Nông Thị Kim Dung, Ngô Quang Trung - Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Phổ Yên 3 Phương Hữu Khiêm, Đỗ Anh Tài, Trần Văn Nguyện, Đinh Hồng Linh, Nguy
Trang 1.r,NGHE
Trang 2DAI HQC THAI NGUYEN
az(
TOA SOAN: Dai hoc Thr4i NguyOn, phudng TAn Thinh, thdnh phd Th6i NguyOn'
Tel 02 8 0 3 8 402 8 8 Fax 0280 3852665 * E-mail: tapchikhcn.dhtn@ gmail'com'
Gia,y ph6p Hoat dQng biio chi s6 1ZI)1GP-BTTTT, ngiry 261812010 cira BQ truong BQ Thong tin - Truyd-n^th0ng'
rn ioir udn, iap zzior)nqdm 20rr taiNhh in eao ihat Nguyen In xong vh nop luu chidu thi4ng 0V20ll.
Trang 33 Khi n6p cho roa so4n m5i Uai b6o can duoc in thdnh hai b6n tr€n giAy A+ kem theo
dia CD
4 CAu trirc bai b6o.
4.1 TOn bai b6o
4.2 Ho tOn tac gid hoqc nhom ttrc gia, co quan cdng t6c
4.3 M5i bdi bA; khdng ddi qu6 5 trang (khoang 3.000 tu) Trong bdi b6o, o nhirng nQidung tac gi6 da lham khdo hoAc su dpng_k*i*, n.elri€n .P lit,:: tdi liCu khoa hoc kh6c, cAn
danh dAl tang sd (dat trong m6c r.u6ng tl) - ld sd thu tg cua tdi liQu x€p trong danh mgc tdi liOutham khao
4.4 Torn tirt n6i dung bdi b6o: tOi tneu i50 tir bang ti6ng Vi€t va duoc dich sang tiOng
Anh (k€ ca ri€u AC Uai b6o;,,dtroi muc tom t6t ti6ng Vi€t co "Tir khoa"; duoi tom tdt ti6ng
Anh co "'Key words" (t6i thi6u 05 tu hodc cum tu).
4.5 TAi li6u tham kh6o:
- TLTK sip x€p theo vAn A,B,C, tdi liQu titlng nu6c ngodi kh6ng phiOn 6m, kh6ngdich
- DOi vcyi tdc gia la ngudi Viqt Nam x6p theo thir tg A, B, C theo ftn (kh6ng dAo t6nlen trtroc ho)
- Ddi voi tac gia la ngtrdi nu6c ngodi x6p theo lhu tg A, B, C theo hp ,,
- D6i vcri nhirng tai liOu khdng co t6n tac giit xOp thu tU A, B, C cua tir dau ti6n lOn c<v
quan ban hanh tdi liQu (vi duiB0 Gi6o dgc vd Ddo t4o x6p vAn B)'
TLTK la s6ch lufln 6:n cAn ghi ddy du cdc thong tin theo thu tu: t€n t6c gia hodc co quan banlrdnh Nam xuAt ban) ftn sdch,Nhd xudt bdn noi xudt ban
TLTK ld bdi bao hoflc bai trong mQt cudn s6ch cAn ghi dAy du c6c th6ng.tin.theo thfr
tu: T6n tac gia (NAm cdng b6), "TOn biri b6o", TAn Mp chi hoQc sdch, Tdp, (56), c6c s6
trang (gach ngang giira2 chir s6).
