1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương lịch sử học thuyết kinh tế ppsx

13 879 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 121,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Họ coi lợi nhuận thương nghiệp vừa là động lực vừa là mục đích của người kinh doanh đó là cơ sở của lý thuyết về cơ chế thị trường, “bàn tay vô hình” và tư tưởng sự can thiệp của Nhà n

Trang 1

1 Chủ Nghĩa Trọng Thương ở Anh, Pháp

a Chủ Nghĩa Trọng Thương ở Anh:

 Giai đoạn 1: Từ TK XV đến giữa TK XVI: Chủ nghĩa tiền tệ (Đại biểu William Staford)

- Nội dung chủ yếu được phản ánh ở bảng cân đối tiền tệ nội dung muốn tăng lượng tiền cho nhà nước thì phải giữ tiền ở lại trong nước Để thực hiện nội dung này họ thực hiện chính sách:

+ Hạn chế tối đa nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài

+ Quy định tỷ giá hối đoái bắt buộc

+ Lập hàng rào thuế quan để bảo vệ hàng hóa trong nước

+ Cấm trả cho ngưới nước ngoài lượng tiền lớn hơn mức quy định của nhà nước

+ Bắt thương nhân nước ngoài đến buôn bán ở nước họ phải mua hế số tiền bán hàng Quan điểm của những người trọng thương trong giai đoạn này đã kìm hãm sự phát triển của ngoại thương Giai đoạn này là giai đoạn tích lũy tiền tệ của CNTB với khuynh hướng chung là biện pháp hành chính (tức là có sự can thiệp của nhà nước đối với kinh tế)

 Giai đoạn 2: Bảng cân đối thương mại (Thomas Mun)

Nội dung chủ yếu: Đánh giá cao vai trò của tiền tệ, là nội dung thực sự của của cải quốc gia, là tiêu chuẩn để phân biệt sự giàu có giữa các quốc gia Họ cho rằng, tiền là sợi dây tiêu chuẩn trong cạnh tranh, tiền mạnh hơn sắt thép Quốc gia muốn giàu có thì con đường duy nhất là phát triển thương mại, “Thương mại là hòn đá thử vàng đối với sự phồn thịnh của quốc gia Không có phép lạ nào khác để kiếm tiền ngoài thương mại Trong thương mại, chủ yếu là phát triển ngoại thương, nhiệm vụ chủ yếu của ngoại thương là xuất siêu

Họ đưa ra chính sách:

+ Chỉ xuất khẩu thành phẩm chứ không xuất khẩu nguyên vật liệu và chỉ xuất khẩu những thành phẩm có giá trị lớn

+ Thực hiện thương mại trung gian: đem tiền ra nước ngoài mua rẻ ở nước này, bán đắt ở nước khác

+ Sử dụng hàng rào thuế quan để kiểm soát nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu

+ Đối với nhập khẩu tán thành nhập khẩu với quy mô lớn các nguyên liệu để chế biến đem xuất khẩu

+ Đối với tích trữ tiền: Cho xuất khẩu tiền để buôn bán, đẩy mạnh lưu thông tiền tệ vì đồng tiền vận động mới sinh lời, do đó lên án việc tích trữ tiền

Thomas Mun chống lại quan điển cấm xuất khẩu tiền của Willam Staford vì theo ông tiền để nhiều trong nước không có lợi mà còn có hại vì nó làm giá cả tăng lên Mặt khác, xuất khẩu tiền còn là thủ đoạn để buôn bán, để làm giàu vì “vàng đẻ ra thương mại còn thương mại làm cho tiền tăng lên”

+ Trong thương mại cần phải biết những thủ đoạn để buôn bán: Mua rẻ, bán đắt, mua ít, bán nhiều, phải biết lừa gạt thậm chí phải chiến tranh

+ Ông đánh giá cao vai trò của nhà nước trong phát triển thương mại Ông cho rằng, muốn phát triển thương mại thì phải dựa vào Nhà nước, nhà nước phải mở rộng thị trường đặc biệt là thị trường các nước láng giềng và thuộc địa, ông đánh giá cao thuế quan và bảo vệ hàng hoá trong nước, xuất khẩu

Trang 2

b Chủ nghĩa trọng thương ở Pháp.

