1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI : Tín dụng ngân hàng pptx

31 485 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 301,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hoạt động này, được thực hiện dưới các hình thức ngân hàng huy động tiềngửi từ các cá nhân, doanh nghiệp, vay mượn qua các hợp đồng hoặc dưới các hìnhthức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu

Trang 1

ĐỀ TÀI

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Trang 2

A CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 4

2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng: 4

3 Vai trò của tín dụng: 5

4 Chức năng của tín dụng ngân hàng: 7

5 Phân lọai tín dụng ngân hàng 8

5.3.Căn cứ vào mục đính sử dụng 9

5.4 Căn cứ vào tính chất đảm bảo tín dụng 10

6 Rủi ro tín dụng: 12

6.1 Khái niệm 12

6.2 Phân loại rủi ro: 13

6.3 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng: 13

6.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng: 13

6.3.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 14

6.3.3 Tác động của rủi ro tín dụng: 14

7 Quy trình tín dụng: 15

7.1 Vai trò của việc lập quy trình tín dụng: 15

7.2 Quy trình tín dụng căn bản: 15

7.2.1 Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng: 15

7.2.2 Phân tích tín dụng: 16

7.2.3.1 Cơ sở để ra quyết định tín dụng: 17

7.2.4 Giải ngân: 18

7.2.6 Thanh lý hợp đồng tín dụng: 18

7.2.6.1 Thu nợ: 19

7.2.6.2 Tái xét hợp đồng tín dụng: 19

7.2.6.3 Thanh lý hợp đồng tín dụng: 19

B.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 20

1.Những ưu thế của tín dụng ngân hàng: 21

2 Thực trạng hoạt động và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế- xã hội có những đánh giá cơ bản sau đây: 21

2.1 Mức cho vay còn thấp so với nhu cầu vốn của các tổ chức, dân cư: 21

2.2 Hình thức cho thuê tài chính có xu hướng mở rộng hơn và phù hợp với sự phát triển của các doanh nghiệp: 22

2.3 Rủi ro tín dụng đang là mối trở ngại lớn đối với kinh tế tư nhân trong các mối quan hệ với các tổ chức tín dụng: 23

3 Nâng cao vai trò tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế cần có các giải pháp sau: .24

3.1 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, tăng cường vai trò của tín dụng nhằm khuyến khích phát triển các thành phần: 24

3.2 Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn hoạt động: 25

4 Để nâng cao vai trò tín dụng ngân hàng đối kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh góp phần thực hiện thắng lợi định hướng phát triển kinh tế tư nhân cần có giải pháp sau: 27

4.1 Giải pháp về mặt pháp lý 27

Trang 3

4.2 Nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân 27 4.3 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý để tăng cường vai trò của tín dụng nhằm khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân 28 4.4 Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn 29 4.5 Những biện pháp đối với kinh tế tư nhân 30

Trang 4

- Khâu huy động vốn: ngân hàng là một chủ thể đi vay, huy động khai tháccác nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng để hình thành nên nguồn vốn chovay hoạt động này, được thực hiện dưới các hình thức ngân hàng huy động tiềngửi từ các cá nhân, doanh nghiệp, vay mượn qua các hợp đồng hoặc dưới các hìnhthức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng trên thị trường…

- Khâu cho vay: trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ thựchiện phân phối cho vay cấp tín dụng lại cho các chủ thể có nhu cầu về vốn trongnền kinh tế đối tượng cho vay chủ yếu là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tếvới mục đích sử dụng vốn tín dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2 Công cụ lưu thông tín dụng ngân hàng

Công cụ phục vụ chủ yếu cho hoạt động tín dụng ngân hàng là kỳ phiếungân hàng, các loại chứng chỉ huy động vốn

- Công cụ lưu thông của tín dụng ngân hàng là kỳ phiếu ngân hàng; là mộtloại chứng từ có giá của ngân hàng hay là một giấy nhận nợ của ngân hàng pháthành cho các pháp nhân và thể nhân, nó được lưu hành không thời hạn trên thịtrường