5.Hinh thfrc trinh bay:
- Ngoai.phAl tieu d6, t6c gia va tom tit bdi b6.o (dAu tr4ngl) vd Summary (cu6i bdi)
bdi b6o yeu A,, phai trinh bdy tr6n kh6 ,A4 theo chidu doc dugc chia 02 c6t v6i c6c th6ng
s6 Pagesetup cu th6 nhu sau:Top:3.1cm, Bottom: 3.1cm, Left: 3.0cm Right: 2.8cm,
d6m: 10i dung bai b6o cd I 1; Font chir Unicode; hinh v6, dd thi trinh bdy phu hqp voi dQron-s cdt (7 .25 cn-r); c6c bdng bi€u qu6 l6n trinh bay tlreo trang ngang (Landscape)'
- D6i vcyi c6c bai b6o i.O frle" bdng cdc phAn mdm chuy6n dpng nhu Latex, ACD/ChemSketch hodc Science Helper for Word cfrng trinh bdy theo khudn dang n6u trOn
6 Ndu bdi b6o kh6ng ducyc su dung Ban biOn tap kh6ng tra l4i bAn th6o
7 Titc gia hoac tac giachfnh trong nhom t6c giA cAn gni Aia chi, s6 di6n tho4i vdo cu6i
Trang 4
Nông Thị Kim Dung, Ngô Quang Trung - Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội huyện
Phổ Yên 3
Phương Hữu Khiêm, Đỗ Anh Tài, Trần Văn Nguyện, Đinh Hồng Linh, Nguyễn Đắc Dũng - Thực trạng quản
Hoàng Thị Hoa, VũThị Hải Anh, Hồ Lương Xinh - Định hướng và giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trần Đình Tuấn, Lê Thị Thu Hương, Phùng Trí Dũng - Một số vấn đề về hoàn thiện công tác quản lý ngân
Nguyễn Thị Linh - Một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người nông dân trong diện thu hồi đất nông
Trần Việt Cường - Vận dụng dạy học theo dự án trong dạy học học phần phương pháp dạy học theo định hướng
Ngô Xuân Hoàng - Khu công nghiệp với quá trình công nghiệp hóa (CNH) và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Vũ Thị Quế Anh - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại Thái Nguyên làm cơ sở lựa
Lương Thị Kim Oanh, Nguyễn Duy Lam - Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của giống bưởi Sa Điền (Trung
Phạm Văn Ngọc, Vũ Văn Liết, Phạm Ngọc Lương - Kết quả đánh giá một số tổ hợp lúa lai hai dòng tại Thái
Nguyễn Đức Hùng, Đặng Văn Nghiệp - Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức
sản xuất của lợn nái ngoại nuôi trong trang trại tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên 143
đại cường độ của sóng xung kích trong hỗn hợp chất lỏng hai pha 157
Lại Khắc Lãi, Lê Thị Thu Hà, Lê Thị Minh Nguyệt, Nông Lê Huy - Một phương pháp điều khiển thích nghi hệ
Journal of Science and Technology
88 (12)
N¨m 2011
Trang 5Đặ ng Ngọc Trung - Điều khiển thích thích có phối hợp luật hiệu chỉnh bổ sung nhằm nâng cao chất lượng hệ thống 175
Phạm Thế Chính, Phạm Thị Thắm,Phạm Thị Thu Hà, Hoàng Thị Thanh, Nguyễn Thị Hải Duyên - Tối ưu
Nguyễn Thị Mai Hương, Ngô Đức Minh, Nguyễn Như Nghĩa - Một số kết quả nghiên cứu về trụ lưới không đối
Trang 6Hoang Thi Hoa , Vu Thi Hai Anh, Ho Luong Xinh - Orientation and solutions for the development of small and
medium-scaled enterprises in rural areas in Pho Yen district, Thai Nguyen province 25
Tran Dinh Tuan, Le Thi Thu Huong, Phung Tri Dung - Some problems in completing national budget
literature research 93
of our country 111
of exotic sows raised in the farms in Song Cong town, Thai Nguyen province 143
Nguyen Van Tuan, Nguyen Thi Bich Ngoc, Tran Quoc Nghi - Some investigation results of the amplification
Journal of Science and Technology
Trang 7Dang Ngoc Trung -Adaptive control law on cooperation with correct add to improve the quality system 175
Pham The Chinh, Pham Thi Tham, Pham Thi Thu Ha, Hoang Thi Thanh, Nguyen Thi Hai Duyen -
Optimization of the curcumin isolation process from roots of curcuma longa l. 191
voltage ride-through using active filter for synusoidal current control 203
Trang 8
3
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN PHỔ YÊN
Nông Thị Kim Dung * , Ngô Quang Trung
Trường ĐH Kinh tế & QTKD - ĐHTN
động Tổng nguồn vốn huy động từ các nguồn của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên
tăng qua các năm Nhờ có nguồn vốn của Ngân hàng mà các hộ vay vốn đặc biệt là hộ nghèo có
điều kiện tiếp cận được những kiến thúc mới về khoa học kỹ thuật trong sản xuất và chăn nuôi
Để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Phổ Yên trước
