Trong 5 năm công tác, trực tiếp giảng dạy môn hoá học lớp 8, lớp 9 tôi thấy đa phần học sinh thường mắc lỗi, lúng túng nhiều khi viết CTHH của chất.. CTHH của đơn chất chỉ gồm kí hiệu ho
Trang 1RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT CÔNG THỨC HOÁ HỌC CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
I Lí do chọn đề tài
Hoá học là khoa học nghiên cứu các chất, sự biến đổi chất và ứng dụng của chúng
Để thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, CTHH được sử dụng để biểu thị thành phần nguyên tử của một chất đồng thời biểu diễn một cách ngắn gọn nhưng cụ thể các phản ứng hoá học xảy ra trong thực tế cuộc sống
Ngay từ bài 9 “ Công thức hoá học “ ( SGK lớp 8) học sinh bắt đầu có những khái niệm về CTHH và làm quen với kĩ năng viết CTHH của các chất Khi đánh giá trình độ học sinh về môn hoá học, giáo viên cần chú ý trước hết đến thói quen viết CTHH của học sinh mặc dù sự thành thạo trong khi viết CTHH không phải bao giờ cũng là chỉ tiêu để đánh giá vững chắc hoá học của học sinh, đồng thời giúp học sinh có được vốn kiến thức hoá học một cách toàn diện hơn, gây hứng thú cho học sinh khi học môn hóa học
Vì vậy trong suốt quá trình dạy học hoá học, giáo viên cần thường xuyên yêu cầu học sinh nắm kiến thức về công thức hoá học và có thói quen viết đúng các CTHH
Trong 5 năm công tác, trực tiếp giảng dạy môn hoá học lớp 8, lớp 9 tôi thấy đa phần học sinh thường mắc lỗi, lúng túng nhiều khi viết CTHH của chất Để khắc phục một số lỗi mà học sinh thường mắc phải cũng như đưa ra một số phương pháp rèn luyện kĩ năng viết CTHH của chất, chính là nội dung của SKKN này
II Mục đích ý nghĩa và cơ sở lí luận
1 Mục đích ý nghĩa
- Rèn luyện kĩ năng viết CTHH cho học sinh
- Kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vao thực tế
- Khắc phục một số lỗi mà học sinh thường mắc phải cũng như đề ra một
số phương pháp rèn luyện tư duy, kĩ năng ghi nhớ của học sinh
- Bồi dưỡng phương pháp tự học
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác của học sinh trong học tập
- Gây hứng thú và lòng say mê học tập đối với bộ môn hoá học nói chung và phần viết CTHH nói riêng
2 Cơ sở lí luận
CTHH dùng để biễu diễn chất, gồm một kí hiệu hoá học hay hai ba kí hiệu hoá học và chỉ số ghi ở chân mỗi kí hiệu
a Công thức hoá học của đơn chất
CTHH của đơn chất chỉ gồm kí hiệu hoá học của một nguyên tố
- Với kim loại: Vì hạt hợp thành là nguyên tử nên kí hiệu hoá học A của nguyên tố được coi là CTHH
Trang 2- Với phi kim : Nhiều phi kim có phân tử gồm một số nguyên tử liên kết với nhau, thường là 2 nên thêm chỉ số này ơ chân kí hiệu
Ví dụ: CTHH của khí hidrô, khí ôxi: H2 , O2
Có một số phi kim, quy ước lấy kí hiệu làm công thức
Ví dụ: CTHH của lưu huỳnh, cácbon : S, C.
b Công thức hoá học của hợp chất
CTHH của hợp chất gồm kí hiệu hoá học của những nguyên tố tạo ra chất kèm theo chỉ số ghi ở chân
Công thức dạng chung: AxBy, AxByCz
Trong đó: A, B là kí hiệu hoá học của nguyên tố
x, y là số nguyên chỉ số nguyên tử của nguyên tố có trong một phân
tử hợp chất gọi là chỉ sô, nếu chỉ só bằng 1 thì không ghi
Ví dụ: - CTHH của nước : là H2O
- CTHH của natriclorua là : NaCl
- CTHH của canxicacbonat là: CaCO3
* CTHH của từng hợp chất cụ thể :
- CTHH của Axit gồm một hay nhiều nguyên tử hidrô và gốc axit
Công thức dạng chung HnX ( n = hoá trị của gốc axit X )
- CTHH của Bazơ gồm một nguyên tử kim loại và một hay nhiều nhóm hidrôxit
Công thức dạng chung M(OH)n ( n = Hoá trị của kim loại M)
- CTHH của Muối gồm một hay nhiều nguyên tử kim loại và một hay nhiều gốc axit
Công thức dạng chung : MxXy
c Ý nghĩa của CTHH
Mỗi CTHH còn chỉ một phân tử của chất, ngoại trừ đơn chất kim loại và một số phi kim Như vậy theo CTHH của một chất, ta có thể biết được những
ý nghĩa sau:
- Nguyên tố nào tạo ra chất
- Số nguyên tử mỗi nguyên tố có trong một phân tử của chất
- Phân tử khối của chất
d Cách lập CTHH của hợp chất theo hoá trị.
