Nguyên lý hoạt động : Khi động cơ làm việc, trục cam quay, quả cam truyền chuyển động cho con đội, con đội đẩy xupap lên mở cửa cho khí đi vào xylanh mà không cần thông qua đũa đẩy, đòn
Trang 1I Nhiệm vu, yêu cầu v điều kiện àm việ
_ Đảm bảo thải sạch và nạp đầy
_ Cá x pap p ảiđ n mở p ảiđ n hờiđiểm q y định
_ Độ mở p ải ớn để đ n k ídễ ưu h n
_ Các xupap phải kín khít, tránh để lọt khí trong quá trình nén và giản nở _ Hệ thống phải làm việc êm dịu, tin cậy, công chi phí thấp
1.3 Điều kiện làm việc
Trong quá trình làm việc, mặt nấm xupap chịu phụ tải động và phụ tải nhiệt
Trang 2N.Hơn nữa mặt nấm xupap luôn luôn va đập mạnh với đế xupap nên rất dễ biến dạng Do xupap trực tiếp tiêp xúc với khí cháy nên xupap còn phải chịu nhiệt độ rất cao Nhiệt độ của xupap thải trong động cơ xăng thường đạt 800-850 0C, trong động
cơ diezel là
500-600 0C Nhất là trong kỳ thải, nấm và thân xupap phải tiếp xúc với dòng khí thải có nhiệt độ rất cao, vào khoảng 700-900 0C đối với động cơ diezel còn ở động cơ xăng thì cao hơn 1100-1200 0C hơn nữa tốc độ dòng khí thải rất lớn, mới bắt đầu thải cơ thể đạt được 400-600 m/s nên khiến cho xupap nhất là xupap xả thường dễ bị quá nóng và bị dòng khí ăn mòn
Ngoài ra trong nhiên liệu có lưu huỳnh nên khi cháy tạo axit ăn mòn mặt nấm xupap Vì vậy vật liệu dùng để chế tạo xupap phải có sức bền cơ học cao, chịu nhiệt tốt, chống được ăn mòn hóa học và hiện tượng xâm thực của dòng khí thải có nhiệt độ cao
2 Sơ đồ cấu tạ và nguyên ý ho t động của hệ thống phân phối khí ở đ ng cơ
Trang 3Hình 1.1_ Cơ cấu phân phối khí có xupap treo
1-Trục cam 2-Con đội 3-Đũa đẩy 4-Vít điều chỉnh 5-Đai ốc hãm 6-Đòn gánh 7-Trục đòn gánh 8-Móng hãm 9-Cone hãm 10-Lò xo xupap 11-Đĩa tựa lò
xo xupap 12-Bạc dẫn hướng xupap 13-Xupap 14-Bệ xupap 15-bánh răng trục cam 16-Bánh răng trục khuỷu
Khi trục cam 1 quay, quả đào truyền chuyển động tịnh tiến cho con đội 2 và đũa đẩy 3 làm đòn gánh 6 quay quanh trục đòn gánh 7, đầu đòn gánh đè xupap 13 xuống mở cửa xylanh, khi vấu cam ở vị trí cao nhất thì xupap mở hoàn toàn
Trục cam tiếp tục quay làm vấu cam đi xuống, lúc này cam không còn đội con đội nữa, dưới tác dụng của lực lò xo10 giãn ra làm xupap đậy kín bệ xupap, đồng thời đũa đẩy đi xuống theo chiều ngược lại
Bạc dẫn hướng 12 có nhiệm vụ định hướng cho xupap 13 chuyển động tịnh tiến Móng hãm 8, cone hãm 9, đĩa tựa lò xo có tác dụng cố định cán xupap với đĩa
ép lò xo, không cho xupap rơi xuống buồng đốt Lò xo 10 có tác dụng luôn luôn đẩy xupap đóng kín bệ xupap
Trang 4Tùy loại xupap nạp hay xả mà ta có thể điều chỉnh khe hở nhiệt của các xupap này Sở dĩ cần phải có khe hở nhiệt là vì khi động cơ hoạt động, dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất của môi chất công tác trong buồng đốt rất cao, xupap tiếp xúc trực tiếp với nhiệt độ cao nên giãn nở, làm tăng chiều dài xupap, buồng đốt