 Tư tưởng của Montchretien (1575 – 1622)

Ông đánh già cao vai trò của tiền tệ, ông nói: “hạnh phúc của con người là ở trong sự giàu có Muốn quốc gia giàu có thì phải phát triển thương mại đặc biệt là ngoại thương “nội thương là ống dẫn, ngoại thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại thương dẫn của cải qua nội thương” Ông đánh giá cao vai trò của thương nhân, coi lợi nhuận thương nghiệp là mục đích của thương nhân Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá

Ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ kinh tế chính trị học (1615) Theo ông, kinh tế chính trị học là khoa học về của cải thương nghiệp mà nhiệm vụ chủ yếu của nó là mua rẻ, bán đắt, mua ít, bán nhiều

Ông lên án sự tiêu dùng sa hoa của giới quý tộc, khuyên người dân hãy nên dùng hàng nội

 Tư tưởng của Kolbert (1619 – 1693)

Chủ trương phát triển công nghiệp, hạ thấp vai trò của nông nghiệp Theo ông, muốn tăng lượng tiền cho nhà nước thì phải phát triển công nghiệp Biến nước Pháp thành trung tâm công nghiệp của thế giới

Ông đưa ra các giải pháp:

- Quy định mức lương tối thiểu cho công nhân

- Viết thư mời thợ giỏi tới Pháp làm việc

- Khuyến khích sinh đẻ để có lao động trong công nghiệp

- Dùng các biện pháp hạn chế sự phát triển của nông nghiệp Hạ giá nông sản, bắt nông dân phải bán hàng với bất cứ giá nào khi đã đưa nông sản ra thị trường

Nhận xét: Ba giải pháp đầu nhằm tăng lao động trong nông nghiệp Giải pháp 4 làm cho nông nghiệp giảm sút, công nghiệp không phát triển được Những chính sách này đã làm cho côn nghiệp nước Pháp chậm hơn các nuơcs Tây Âu 50 năm Muốn vực nền kinh tế pháp lên thì phải phát triển nông nghiệp

Nhận xét chung về chủ nghĩa trọng thương:

Tư tường kinh tế chủ yếu:

+ Đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền là nội dung thực sự của của cải quốc gia, là tiêu chuẩn để phân biệt sự giàu có giữa các quốc gia Vì vậy mục đích trong các chính sách của quốc gia là bằng mọi cách để tăng lượng tiền cho quốc gia mình

+ Cong đường duy nhất để quốc gia giàu có là phát triển thương mại đặc biệt là ngoại thương

+ Coi lợi nhuận thương nghiệp vừa là động lực, vừa là mục đích của người kinh doanh

Họ đề cao vai trò của thương nghiệp, hạ thấp nông nghiệp, công nghiệp

+ Đánh giá cao vai trò của nhà nước trong phát triển thương mại

+ Tư tưởng mang ít tính lý luận, tức chưa thừa nhận quy luật kinh tế khách quan

Đánh giá:

+ Họ kêu gọi sự tích lũy bằng tiền phù hợp với sự ra đời của phương thức sản xuất CNTB

+ Họ coi lợi nhuận thương nghiệp vừa là động lực vừa là mục đích của người kinh doanh đó là cơ sở của lý thuyết về cơ chế thị trường, “bàn tay vô hình” và tư tưởng sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế cũng là cơ sở lý thuyết về vai trò kinh tế của Nhà nước của kinh tế học hiện đại

+ Trong tư tưởng kinh tế của họ mới chỉ thấy được mà lại quá nhấn mạnh vai trò của lưu thông, trao đổi mà không thấy được vai trò của sản xuất, nghĩa là: Tư tưởng của họ mới chỉ xem xét tới hiện tượng bề ngoài chưa đi sâu vào bản chất bên trong của quan hệ sản xuất xã hội