- Kỳ phiếu ngân hàng do ngân hàng phát hành dựa trên quan hệ tín dụnggiữa ngân hàng với doanh nghiệp, cư dân và nhà nước Nó được ra đời trên hai cơ

sở bảo đảm bằng vàng và tín dụng Kỳ phiếu ngân hàng còn được gọi là giấy bạcngân hàng và trở thành tiền tệ

2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:

Trang 5

- Về hình thức biểu hiện: hoạt động của tín dụng ngân hàng được thực hiện

dưới hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ Do đặc tính về ngành nghề kinhdoanh, để tập trung được vốn lớn từ nhiều chủ thể, cũng như phân phối đáp ứngnhu cầu về vốn cho các chủ thể kịp thời và đầy đủ, ngân hàng vận dụng vốn dướihình thái tiền tệ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình

- Chủ thể trong quan hệ tín dụng ngân hàng: Ngân hàng thương mại, các tổ

chức tín dụng đóng vai trò là chủ thể trung tâm Ngân hàng vừa thực hiện vai trò làchủ thể đi vay trong khâu huy động, vừa thực hiện vai trò là chủ thể cho vay trongkhâu phân phối cho vay

- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá: xuất phát

từ đặc điểm tín dụng ngân hàng được cấp dưới hình thái tiền tệ có thể đáp ứng cácnhu cầu khác nhau ngoài nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá, giá trị của móntín dụng có thể không đồng nhất với giá trị mở rộng quy mô sản xuất kinh doanhtrong từng giai đoạn phát triển kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng trở thành loại hình tíndụng phổ biến, đáp ứng mọi nhu cầu bổ sung vốn của nền kinh tế, tín dụng ngânhàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư hàng hoá, trang trảichi phí sản xuất, thanh toán các khoản nợ mà còn tham gia cấp vốn đầu tư trung,dài hạn, đáp ứng các nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tiến đổi mới kỹthuật, mua sắm tài sản cố định…Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn đáp ứng mộtphần nhu cầu tiêu dùng cá nhân

Tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ

và bổ sung cho nhau hoạt động của tín dụng thương mại sẽ tạo cơ sở cho việc mởrộng tín dụng ngân hàng thông qua nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố hoặc tái chiếtkhấu đồng thời hoạt động của tín dụng ngân hàng góp phần khắc phục những hạnchế của tín dụng thương mại, mở rộng cung ứng vốn cho các chủ thể kinh tế, tạođiều kiện cho tín dụng thương mại phát triển

3 Vai trò của tín dụng:

Trang 6

Một là, tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển Trong nền kinh tếthị trường tất yếu xảy ra các hiện tượng thừa và thiếu vốn giữa các doanh nghiệp.Tín dụng đã góp phần điều tiết nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu nhằm đápứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp Tín dụng giúp doanhnghiệp rút ngắn thời gian tích luỹ vốn để nhanh chóng mở rộng đầu tư, sản xuất vàđẩy nhanh tiến trình phát triển của nền kinh tế.

Hai là, tín dụng góp phần ổn định tiền tệ và giá cả Với chức năng tập trung

và tận dụng các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng đã góp phần làm giảmkhối lượng tiền mặt trong lưu thông Lượng tiền dư thừa nếu không được huyđộng và sử dụng kịp thời có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình lưu thông tiền tệ,dẫn đến mất cân đối trong quan hệ tiền hàng và hệ thống giá cả bị biến động làđiều không thể tránh khỏi Vì vậy, trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát, tíndụng được xem như một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạmphát

Thông qua tín dụng nhà nước thực hiện ổn định giá cả, tiền tệ và làm giảmlạm phát bằng cách ban hành các chính sách tiền tệ như: nâng cao lãi suất tíndụng, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, ấn định hạng mức cho vay