Quy tắc hoá trị: “ Trong CTHH, tích của chỉ số và hoá trị của nguyên tố này bằng tích của chỉ số và hoá trị của nguyên tố kia”
Ví dụ: A á x
b
By
Theo quy tắc hoá trị ta luôn có : a.x = b.y
Biết a và b thì tìm được x,y để lập CTHH
Chuyển thành tỉ lệ '
'
a
b a
b y
Lấy x= b( hoặc b’), y =a (hoặc a’), (nếu a’, b’ là những số nguyên đơn giản hơn so với a và b)
Trang 3III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1 Phạm vi nghiên cứu
Học sinh khối 8, khối 9 trường THCS Hướng Hiệp
2 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp rèn kĩ năng viết công thức hoá học của chất cho học sinh trường THCS
IV Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
V Nội dung của đề tài
1 Thực trạng của vấn đề
Ở từng thời điểm từng bài , từng giai đoạn mà yêu cầu về kĩ năng viết CTHH của chất đối với học sinh có thể dễ hay khó, thấp hay cao Tuy nhiên ở mức độ nao, khối lớp nào cũng có học sinh mắc lỗi khi viết CTHH , kể cả những lỗi cơ bản nhất
a Ngay từ những bài học đầu tiên làm quen với CTHH của chất học sinh
đã biết cách viết CTHH của chất ( về cách ghi chỉ số nguyên tử của mỗi nguyên tố dưới chân mỗi kí hiệu, nhưng vẫn có học sinh(đến cả học sinh lớp 9) vẫn có cách biễu diễn chất như sau:
Ví dụ: CTHH đúng của axit sunfuric là H2SO4 nhưng học sinh lại viết là H2SO hoặc H2So4
b Với những chất ban đầu quen thuộc khi học bài “Đơn chất và hợp chất - Phân tử” như nước , khí hiđrô, khí ôxi, muối ăn học sinh đã biết cấu tạo của một số hạt hợp thành là nguyên tử hay phân tử đại diện cho chất do nguyên tố nào tạo nên Nhưng khi yêu cầu viết CTHH biễu diễn chất đó thì nhiều học sinh vẫn không định hình được cách viết Đa phần chỉ viết được kí hiệu hoá học của nguyên tố ha học (dựa trên tên gọi của chất)
Ví dụ: - CTHH của khí ôxi phải viết là: O2 học sinh lại viết là O
- CTHH của khí hiđrô phải viết là : H2 học sinh lại viết là H
- CTHH của nước phải viết là H2O học sinh lại viết là HO
c Kĩ năng viết CTHH ban đầu chỉ là thành phần cấu tạo của chất yêu cầu
học sinh viết CTHH
Ví dụ: Kalipemanganat cấu tạo từ 1K, 1Mn và 4O học sinh đễ dàng viết được
là KMnO4 nhưng khi yêu cầu cao hơn một chút ở bài “Hoá trị” trong phần áp dụng quy tắc hoá trị để viết CTHH của chất , học sinh lại lúng túng áp dụng rập khuôn hoặc không nhớ, hoặc chưa biết giản ước các chỉ số nguyên tử đến mức tối giản nhất
Ví dụ: Hãy lập CTHH của hợp chất tạo nên từ S(IV), O(II).
Ap dụng quy tắc hoá trị học sinh chỉ viết được S2O4.
