2007 của tác giả Thúy Anh
Qua bài viết của tác giả Thúy Anh Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng thấy nội dung bài viết của tác giả không đúng với sự thật nội dung vụ việc, thông tin nghe và viết từ một phía, không đi sâu tìm hiểu về nội dung vụ án, viết bài một cách phiến diện bởi các vấn đề sau đây:
1/ Về ngày thụ lý: chị Minh viết đơn khởi kiện vào ngày 01/ 04/ 2002, Toà án huyện Bù Đăng nhận đơn và thụ lý lần đầu tiên vào ngày 25/ 07/ 2002, xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp ly hôn” nhưng trong quá trình điều tra vụ án có người liên quan là anh Tuấn đang cư trú tại Malayxia nên Toà án nhân dân huyện Bù Đăng ra quyết định chuyển vụ án đến Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước giải quyết theo thẩm quyền đồng thời xoá sổ thụ lý theo quy định Sau đó ngày 09/ 02/ 2004 TAND tỉnh Bình Phước chuyển hồ sơ vụ án lại cho TAND huyện Bù Đăng (vì các đương sự đã thoả thuận và tách được phần tranh chấp có liên quan đến anh Tuấn), nên TAND huyện Bù Đăng tiếp tục nhận hồ
sơ và thụ lý mới Số 07/HNGD – ST ngày 12/ 02/ 2004 theo quy định
Vấn đề đặt ra là có hai mốc thời gian thụ lý mà theo Nghị quyết số 35 của Quốc hội quy định hai quan hệ pháp luật khác nhau
TAND huyện Bù Đăng xác định QHPL theo ngày thụ lý là ngày 25/ 07/ 2002 vì thời điểm đó đương sự khởi kiện và nộp tiền tạm ứng án phí, do đó chị Minh đã thực hiện xong nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại khoản 2 điều 37 Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự (trường hợp này là do chuyển vụ án, không phải do đương sự rút đơn khởi kiện và thời điểm thụ lý sau là ngày 12/ 02/ 2004 đương sự không thay đổi gì về nội dung khởi kiện)
* Căn cứ điều 47 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,
vụ án không vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, vì đây là vụ án phức tạp thời hạn giải quyết là 08 tháng ( thụ lý ngày 12/ 02/ 2004, giải quyết ngày 27/ 09/ 2004)
Trang 22/ Về nội dung vụ án: Về mặt tình cảm các đương sự đều yêu cầu được
ly hôn, về tài sản các đương sự thừa nhận có sự thỏa thuận và phân chia tài sản, tại Tòa án chị Minh không đồng ý việc thỏa thuận trên và yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung giữa anh, chị, do vậy Tòa án Bù Đăng phải xem xét đến tính hợp pháp của việc thỏa thuận đó Tòa án Bù Đăng đã xem xét giải quyết như sau
a.Về tình cảm:
Trường hợp của anh Lực, chị Minh căn cứ điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/ QH của quốc Hội, điểm a mục 2 Thông tư liên tịch số 01/ 2001 hướng dẫn, khoản 1 điều 85 Luật HNGĐ năm 2000, quan hệ giửa anh chị được Tòa án giải quyết việc ly hôn
b.Về tài sản
Tổng diện tích đất tranh chấp là 23.225m2 , tại biên bản lời khai và biên bản hòa giải anh Lực đều thừa nhận là tài sản chung của vợ chồng anh Các đương sự có thừa nhận trong tổng số diện tích đất trên anh Lực có khai phá trước khoảng 0,8 ha Tại Tòa án anh Lực đã đồng ý nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng Do vậy Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xác định diện tích đất 23.225m2 là tài sản chung của anh Lực, chị Minh nên cần xem xét để chia
Về cách giải quyết phía chị Minh yêu cầu chia đôi tài sản, phía anh Lực yêu cầu giử nguyên như đã thỏa thuận Vì vậy HĐXX căn cứ vào Bộ luật dân sự, Luật đất đai, Nghị định 75/CP về công chứng, chứng thực xác định đối tượng thoả thuận chia là quyền sử dụng đất, là loại tài sản đặc biệt khi chuyển quyền sử dụng cần theo trình tự luật định Đối chiếu vối bản thoả thuận chia tài sản giữa anh Lực và chị Minh mặc dù có rất nhiều người làm chứng nhưng không có xác nhận của UBND cấp có thẩm quyền hoặc chứng thực tại phòng công chứng nhà nước, hợp đồng chưa đúng cả về nội dung và hình thức Do vậy HĐXX xác định bản thoả thuận chia tài sản giữa chị Minh và anh Lực không có giá trị pháp lý, cần xem xét chia theo quy định của pháp luật và Toà án đã chia tài sản như bản án số 15 ngày 27/09/2004 ( có bản án kèm theo)
Trên đây là ý kiến phản hồi của TAND huyện Bù Đăng
Lưu.
Lê Viết Phong