Ba là, tín dụng góp phần ổn định cuộc sống, tạo công ăn việc làm và ổnđịnh trật tự xã hội Nhu cầu về nguốn vốn để sản xuất, kinh doanh và tiêu dùngcủa các tầng lớp dân cư trong xã hội là rất to lớn Để đáp ứng những nhu cầu đó,các ngân hàng đã thực hiện các hình thức cấp tín dụng như: Cho vay tiêu dùng,cho vay bổ sung vốn hoặc góp vốn kinh doanh…góp phần giúp người dân cãithiện cuộc sống và yên tâm sản xuất, kinh doanh

Mặc khác, tín dụng đã giúp cho người dân hình thành ý thức tiêu xài tiết kiệm hơn

và hạn chế việc cho vay nặng lãi ngoài xã hội, nhằm ổn định cuộc sống ổn địnhtrật tự xã hội

Khi cuộc sống của người dân ổn định và nâng cao sẽ kích thích tieu dùng,tiêu thụ hàng hoá kéo theo sự sản xuất hàng hoá cũng phải gia tăng Để tăng sốlượng sản phẩm, hàng hoá các doanh nghiệp phải thu hút một lượng lớn công nhân

Trang 7

mới có thể đáp ứng được nhu cầu của người dân Như vậy, tín dụng đã góp phầntạo ra nhiều việc làm cho xã hội.

Bốn là, tín dụng tạo điều kiện mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh

tế đối ngoại và tăng cường giao lưu quốc tế Trong điều kiện hiện nay, phát triểnkinh tế một nước phải gắn liền với thị trường thế giới Tín dụng ngân hàng tạođiều kiện kết nối các nền kinh tế với nhau Tín dụng đóng vai trò rất quan trọngtrong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá với các nước phát triển nói chung và nước

ta nói riêng

4 Chức năng của tín dụng ngân hàng:

4.1.Tập trung và phân phối lại vốn, tài sản trên cơ sở có hoàn trả:

Tập trung và phân phối vốn tiền tệ là 2 quá trình thống nhất trong sự vậnhành của hệ thống tín dụng Tín dụng là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung cầu vềvốn tiền tệ trong nền kinh tế Thông qua các chức năng này tín dụng thực hiện việcđiều hoà vốn tài sản từ nơi thừa sang nơi thiếu Việc điều hoà này của tín dụnghoặc trực tiếp từ nơi thừa sang nơi thiếu tài sản hoặc gián tiếp qua các trung giantài chính Song sự điều hoà mang tính chất tạp thời và thông thường phải trả lợitức nhất định theo quy ước giữa bên cho vay và đi vay

Với chức năng tập trung phân phối lại vốn, tài sản trong xã hội, tín dụng

có tác động mạnh mẽ đên đời sống kinh tế - xã hội xét trên cả mặt tích cực cũngnhư mặt tiêu cực Nếu việc tập trung phân phối lại của cải xã hội qua tín dụng phùhợp với nhu cầu khách quan của đời sồng kinh tế - xã hội sẽ góp phần thúc đẩy sảnxuất kinh doanh phát triển, đơi sông dân cư sẽ được cải thiện Ngược lại, nếu việcphân phối lại của cải xã hội thông qua tín dụng không phù hợp với nhu cầu kháchquan của đời sống kinh tế - xã hội thì sẽ hoặc đẩy sản xuất kinh doanh phát triểnquá mức, tiêu dùng vượt quá khả năng sản xuất, hoặc là kìm hãm sản xuất kinhdoanh, giam sức mua của dân cư, tạo ra lạm phát hoặc giảm phát Thực hiện chứcnăng này tín dụng còn góp phần tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội

do huy động dược nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho vay để tăng nhịp độ vòngquay của đồng tiền, phát hành các chứng từ có giá như tín phiếu, kỳ phiếu, trái

Trang 8

phiếu, giảm nhu cầu về tiền mặt trong lưu thông đồng thời giảm những chi phítrong lưu thông khác như in ấn giấy bạc, chi phi bảo quản vận chuyển tiền…