Trang 3

2 Học thuyết tái sản xuất của Quesnay.

Để phân tích biểu kinh tế Quesnay đưa ra những giả định sau:

+ Nghiên cứu tái sản xuất giản đơn

+ Sự biến động của giá cả

+ Không xét đến ngoại thương

Ông chia xã hội thành 3 giai cấp cơ bản:

- giai cấp sản xuất: là những người tạo ra sản phẩm thuần túy, bao gồm những người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chủ đồn điền và công nhân của họ

- Giai cấp sở hữu: là những người thu sản phẩm thuần túy ( chủ ruộng đất)

- Giai cấp không sản xuất: là những người hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại

Dựa vào tính chất hiện vật của sản phẩm ông chia sản phẩm xã hội thành 2 loại:nông nghiệp và công nghiệp

Giá trị tổng sản phẩm xã hội bao gồm 7 tỷ chia thành:5 tỷ sản phẩm nông nghiệp và 2 tỷ sản phẩm công nghiệp

Chi phí của sản xuất nông nghiệp được chia thành:

-Tiền ứng trước hàng năm (tiền lương, giống,…): 2 tỷ

- Tiền ứng trước ban đầu (TBCĐ): 1 tỷ

-Sản phẩm thuần túy 2 tỷ

Sản phẩm công nghiệp được chia thành:

-Tư liệu tiêu dùng : 1 tỷ

- Nguyên vật liệu tiếp tục sản xuất : 1 tỷ

Quá trình tái sản xuất được diễn ra như sau: giai cấp sản xuất trả cho giai cấp sở hữu 2

tỷ tiền tô Giai cấp sở hữu không sản xuất mà chỉ tiêu dùng thuần túy: dùng 1 tỷ để mua hàng tiêu dùng cua giai cấp sản xuất (I), vậy là 1 tỷ sản phẩm nông nghiệp đã ra khỏi lưu thông và đi vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu, 1 tỷ còn lại giai cấp sở hữu dùng để mua hàng công nghiệp của giai cấp không sản xuất (II), vậy là 1 tỷ sản phẩm công nghiệp đi vào tiêu dùng của giai cấp

sở hữu Sau khi nhận được 1 tỷ của giai cấp sở hữu, giai cấp không sản xuất đem tiền đó đi mua tư liệu sinh hoạt của giai cấp sản xuất (III) Như vậy giai cấp sản xuất đã thực hiện được 2/5 sản phẩm của mình Giai cấp sản xuất lại lấy 1 tỷ vừa nhận được đi mua tư liệu sản xuất cua giai cấp không sản xuất (IV), vậy là đã thực hiện xong sản phẩm của giai cấp không sản xuất Giai cấp không sản xuất lại đem 1 tỷ vừa nhận được đi mua nguyên liệu nông nghiệp của giai cấp sản xuất (V) Như vậy giai cấp sản xuất đã bán 3 tỷ sản phẩm còn 2 tỷ sản phẩm để bù đắp chi phí hàng năm và số tiền mặt là 2 tỷ

Như vậy có thể tiếp tục quá trình tái sản xuất giảm đơn

Những nhận xét rút ra từ nghiên cứu về kinh tế của Quesnay:

Công lao:

- Đưa ra các giả định cơ bản là đúng

- Đã phân tích được tổng sản phẩm xã hội của 2 mặt: giá trị và hiện vật thấy được sự vận động của sản phẩm kết hợp với sự vận động của tiền

- Tuân theo quy luật đúng: tiền bỏ vào lưu thông lại trở về điểm xuất phát của nó

Hạn chế: Chưa thấy được cơ sở của tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, thậm chí tái sản xuất giản đơn trong công nghiệp khó mà thực hiện được Đánh giá sai vai trò của sản xuất công nghiệp