bị hở, động cơ hoạt động với công suất không đạt yêu cầu, hiệu suất không cao Ngoài ra hệ thống còn có trục giảm áp dùng để đóng hoặc mở hé xupap để thực hiện việc giảm áp cho xylanh khi cần
Thông thường khe hở nhiệt của xupap xả nằm trong khoảng 0,3 1,5mm, còn xupap nạp nằm trong khoảng 0,1 0,2mm
Số xupap trên nắp xylanh, tỷ số kết cấu của xupap được bố trí và chọn sao cho phù hợp Động cơ diesel 4 kỳ bố trí từ 2 đến 4 xupap trên nắp xylanh Góc côn của đĩa xupap thường chọn γ = 30 45°
Ưu nhược điểm của loại cơ cấu này : có nhiều chi tiết hơn và được bố trí ở
thân máy và nắp xylanh nên làm tăng chiều cao động cơ Lực quán tính của các chi tiết tác dụng lên bề mặt cam và con đội lớn hơn Nắp máy của động cơ phức tạp hơn nên khó khăn khi chế tạo Tuy nhiên, do xupap bố trí trong phần không gian của xylanh dạng treo nên buồng cháy rất gọn Đây là điều kiện tiên quyết có tỷ số nén cao Mặt khác, dòng khí lưu động ít bị ngoặt nên tổn thất nhỏ, tạo điều kiện thải sạch và nạp đầy hơn
2.2 Xupap treo có trục cam đặt trên nắp xylanh :
Trang 5Hình 1.2_ Cơ cấu phân phối khí có xupap treo, trục cam đặt trên nắp
Loại này có xupap rỗng, ghép Bulông 6 giúp ta điều chỉnh chiều dài xupap,
sẽ cho phép điều chỉnh khe hở nhiệt (giữa mặt tựa của cam và đuôi xupap)
Tuy nhiên khi làm việc, xupap xả thường nóng tới 300 400 C, vì vậy
các đường ren dễ bị kẹt do han rỉ, làm cho việc điều chỉnh bulông 6 khó khăn
Lò xo xupap ở đây gồm 2 cái khác nhau, chiều xoắn ngược nhau, chiều dài bằng nhau, có tác dụng tránh cộng hưởng nên tăng độ bền
Trang 6Với các máy nhỏ đôi khi người ta đúc liền thành một khối, như vậy không điều chỉnh được khe hở nhiệt Trong trường hợp này người ta để khe hở nhiệt lớn một chút, khi mòn càng lớn ta có thể nghe tiếng gõ khi máy làm việc Nhưng hệ thống này cấu tạo đơn giản, làm việc an toàn
2.3 Xupap đặt :
Sơ đồ hệ thống trao đổi khí có xupap đặt được thể hiện trên hình 1.3 :
Hình1 3_ Hệ thống trao đổi khí có xupap đặt
1-Bánh răng trục cam 2-Trục cam 3-Con đội 4-Ốc hãm 5-Bulông điều chỉnh 6-Đĩa tựa 7-Lò xo xupap 8-Xupap 9-Bạc dẫn hướng xupap 10-Bệ đặt xupap 11-Hệ bánh răng truyền động
Nguyên lý hoạt động :
Khi động cơ làm việc, trục cam quay, quả cam truyền chuyển động cho con đội, con đội đẩy xupap lên mở cửa cho khí đi vào xylanh mà không cần thông qua đũa đẩy, đòn gánh …Vào lúc cam không còn đội con đội nữa thì lò xo 7 giãn ra đậy nắp xupap lại
Hệ thống phân phối khí này hoạt động thông qua con đội 3 trực tiếp truyền chuyển động cho xupap 8
Trang 7Thay đổi chiều cao tuyệt đối của con đội bằng bulông 5 và ốc hãm 4 sẽ điều chỉnh được khe hở nhiệt (giữa đuôi xupap 8 và đầu bulông 5)
