1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập lịch sử Đảng Việt Nam

85 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn tập lịch sử Đảng Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Việt Nam
Thể loại Giáo trình ôn tập
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 151,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG HỢP 25 CÂU CỦA THẦY THÁI VĂN NAM (4)
    • 14. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu? Yếu tố nào đã tác động đến sự lựa chọn này? (24)
    • 15. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 9 khóa XI (2014), Dáng ta đưa ra quan điểm: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước". Hãy trình bày ý kiến của anh/chị về quan điểm trên (26)
    • 16. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta thực hiện đường lối đổi ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu? Nêu khó khăn, thách thức đề thực hiện đường lối này trong giai đoạn hiện nay (27)
    • 17. Trình bày ý kiến của anh/chị về chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế căn Đảng trong thời kỳ đổi mới. Sinh viên cần làm gì để góp phần thúc đẩy quá trình này? (29)
    • 18. Theo anh chị tại sao hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập quốc toàn diện? Hãy phân tích lợi ích và thách thưucs của hội hập nhập quốc tế (31)
    • 20. So sánh, đánh giá khái quát sự phát triển nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - nay) với thời kỳ trước đổi mới (1975 - 1985)? (34)
    • 21. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đảng: Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay? (35)
    • 22. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đàng: Mở rộng và tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay (36)
    • 23. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đăng: Sự nghiệp cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân? (38)
    • 24. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đăng: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế? (40)
    • 25. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đảng: Sự lãnh đạo đúng dẫn của Đảng là nhân tố hàng dẫu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam? (42)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG HỢP CÂU HỎI TỪ CÁC HỌC KỲ TRƯỚC VÀ MỘT SỐ CÂU HỎI (45)
    • 1. Phân tích quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới của Đảng từ 1975 đến 1985 (45)
    • 2. Phân tích những chủ trương và biện pháp lớn của Đảng Cộng Sản Việt Nam để bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn 1945 -1946. Theo anh chị nhiệm vụ nào là quan trọng nhất , vì sao? (49)
    • 3. Trong Đại hội VIII (1996) của Đảng, lần đầu tiên Đảng khẳng định “tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái”. Trình bày suy nghĩ của A/C về quan điểm này và theo Anh/Chị, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, chúng ta có nên đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế không? Vì sao? (6 điểm) (51)
    • 6. Năm 1986, ĐCS VN đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện. Anh/ chị hãy lý giải lý giải vì (53)
    • 7. Anh chị hãy cho biết tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung (54)
    • 8. Tại sao sau năm 1975, Việt Nam lại rơi vào khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội?. 55 9. Tại sao đường lối Đổi mới được Đại hội lần thứ VI (12/1986) thông qua lại tập trung vào đối mới kinh tế (mà thực chất là đổi mới tư duy kinh tế)?Anh chị hãy phân tích về đấu tranh (57)
  • CHƯƠNG 3: TỔNG HỢP CÂU HỎI PHÒNG HỜ (0)

Nội dung

Đây là File tài liệu ôn tập lịch sử Đảng Việt Nam, trình độ là dành cho Đại học đề mở. Được biên soạn bởi sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

TỔNG HỢP 25 CÂU CỦA THẦY THÁI VĂN NAM

Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu? Yếu tố nào đã tác động đến sự lựa chọn này?

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế tổng quát của nước ta hiện nay Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta. Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (1986) và ngày càng được hoàn thiện Thực tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam. Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: " thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"

Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường mà chúng ta lựa chọn đó là CNXH và để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc trưng cơ bản và đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản là:

Các yếu tố khách quan:

Xu thế toàn cầu hóa: Cuối thế kỷ 20, toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu, đòi hỏi các quốc gia phải hội nhập vào nền kinh tế thế giới Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã bộc lộ nhiều hạn chế trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường Thất bại của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã dẫn đến tình trạng trì trệ, thiếu hiệu quả, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân

Sự phát triển của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi một cơ chế kinh tế linh hoạt, khuyến khích đổi mới, sáng tạo Mô hình kinh tế thị trường đáp ứng tốt hơn nhu cầu này.

Các yếu tố chủ quan:

● Bài học kinh nghiệm: Qua quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, nhận thức rõ những hạn chế của mô hình kinh tế cũ Mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng: Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần một nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân Sự sáng tạo của Đảng: Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy, sáng tạo,đưa ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.

Cuối cùng, yếu tố con người và công bằng xã hội là trọng tâm trong mô hình này Kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ hướng đến tăng trưởng mà còn chú trọng phân phối công bằng, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người dân Đây là điểm khác biệt căn bản so với kinh tế thị trường tư bản, và là lý do mô hình này phù hợp với mục tiêu xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 9 khóa XI (2014), Dáng ta đưa ra quan điểm: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước" Hãy trình bày ý kiến của anh/chị về quan điểm trên

"Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước". Hãy trình bày ý kiến của anh/chị về quan điểm trên.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước Quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước” được khẳng định rõ tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XI

(2014) tiếp tục thể hiện tầm nhìn sâu sắc, toàn diện của Đảng về vị trí, vai trò chiến lược của văn hóa. Đây không chỉ là một nhận định mang tính lý luận, mà còn là kim chỉ nam cho hành động trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Quan điểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và cả dân tộc Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng ta cần phải mở rộng giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thụ có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong tinh hoa văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc

Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước Mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính là mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.

Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên, thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ chính là nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người, thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước thấm sâu trong văn hóa, con người Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải vựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa.

Trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động và làm thay đổi quan niệm về phát triển kinh tế, phát triển bền vững, phát triển không đơn thuần chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, mặt dù yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng đều có hạn và có thể bị khai thác cạn kiệt, mà dần dần chuyển sang yếu tố quyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức, thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của cá nhân và xã hội, đó tức là văn hóa, vai trò của văn hóa trong phát triển, chỉ có sự tham gia của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.

Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người Tiềm năng sáng tạo này nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và cộng đồng Chỉ có nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt, các nguồn lực khác sẽ không được sự dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ và năng lực khai khác chúng, thì các nguồn lực đó dù có phong phú, đa dạng, thì cũng không thể tham gia và phát huy tác dụng vào trong phát triển. Thực tiễn đã chứng minh rằng, trong các giai đoạn khó khăn của lịch sử, chính văn hóa là yếu tố đã giữ cho dân tộc ta tinh thần bất khuất, đoàn kết và bản lĩnh Trong công cuộc đổi mới và phát triển hiện nay, việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và tâm hồn được Đảng xác định là trung tâm của chiến lược phát triển văn hóa Điều này tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Văn hóa còn thì dân tộc còn.”

Có thể nói, quan điểm của Đảng về văn hóa là nền tảng, mục tiêu và động lực phát triển bền vững đất nước là một định hướng mang tính chiến lược lâu dài và toàn diện Trong bối cảnh mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, việc khơi dậy và phát huy vai trò của văn hóa là nhiệm vụ cấp thiết để phát triển đất nước theo hướng hiện đại, nhân văn và bền vững Là thế hệ trẻ, mỗi chúng ta cần nhận thức đúng đắn, hành động cụ thể để giữ gìn, bồi đắp và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại mới.

Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta thực hiện đường lối đổi ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu? Nêu khó khăn, thách thức đề thực hiện đường lối này trong giai đoạn hiện nay

Đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa là sự lựa chọn chiến lược đúng đắn, khách quan và mang tính tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Nó đã góp phần quan trọng vào việc phá thế cô lập, mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực phát triển và khẳng định vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả đường lối này trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực ngoại giao, giữ vững bản lĩnh chính trị và kiên định với nguyên tắc độc lập, tự chủ vì lợi ích quốc gia – dân tộc. Đại hội VI (năm 1986) mở đầu sự nghiệp đổi mới toàn diện của Việt Nam Trong đối ngoại,chúng ta chủ trương “tham gia sự phân công lao động quốc tế…; tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi”, Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) chỉ rõ việc mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các trung tâm chính trị khu vực và quốc tế: "tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới, đồng thời luôn luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh, với phong trào Không liên kết".

Có nhiều lý do làm cho việc thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa trở thành lựa chọn tất yếu và khách quan của Đảng: Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu phục vụ công cuộc đổi mới Để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, Việt Nam cần tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài như vốn, công nghệ, thị trường, tri thức… Việc mở rộng quan hệ đối ngoại sẽ tạo điều kiện thu hút đầu tư, viện trợ, học hỏi kinh nghiệm quốc tế để phát triển đất nước.

Thứ hai, để phá thế bị cô lập, cấm vận Sau năm 1975, đặc biệt là trong thập niên 1980,

Việt Nam bị bao vây, cấm vận về kinh tế, đặc biệt từ Mỹ và một số nước phương Tây Đường lối đối ngoại mới giúp Việt Nam phá thế bị cô lập, từng bước bình thường hóa quan hệ quốc tế như với Trung Quốc (1991), Hoa Kỳ (1995), và gia nhập nhiều tổ chức khu vực và toàn cầu như ASEAN

Thứ ba, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa, không quốc gia nào có thể phát triển nếu “đóng cửa” hay tự cô lập mình Đa phương hóa, đa dạng hóa giúp Việt Nam thích ứng với xu thế phát triển chung, mở rộng không gian hợp tác, đảm bảo lợi ích quốc gia trong môi trường cạnh tranh gay gắt.

Thứ tư, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia Quan hệ rộng mở với nhiều nước giúp Việt Nam không bị phụ thuộc vào một phía, tạo thế cân bằng chiến lược, bảo vệ chủ quyền và ổn định chính trị lâu dài Quan điểm “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” đã trở thành kim chỉ nam trong đối ngoại thời kỳ mới.

2 Những khó khăn, thách thức trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, việc thực hiện đường lối này hiện nay cũng đặt ra nhiều khó khăn và thách thức:

Sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh rất lớn, không chỉ về kinh tế mà còn về chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động, công nghệ và môi trường kinh doanh.

Phức tạp trong quan hệ với các nước lớn Đa phương hóa đồng nghĩa với việc Việt Nam phải giữ cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, đôi khi có lợi ích đối kháng nhau như Mỹ – Trung – Nga – EU… Việc “đi dây” khôn khéo đòi hỏi bản lĩnh ngoại giao rất cao.

Vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia Một số thách thức liên quan đến tranh chấp chủ quyền, đặc biệt trên Biển Đông, vẫn tiềm ẩn nguy cơ căng thẳng Việt Nam cần phải xử lý các mối quan hệ quốc tế sao cho vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, vừa giữ hòa bình, ổn định khu vực.

Cam kết quốc tế ngày càng sâu rộng Khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP…, Việt Nam phải thực hiện các cam kết cao về mở cửa thị trường, cải cách thể chế, bảo vệ sở hữu trí tuệ, môi trường, lao động Đây là thách thức lớn đối với thể chế quản lý còn đang trong quá trình hoàn thiện.

Nguy cơ “diễn biến hòa bình” từ các thế lực thù địch Trong quá trình mở rộng đối ngoại, các thế lực phản động có thể lợi dụng giao lưu quốc tế để tuyên truyền chống phá, truyền bá tư tưởng sai lệch, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, gây mất ổn định chính trị nội bộ.

Như vậy, từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay, cùng với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đường lối này hoàn toàn phù hợp với những xu thế phát triển trong quan hệ quốc tế hiện nay, nhất là khi xu thế đa phương, đa dạng các mối quan hệ, hội nhập khu vực và quốc tế đang thành một xu thế nổi trội trong các mối quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều mặt Quan điểm trên thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc đưa các quan hệ đối ngoại đã được mở rộng đi vào chiều sâu, tích cực hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, phấn đấu để tham gia ngày càng nhiều và càng có chất lượng trong giải quyết các công việc ở khu vực và trên thế giới Đây chính là một nội dung mới trong đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Đảng và nhà nước ta

Trình bày ý kiến của anh/chị về chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế căn Đảng trong thời kỳ đổi mới Sinh viên cần làm gì để góp phần thúc đẩy quá trình này?

kỳ đổi mới Sinh viên cần làm gì để góp phần thúc đẩy quá trình này?