hết cần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn tạo ra nguồn vốn để có chính sách đầu tư cho vay hợp lý, mở rộng đầu tư cho vay tới các ngành, thành phần kinh tế trong đó với việc duy trì và phát triển khách hàng truyền thống còn tập trung tiếp cận cho vay kinh tế tập thể, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ sản xuất trang trại, cho vay phục vụ đời sống
Từ khóa: Tín dụng, Ngân hàng CSXH, Phổ Yên
Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu
quyết định sự tồn tại và phát triển của tất cả
các ngân hàng Nhưng thực tế cho thấy, trong
quá trình hoạt động với những nguyên nhân
khách quan và chủ quan đã để lại những tồn
tại lớn trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng Vì vậy việc nâng cao chất lượng tín
dụng của các Ngân hàng nói chung và Ngân
hàng Chính sách Xã hội nói riêng vừa là đòi
hỏi bức thiết trong hoạt động của hệ thống
ngân hàng vừa là đòi hỏi khách quan đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội
Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn Ngân hàng
Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên đã tích cực
chủ động khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi,
mở rộng các mạng lưới hoạt động, đưa ra
nhiều hình thức huy động vốn: huy động tiền
gửi có trả lãi trong phạm vi kế hoạch hàng
năm được duyệt, tiết kiệm của người nghèo,
nhận tiền gửi của các tổ chức cho vay nhà
nước, nhận ủy thác của các cá nhân trong và
người nước, tạo điều kiện chủ động trong cho
vay và các hoạt động khác của ngân hàng
*
Tel: 0916363008; Email: kimnongdung@yahoo.com
theo quy định Tuy nhiên cần phải nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Ngân hàng trong
điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển ở
mức độ cao
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN PHỔ YÊN
* Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên
Do nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội dùng để cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách vay với lãi suất ưu đãi và không
được vượt quá mức lãi suất của Nhà nước
quy định, nên lãi suất mà Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên huy động ở mức rất thấp: 0,25%/tháng cho tiền gửi không kỳ hạn và 0,75%/tháng cho tiền gửi có kỳ hạn Mặt khác, do kinh tế của huyện chủ yếu vẫn
là nông nghiệp nên khả năng huy động vốn rất hạn hẹp, công tác huy động để đáp ứng nhu cầu vốn của Ngân hàng gặp không ít khó khăn Nhưng với sự cố gắng của mình, 3 năm qua (2008 – 2010) tốc độ nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên tăng với tốc độ khá (xem bảng 1)
Trang 9Bảng 1 Kết quả huy động vốn qua 3 năm
2009 350 (50) (12,5)
2010 560.8 210.8 60.23
(Nguồn số liệu : Báo cáo công tác huy động
vốn của Ngân hàng CSXH huyện Phổ Yên)
Năm 2008, Ngân hàng Chính sách Xã hội
huyện Phổ Yên thực hiện huy động vốn theo
chỉ tiêu kế hoạch của Ngân hàng Chính sách
Xã hội cấp tỉnh giao cho Đến năm 2009
nguồn vốn huy động chỉ đạt 350 triệu đồng
giảm 12,5% so với năm 2008, do Ngân hàng
tập trung vào đôn đốc thu hồi nợ quá hạn, mặt
khác Ngân hàng Chính sách Xã hội cấp trên
chưa triển khai thực hiện hình thức huy động
mới nên khó khăn trong quá trình huy động
Năm 2010 tổng nguồn vốn huy động đạt
560,8 triệu đồng tăng 210,8 triệu đồng so với
năm 2009 tương ứng với tốc độ tăng trưởng là
60,23% Đồng thời đều đạt 100% kế hoạch
huy động vốn được giao Có được kết quả
như vậy là do năm 2010 Ngân hàng Chính
sách Xã hội cấp trên yêu cầu thực hiện huy
động tiết kiệm theo tổ tiết kiệm và vay
vốn “với phương châm lá lành đùm lá rách”
nên Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ
Yên đã huy động tiền của các tổ viên tổ vay
vốn để có vốn cho các hộ khác vay
Mặc dù trong năm 2010 hoạt động Ngân hàng
gặp nhiều khó khăn nhưng Ngân hàng Chính
sách Xã hội huyện Phổ Yên đã nắm bắt tình
hình, khai thác triệt để những thuận lợi, khắc
phục hạn chế những khó khăn, chỉ đạo khai
thác các nguồn vốn nhàn rỗi của các tầng lớp
dân cư với nhiều hình thức phong phú: tiền
gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, và đặc