4.2.Kiểm tra, giám sát bằng tiền đối với các hoạt động kinh tế xã hội

Trong quá trình phân phối lại của cải xã hội, các chủ thể xã hội sẽ thực sựkiểm tra, giám sát lẫn nhau nhằm trước hết bảo vệ lợi ích của mình Đồng thời sựkiểm tra giám sát ấy góp phần tác động đến việc thực hiện các hoạt động kinh tế

xã hội theo đúng lợi ích tòan xã hội

Trọng tâm của chức năng nay là giám sát việc nhận, sử dụng đối tượng tíndụng của người đi vay, từ đó mà đảm bảo sự hoàn trả đối tượng tín dụng cáchtoàn vẹn, đúng hạn đã cam kết Muốn vậy, việc giám sát đó phải được tiến hànhtrong cả quá trình vay mượn, nghĩa là trước khi người vay nhận tiền vay, trong khinhận tiền vay và sau khi nhận tiền vay cho đến khi người vay người vay hoàn trăxong nợ

Cần nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của sự kiểm tra, giám sát bằngđồng tiền do các trung gian tài chính thực hiện Với tư cách người đi vay để chovay , các trung gian tài chính đó có thể và cần phải giám sát chặt chẽ đối với cáchoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và hoạt động tiêu dùng cuadân cư Sự giám sát này không chỉ vì lợi ích của bản thân các trung gian tài chính

mà còn vì lợi ích của các doanh nghiệp, của dân cư và của toàn xã hội

5 Phân lọai tín dụng ngân hàng

5.1.Căn cứ vào yếu tố thời hạn tín dụng:

Tín dụng ngân hàng bao gồm ba loại:

- Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng ngằn hạn có thời lượng đến một năm,

thường đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệphoặc phục vụnhu cầu tiêu dung bức thiết của nguời dân

- Tín dụng trung hạn: Tín dụng trung hạn có thời hạn trên 1 năm đến 5

năm Loại tín dụng này được sử dụng để bổ sung vốn mua sắm tài sản cố định, cảitiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình có quy mô nhỏ và thờigian thu hồi vốn nhanh

Trang 9

- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm Tín dụng dài

hạn được sử dụng để hỗ trợ vốn xây dụng cơ bản , đầu tư xây dựng các công trình

có quy mô lớn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại có thời gian hoàn vón dài

5.2.Căn cứ vào yếu tố đối tượng thực hiện vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Tín dụng ngân hàng đựơc chia làm hai loại:

- Tín dụng vốn luư động: Tín dụng vốn lưu động thệ hiện dưới hình thức

cho vay dể bổ sung vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế Trên thực tế, loại tíndụng này dựơc thực hiện dưới các hình thức: Cho vay để dự trữ hàng hoá, cho vaycác khoản chi phí phát sinh trong các công đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh,cho vay để thanh toán các khoản nợ

- Tín dụng phục vụ sản xuất lưu thông hàng hoá: Loại tín dụng này được

cấp cho các chủ thể kinh doanh nhằm hộ trợ vốn dể mở rộng hoạt động sản xuất

và lưu thông hàng hoá:

- Tín dụng tiêu dùng: Đây là loại hình tín dụng đáp ứng các nhu cầu tiêu

dùng của các cá nhân Mục đích của tín dụng tiêu dùng là hỗ trợ cải thiện đời sốngvật chất, sinh hoạt cho các thành viên trong xã hội, kích thích tiêu dùng, tạo điềukiện nâng cao năng xuất lao động, đồng thời tín dụng tiêu dùng cũng giúp cho cácdoanh nghiệp tăng doanh số tiêu thụ, mở rộng thị trường hướng đến tôi đa hoá lợinhuận kinh doanh Tín dụng tiêu dụng sẽ ngày càng mở rộng và phát triển, cả vềgiá trị cũng như hình thức, cùng với tiến trình phát triển của kinh tế thị trường Ởnhững quốc gia có nền kinh tế phát triển, thu nhập người dân rất cao nhưng tíndụng tiêu dùng phát triển rất mạnh thông qua phương thức cấp tín dung mà hànghoá, dịch vụ được cung ứng cho người tiêu dùng cách tốt nhất

Trang 10

Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng, tín dụng tiêu dùng có hai loại:

+ Hình thức cấp tín dụng bằng tiền: chủ yếu do ngân hàng thương mại, các

tổ chức tín dụng thực hiện

+ Hình thức cấp tín dụng bằng hàng hoá: do các doanh nghiệp trực tiếp sản

xuất kinh doanh tiếp hàng Nó được biểu hiện qua quan hệ mua bán trả góp chongười tiêu dùng

5.4 Căn cứ vào tính chất đảm bảo tín dụng

Tín dụng ngân hàng chia thành các loại:

- Tín dụng không có đảm bảo trực tiếp: Khoản tín dụng được cấp không có

giá trị vật tư, hàng hoá hoặc tài sản làm đảm bảo trực tiếp mà chỉ dựa trên uy tín,

sự tín nhiệm của cá nhân, tổ chức tín dụng đối với bên nhận tín dụng Vì vậy loạihình tín dụng này còn có tên gọi là tín dụng tín chấp

Mặc dù, không có tài sản hoặc hàng hoá trực tiếp làm đảm bảo, nhưng sovới loại tín dụng có đảm bảo thì tín dụng tín chấp có mức độ rủi ro thấp Bởi lẽ,với tín dụng tín chấp khi cấp tín dụng người cho vay đã kiểm soát rất chặt chẽnăng lực tài chính, hiệu quả của dự án cho vay, khả năng hoàn trả vốn vay đúnghạn và nhưng rủi ro tiền tàng có thể xảy ra đối vớ bên đi vay Đố với tín dụng cóđảm bảo trực tiếp, xuất phát từ bản chất của tín dụng là dựa trên niềm tin, cho nênkhi xét duyệt tín dụng do có một số yếu tố chưa đảm bảo an tòan về hạn chế rủi ro,nên người cho vay yêu cầu người đi vay phải áp dụng số phương thức để đảm bảokhi cấp tín dụng

- Tín dụng có đảm bảo trực tiếp: Loại tín dụng này được thực hiện khi

người đi vay có khối lượng hàng hoá, tài sản tương đương được dùng trực tiếp đểdảm bảo cho món vay Trên thực tế, loại hình tín dụng này được thực hiện dướicác hình thức như: cho vay thế chấp, cho vay cầm cố hoặc bảo lãnh, hoặc dướidạng thuê mua

Thuê mua còn được gọi là thê tài chính, một phương thức tài trợ vốn trung

và dài hạn cho sản xuất kinh doanh Nghiệp vụ tín dụng thuê mua được đảm bảobằng một quyền sở hữu về tài sản đã tài trợ vốn, đó có thể là động sản hay bất

Trang 11

động sản, qua phương thức tài trợ này đáp ứng được 100% vốn đầu tư tài sản cốđịnh cho người đi thuê mà không phải vốn tự có tham gia Như vậy, có thể địnhnghĩa tín dụng thuê mua là phương thức cho thuê tài sản chuyên dùng có kèm lờihứa sẽ bán lại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng, cho người thuê theo giathoả thuận từ đấu.

Về nguyên tắc, tín dụng thuê mua gồm ban bên liên quan:

+ Người đi thuê là doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh có nhu cầu về tài sản,

họ sẽ lựa chọn tài sản thuê tại người cung cấp

+ Người cung cấp là doanh nghiệp bán hàng, thoả thuận các điều kiện muabán hàng hoá với người đi thuê và kỳ kết hợp đồng mua bán với công ty cho thuêtài chính

+ Người cho thuê đây là các công ty cho thuê tài chính, họ cung cấp cácnghiệp vụ tín dụng thuê mua cho các chủ thuể có nhu cầu về vốn trong nền kinhtế

Nghiệp vụ tín dụng thuê mua, người đi thuê lựa chọn tài sản phù hợp vớinhu cầu của mình và dề nghị người cho thuê mua tài sản đó Sau khi mua tài sản

dó, người cho thuê - người sở hữu tài sản thuê - để cho người thuê sử dụng tài sảntheo thời hạn được tính trên cơ sở thời gian hữu dụng của tái sản Trong suốt thờigian thực hiện hợp đồng tín dụng thuê mua, người đi thuê phải trả tiền thuê chongười cho thuê theo định kỳ đã thoả thuận ghi trong hợp đồng tín dụng thuê mua