Trang 4

3 Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith

- Xuất phát điển nghiên cứu kinh tế của Adam Smith là bắt đầu từ con người kinh tế Ông cho rằng: Trao đổi là đặc tính vốn có của con người, trao đổi tồn tại vĩnh viễn cũng như con người tồn tại vĩnh viễn, khi trao đổi con người chỉ biết tư lợi, vì tư lợi và làm theo tư lợi Nhưng khi

tư lợi và làm theo tư lợi lại có “bàn tay vô hình” buộc con người kinh tế đồng thời thực hiện những nhiệm vụ ngoài ý định của họ mà đôi khi còn thực hiện tốt hơn khi họ có ý định làm việc

đó Đó là vì lợi ích xã hội

- Theo Adam Smith “bàn tay vô hình” đó là các quy luật kinh tế khách quan, hoạt động một cách

tự phát chi phối sự hoạt động của con người kinh tế Adam Smith quan niệm: Hệ thống các quy luật kinh tế khách quan là một trật tự tự nhiên Để cho các quy luật kinh tế hoạt động ông cho rằng cần có các điều kiện:

+ Tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa

+ Nền kinh tế dựa trên cơ sở tự do kinh tế

+ Quan hệ giữa người với người là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế

Ông cho rằng chỉ có nền kinh tế TBCN mới có đủ 3 điều kiện này thì trong nền kinh tế TBCN mới có các quy luật kinh tế hoạt động Ông còn phê phán chế độ phong kiến và ca ngợi chế độ TBCN Và ông chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế Theo ông: “Xã hội bình thường là xã hội không cần có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế đó là xã hội TBCN Còn xã hội không bình thường là sản phẩm của sự độc đoán, sự cưỡng bức kinh tế, đó là xã hội phong kiến”

Theo ông, Nhà nước không cần can thiệp vào kinh tế mà chỉ nên có các chức năng: Chống kẻ thù bên ngoài, tội phạm bên trong, bảo vệ quyền sở hữu tư bản Đây không phải là các chức năng kinh tế Nếu có thực hiện các chức năng kinh tế chỉ khi các chức năng đó vượt quá khả năng của tư nhân: Xây dựng mở mang đường xá, cầu cống, các công trình công cộng, xây dựng các vùng kinh tế mới …

Trang 5

4 Lý luận giá trị - lao động của Ricardo.

David Ricardo đã gạt bỏ, sửa chữa những sai lầm của Adam Smith đồng thời kế thừa và phát triển những tư tưởng khoa học của Adam Smith về giá trị hàng hóa

- Phân biệt rõ 2 thuộc tính của hàng hóa: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Giá trị hàng hóa khác xa với giá trị trao đổi

Giá trị hàng hóa do hao phí lao động cần thiết sản xuất ra hàng hóa quyết định Đó là thứ hao phí lao động có tính chất xã hội chứ không phải là hao phí lao động cá biệt hao phí lao động

đó do điều kiện sản xuất sớm nhất quyết định

- Ông đã chứng minh được: Năng suất lao động tăng thì lượng giá trị hàng hóa giảm Theo ông:

“Năng suất lao động tăng thì khối lượng hàng hóa do các công nhân tạo ra tăng vài lần nhưng tổng số lao động hao phí vẫn như trước Do đó năng suất lao động tăng đi liền với giá trị hàng hóa giảm”

- Theo Ricardo có 2 loại hàng hóa: Hàng hóa thông thường và hàng hóa hiếm có

+ Hàng hóa thông thường có giá cả của nó do lượng hao phí lao động trong sản xuất quyết định

+ Hàng hóa hiếm có có giá cả của nó do sức mua, do thị hiếu quyết định Đối với hàng hóa này giá cả cao không có nghĩa là giá trị cao Giá cả của chúng là do quan hệ cung – cầu Theo ông những hàng hóa hiếm có chỉ chiếm lượng rất bé trong tổng số hàng hóa nên

có thể bỏ qua khi nghiên cứu chỉ nghiên cứu hàng hóa thông thường Do đó, lao động là nhân

tố chủ yếu quyết định nên giá trị hàng hóa

- Ông gạt bỏ định nghĩa 2 của Adam Smith về giá trị hàng hóa và khẳng định định nghĩa 1 của Adam Smith là đúng cả trong sản xuất giản đơn và trong CNTB