Hoặc do bước chuyển thành tỉ số y x làm không tốt học sinh lại viết S4O2 Trong khi với hợp chất trên công thức đúng là: SO2
Trang 4d Cuối năm học lớp 8 trong bài “ Axít - Bazơ- Muối” đến những tiết đầu
của lớp 9, học sinh đã nắm được khái niệm và cấu tạo của các hợp chất Axít - Bazơ - Muối và CTHH tổng quát của chúng Nhưng khi yêu cầu viết CTHH của Bazơ hoặc Axít hay Muối bất kỳ học sinh nào cũng lúng túng
Lí do: - Không biết áp dụng quy tắc hoá trị, viết CTHH một cách máy móc
Ví dụ: Muối Sắt(III) clorua viết đúng là FeCl3 nhưng học sinh lại viết
Fe3Cl
- Không xác định được thành phần cấu tạo của các hợp chất ( ví dụ : Bazơ
chỉ gồm một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hiđrôxít hay muối gồm một hay nhiều nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều gốc axít )
- Không nắm được cấu trúc viết CTHH của chất ( ví dụ: Muối natriclorua
viết đúng là NaCl học sinh lại viết ClNa; hoặc học sinh không định hình được một chất nào (ví dụ: SO3H2O )
2.Tính thuyết phục của đề tài:
Tôi đã làm cuộc thăm dò ý kiến học sinh bằng phiếu, với câu hỏi: Khi học môn hoá học lỗi nào em thường hay mắc phải, vấn đề nào thấy khó? (GVcó gợi ý một số vấn đề)
Kết quả như sau:
- 68% ý kiến HS: Thường viết sai CTHH của các chất
-19% ý kiến HS: Khó khăn trong việc viết PTHH
-11% ý kiến HS: Tính toán hoá học khó và phức tạp
-2% Một số ý kiến khác
3 Các giải pháp
Để giúp học sinh khắc phục những lỗi trong quá trình rèn luyện kĩ năng viết CTHH của chất và có được sự thành thạo trong kĩ năng này, bản thân tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:
a Với học sinh phải nắm vững quy tắc viết CTHH của chất về trật tự kí
hiệu hoá học của các nguyên tố, chỉ số nguyên tử của mỗi nguyên tố , cách giản ước, quy ước khi viết chỉ sô ( chỉ số bằng 1 thì không cần ghi)
- Học thuộc kí hiệu hoá học của các nguyên tô, tên nhóm nguyên tử, hoá trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử, thành phần cấu tạo của chất để áp dụng tốt quy tắc hoá trị trong việc viết đúng CTHH của chất
- Làm đầy đủ các bài tập được giao
b Về phía giáo viên :
- Khi dạy về CTHH cần bắt đầu từ những chất mà học sinh đã biết thành phần nguyên tử của chúng sau đó nâng dần lên mức độ khó trong các bài tập
về xác định CTHH của chất
- Xây dựng hệ thống bài tập câu hỏi với các mức độ khác nhau phù hợp với từng đối tượng từng bài học, từng giai đoạn tiếp thu kiến thức của học sinh
- Hướng dẫn học sinh cách học, cách ghi nhớ hoá trị của nguyên tố hoá học ( ví dụ: Học thuộc “ Bài ca hoá trị “, nhóm nguyên tử gốc axit Cách vận
Trang 5dụng quy tắc hoá trị nhanh, đơn giản hơn theo “ Quy tắc nhân chéo “ ( tức là hoá trị của nguyên tố này là chỉ số của nguyên tố kia, với chỉ số nguyên tử của các nguyên tố phải được giản ước tới mức tối giản nhất ), có 3 trường hợp lưu
ý sau:
+Nếu hoá trị của các thành phần là những con số tối giản thi CTHH được viết bằng cách áp dụng ngay QTNC
Ví dụ: Al III Cl I AlCl3
+Nếu hoá trị của các thành phầnlà những con số chưa tối giản thì sau khi áp dụng QTNC, chỉ số nguyên tử của các nhóm phải giản ước tới mức tối giản nhất
Ví dụ: IV
S II