Số tiền thuê mua phải đảm bảo bù đắp dược chi phi khấu hao vốn đầu tư mua tàisản và các khoản chi phí khác có liên quan Các khoản chi phí về bảo dưỡng, bảohiểm và trách nhiệm khác thường xuyên có liên quan đến tài sản thuê phát sinhtrong thời gian thuê, người đi thuê phải chịu Chậm nhất khi đến hạn hợp đồng,người thuê có thể mua tài sản thuê theo giá định trước của hợp đồng ban đâu, hoặcđược quyền thuê tiếp, hoặc trả lại tài sản cho người cho thuê

Tài sản thuê mua có hai loại: động sản và bất động sản, nên tín dụng thuêmua cũng được chia làm hai loại là tín dụng thuê mua động sản và tín dụng thuêmua bất động sản

Trang 12

+ Tín dụng thuê mua động sản: Tín dụng này liên quan đến hàng hoá , trangthiết bị không có tính chất nhà cửa, thời hạn thông thường là 3-5 năm, tin dụngthuê mua động sản thuộc tín dụng trung gian Với loại này người đi thuê thường sẽmua tài sản sau khi kết thúc hợp đồng thuê theo mức giá thoả thuận có tính đến sốtiền thuê đã trừ trước đó.

+ Tín dụng thuê mua bất động sản: Tín dụng này có liên quan đến những tưliệu snr xuất có tính chất như nhà cửa, vật kiến trúc… có giá trị cao và thời gianlâu dài từ 15-20 năm Tín dụng thuê mua bất động sản thuộc loại tín dụng dài hạn

6 Rủi ro tín dụng:

6.1 Khái niệm

Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn Tuy nhiên,không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro Chỉ có những tình trạng khôngchắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro

Có ba loại rủi ro:

- Rủi ro tín dụng là rủi ro mà nguời đi vay không thể (hay không muốn) trả

nợ gây ra những thiệt hại về mặt tài chính cho người cung cấp tín dụng Loại rủi ronày thường xảy ra bởi những người đi vay cá nhân, các tổ chức khác

- Rủi ro về lãi suất là những rủi ro liên quan đến những biến động của lãisuất trên thị trường Rủi ro này thường đi kèm với rủi ro thị trường và tác độngquan trọng đến các loại chứng khoán có thu nhập cố định như trái phiếu

-Rủi ro về tỷ giá là loại rủi ro do biến động tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồngngoại tệ Tỷ giá tăng hay giảm đều làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng

Trong các loại rủi ro trên thì rủi ro tín dụng được xem là quan trọng nhất vì

nó có quan hệ mật thiết và chi phối mạnh mẽ đến các loại rủi ro còn lại Mặt khác,trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng hiện nay thì tín dụng được coi làdịch vụ sinh lời chủ yếu và quan trọng có ảnh hưởng đến quyết định đến hiệu quảkinh doanh của ngân hàng

Trang 13

Vậy rủi ro tín dụng là người đi vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả

nợ theo hợp đồng, bao gồm gốc và (hoặc) lãi Sự sai hẹn có thể là trễ hẹn thanhtoán hoặc không thanh toán

6.2 Phân loại rủi ro:

Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố mang tính chất riêng biệt của mỗichủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế

Rủi ro tập trung là khi mức dư nợ cho vay được dồn cho một số kháchhàng, một số ngành kinh tế, một loại cho vay hoặc một khu vực địa lý

Rủi ro danh mục có ba thành phần

Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng.Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoảntrong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo về mức an toàn của nó

Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến vịêc quản lý hoạt động cho vaynhư: xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiệncho vay và kiểm soát danh mục cho vay, tái xét và giám sát danh mục cho vay,bao gồm cả việc xây dựng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoảncho vay có vấn đề

6.3 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan hay chủquan từ cả hai phía khách hàng và ngân hàng