Trong tiến trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ rằng hội nhập quốc tế là một chủ trương lớn, mang tính chiến lược và lâu dài, nhằm tận dụng các nguồn lực bên ngoài để phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước một cách toàn diện, bền vững Quan điểm “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” lần đầu tiên được nêu rõ tại Đại hội XI của Đảng năm 2011 và tiếp tục được khẳng định, cụ thể hóa tại các đại hội sau như Đại hội XII (2016) và Đại hội XIII (2021).

Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó.

Về chủ trương "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế" của Đảng tại Đại hội X (2006):

Việc mở rộng hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế tạo nhiều thuận lợi cho phát triển nhanh kinh tế

- xã hội, nâng cao vị thế đất nước Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức lớn từ tình hình quốc tế phức tạp (toàn cầu hóa, khoa học - công nghệ, xung đột) và những yếu kém nội tại (kinh tế kém phát triển, nguy cơ tụt hậu, khoa học - công nghệ lạc hậu, suy thoái đạo đức, hạn chế trong quốc phòng - an ninh - đối ngoại) Yêu cầu cấp thiết là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, đổi mới mạnh mẽ để phát triển nhanh và bền vững, thoát khỏi tình trạng kém phát triển.

● Tăng cường hội nhập kinh tế: Hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp nhận công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại Điều này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân.

● Nâng cao vị thế quốc tế: Việc tham gia vào các tổ chức và diễn đàn quốc tế giúp Việt Nam khẳng định vị thế và vai trò của mình trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ lợi ích quốc gia.

● Tạo môi trường hòa bình và ổn định: Hợp tác quốc tế giúp xây dựng môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

● Tiếp cận nguồn lực bên ngoài: Hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tiếp cận các nguồn lực bên ngoài như vốn, công nghệ, tri thức và kinh nghiệm, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

● Toàn cầu hóa và bất bình đẳng: Toàn cầu hóa mang lại cơ hội phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố bất bình đẳng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Việt Nam cần phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các nước phát triển hơn, nguy cơ bị tụt hậu nếu không có những chính sách và chiến lược phù hợp.

● Khoa học - công nghệ và sự tụt hậu: Sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ tạo ra áp lực lớn đối với Việt Nam Nếu không đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển, Việt Nam có nguy cơ bị tụt hậu về công nghệ, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

● Các vấn đề an ninh phi truyền thống: Các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ngày càng gia tăng và có tác động sâu rộng đến Việt Nam.

● Tình trạng kém phát triển và nguy cơ tụt hậu: Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn còn kém phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Nguy cơ tụt hậu vẫn còn hiện hữu nếu không có những nỗ lực đột phá.

● Các vấn đề nội tại: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, cùng với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, là những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển của đất nước.

● Hạn chế trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Những hạn chế trong các lĩnh vực này có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia và ứng phó với các thách thức từ bên ngoài.

+ Sinh viên cần làm gì để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế:

Sinh viên là lực lượng tiên phong, là chủ nhân tương lai của đất nước, vì vậy việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là vô cùng quan trọng Dưới đây là một số việc sinh viên có thể làm:

● Nâng cao trình độ ngoại ngữ: Ngoại ngữ là chìa khóa để tiếp cận tri thức, văn hóa thế giới và giao tiếp với bạn bè quốc tế Sinh viên nên học ít nhất một ngoại ngữ thông dụng như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật,

Theo anh chị tại sao hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập quốc toàn diện? Hãy phân tích lợi ích và thách thưucs của hội hập nhập quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế – Bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, hội nhập quốc tế trở thành một xu thế tất yếu của các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Trong tiến trình hội nhập toàn diện với thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế được xác định là bước đi đầu tiên và có ý nghĩa nền tảng. Đây không chỉ là lựa chọn chiến lược đúng đắn mà còn là điều kiện thiết yếu để từng bước mở rộng hợp tác về chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ và các lĩnh vực khác.

1 Vì sao hội nhập kinh tế quốc tế là bước đầu tiên của hội nhập toàn diện?

Thứ nhất, kinh tế là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với đời sống, việc làm và thu nhập của người dân, đồng thời phản ánh năng lực và vị thế của một quốc gia Trong điều kiện nguồn lực có hạn, một nền kinh tế khép kín sẽ khó có thể phát triển Hội nhập kinh tế tạo cơ hội để Việt Nam mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, tiếp cận công nghệ hiện đại và nâng cao năng suất lao động – từ đó tạo ra nền tảng vật chất để thúc đẩy các lĩnh vực khác.

Thứ hai, khi tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế như ASEAN, WTO, CPTPP, RCEP , Việt

Nam buộc phải điều chỉnh cơ chế, chính sách và luật pháp theo chuẩn mực quốc tế Quá trình "chuyển hóa bên trong" này giúp hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản trị – những yếu tố then chốt cho hội nhập sâu rộng hơn về chính trị, xã hội và văn hóa.

Thứ ba, hội nhập kinh tế dễ đạt được đồng thuận và ít nhạy cảm hơn các lĩnh vực như quốc phòng, chính trị, hay văn hóa – vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố lịch sử, thể chế và bản sắc dân tộc Do đó, kinh tế trở thành "cửa ngõ" an toàn để bắt đầu tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện một cách chủ động và vững chắc.

2 Lợi ích của hội nhập kinh tế quốc tế

Một là, hội nhập giúp mở rộng thị trường xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận hàng tỷ người tiêu dùng toàn cầu, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và đổi mới sản phẩm.

Hai là, nhờ hội nhập, Việt Nam thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Các tập đoàn đa quốc gia mang theo công nghệ, kỹ năng quản lý, nguồn nhân lực chất lượng và chuỗi giá trị toàn cầu – tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến các doanh nghiệp trong nước.