Hệ thống thay đổi khí có xupap đặt làm tăng diện tích buồng đốt nhưng ít chi tiết và làm việc an toàn hơn hệ thống thay đổi khí có xupap treo Vì giả sử móng hãm xupap có tuột ra, xupap cũng không rơi vào trong buồng đốt, không gây hư hỏng cho nhóm xylanh-piston
3 Sơ đồ cấu tạ v nguyên ý ho t động của hệ thống phân phối khí ở đ ng cơ
2 kỳ
+ Hệ hống ra đ i khí quét vòng :
Dựa vào dòng khí chuyển động trong xylanh, sơ đồ thay đổi khí được phân
ra quét thẳng và quét vòng Với phương án quét vòng, dòng khí chuyển động từ cửa quét lên nắp xylanh, sau đó theo hướng ngược lại từ nắp xylanh xuống cửa xả, các cửa quét và cửa xả người ta phân ra sơ đồ trao đổi khí quét vòng ngang và quét vòng về một phía
+ Sơ đồ trao đổi khí quét vòng ngang :
Phương án này dùng cho nhiều loại động cơ, các cửa quét a được bố trí đối
diện với các cửa xả, được chế tạo có góc nghiêng với trục tâm và đường kính xylanh, chiều cao cửa xả lớn hơn chiều cao cửa quét
Sơ đồ hệ thống được thể hiện trên hình 1.4 :
Khi piston đi xuống, đến cuối hành trình giãn nở, các cửa xả mở, từ thời điểm này đến lúc mở cửa quét, sản vật cháy tự do xả ra khỏi xylanh
Trang 8Hình 1.4_Sơ đồ trao đổi khí quét vòng ngang
Piston tiếp tục đi xuống, và khi đỉnh của nó đi qua mép của cửa quét, khí nạp mới đã được nén tới áp suất lớn hơn áp suất khí quyển tràn vào xylanh qua cửa quét, đẩy phần khí cháy còn lại ra khỏi xylanh động cơ, đồng thời nạp đầy không gian công tác của xylanh Khi piston đến gần điểm chết dưới, một phần không khí thổi trực tiếp từ cửa quét sang cửa xả, vì thế chất lượng làm sạch xylanh kém
Sơ đồ thay đổi khí kiểu này có nhược điểm là : từ lúc đóng cửa quét đến lúc đóng cửa xả thì một phần không khí bị rò lọt ra ngoài
Do làm sạch xylanh không hoàn thiện và tổn thất khí nạp, nên đối với hệ thống thay đổi khí quét vòng ngang, lượng khí sót tăng lên
Ở động cơ 2 kỳ, quá trình nén bắt đầu khi kết thúc quá trình thay đổi khí Một phần hành trình không tham gia vào quá trình nén Trong quá trình tính toán, phần hành trình tổn thất được đánh giá bằng tỷ số giữa chiều cao các cửa, sau khi đóng các cửa thì quá trình nén mới bắt đầu
Phần hành trình tổn thất được tính như sau :
Trang 9Ψs = hs/S
Trong đó : hs _ chiều cao từ mép trên cửa xả đến đỉnh của piston khi nó nằm
ở điểm chết dưới, mm
S _ hành trình piston, mm
Với các động cơ đã chế tạo, phần hành trình tổn thất vào khoảng (0,22 ( 0,254)
+ Sơ đồ trao đổi khí quét vòng ngang có nạp thêm :
Sơ đồ hệ thống được thể hiện trên hình 1.5 :
Hình 1.5_Sơ đồ thay đổi khí quét vòng ngang có nạp thêm
a-Cửa quét b-Cửa xả
Các cửa quét a và cửa xả b được bố trí đối diện nhau, các cửa quét cao hơn
các cửa xả Trong bình chứa của cửa quét có đặt van lá một chiều Khi piston dịch chuyển về phía dưới đến cuối hành trình giản nở, cửa quét mở sớm hơn cửa xả nhưng không có hiện tượng xả sản vật cháy vào bình chứa nhờ các van một chiều đóng cửa quét