+Nếu hoá trị của các thành phần là những con số bằng nhau thì CTHH của chất được viết chỉ gồm KHHH của các thành phần
II II
V dụ: Cu O CuO
- Phân loại học sinh để có những yêu cầu phù hợp với khả năng của từng đối tượng, để vừa giúp đỡ được học sinh yêú kém, vừa có thể phát triển
kĩ năng này cho học sinh khá giỏi
- Có kế hoạch kiểm tra thường xuyên kĩ năng này của học sinh bằng nhiều hình thức và mức độ khác nhau
- Phát hiện và sửa chữa kịp thời những lỗi của học sinh trong kĩ năng này
- Phối kết hợp với giáo viên bộ môn toán để hoàn thiện kĩ năng này cho học sinh
VI Kết quả của đề tài được áp dụng
Đã học môn hoá học thì phải viết được CTHH của chất, nhưng đa phần học sinh cả khối 8 và khối 9 đều rất lúng túng trong kĩ năng này nên các bài kiểm tra không đạt chất lượng cao như mong muốn Vậy làm thế nào để giúp học sinh có được sự thành thạo trong việc viết CTHH của chất, đây là điều làm tôi trăn trở nhiều trong quá trình dạy học Qua các tiết dạy, tiết luyện tập, các bài kiểm tra tôi đã rút ra được những lỗi mà học sinh thường gặp và tìm được nguyên nhân của việc mắc lỗi này, để từ đó đưa ra giải pháp trên Các giải pháp trên đã được tôi áp dụng trong quá trình dạy học, phần nào đã giúp học sinh cải thiện được kĩ năng viết CTHH của mình Đồng thời học sinh cảm thấy hứng thú hơn trong môn học Tuy nhiên do mức độ nhận thức của học sinh trong cùng một lớp không đông đều, khả năng ghi nhớ của học sinh còn hạn chế nên việc áp dụng các giải pháp cũng gặp không ít khó khăn
VII Đề nghị:
Để có thể có được kết quả cao hơn, khắc phục được tốt hơn các lỗi mắc phải trong việc viết CTHH nói riêng và các kĩ năng hoá học khác nói chung cho học sinh qua các kì học, năm học tôi xin đề xuất một số ý kiến sau:
Trang 6- Giữa các giáo viên bộ môn nhất là các giáo viên dạy môn tự nhiên phải luôn có sự trao đổi, phối hợp với nhau trong việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng học tập
- Môn học tự chọn lớp 8, 9 nên chọn môn Hoá học nhằm tăng thời lượng học môn này trên lớp giúp học sinh có điều kiện rèn luyện các kĩ năng hoá học
- Tăng cường hơn nữa các buổi sinh hoạt chuyên đề với nội dung phong phú để giáo viên giữa các trường trên địa bàn huyện hoặc giữa các huyện
có thể học tập trao đổi kinh nghiệm với nhau cùng đưa ra những giải pháp hay cho từng vấn đề cụ thể
Lời kết Với kinh nghiệm và thời gian giảng dạy chưa nhiều song bản thân tôi xin mạnh dạn đưa ra những ý kiến trên Kính mong quý lãnh đạo, các đồng chí góp ý giúp đỡ để những vấn đề nêu trên có tính thực tế và được áp dụng vào giảng dạy có hiệu quả hơn.
Hướng Hiệp, tháng 10 năm 2010
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 7VIII Tài liệu tham khảo
1 Sách giáo khoa hoá học lớp 8, 9, NXB Giáo dục 2004.
2 Sách giáo viên hoá học lớp 8, 9 NXB Giáo dục 2004
3 NGUYỄN CƯƠNG, NGUYỄN MẠNH DUNG- Phương pháp dạy học hoá học Tập 2 NXB Giáo dục, Hà Nội 2001.(Giáo
trình dành cho các trường CĐSP)
4 NGUYỄN NGỌC QUANG, NGUYỄN CƯƠNG, DƯƠNG
XUÂN TRINH- Lí luận dạy học hoá học Tập 1 NXB Giáo dục, Hà
Nội 1982.
5 NGUYỄN HƯNG - Thực hành phương pháp dạy học hoá học
( Học phần 3) Trưòng CĐSP Hà Nội,1998.