Ba là, hội nhập tạo áp lực và động lực để cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Những cải cách về luật pháp, thủ tục hành chính, minh bạch hóa thị trường giúp tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, hiện đại.

Bốn là, hội nhập kinh tế góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, khẳng định vai trò của một quốc gia năng động, chủ động và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

3 Thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế

Một là, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn Các doanh nghiệp nội địa – vốn nhỏ, năng lực quản trị yếu – phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các tập đoàn nước ngoài Nếu không đổi mới, nguy cơ bị thâu tóm hoặc phá sản là rất rõ rệt.

Hai là, nguy cơ lệ thuộc vào vốn, công nghệ và thị trường nước ngoài, nhất là khi không làm chủ được chuỗi cung ứng hoặc chậm chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế dễ dẫn đến "mở cửa văn hóa, khép cửa tinh thần" nếu không có chiến lược bảo vệ bản sắc Các giá trị ngoại lai có thể xâm nhập và làm phai nhạt truyền thống văn hóa dân tộc.

Bốn là, nếu không điều chỉnh chính sách phù hợp, hội nhập có thể tạo ra bất bình đẳng gia tăng, phân hóa giàu nghèo sâu sắc, khi những nhóm yếu thế không có cơ hội tiếp cận lợi ích từ toàn cầu hóa.

Hội nhập kinh tế quốc tế là bước khởi đầu cần thiết và có tính quyết định trong lộ trình hội nhập toàn diện của mỗi quốc gia Đối với Việt Nam, quá trình này đã mang lại những chuyển biến tích cực, tạo nền tảng cho phát triển bền vững Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, hội nhập cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, thể chế linh hoạt, và sự đoàn kết, sáng tạo của toàn xã hội Chỉ khi nắm bắt tốt thời cơ và vượt qua thách thức, Việt Nam mới có thể vươn lên mạnh mẽ trong sân chơi toàn cầu.

19 Đánh giá sự phát triển nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội qua Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011?

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn không ngừng bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) cho phù hợp với điều kiện lịch sử – cụ thể của đất nước và xu thế phát triển của thời đại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 là hai dấu mốc quan trọng thể hiện rõ quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Thông qua Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011, có thể nói, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sâu sắc và cụ thể hơn; trong đó, luôn có sự kế thừa, bổ sung, phát triển và hoàn thiện dần qua từng giai đoạn Nếu như với Cương lĩnh 1991 đánh dấu một bước ngoặt lớn sau Đại hội VI, khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội trong bối cảnh mô hình CNXH kiểu Xô-viết sụp đổ Cương lĩnh này xác định 6 đặc trưng cơ bản, tập trung vào: quyền làm chủ của nhân dân lao động; phát triển kinh tế với nền tảng công hữu; văn hóa dân tộc, công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc, và quan hệ đối ngoại hòa bình.

So sánh, đánh giá khái quát sự phát triển nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - nay) với thời kỳ trước đổi mới (1975 - 1985)?

nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - nay) với thời kỳ trước đổi mới (1975 - 1985)?

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và hạn chế trong nhận thức lý luận, con đường phát triển giai đoạn đầu (1975–1985) đã bộc lộ nhiều bất cập, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng Đứng trước thực tiễn đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới toàn diện tư duy lý luận, đặc biệt là về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bắt đầu từ Đại hội VI (1986) và tiếp tục được hoàn thiện qua các kỳ đại hội sau.

Trong thời kỳ trước đổi mới (1975–1985), Đảng xác định mô hình chủ nghĩa xã hội dựa phần lớn theo kinh nghiệm của Liên Xô, nhấn mạnh yếu tố bao cấp, sở hữu công hữu và kế hoạch hóa tập trung Mục tiêu được đề ra là "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội", trong đó phát triển công nghiệp nặng là then chốt Chính sách cải tạo XHCN được triển khai nhanh chóng ở cả miền Bắc và miền Nam với việc hợp tác hóa nông nghiệp, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, xóa bỏ kinh tế tư nhân Tuy nhiên, mô hình này đã không phù hợp với thực tiễn, dẫn đến nền kinh tế trì trệ, sản xuất nông nghiệp không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân khó khăn Trong giai đoạn này, nhận thức của Đảng về CNXH còn thiên về cảm tính, thiếu tính khoa học và cụ thể.

Bước sang thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay), nhất là tại Đại hội VI, Đảng đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, khẳng định phải đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế Đảng đã xác định rõ: quá độ lên CNXH là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp, phải trải qua nhiều bước đi trung gian với nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đan xen nhau Đặc biệt, Đại hội VII (1991) với Cương lĩnh đầu tiên của thời kỳ đổi mới đã khẳng định mô hình phát triển xã hội XHCN ở Việt Nam phải vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Đảng đã chấp nhận và từng bước hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, kết hợp phát triển nhiều thành phần kinh tế, lấy doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng tôn trọng vai trò của kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các văn kiện Đại hội XI (2011) và XIII (2021) tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về quá độ lên CNXH, trong đó nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của con người, tăng trưởng bền vững, phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, và hội nhập quốc tế toàn diện.

So sánh hai thời kỳ, có thể thấy rằng nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên CNXH đã ch uyển từ tư duy giáo điều, máy móc sang tư duy thực tiễn, linh hoạt và sáng tạo Nếu như trước đổi mới, Đảng còn lệ thuộc nhiều vào mô hình XHCN quốc tế, thì sau đổi mới, Đảng đã chủ động xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, quá trình đổi mới cho thấy Đảng đã biết kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận – một biểu hiện rõ rệt của sự trưởng thành về tư duy chính trị.

Tóm lại, sự phát triển nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên CNXH qua hai thời kỳ phản ánh sự kiên định mục tiêu XHCN đồng thời không ngừng đổi mới về phương pháp và nội dung thực hiện Đó là minh chứng rõ ràng cho bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc lãnh đạo đất nước vượt qua thử thách, hướng đến mục tiêu xây dựng một xã hội vì con người,dân chủ, tiến bộ và bền vững.

Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đảng: Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay?

Nội dung bài học lịch sử của Đảng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ, bổ trợ cho nhau Độc lập dân tộc là tiền đề, điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công CNXH Đồng thời, CNXH là cơ sở vững chắc để bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc chân chính Do đó, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là điều kiện bảo đảm thắng lợi của cách mạng nước ta Trong mọi hoàn cảnh, Đảng ta luôn kiên định con đường đi lên CNXH, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin, coi đây là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng Từ công cuộc đổi mới 1986 đến nay, lý luận về độc lập dân tộc và CNXH đã được làm rõ hơn và từng bước hiện thực hóa Thành tựu lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã khẳng định tính đúng đắn của con đường Đảng và nhân dân đã lựa chọn Đảng khẳng định mọi luận điệu phủ nhận mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH đều đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc Các thế lực thù địch lợi dụng khuyết điểm, khó khăn để xuyên tạc, đòi xóa bỏ CNXH, cần bị vạch trần và loại bỏ. Định hướng vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Kiên định nguyên tắc nhưng đổi mới sáng tạo: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH,nhưng đổi mới cách tiếp cận phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo không chệch hướng khỏi lý tưởng CNXH.

Phát huy sức mạnh toàn dân: Huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp chặt chẽ với dân chủ xã hội chủ nghĩa Đảm bảo lợi ích của người dân là trung tâm, là động lực phát triển xã hội.

Tăng cường xây dựng và chỉnh đốn Đảng: Đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ đức, tài, giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế: Củng cố quan hệ đối ngoại, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước Chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng bảo vệ vững chắc lợi ích dân tộc. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái: Nâng cao nhận thức của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và CNXH Đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ vai trò của Đảng và con đường CNXH.

Thực hiện chiến lược phát triển bền vững: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng xã hội văn minh. Ý nghĩa thực tiễn

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với CNXH không chỉ là sự lựa chọn đúng đắn của cách mạng Việt Nam, mà còn là con đường duy nhất để đất nước phát triển bền vững trong thời kỳ hiện đại.Vận dụng bài học lịch sử này giúp Việt Nam đối phó với những thách thức, giữ vững bản sắc, vị thế và vai trò trên trường quốc tế

Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đàng: Mở rộng và tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay

Đoàn kết toàn dân tộc luôn là một trong những nguyên tắc chiến lược, là cội nguồn sức mạnh to lớn trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam Trải qua các thời kỳ cách mạng từ đấu tranh giành độc lập dân tộc đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học mang tính xuyên suốt: “Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất vững mạnh.” Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển và hội nhập sâu rộng, bài học ấy càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc, cần được quán triệt và vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả.

Nội dung bài học lịch sử Đoàn kết là truyền thống quý báu, cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam trường tồn, vượt qua mọi thử thách lịch sử và đạt được những thắng lợi to lớn Đảng ta đã nhận thức rõ vai trò sống còn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xem đây là chiến lược xuyên suốt Đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở, nền tảng quan trọng trong phát huy toàn diện sức mạnh trí tuệ, sự sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, là động lực lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Khối đại đoàn kết là nhân tố quan trọng trong việc huy động các nguồn lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng đất nước vững mạnh, giàu đẹp Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chủ trương xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta, được thể hiện trực tiếp trong nội dung nhiều văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị qua các thời kỳ cách mạng Đến nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” Định hướng vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu Chú trọng xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu quả; xử lý nghiêm minh các hiện tượng tham nhũng, thoái hóa.

Phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc: Mở rộng, đa dạng hóa hình thức vận động quần chúng; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, tạo sự gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân: Khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc. Phát huy vai trò của trí thức, doanh nhân, người lao động trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.

Bảo đảm bình đẳng dân tộc, tôn giáo: Thực hiện chính sách phát triển đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo trong sự nghiệp phát triển đất nước.

-Giáo dục thế hệ trẻ: Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng đạo đức, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ Khơi dậy khát vọng cống hiến vì sự nghiệp xây dựng đất nước. Ý nghĩa và mục tiêu Ý nghĩa: Đại đoàn kết toàn dân là nền tảng cho mọi thành công của cách mạng, là động lực to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Mục tiêu: Hướng tới dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Vận dụng các bài học lịch sử, Đảng ta sẽ tiếp tục phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc để vượt qua những thách thức mới, hướng đến sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục xác định đại đoàn kết là “chủ trương nhất quán, xuyên suốt và lâu dài”, thể hiện rõ trong các văn kiện Đại hội toàn quốc Hội nghị Trung ương 7 khóa IX (2003) đã ra

Nghị quyết về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là trung tâm liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị – xã hội và cá nhân tiêu biểu”.

Tuy nhiên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc chưa thật bền chặt và đứng trước những thách thức mới như phân hóa giàu nghèo, khoảng cách vùng miền, tâm lý phân biệt giai cấp, tôn giáo, cũng như sự suy giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân do quan liêu, tham nhũng, thiếu dân chủ ở cơ sở Đây chính là những điểm cần được nhận diện để vận dụng bài học một cách thiết thực.

Vận dụng bài học trong giai đoạn hiện nay, trước hết cần đặt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, kinh tế thị trường phát triển nhưng cũng kéo theo nguy cơ phân hóa xã hội, tác động tiêu cực của thông tin mạng, cùng những âm mưu “diễn biến hòa bình” từ các thế lực thù địch. Trong bối cảnh ấy, mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là điều kiện sống còn để giữ vững ổn định, phát triển đất nước. Để thực hiện hiệu quả bài học này, cần tập trung vào các định hướng lớn như: Củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, thông qua việc xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, gần dân, trọng dân Thực hiện dân chủ thực chất, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, với phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Tăng cường vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, phát huy vai trò làm cầu nối giữa Đảng, chính quyền và nhân dân Khơi dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, xây dựng “khối đoàn kết trong và ngoài nước” bền vững Tôn trọng sự khác biệt, đa dạng trong xã hội, tạo điều kiện để mọi tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới trẻ, doanh nhân, trí thức… đều được cống hiến và phát triển.