Khi piston mở cửa xả thì bắt đầu quá trình xả tự do, quá trình này diển ra cho đến lúc áp suất khí quyển xả thấp hơn áp suất khí trong bình nén Tính theo góc quay trục khuỷu, thời gian của thời kỳ này khác nhau phụ thuộc vào tải, tải càng cao thì thời kỳ xả tự do càng dài
Ap suất của sản vật cháy giảm đến giá trị PH, các lá van được mở ra và
không khí bắt đầu nạp vào xylanh Từ thời điểm này đến lúc đóng cửa xả, đồng thời
Trang 10Sơ đồ này có ưu điểm là :
+ Sơ đồ trao đổi khí quét vòng về một phía :
Sơ đồ hệ thống được thể hiện trên hình 1.6 :
Hình 1.6_Sơ đồ trao đổi khí quét về 1 phía
a-Cửa quét b-Cửa xả
Ở sơ đồ này, các cửa quét a và cửa xả b được bố trí về một phía, đường ống
xả, bình chứa khí quét bố trí về một bên, làm giảm chiều rộng động cơ Các cửa xả được bố cao hơn các cửa quét
Khi piston dịch chuyển xuống phía dưới, các cửa xả được mở ra, lúc này diễn ra quá trình xả tự do Piston tiếp tục dịch chuyển và mở cửa quét, lúc này diễn
ra các quá trình quét và xả cưỡng bức cho đến khi đóng cửa quét Độ nghiêng
Trang 11xuống của các cửa quét và độ lõm của đỉnh piston tạo nên hướng chuyển động của dòng khí về phía đỉnh, sau đó quét dọc lên nắp xylanh và quay trở lại về cửa xả
Như vậy không khí nạp qua các cửa quét chuyển động còng theo xylanh Phần lớn thời gian của thời kỳ này, không khí nạp vào xylanh đẩy sản vật cháy ra ngoài Gần cuối thời kỳ diễn ra sự hòa trộn không khí với khí xả và tổn thất qua cửa
xả Trong các động cơ có sơ đồ thay đổi khí quét vòng về một phía, chất lượng làm sạch xylanh tốt hơn ( γr = 0,05 0,09 ) Nhưng suất tiêu hao không khí quét không
lớn ( ϕa = 1,6 )
Sau khi đóng các cửa quét, các cửa xả còn mở nên piston dịch chuyển đi lên
sẽ gây ra tổn thất khí nạp Để rút ngắn thời kỳ này, các cửa quét được chế tạo cao dần từ tâm ra ngoài, còn các cửa xả thì ngược lại Phần tổn thất hành trình đối với
sơ đồ này là : Ψs = 0,23 0,26
+ Sơ đ hệ hống rao đổi khí quét thẳng :
Dòng không khí chuyển động dọc theo tâm xylanh và đẩy sản vật cháy ra ngoài, không khí ít hòa trộn với khí cháy Nhờ trao đổi khí tốt, các động cơ tàu thủy
2 kỳ quét thẳng có hệ số khí sót thấp ( γr = 0,05 0,09 ) Dựa vào kết cấu của cơ cấu điều khiển xả, sơ đồ hệ thống thay đổi khí quét thẳng được phân ra : quét thẳng qua xupap và quét thẳng qua cửa
+ Sơ đồ trao đổi khí quét thẳng qua xupap :
Sơ đồ hệ thống trao đổi khí quét thẳng xupap được thể hiện trên hình 1.7 :
Trang 12Hình 1.7_Sơ đồ trao đổi khí quét thẳng qua xupap
1-Xupap Xả 2-Cửa quét
Các cửa quét 2 trong tất cả các trường hợp đều nằm phía dưới lót xylanh và