6.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng:

Về mặt chủ quan có thể do trình độ quản lý của khách hàng còn yếu kémdẫn đến sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến khả năng trả

nợ Cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ trong khi biệnpháp xử lý thu hồi nợ của ngân hàng tỏ ra kém hiệu quả

Về mặt khách quan có thể do khách hàng gặp phải trong những thay đổi vềmôi trường kinh doanh không phù hợp hoặc không thể lường trước được, chẳnghạn sự thay đổi về giá cả hay nhu cầu về thị trường, sự thay đổi về môi trườngpháp lý hay chính sách của chính phủ khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó

Trang 14

khăn tài chính không thể khắc phục được Từ đó, doanh nghiệp dù có thiện chínhưng vẫn không thể trả được nợ

6.3.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng.

Về mặt chủ quan do quá trình phân tích và thẩm định tín dụng không kỹlưỡng dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay Hoặc cũng có thể quyết định chovay đúng đắn do thiếu kiểm tra ,kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sửdụng vốn vay không đúng mục đích nhưng ngân hàng vẫn không phát hiện đểngăn chặn kịp thời

Tóm lại, dù nguyên nhân từ phía khách hàng hay ngân hàng, nguyên nhânchủ quan hay khách quan đều dẫn đến hậu quả là khách hàng đều không trả đượcnợ

việc phân tích và phân định rõ ràng nguyên nhân giúp ngân hàng có biệnpháp xử lý hợp tình hợp lý hơn

6.3.3 Tác động của rủi ro tín dụng:

Đối với thị trường tài chính: khi rủi ro tín dụng xảy ra nghĩa là ngân hàngkhông thu được nợ ( bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi) khi đến hạn Mặc khác, ngânhàng phải trả lãi cho huy động vốn từ dân cư cộng với các khoản chi phí từ hoạtđộng khác làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống và giá trị thị trường củavốn cũng giảm gây nên sự tổn thất về tài chính Nếu rủi ro tín dụng cao, ngân hàng

sẽ mất khả năng thanh toán và phải sử dụng nguồn vốn tự có để bù đắp rủi ro đó.Điều đó sẽ làm cho nguồn vốn của ngân hàng bị thu hẹp và có thể dẫn đến nguy cơphá sản

Đối với nền kinh tế: Hoạt động của ngân hàng gắn với hoạt động của nềnkinh tế Khi rủi ro tín dụng xãy ra, một số ngân hàng bị phá sản sẽ gây ra tâm lý lo

sợ bị mất tiền gửi nơi khách hàng Nên vì tâm lý đó khách hàg đến rút tiền hàngloạt tại các ngân hàng dẫn đến tình trạng mất ổn định trong các hoạt động của nềnkinh tế hậu quả là các hoạt động sản xuất kinh doanh bị kìm hãm và tình trạng nềnkinh tế suy thoái là điều không thể tránh khỏi

Trang 15

Đối với xã hội: khi sản xuất kinh doanh kém phát triển, nền kinh tế bị suythoái thì rủi ro tín dụng đã gián tiếp làm tăng tỷ lệ người thất nghiệp, làm đảo lộntrật tự xã hội.

7 Quy trình tín dụng:

7.1 Vai trò của việc lập quy trình tín dụng:

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếpnhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định chovay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng

Hầu hết các ngân hàng thương mại đều tự thiết kế cho mình một quy trìnhtín dụng cụ thể Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng có ýnghĩa rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng Về mặt hiệu quả,quy trình tín dụng hợp lý góp phần nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tíndụng Về mặt quản trị, quy trình tín dụng có các chức năng sau đây:

Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc phân định trách nhiệm và quyềnhạn của từng bộ phận trong hoạt động tín dụng

Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủ tục vayvốn về mặt hành chính

Quy trình tín dụng chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phân liên quan tronhhoạt động tín dụng

Ngày đăng: 02/07/2014, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cho vay - ĐỀ TÀI : Tín dụng ngân hàng pptx
Sơ đồ cho vay (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w