U HẠT VÀNH Granuloma annulare Giáo trình Bệnh Da và hoa liễu HVQY - Bệnh u hạt vành là bệnh da mạn tính căn nguyên không rõ, đặc trưng bởi một hoặc nhiều vòng nhẫn ở da hoặc dới da..
Trang 1U HẠT VÀNH (Granuloma annulare)
Giáo trình Bệnh Da và hoa liễu HVQY
- Bệnh u hạt vành là bệnh da mạn tính căn nguyên không rõ, đặc trưng
bởi một hoặc nhiều vòng nhẫn ở da hoặc dới da
- Colott- Fox (1895) lần đầu tiên mô tả với cái tên :" tổn thương vòng tròn
ở các ngón tay" Sau này các tác giả Wells và Smith bổ sung thêm (1963)
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi từ trẻ nhỏ 1- 2 tuổi đến cụ già Nhưng chủ yếu ở
trẻ em Trên 2/3 trường hợp ở người nhỏ hơn 30 tuổi Nữ giới bị bệnh nhiều hơn
2 lần so với nam giới
1.Bệnh sinh:
Nguyên nhân u hạt vành chưa rõ ràng, hơi giống như ban đỏ dạng thấp,
thông thường biểu hiện sau khi côn trùng cắn (cho rằng do phản ứng mẫn cảm đối
với căn nguyên) Hình thái lan toả hay biểu hiện ở vùng hở ( vùng ánh nắng chiếu
vào) Các tổn thương kế tiếp xuất hiện sau điều trị bằng Canxiclorua Có nhiều báo
Trang 2cáo nêu lên các tổn thương cực kỳ giống nhau như 2 anh em sinh đôi hoặc giống
tính di truyền, hoặc coi là một phản ứng da đặc biệt
2 Lâm sàng:
Điển hình u hạt vành là rất giống nhau, tổn thương là vòng tròn hay vòng
cung Đường kính vài cm Là các sẩn hay nút ăn vào trong da, bờ các nút có giới
hạn rõ Sẩn , nốt có mật độ chắc và ăn sâu xuống lớp nhú bì ( corium) hoặc đến
lớp dưới da Mầu sắc bình thường so với màu da xung quanh, nhưng có thể màu
ngà, vàng hoặc hồng đỏ Bề mặt nhẵn bóng, là để phân biệt với bệnh nấm da
Hiếm khi có vảy sừng ở trên Sẩn không bao giờ vỡ tạo loét Trung tâm của u hạt
vành là bằng phẳng so với mặt da xung quanh hoặc có thể hơi lõm một ít Mầu sắc
không thay đổi, hồng nhẹ hoặc xanh lam hoặc hơi tối Phần lớn các ca chỉ có một
vòng nhưng cũng có thể vài vòng tổn thương, hiếm khi có chợt với kích thước
khác nhau tổn thương thường đối xứng, ở bàn tay và cánh tay trên 60 % trường
hợp ( theo Well) ở mông và đùi, cẳng chân chỉ 20 % Có những bệnh nhân có rất
nhiều tổn thương ở tứ chi cũng như ở toàn thân mình Mặt và da đầu hầu như
không bao giờ tổn thương Zangel (1963) thông báo có sẩn điển hình ở niêm mạc
miệng Khi tổn thương ( sẩn, nút) mới rất khó chẩn đoán mà phải căn cứ vào chẩn
đoán mô bệnh học Một vài trường hợp có thể căn cứ vào hình ảnh điển hình
như-ng thônhư-ng
Trang 3thường số lượng ít Một số tác giả thông báo có hàng trăm hoặc hàng nghìn
tổn
thương , có một bệnh nhân nữ 13 tuổi với rất nhiều sẩn màu vàng ở thân
mình cùng với biểu hiện viêm khớp và viêm nội tâm mạc
3 Liên quan bệnh nội tạng :
Hình thái lan toả của u hạt vành có liên quan tới thấp khớp, viêm nội tâm
mạc và đặc biệt thấy trong biến đổi tổ chức bệnh lý u hạt, dù sao nữa ngay cả
những trờng hợp điển hình cũng hiếm thấy có liên quan tới bệnh hệ thống Điện
tim và tốc độ máu lắng bình thường, yếu tố thấp âm tính Rhodes (1966) thấy có
liên quan tới rối loạn chuyển hoá glucoza, nhưng cũng tuỳ cá thể Về sau này một
loạt tác giả khác Samman, Shrank thấy có sự liên quan giữa hình thái rải rác của
u hạt vành và bệnh đái đường
4 Cận lâm sàng :
Bệnh nhân u hạt vành có rất ít biến đổi về các xét nghiệm thông thường
Moyer báo cáo tế bào aí toan E tăng 6- 10% ở những bệnh nhân u hạt có căn
nguyên là do vết cắn côn trùng Hình thái cấp tính tổn thương lan toả có liên quan
đến yếu tố thấp thì tốc độ máu lắng cao 40 - 50 mm/ gìơ đầu, nhưng ở các hình
thái thông thường thì phần lớn các xét nghiệm là không thay đổi
Trang 45 Chẩn đoán phân biệt :
Tổn thương của u hạt vành điển hình là tổn thương ở da, bề mặt có thể
bong vẩy Khi tổn thương không điển hình cần phân biệt với Sarco'idosis, với u
hạt dạng hình đĩa và giang mai giai đoạn II, lichen phẳng Khi tổn thương sâu,
phân biệt với ban đỏ đa dạng, sẩn " mucin" với hình thái rải rác của u hạt vành
Tổn thương u hạt vành dới da giống nút khớp cả về lâm sàng và tổ chức bệnh lý
6.Điều trị :
Trước đây có nhiều hoá chất làm mất tổn thương Như X quang trị liệu
Làm đông đặc với " éthylclo " hoặc các loại Freon, muối cacbodioxyt hoặc
nitrozen lỏng, cắt bỏ u hạt vành, tiêm vào tổn thương hydrocooctizon, Procain
hoặc Lidocain
1963 Wells và Smith tiến hành nghiên cứu lại và kết luận tất cả các phơng
pháp trên đều có tác dụng ít nhiều làm mất tổn thương
Gần đây nhất ngời ta tiêm Triamcinolone với tỷ lệ 1/3 ; 1/5 hoặc / 10 pha
trong lidocai'n hoặc nước muối 9 %o có tác dụng tốt và tổn thương mất đi nhanh
chóng Điều trị trong dùng các muối salycylat, thuốc chống sốt rét hoặc cocticoit
có kết quả không chắc chắn
7 Tiến triển và tiên lượng :
Trang 5Xu hướng tự giảm dần của tổn thương đã được thừa nhận rõ 1963 Wells và
Smith thấy hơn 1/2 trong số 208 bệnh nhân u hạt vành tổn thương da bị mất đi sau
2 năm 40 % trong số đó bị tái phát và tái vào đúng vị trí cũ của tổn thương Các
tổn thương tái phát mất đi dễ hơn tổn thương gốc và cũng khoảng 80 % cũng mất
đi sau 2 năm Các trường hợp cấp tính với tổn thương rải rác thường kèm với triệu
chứng khớp và tính chất khớp thường đối xứng và tiến triển nặng hơn