- Nếu Adam Smith đã không thấy được bộ phận C trong cấu thành giá trị hàng hóa thì David Ricardo đã khẳng định giá trị hàng hóa không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra mà còn do lao động cần thiết trước đó nữa như giá trị nhà xưởng, máy móc (C1) Ông đã thấy được giá trị hàng hóa gồm: C + v + m Nhưng ông chỉ mới thấy được C1: Giá trị của tư bản cố định mà không thấy được C2: một phần giá trị tư bản lưu động Ông cũng không biết được giá trị nhà xưởng, máy móc chuyển sang giá trị sản phẩm như thế nào Vì ông không biết được tính chất

2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa là lao động cụ thể và lao động trừu tượng

Trang 6

5 Lý thuyết giá cả của Marshall

Theo ông, giá cả là quan hệ số lượng mà trong đó hàng hóa và tiền tệ được trao đổi với nhau Lý luận của ông là sự tổng hợp các lý thuyết: chi phí sản xuất, cung cầu, “ích lợi giới hạn”

Theo ông, thị trường là tổng thể những người có quan hệ mua – bán, hay là nơi gặp gỡ của cung – cầu Ông cho rằng, một mặt trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn thì cung cầu phụ thuộc vào giá cả Mặt khác, cơ chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp với cung – cầu Ông đưa ra khái niệm giá cung và giá cầu:

+ Giá cung là giá mà người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất ở mức đương thời Giá cung được quyết định bởi chi phí sản xuất Chi phí sản xuất bao gồm chi phí ban đầu và chi phí phụ thêm Chi phí ban đầu là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu bất kể có hay không có sản lượng Chi phí phụ thêm bao gồm chi phí về nguyên liệu, lương công nhân, nó tăng thêm khi gia tăng sản lượng

+ Giá cầu: là giá mà người mua có thể mua số lượng hàng hóa hiện tại Giá cầu được quyết định bởi lợi ích giới hạn Nghĩa là giá cầu giảm dần khi số lượng hàng hóa cung ứng tăng lên, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi

Khi giá cung và giá cầu gặp nhau thì hình thành

nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trường: “khi giá

cung và giá cầu gặp thì sẽ chấm dứt cả khuynh

hướng tăng lẫn khuynh hướng giảm lượng hàng

hóa sản xuất, thế cân bằng được thiết lập”

Giá cả

Số lượng

Giá Cả cân bằng

Giá cả

Số lượng

Giá Cầu D

Giá cả

Số lượng

Giá Cung

S

Trang 7

Marshall cho rằng yếu tố thời gian có ảnh hưởng quan trọng đến cung, cầu và giá cả cân bằng Trong một thời gian ngắn thì cung cầu có tác động tới giá cả còn trong thời gian dài thì chi phí sản xuất có tác động tới giá cả

Ngoài sự ra sự độc quyền cũng có tác động đến giá cả Để có lợi nhuận cao, các nhà độc quyền thường giảm sản lượng để nâng giá bán Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là độc quyền quyết định tất cả, bởi vì thị trường còn chịu sự tác động của sự co giãn của cầu

Marshall đưa ra khái niệm “sự co giãn của cầu” Khái niệm này chỉ sự phụ thuộc của cầu vào mức giá Ông viết: Mức giá linh hoạt của cầu trên thị trường phụ thuộc vào tình trạng sau: Khối lượng của cầu tăng lên ở mức độ nhất định, khi giá cả của hàng hóa này giảm xuống hoặc ngược lại, khối lượng cầu giảm xuống, khi giá cả hàng hóa này tăng lên

Nếu ký hiệu: K: Hệ số co giãn của cầu

∆Q/Q: Sự biến đổi của cầu

∆p/p: Sự biến đổi của giá cả

thì: K = ∆Q/Q: ∆p/p

Có 3 trường hợp sau:

+ K>1: Là trường hợp một sự thay đổi nhỏ của giá làm cho cầu thay đổi lớn hơn Gọi là cầu co giãn