Tóm lại, bài học “mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất” là một trong những giá trị cốt lõi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong bối cảnh mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, bài học ấy cần tiếp tục được kế thừa, phát triển và vận dụng linh hoạt để huy động sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường,giữ vững độc lập dân tộc, ổn định chính trị và phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đăng: Sự nghiệp cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân?

Cương lĩnh năm 1991 do Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua (6/1991) đã nêu lên 5 bài học chủ yếu Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) do Đại hội XI của Đảng thông qua (01/2011) cũng đã nêu bật 5 bài học chủ yếu Đó là sự tổng kết 81 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhất là 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991.Trong 5 bài học mà Cương lĩnh năm 2011 nêu lên, có bài học thứ hai là : “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” Đây là bài học nói lên vai trò, tầm quan trọng của quần chúng nhân dân.Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử vẻ vang của dân tộc Trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nêu rõ: "cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai người" Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân xuất phát từ quan niệm đúng đắn đó và đã được chứng minh trong lịch sử Người nhấn mạnh: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc''

Sau 30 năm hoạt động, tranh đấu ở nước ngoài, lãnh tụ t trở về Tổ quốc ngày 28/01/1941, cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Tại Pác Bó (Cao Bằng) đã trao đổi, thảo luận với đồng chí Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong nước, sự nghiệp bắt đầu từ đâu? Người nhấn mạnh, bắt đầu từ dân, dân trước súng sau, có dân sẽ có súng, có dân sẽ có tất cả Đó là luận điểm có giá trị lớn lao, sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn như đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nhiều lần đề cập Nhờ sức mạnh toàn dân mà có được thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra thời đại mới trong lịch sử dân tộc, có được thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt chống đế quốc, thực dân, giành độc lập thống nhất hoàn toàn và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lên hàng đầu bài học: lấy dân làm gốc Mục tiêu của đổi mới cũng nhằm xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng, hiệu quả cao chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân Cũng cần nhấn mạnh rằng, chính lợi ích, sáng kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc của đường lối đổi mới Cũng chính nhân dân là người tích cực hưởng ứng, thực hiện đường lối đổi mới và mang lại lợi ích cho chính mình Đảng, Nhà nước đã tổ chức, hướng dẫn, động viên cao độ sức dân để làm lợi cho dân Sự thống nhất giữa đường lối của Đảng với lợi ích, nguyện vọng của nhân dân đã thật sự làm nên thắng lợi của công cuộc đổi mới Cương lĩnh năm 2011 nhấn mạnh: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Trong “Mục tiêu tổng quát đến năm 2020” trong Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đặt mục tiêu xây dựng Đảng và phát huy sức mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu Đại hội đã xác định: Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Đại hội XII xác định một trong những nhiệm vụ tổng quát của 5 năm tới là xử lý tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo với nhân dân làm chủ trên tinh thần: “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân”

Bài học kinh nghiệm chúng ta rút ra được trong giai đoạn cách mạng hiện nay, bài học quan trọng thân dân, gần dân, kính dân, vì dân cần được thấm nhuần triệt để từ lãnh đạo cấp cao đến mỗi cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ sở cả nước Để việc thực hiện đạt được hiệu quả cao nhất, bảo đảm thắng lợi của mỗi Nghị quyết của Đại hội Đảng các cấp, đòi hỏi từng cá nhân cán bộ, đảngviên, phải tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật và đánh giá đúng sự thật và quan trọng nhất là người đứng đầu Có như vậy chúng ta mới có thể nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhất là các cán bộ, đảng viên trẻ. Nhằm kiên quyết khắc phục những yếu kém hiện nay Các cấp lãnh đạo, quản lý phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực, hành động đúng đắn, luôn tiên phong trong mọi việc, luôn xem lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc và không vì lợi ích cá nhân như bài học từ trước đến nay là

Kết quả đạt được có thành công hay không, ngoài việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với truyền thống lịch sử dân tộc hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước qua các thời kỳ lịch sử Phải có sự quyết liệt trong chỉ đạo đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả của người đứng đầu, hiểu đúng và đầy đủ về dân mà có những triển khai đúng đắn thì sẽ đạt được kết quả mới khác biệt nhưng không phải chối bỏ những cái đã có mà là đang kế thừa, phát huy, sáng tạo và có thành tựu nổi bật.

Trong quá trình lãnh đạo của Đảng và nhà nước từ xưa đến nay, Nghị quyết được xem là những văn kiện mang tính lý luận và tổng kết thực tiễn sâu sắc và được kế thừa từ lịch sử vẻ vang của Đảng và của toàn dân tộc, kết quả là những thành tựu của 90 năm ra đời và trưởng thành của Đảng cùng với hơn

30 năm đề ra đường lối đổi mới đất nước toàn diện, được Đảng và nhà nước ta tập hợp từ nhiều nguồn ý kiến đóng góp của toàn Đảng, toàn dân, thảo luận, kết tinh giá trị tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc Do đó Đảng cần phải luôn biết tranh thủ trí tuệ của nhân dân, sức mạnh của nhân dân để làm lợi cho dân, cho nước Đồng thời, phải luôn quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ” trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quố

Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đăng: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế?

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam là gắn kết chặt chẽ toàn bộ sức mạnh quốc gia - dân tộc với sức mạnh của xu thế, mục tiêu quốc tế là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của văn minh nhân loại, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới Đây là một quy luật, bài học quý giá của Cách mạng Việt Nam nhất là trong tình hình gặp nhiều thách thức như hiện nay.Trong thời đại cách mạng vô sản, chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho rằng, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, giai cấp vô sản ở mỗi nước phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi cho cách mạng Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, C Mác và Ph Ăng-ghen kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, V.I Lê-nin đã bổ sung khẩu hiệu đó và đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của nhân tố thời đại đối với cách mạng nước nhà Ngay từ những ngày đầu của hành trình tìm đường cứu nước, Người khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả” Theo đó, phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân lao động nước mình, làm cho tinh thần yêu nước trở thành một bộ phận của tinh thần quốc tế vô sản Người kêu gọi: “Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”.

Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sức mạnh dân tộc là nguồn lực nội sinh, giữ vai trò quyết định; sức mạnh thời đại là nguồn lực bên ngoài chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nhân tố bên trong là sức mạnh dân tộc, và khi nó được phát huy thì sẽ làm cho sức mạnh dân tộc tăng lên Người chỉ rõ: “phải tự lực cánh sinh Trông vào sức mình”;

“muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc với các mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế trở thành bài học kinh nghiệm xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Đặc biệt, qua hơn 36 năm đổi mới đất nước, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã để lại dấu ấn đặc sắc qua các kết quả, thành tựu to lớn, có tính bước ngoặt Từ chỗ bị bao vây, cấm vận ngặt nghèo, đến nay, nước ta đã vào nhóm nước có thu nhập trung bình, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; uy tín, vị thế quốc gia trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng lên Tuy nhiên, chúng ta cũng đang đối diện với những thách thức lớn: rơi vào bẫy thu nhập trung bình; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; các nhân tố của an ninh phi truyền thống và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…

Trước yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, việc vận dụng quy luật kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan Theo đó, cần chú ý thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng về sức mạnh quốc gia - dân tộc, tình hình thế giới và việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế.

Sức mạnh quốc gia - dân tộc được tạo nên bởi nhiều yếu tố, như quy mô và chất lượng của dân số cả nước; nguồn tài nguyên thiên nhiên; vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế; truyền thống văn hóa; sự ổn định chính trị - xã hội; đường lối đúng đắn của Đảng và sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân; sức mạnh tổng hợp quốc gia và vị thế quốc gia trên trường quốc tế

Hiện nay, tình hình thế giới đang có những biến chuyển hết sức nhanh chóng, phức tạp và khó lường Toàn cầu hóa đã trở thành một hiện thực khách quan được hầu hết quốc gia chấp nhận Toàn cầu hóa diễn ra không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh Theo đó, mỗi quốc gia không thể tách rời mà luôn là một bộ phận cấu thành của môi trường quốc tế, chịu sự tác động đa dạng, nhiều chiều của môi trường quốc tế Quan niệm chung về vai trò, ý nghĩa của các quốc gia - dân tộc và mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc trong hệ thống quốc tế cũng đang có sự phát triển mới.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang đến nhiều thành tựu đột phá, như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ thông minh (Smart technology), công nghệ in 3D và internet kết nối vạn vật (IoT) Cùng với quá trình toàn cầu hóa, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, theo đó, người lao động có trình độ chuyên môn cao ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

Trong bối cảnh, tình hình mới, chúng ta càng phải xác định rõ, cách mạng Việt Nam vẫn luôn luôn là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, vì vậy cần tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các phong trào, trào lưu tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đồng thời, tận dụng tối đa sức mạnh thời đại, vượt qua nguy cơ, thách thức, không ngừng gia tăng nguồn lực để nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Hai là, biết cách ứng xử và điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với các xu thế, chuẩn mực chung của quốc tế và khu vực, nhất là các chuẩn mực đã được quốc tế thừa nhận và áp dụng rộng rãi.

Trong môi trường toàn cầu hóa, các thông lệ, chuẩn mực quốc tế trong nhiều trường hợp trở thành tiêu chí quan trọng, chi phối sự hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia Do vậy, chúng ta cần nhạy bén và có cách ứng xử để vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa phù hợp với các chuẩn mực của khu vực và quốc tế Theo đó, cần bám sát, theo dõi chặt chẽ, nhận định kịp thời, chính xác tình hình thế giới và khu vực, dự đoán xu thế phát triển của nó để xác định thời cơ và thách thức đối với việc kết hợp các nhân tố bên trong với các nhân tố bên ngoài.

Trong quan hệ quốc tế, cần quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng trong tình hình mới “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại.

Chủ động tham gia và đóng góp tích cực trong xây dựng các “luật chơi” chung trong môi trường quốc tế, qua đó, tăng cường uy tín, vị thế quốc gia và gia tăng sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Ba là, chú trọng xây dựng và tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc. Đây là nội dung, biện pháp quan trọng và cần thiết để tăng cường sức mạnh tự cường bên trong, là sự vận dụng bài học quý báu về “dựa vào sức mình là chính” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thuận xã hội là sự đồng thuận giữa Nhà nước và nhân dân, các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, giữa các vùng, miền, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung; là sự chia sẻ, phối hợp hài hòa lợi ích tổng thể của quốc gia - dân tộc trong mỗi mục tiêu, chính sách Điều này còn được thể hiện qua việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hoạt động hiệu lực, hiệu quả Có đồng thuận xã hội, sức mạnh dân tộc sẽ được nhân lên bội phần, từ đó dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc huy động các nguồn lực từ bên ngoài. Để xây dựng sự đồng thuận xã hội, cần coi trọng phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đồng thời, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, với tư cách là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Theo đó, Đảng cần không ngừng tự đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc trong lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, bảo đảm lực lượng vũ trang luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Nêu cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tập hợp ý kiến đóng góp của nhân dân đối với chủ trương, chính sách bảo vệ Tổ quốc để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước

Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đảng: Sự lãnh đạo đúng dẫn của Đảng là nhân tố hàng dẫu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam?

là nhân tố hàng dẫu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam?

Mùa Xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam Hơn 90 năm qua, Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám năm

1945, giành độc lập dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân, đưa dân tộc thoát khỏi sự áp bức, bóc lột, ách nô lệ, trở thành người chủ của đất nước, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội.Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi Đó là bài học lớn cho cách mạng Việt Nam Để có được sự lãnh đạo đúng đắn, Đảng phải chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra.