6 CAO THỊ THẶNG, VŨ ANH TUẤN- Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn hoá học THCS, NXB Giáo dục 2008
7 LÊ XUÂN TRỌNG, CAO THỊ THẶNG, NGÔ VĂN VỤ, VŨ ANH
TUẤN (2003 ) Tài liệu Bồi dưỡng Giáo viên Hoá học 9, Bộ Giáo dục và đào
tạo, NXB Giáo dục Hà Nội
Trang 8IX Mục lục
Trang
I Lý do chọn đề tài 1
II Mục đích nghiên cứu và cơ sở lý luận 1
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
IV Phương pháp nghiên cứu 3
V Nội dung đề tài 3
1 Thực trạng của đề tài 3
2 Tính thuyết phục 4 3 Các giải pháp 4 VI Kết quả của đề tài được áp dụng 5 VII Đề nghị 5
Trang 9c “ ( SGK lớp 8) học sinh bắt đầu có những khái niệm về CTHH và làm quen với kĩ năng viết CTHH của các chất
Khi đánh giá trình độ học sinh về môn hoá học, giáo viên cần chú ý trước hết đến thói quen viết CTHH của học sinh mặc dù sự thành thạo trong khi viết CTHH không phải bao giờ cũng là chỉ tiêu để đánh giá vững chắc hoá học của học sinh, đồng thời giúp học sinh có được vốn kiến thức hoá học một cách toàn diện hơn, gây hứng thú cho học sinh khi học môn hóa học
Vì vậy trong suốt quá trình dạy học hoá học, giáo viên cần thường xuyên yêu cầu học sinh nắm kiến thức về công thức hoá học và có thói quen viết đúng các CTHH
Trong 3 năm công tác, trực tiếp giảng dạy môn hoá học lớp 8, lớp 9 tôi thấy đa phần học sinh thường mắc lỗi, lúng túng nhiều khi viết CTHH của chất Để khắc phục một số lỗi mà học sinh thường mắc phải cũng như đưa ra một số phương pháp rèn luyện kĩ năng viết CTHH của chất, chính là nội dung của SKKN này
II Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1 Phạm vi nghiên cứu
Học sinh khối 8, khối 9 trường THCS Hướng Hiệp
2 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp rèn kĩ năng viết công thức hoá học của chất cho học sinh trường THCS
III Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
IV Mục đích ý nghĩa và cơ sở lí luận
1 Mục đích ý nghĩa
- Rèn luyện kĩ năng viết CTHH cho học sinh
- Kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vaò thực tế
- Khắc phục một số lỗi mà học sinh thường mắc phải cũng như đề ra một số phương pháp rèn luyện tư duy, kĩ năng ghi nhớ của học sinh
- Bồi dưỡng phương pháp tự học
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác của học sinh trong học tập
- Gây hứng thú và lòng say mê học tập đối với bộ môn hoá học nói chung và phần viết CTHH nói riêng
Trang 102 Cơ sở lí luận
CTHH dùng để biễu diễn chất, gồm một kí hiệu hoá học hay hai ba kí hiệu hoá học và chỉ số ghi ở chân mỗi kí hiệu
CTHH của đơn chất chỉ gồm kí hiệu hoá học của một nguyên tố
- Với kim loại: Vì hạt hợp thành là nguyên tử nên kí hiệu hoá học A của nguyên tố được coi là CTHH
- Với phi kim : Nhiều phi kim có phân tử gồm một số nguyên tử liên kết với nhau, thường là 2 nên thêm chỉ số này ơ íchân kí hiệu
Ví dụ: CTHH của khí hidrô, khí ôxi: H2 , O2
Có một số phi kim, quy ước lấy kí hiệu làm công thức
Ví dụ: CTHH của lưu huỳnh, cácbon : S, C
b Công thức hoá học của hợp chất
CTHH của hợp chất gồm kí hiệu hoá học của những nguyên tố tạo ra chất kèm theo chỉ số ghi ở chân
Công thức dạng chung: AxBy, AxByCz
Trong đó: A, B là kí hiệu hoá học của nguyên tố
x, y là số nguyên chỉ số nguyên tử của nguyên tố có trong một phân tử hợp chất gọi là chỉ sô,ú nếu chỉ só bằng 1 thì không ghi
Ví dụ: - CTHH của nước : là H2O
- CTHH của natriclorua là : NaCl
- CTHH của canxicacbonat là: CaCO3
* CTHH của từng hợp chất cụ thể :
- CTHH của axit gồm một hay nhiều nguyên tử hidrô và gốc axit
Công thức dạng chung HnX ( n = hoá trị của gốc axit X )
- CTHH của Bazơ gồm một nguyên tử kim loại và một hay nhiều nhóm hidrôxit
Công thức dạng chung M(OH)n ( n = Hoá trị của kim loại M)
- CTHH của muối gồm một hay nhiều nguyên tử kim loại và một hay nhiều gốc axit
Công thức dạng chung : MxXy
c Ý nghĩa của CTHH
Mỗi CTHH còn chỉ một phân tử của chất, ngoại trừ đơn chất kim loại và một số phi kim Như vậy theo CTHH của một chất, ta có thể biết được những
ý nghĩa sau:
- Nguyên tố nào tạo ra chất