+ K<1: Là trường hợp một sự thay đổi lớn của giá chỉ làm cho cầu thay đổi không đáng kể Gọi

là cầu không co giãn

+ K=1: Là tốc độ thay đổi của già và của cầu là như nhau Trường hợp này cầu co giãn bằng đơn vị

Sự co giãn của cầu phụ thuộc vào các nhân tố sau đây: Mức giá cả, giá cả của hàng hóa có liên quan, sức mua của dân cư và nhu cầu mua sắm của dân cư

Tóm lại: Lý thuyết giá cả của Marshall là cơ sở lý luận của kinh tế học vi mô hiện đại tỏng phân tích thị trường, cung cầu và giá cả

Trang 8

6 Lý thuyết về cân bằng tổng quát Leon Wallras.

Theo ông trong cơ cấu nền kinh tế thị trường có ba loại thị trường: Thị trường sản phẩm, thị trường tư bản, thị trường lao động

+ Thị trường sản phẩm: Là nơi mua và bán hàng hoá Tương qua trao đổi giữa các loại hàng hoá là giá cả

+ Thị trường tư bản là nơi hỏi và vay tư bản Lãi suất của tư bản vay là giá của tư bản

+ Thị trường lao động là nơi thuê mướn công nhân Tiền công hay tiền lương là giá cả của lao động

Ba thị trường này độc lập với nhau song nhờ hoạt động của doanh nghiệp nên có quan

hệ với nhau Doanh nhân là người sản xuất hàng hoá để bán Muốn sản xuất, doanh nhân phải vay vốn trên thị trường tư bản, thuê nhân công trên thị trường lao động Trên hai thị trường này doanh nhân được coi là cầu Sản xuất được hàng hoá doanh nhân phải mang nó đến thị trường sản phẩm Ở đây doanh nhân được coi là cung

Để vay tư bản doanh nhân phải trả lãi suất Để thuê công nhân doanh nhân phải trả tiền lương Lãi xuất và tiền lương gọi là chi phí sản xuất

Nếu bán giá cao hơn chi phí sản xuất thì doanh nhân có lợi Doanh nhân có xu hướng

mở rộng sản xuất như thuê thêm công nhân, vay thêm tư bản Do vậy sức cầu của doanh nhân tăng lên, điều đó làm cho giá cả tư bản và lao động tăng lên Song khi có thêm hàng hoá thì doanh nhân cung trên thị trường nhiều hơn Do đó giá cả trên thị trường hàng hoá có xu hướng ngày càng giảm xuống

Khi giá cả giảm xuống ngang với chi phí sản xuất thì cung và cầu hàng hoá ở trạng thái cân bằng Doanh nhân không có lời trong việc sản xuất thêm, nên không thuê thêm nhân công

và vay thêm tư bản nữa Như vậy giá hàng ổn định làm cho lãi suất và tiền lương ổn định Cả

ba thị trường đều có sự cân bằng cung – cầu Nền kinh tế ở trong trạng thái cân bằng

Điều kiện tất yếu để có cân bằng thị trường là sự cân bằng giữa giá hàng hoá và chi phí sản xuất Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, trạng thái cân bằng giữa giá hàng hoá và chi phí sản xuất được thực hiện qua sự dao động của cung – cầu

Trang 9

7 Tóm tắt nội dung lý thuyết chung của Keynes về việc làm.

Khi việc làm tăng lên, thì thu nhập cũng tăng lên, do đó tiêu dùng cũng tăng lên Song khuynh hướng tiêu dùng giới hạn, nên mức tăng tiêu dùng không bằng mức tăng thu nhập, do đó làm cho cầu tiêu dùng giảm tương đối, tức làm giảm cầu hiệu quả, mà cầu hiệu quả lại ảnh hưởng đến quy

mô sản xuất và khối lượng việc làm

Để điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng cần phải tăng đầu tư (tăng tiêu dùng sản xuất) Khối lượng đầu tư đóng vai trò quyết định đối với quy mô việc làm Song khối lượng đầu tư lại phụ thuộc vào ý muốn của các nhà kinh doanh, còn ý muốn đầu tư lại phụ thuộc vào hiệu quả giới hạn của tư bản Các nhà kinh doanh đầu tư sẽ mở rộng sản xuất cho đến khi hiệu quả của tư bản giảm tới mức lãi suất Tuy nhiên trong nền kinh tế TBCN thì hiệu quả giới hạn của tư bản thì giảm sút, còn lãi suất tư bản cho vay lại ổn định Điều đó tạo giới hạn chật hẹp cho đầu tư mới