Thứ nhất, Đảng không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ, trung thành và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

V.I.Lênin nêu rõ: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng… Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong, hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong”.

Hồ Chí Minh từ năm 1927, đã nói rõ vai trò của lý luận (chủ nghĩa): “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy.

“Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng coi trọng tổng kết thực tiễn để làm rõ những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam; lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lý luận chiến tranh cách mạng và cả lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Khi quyết định đổi mới (1986), Đảng đã chú trọng đổi mới tư duy lý luận để nhận thức đúng các quy luật, đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cần khắc phục tư duy nóng vội, chủ quan, duy ý chí, giáo điều, cần phải tôn trọng quy luật khách quan

Thứ hai, Đảng đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, không ngừng bổ sung, phát triển, bảo đảm tính hiện thực của đường lối Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, vì vậy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đòi hỏi phải có cương lĩnh, đường lối đúng đắn Trong lịch sử lãnh đạo cách mạng, Đảng đã có những cương lĩnh: Cương lĩnh chính trị đầu tiên tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930); Luận cương chính trị (10-1930); Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam (2-1951); Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) và bổ sung, phát triển (2011) Cương lĩnh đề ra những vấn đề chiến lược của cách mạng và chỉ đạo một chặng đường dài, thậm chí xuyên suốt quá trình cách mạng, như Cương lĩnh đầu tiên khi thành lập Đảng (1930) Căn cứ vào Cương lĩnh, ở mỗi thời kỳ, giai đoạn cụ thể, Đảng đề ra những đường lối, chính sách chủ trương lớn để lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Đường lối giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp, đường lối cách mạng miền Nam và chống Mỹ cứu nước, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đường lối đổi mới. Để bảo đảm tính đúng đắn trong hiện thực của cương lĩnh, đường lối, Đảng không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ, nắm vững quy luật khách quan; luôn luôn xuất phát từ thực tế, coi trọng tổng kết thực tiễn của đất nước; phát huy trí tuệ, sáng kiến của nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân; học tập kinh nghiệm của bên ngoài có chọn lọc và phải có tư duy, tầm nhìn chiến lược, nâng cao năng lực dự báo.

Thứ ba, có hệ thống tổ chức Đảng vững mạnh, đội ngũ cán bộ giỏi, có năng lực tổ chức thực hiện đường lối

Hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn coi trọng xây dựng hệ thống tổ chức đảng từ cấp Trung ương đến các địa phương, cơ sở Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thường vụ Trung ương đã chỉ đạo các Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, các tổ chức đảng các cấp phát triển phong trào cách mạng đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo hệ thống tổ chức đảng các cấp tổ chức thắng lợi các cuộc kháng chiến cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới Đảng hoạt động theo những nguyên tắc được quy định:Nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; đoàn kết, thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân Trong các nguyên tắc “Đảng lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản”.Nguyên tắc đó đòi hỏi tập trung, thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng Cá nhân phải phục tùng tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương Trên cơ sở thực hành và phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng, mọi cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò, trách nhiệm, trí tuệ để xây dựng đường lối, công việc chung của Đảng, từ đó đi đến quyết định tập trung. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) khẳng định, trong công cuộc đổi mới, Đảng coi nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt Trong xây dựng Đảng đã lấy công tác cán bộ là then chốt Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Động viên, khuyến khích những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám vượt qua khó khăn, thách thức, dám đổi mới, sáng tạo Với đội ngũ cán bộ như thế là sự bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đương đầu vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Thứ tư, Đảng nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức

Cương lĩnh của Đảng đã nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”.

Như vậy có nghĩa là, Đảng phải tiên phong về lý luận, về trí tuệ, về đường lối chính trị và về hành động. Lãnh đạo là dẫn đường, Đảng luôn luôn đi đầu trong sự nghiệp cách mạng ở mọi thời kỳ, cán bộ, đảng viên đứng ở tuyến đầu của sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng hy sinh, kể cả tính mạng vì lý tưởng cách mạng, vì nước vì dân Quần chúng nhân dân luôn luôn nhìn vào hành động của cán bộ, đảng viên để noi theo “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” Hồ Chí Minh coi phương châm đó là lời khen chân thành của nhân dân nhưng cũng là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên Trong công cuộc đổi mới, Đảng nêu cao trách nhiệm nêu gương cán bộ, đảng viên, nêu thành quy định trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII và nhiều văn kiện quan trọng khác Người có vai trò, chức vụ càng cao càng phải đề cao trách nhiệm nêu gương Nêu gương trong thực hiện trách nhiệm được giao, nêu gương về sự phấn đấu hy sinh vì nước, vì dân, nêu gương về không ngừng học tập, nâng cao trình độ, nêu gương về đạo đức lối sống Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao đạo đức cách mạng, là gốc của người cách mạng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Hiện nay, phần đông cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao tính tiên phong, gương mẫu, gắn với đạo đức, đề cao trách nhiệm, được nhân dân tin cậy Vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và có biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, như Nghị quyết Trung ương khóa XI, khóa XII, khóa XIII đã nêu rõ Một số cán bộ sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lãng phí, xa rời thực tế, xa cách nhân dân Điều đó ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của Đảng và vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Bởi vậy, Đại hội XIII đã nhấn mạnh, phải tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ Phải tăng cường giáo dục trong Đảng và xã hội những chuẩn mực đạo đức cách mạng và mỗi cán cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đó Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực như mong muốn và chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Cán bộ, đảng viên cần phải coi danh dự là điều thiêng liêng nhất biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình” Tấm gương về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có sức động viên, lan tỏa lớn lao, nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng Dưới sự lãnh đạo của một chính đảng cầm quyền đầy bản lĩnh, độc lập, sáng tạo – một đảng vì dân – Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đang tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, viết tiếp những bản anh hùng ca thực hiện khát vọng tự cường dân tộc, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

TỔNG HỢP CÂU HỎI TỪ CÁC HỌC KỲ TRƯỚC VÀ MỘT SỐ CÂU HỎI

Ngày đăng: 19/07/2025, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w