bố trí đều theo chu vi Nhờ vậy đảm bảo tiết diện lưu thông khi chiều cao các cửa quét không lớn, đồng thời phân bố đều không khí theo tiết diện ngang của xylanh Tất cả các cửa sổ được chế tạo đều nhau về hình dáng và chiều cao
Phân bố các cửa kiểu tiếp tuyến ( hình cắt A-A ) đảm bảo xoáy dòng khí nạp
vào xylanh và chuyển động hình vít từ cửa quét đến cửa xả 1 Vận động xoáy kiểu
tiếp tuyến của không khí được giữ nguyên cho đến cuối hành trình nén sẽ tạo điều kiện hòa trộn môi chất công tác tốt
Sản vật cháy từ xylanh xả qua các xupap bố trí ở nắp xylanh Đối với các
đông cơ khác nhau, số xupap thay đổi từ 1 đến 4 Các xupap được đẫn động bằng
trục phối khí thông qua cơ cấu cam hoặc dẫn động thủy lực
Khi piston dịch chuyển xuống điểm chết dưới, các xupap xả được mở ra trước, từ thời điểm này đến thời điểm mở cửa quét diễn ra xả tự do Trong thời kỳ
mở cửa, diễn ra đồng thời quét xylanh và xả cưỡng bức Các xupap xả được đóng muộn hơn các cửa quét, nhưng tổn thất khí nạp không đáng kể, do đó có thể coi kết thúc quá trình trao đổi khí và bắt đầu quá trình nén tương ứng với thời điểm đóng các cửa quét
Các động cơ tàu thủy có sơ đồ trao đổi khí quét thẳng qua xupap có tổn thất hành trình là : Ψs = 1,45 1,55
Sử dụng xupap xả cho phép lựa chọn pha phối khí có lợi nhất khi chế tạo động cơ Để giảm tổn thất khí nạp, một số động cơ dùng pha đóng mở các xupap không đối xứng so với điểm chết dưới : góc mở sớm lớn hơn góc đóng muộn (so với điểm chết dưới) Trong đó các động cơ thấp tốc hiện đại, nhờ tính kinh tế của chúng và hiệu quả cao của hệ thống tăng áp mà không thể dùng các pha phối khí đối xứng làm giảm ứng suất nhiệt xupap xả và không cần đảo chiều cơ cấu dẫn động các xupap xả
Trang 13+ Sơ đồ trao đổi khí quét thẳng qua cửa :
Sơ đồ hệ thống được thể hiện trên hình 1.8 :
Sơ đồ trao đổi khí kiểu này có cửa xả 1 và cửa quét 2 được bố trí ở 2 phía
của xylanh Một piston đóng mở cửa xả, một piston đóng mở cửa quét
Để đảm bảo mở sớm các cửa xả và xả khí tự do thì cơ cấu trục khuỷu-thanh
truyền-piston đóng mở cửa xả được đặt sớm hơn 6 12° góc quay trục khuỷu so với cửa quét, theo chiều quay của trục khuỷu Nhờ vây lúc bắt đầu trao đổi khí, các cửa xả mở sớm hơn các cửa quét, đảm bảo xả tự do
Hình 1.8_Sơ đồ trao đổi khí quét thẳng qua cửa
1-Cửa xả 2-Cửa quét
Cuối thời kỳ thay đổi khí, các cửa quét đóng muộn hơn các cửa xả nên có thể nạp thêm Các cửa được bố trí đều xung quanh lót xy lanh, các cửa quét được bố trí theo hướng tiếp tuyến, đảm bảo vận tốc xoáy lốc dòng khí trong xylanh giống như ở
sơ đồ thay đổi khí quét thẳng qua xupap Hệ thống này có nhược điểm là kết cấu
Trang 14phức tạp, ứng suất nhiệt của piston đóng mở cửa xả cao, làm xấu quá trình thay đổi khí đối với động cơ tự đảo chiều khi làm việc ở hành trình lùi
Để hướng dòng khí theo hướng xác định khi nạp vào xylanh thì các cửa quét