Để thoát khỏi tình trạng trên thì phải điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng Muốn vậy Nhà nước phải sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng để điều tiết kinh tế; kích thích tiêu dùng

và đầu tư để tăng cầu hiệu quả Đặc biệt Nhà nước phải có chương trình đầu tư với quy mô lớn để

sử dụng lao động thất nghiệp và tư bản nhàn rỗi Số người nàykhi tham gia vào sản xuất sẽ nhận được thu nhập và do đó tham gia vào thị trường Vì thế cầu hiệu quả tăng lên, giá cả hàng hoá tăng lên Điều đó khuyến khích các nhà kinh doanh mở rộng sản xuất Theo nguyên lý số nhân nến kinh

tế được tái phát triển, khủng hoảng và thất nghiệp được ngăn

Trang 10

8 Trường phái trọng cung Mỹ.

Đại biểu Arthur Laffer

Mục đích: Chống khung hoảng và thất nghiệp

Biện pháp: Nâng cao năng suất lao động

Muốn chống khủng hoảng kinh tế phải nâng cao NSLĐ để tăng cung Từ đó Laffer cho rằng để kích thích cung nhà nước cần có các chính sách tạo điều kiện để các doanh nhân đầu

tư, áp dụng KHKT, tăng NSLĐ, tạo ra SP mới, kích thích sức cầu tăng, muốn mở rộng đầu tư đòi hỏi phải tiết kiệm

Để kích thích cung Laffer đề nghị phải giảm thuế và phải xác định mức thuế tối ưu: Ông đưa ra mối quan hệ giữa tổng thu nhập về thuế và thuế suất bằng phương trình:

T = t.Y

T: Tổng thu nhập về thuế

t: Thuế suất tính theo phần trăm (%)

Y: là thu nhập (tiền lương, lợi nhuận, địa tô …

Mối quan hệ giữa thuế suất và thu nhập về thuế được biểu diễn qua đường cong Laffer:

- Nếu t = 0% thì T = 0%

- Nếu t = 100 % thì T = 0%; Vì các doanh nghiệp sẽ đóng cửa không hoạt động, người lao động không đi làm nên không thu được thuế

- Nếu t >0%; thì thu nhập từ thuế tăng dần và đạt cực đại ở Tmax (t = 50%), lúc này quy mô sản xuất được mở rộng, nguồn thu của ngân sách nhà nước là lớn nhất

- Nếu t>50%: Cứ tăng thuế thì nguồn thu từ thuế sẽ giảm, vì lúc đó người lao động không muốn

đi làm hoặc hoạt độn sản xuất sẽ dưới dạng kinh tế ngầm

- Dưới mức Tmax thì ứng với mỗi Tx thì sẽ có hai mức thuế M1 và M2, so sánh ta thấy M1 tốt hơn

M2 vì t1 < t2 mà Tx la như nhau Ông cho rằng: Với từng hàng hoá khác nhau nhà nước sẽ quy định thúe suất phù hợp với những hàng hoá được Nhà nước khuyến khích sản xuất được quy định ở mức thuế suất t1 Còn những hàng hoá mà Nhà nước không khuyến khích sản xuất thì quy định ở mức thuế cao t2 Nhưng ông không xác định được mức thuế tối ưu là bao nhiêu

- Để giải quyết khủng hoảng kinh tế trường phái này sử dụng MQH ngược giữa cung – cầu và vai trò của Nhà nước là dùng các biện pháp để tăng năng suất lao động

T

t (%) 50

Tx

Tma x

Ngày đăng: 03/07/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w