được chế tạo có góc nghiêng với trục và tâm của nó
II- CẤU TẠO CÁC BỘ PHẬN
2.1 Trục cam
Cấu tạo trục cam được thể hiện trên hình 2.1 Trục cam mang các cam dẫn
động cơ cấu phân phối khí Trong một số trường hợp, trên trục cam còn có các bộ phận của hệ thống khác như : cam của bơm chuyển nhiên liệu, hay bánh răng dẫn động bơm dầu…
Thông thường mỗi đoạn trục cam tương ứng với một xylanh, đặt trên 2 ổ đỡ trượt có bạc tròn liền định vị trên thân máy Các ổ đỡ này thường là loại ghép, bên trong có một lớp hợp kim chống ma sát Cũng có thể dùng loại ổ đỡ không tháo được với các bạc lót bằng đồng thanh
Hình 2.1_Cấu tạo trục cam
1.Đầu trục cam 2.Cổ trục 3.Cam nạp và cam thải
Đường kính cổ trục phải đủ lớn, sao cho khi đưa trục qua các ổ đỡ, mấu cam
có thể đi qua được Để thuận lợi cho việc lắp ráp, đường kính các cổ trục nên nhỏ dần tính từ phía bánh răng 8 trở lại, và các cổ hơi cone cũng theo chiều ấy (đầu to ở phía bánh răng)
Trang 15Để tránh bị kẹt, độ dịch dọc của trục thường được giới hạn bằng một vai tựa
tì vào thân máy Tại đây có đệm điều chỉnh Chiều dài các ổ đỡ được chọn trong
khoảng : l ≈ (1,0 ÷ 1,5)d pp
Hình 2.2: Cam ghép
a)Ghép bằng đai ốc có rãnh côn ; b)Ghép cam bằng then
Máy lớn, tốc độ chậm, trục cam dài người ta có thể ghép từ 2 đoạn lại Để tiện cho việc lắp ghép, các quả cam có thể chế tạo riêng rồi ghép vào trục bằng đai
ốc (hình 2.2)
Đôi khi người ta chế tạo quả cam rời, các nửa cam được lắp vào trục phân phối nhờ các đai ốc đặc biệt có rãnh tiện hình côn Có trường hợp khác, cam là loại liền nhưng được lắp ghép vào một bạc lót có đai ốc hãm ở mặt bên Những loại kết cấu này cho phép ta thay đổi được góc lệch giữa các cam Hình dạng của quả cam được xác định bởi qui luật chuyển động đã chọn của xupap và các thời điểm phân phối khí
Trang 16Hình 2.3: Cam rời lắp trên trục
Ở các động cơ có tốc độ quay cao, với đường kính xylanh dưới 200 mm, quả cam thường được rèn hoặc dập liền với trục cam (hình 2.4a)
Trục cam thường được truyền động bằng bánh răng từ trục khuỷu Cách bố trí cam sẽ xác định thứ tự nổ của động cơ Chu vi của mỗi cam sẽ quyết định thời gian và tốc độ mở của mỗi xupap
Trục cam thường được làm bằng thép hợp kim có hàm lượng cacbon thấp, bề
mặt cam và ngõng trục được thấm cacbon trước khi mài rà Một số động cơ tốc
Hình 2.4: Quả cam rèn liền với trục
độ cao sử dụng trục cam bằng gang hợp kim hoặc thép hợp kim đã xêmentit
hoá , với cam và ngõng trục được tôi cứng Vật liệu làm trục cam thường là thép 15,
25, 35 rèn hoặc thép hợp kim Crôm, Niken Cổ trục và mặt cam được tôi mặt ngoài
Để tăng khả năng chống mài mòn, các cổ đỡ của trục còn được xêmentit hoá, chiều
sâu của lớp xêmentit thường vào khoảng (1,5 2,0) mm
Ở các động cơ đang dùng hiện nay, đường kính của trục cam thường vào khoảng : dpp ≈ (0,2÷0,26)D
Ở các động cơ loại nhẹ, người ta thường làm trục rỗng, đường kính của lỗ khoang trong trường hợp này vào khoảng : do ≈ (0,5÷0,7) dPP
Đường kính của quả cam được xác định theo các thông số cấu tạo:
d1 ≈ (1,3÷2,0) dPP
Chiều rộng của quả cam : b1 ≈ (0,15÷0,4) d1
Trang 17Biên dạng cam là mặt dẫn mở trên cam để tránh sự chậm trễ trong cơ cấu
truyền động xupap Nó gồm có phần đỉnh để mở xupap và phần lưng để đóng xupap
Hình 2.5: Biên dạng cam
a)Cam có góc ở xa nhỏ ; b)Cam có góc ở xa rộng ;
c)Cam có góc ở xa rộng và góc đi xa nhỏ
Cam (hình 2.5a) có biên dạng cong khiến cam mở nhanh hơn lúc đầu và cứ
mở rộng như vậy cho đến khi mặt đóng của cam chịu tác động của đệm đẩy xupap
Cam (hình 2.5b) khiến xupap đóng và mở nhanh với khoảng thời gian mở rộng kéo dài Cam (hình 2.5c) được sử dụng ở động cơ tốc độ cao để tạo ra thời gian mở lâu
tối đa cho xupap
Hình 2.6: Các dạng cam thường gặp
Có các dạng quả cam thường gặp sau : cam lồi, cam tiếp tuyến và cam lõm
được thể hiện trên hình 2.6 :
Trang 18Con đội xupap là bộ phận tựa trên mấu cam, nó hoạt động trong một ống dẫn hướng thẳng đứng, mặt tiếp xúc cam thường được tôi cứng để đảm bảo lâu
mòn Con đội có nhiệm vụ truyền chuyển động tịnh tiến cho đũa đẩy
Hình 2.7: Con đội con lăn
Con đội có con lăn (hình 2.7) có ưu điểm là : giảm ma sát, mòn đều, về nguyên tắc
có thể dùng cho mọi loại cam : cam lồi, cam lõm, cam tiếp tuyến Nhưng thân con đội con lăn không được phép xoay nên phải có kết cấu chống xoay cho con đội Để nhằm mục đích này, trên thân con đội có phay một rãnh hãm nhỏ, trên thân máy lắp
một vít hãm, đầu vít có chốt lắp khít trong rãnh hãm trên thân con đội (hình 2.7a)
Nhược điểm chính của con đội này là trọng lượng lớn nên chỉ dùng cho động
cơ có tốc độ chậm và trung bình
Con đội có con lăn bi kim và lò xo giảm va đập có ưu điểm làm giảm va đập trong quá trình máy làm việc với tốc độ cao, hơn nữa trục con lăn bi kim ít hư hỏng hơn trục con lăn thường khi làm việc với tốc độ cao Vì vậy nó thường được dùng
trong máy có tốc độ cao (hình 2.8b)
Trang 19Hình 2.8 a)Con đội thuỷ lực ; b)Con đội có con lăn và lò xo
Con đội thủy lực có tác dụng giảm va đập rất tốt nên thường được dùng (hình 2.8a)
Con đội đáy phẳng có kết cấu đơn giản, dễ chế tạo nhưng bề mặt làm việc
chịu ma sát lớn, loại này thường dùng cho máy nhỏ (hình 2.9)
Đòn bẩy thường được dùng thay thế cho con đội trong các động cơ tàu thuỷ Nó
gồm có một cần nhận lực hướng bên, một con lăn và một đệm đỡ cần đẩy (hình
2.9a)
Hình 2.9
Trang 20Những con đội có con lăn ở đầu nhằm làm giảm ma sát, còn những con đội đáy phẳng và đáy cầu người ta tạo cho nó chuyển động quay bằng cách bố trí
điểm tiếp xúc lệch tâm so với đường tâm của con đội, nhờ vậy mà mặt tiếp
xúc của con đội mòn đều, khoảng lệch tâm e thường vào khoảng (1,5 3,0)
mm
Hình 2.10
a)Con đội hình nấm ; b)Con đội hình trụ
Trong cơ cấu phối khí xupap đặt, con đội dẫn động xupap, do đó con đội
phải có vít để điều chỉnh khe hở nhiệt ở tâm con đội (hình 2.10a) Bề mặt nấm tiếp
xúc với cam thường có đường kính lớn phụ thuộc vào kích thước của cam Để con đội có trọng lượng nhỏ, thân con đội được chế tạo với đường kính nhỏ hơn đường kính với bề mặt tiếp xúc với cam
2.3 Đũa đẩ
Đũa đẩy thường dùng cho động cơ có xupap treo Nó truyền chuyển động từ trục cam tới đòn gánh
Trang 21Hình 2.11: Cấu tạo đũa đẩy
Đũa đẩy thường được chế tạo bằng thép ống thành mỏng Ở 2 đầu đũa đẩy thường có dạng cầu hoặc chỏm cầu
Liên kết giữa đũa đẩy và đòn gánh xupap có thể là khớp cầu (a), bằng con lăn (b) hoặc bằng chỏm cầu của vít điều chỉnh khe hở nhiệt (c) được thể hiện trên
Trang 22Ở động cơ có 2 xupap nạp và 2 xupap xả cho mỗi xylanh thì đòn gánh tiếp xúc với một chạc hình chữ thập thay vì tiếp xúc với đũa xupap Sau đó chạc chữ thập mới tiếp xúc với cả 2 xupap nạp hoặc 2 xupap xả
Hình 2.14: Đòn gánh con lăn 1-Con lăn ; 2-Đòn gánh ; 3-Trục cam ; 4-Vít điều chỉnh
Đối với các động cơ trục cam truyền động trực tiếp cho đòn gánh, để giảm
ma sát người ta dùng đòn gánh con lăn (hình 2.14)
2.5 Xupap v phụ kiện
a/ Xu p p
Các xupap có vai trò đóng mở các đường nạp và thải để thực hiện quá trình trao đổi khí Do tiếp xúc trực tiếp với khí cháy nên các xupap chịu áp lực rất lớn và nhiệt độ cao, nhất là đối với xupap thải Vì vậy ứng với từng loại động cơ mà xupap
có cấu tao khác nhau Nhiệt độ của nấm xupap nằm trong khoảng sau :
Trang 23Xupap hút Xupap xả
Động cơ chạy chậm 400 - 450 C 600 - 700 C
Động cơ chạy nhanh 450 - 500 C 700 - 900 C
Sau đây là một số loại xupap như : Loại liền, loại ghép có thể tháo được (nó
có thể điều chỉnh được chiều dài bằng bulông đuôi xupap)
Ở động cơ chạy chậm thường dùng xupap có mặt nấm phẳng để dễ chế tạo
(hình 2.15a) Xupap hút của động cơ có tốc độ cao, mặt nấm hình loa kèn cho nhẹ (hình 2.15b) Mặt nấm xupap xả thường có hình chỏm cầu để khí xả thoát ra ngoài
dễ dàng (hình 2.15c) Động cơ có tốc đô cao thường làm rỗng (hình 2.16c)
Hình 2.15
Trong những động cơ chạy nhanh, người ta dùng xupap có kết cấu hàn Chuôi và nấm xupap là những chi tiết được chế tạo riêng rẽ bằng những vật khác nhau rồi hàn vào với nhau Ở những động cơ chạy chậm, xupap thường dùng là loại
ghép Chuôi thường làm bằng thép, nấm làm bằng gang chịu nhiệt (hình 2.16a)
b/ Lò xo Ở động cơ chạy chậm, người ta thường dùng 1 lò xo xupap Ở động
cơ chạy nhanh, người ta bố trí 2 lò xo có đường kính vòng khác nhau, độ cứng khác nhau và chiều quay khác nhau Nhờ vậy tránh được sự gẫy hỏng do cộng hưởng gây
ra (hình 2.17)