biệt nguồn vốn huy động qua tổ tiết kiệm và vay vốn do đó việc thu hút vốn gửi vào Ngân hàng đã tăng lên (xem bảng 3)
Số liệu tổng hợp cho thấy nguồn vốn huy
động được từ bên ngoài chưa phải là nguồn
vốn hoạt động chủ yếu của Ngân hàng, tuy nhiên đây cũng là đặc điểm chung của cả hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội
Trong nguồn vốn huy động thì tiền gửi không
kỳ hạn có xu hướng giảm, năm 2010 tiền gửi không kỳ hạn là 180,5 triệu đồng giảm 19,02% so với năm 2009, còn tiền gửi có kỳ hạn lại có xu hướng tăng lên năm 2010 tiền gửi có kỳ hạn đạt 380,3 triệu đồng tăng so với năm 2009 là 199,21% Điều này chứng tỏ đơn
vị đã thực hiện tốt phương châm huy động vốn,
đã tích cực huy động nguồn vốn có kỳ hạn tại
chỗ để chủ động trong hoạt động cho vay Bằng các hình thức huy động đã thực hiện nhưng nguồn vốn mà Ngân hàng Chính sách
Xã hội huyện Phổ Yên đạt được chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm dân cư Là một huyện đang trên đà phát triển nên các tổ chức kinh tế đóng trên địa bàn ngày càng đa dạng Việc tăng cường nguồn vốn tiền gửi từ các tổ chức kinh
tế là một lợi thế mà ngân hàng cần chú trọng khai thác thêm, góp phần tăng thêm nguồn vốn huy động
Có được kết quả như vậy là do Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên đã thực hiện tốt công tác quản lý điều hành vốn, áp dụng nhiều phương thức huy động với cơ chế lãi suất linh hoạt phù hợp với quan hệ cung cầu tại địa phương, áp dụng hình thức tài khoản gửi góp, lãi suất bậc thang, phong cách giao dịch đổi mới, trang bị thêm cơ sở vật chất, thiết bị nên đã nâng cao được uy tín, tạo niềm tin đối với khách hàng
Bảng 2 Kết cấu nguồn vốn huy động qua 3 năm 2008 - 2010
Nguồn vốn huy động qua tổ 79.772 100 113.613 100,0 152.869 100,0 142,42 134,55
(Nguồn số liệu: Phòng tín dụng NHCSXH huyện Phổ Yên)
Trang 105
Tình hình cung ứng vốn tín của ngân hàng
Chính sách xã hội huyện Phổ Yên
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên
nằm trong hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã
hội tỉnh Thái Nguyên với mục đích sử dụng
hiệu quả các nguồn lực tài chính do Ngân
hàng Chính sách Xã hội huy động cho người
nghèo và các đối tượng chính sách ưu đãi
phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải
thiện đời sống, góp phần thực hiện chương
trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo
ổn định xã hội Nhưng với công tác tổ chức
mạng lưới và cán bộ Ngân hàng Chính sách
Xã hội đã triển khai và thực hiện tốt các mục
tiêu hoạt động và tích cực đẩy mạnh tăng
trưởng nguồn vốn để mở rộng giải ngân
Nguồn vốn mà NHCSXH huyện Phổ Yên có
chủ yếu được sử dụng vào việc cho vay ưu
đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên
địa bàn Nguồn vốn này được tập trung cho
vay 6 đối tượng chính đó là: cho vay hộ
nghèo, cho vay giải quyết việc làm, cho vay
học sinh sinh viên, cho vay hộ nghèo làm nhà
ở, cho vay hộ sản xuất vùng khó khăn và cho
vay nước sạch vệ sinh môi trường Ngoài ra
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên
còn cho vay các đối tượng như: Xuất khẩu lao
động, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt
khó khăn và vốn cho thương nhân hoạt động
tại vùng khó khăn Qua 3 năm 2008 – 2010
tổng doanh số cho vay tăng dần, năm 2009
tổng doanh số cho vay đạt 55.301 triệu đồng
tăng 45,54% so với năm 2008, năm 2010 tổng doanh số cho vay đạt 67,284 triệu đồng, đồng nghĩa với tăng 21,67% so với năm 2009 Tổng doanh số cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên tăng dần Năm
2008 doanh số cho vay mới chỉ đạt 37.998 triệu đồng nhưng đến năm 2009 đạt 55.301 triệu đồng tăng 17.303 triệu đồng so với năm
2008, tốc độ tăng trưởng đạt 45,54% Đến năm 2010 doanh số cho vay đạt 67.284 triệu
đồng tăng 11.983 triệu đồng so với năm 2009
tương ứng tốc độ tăng trưởng đạt 21,67% Như vậy Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên rất quan tâm tới quy mô cho vay
Điều này phù hợp với định hướng hoạt động
và chỉ đạo của Ngân hàng Có được kết quả trên là sự mở rộng mạng lưới giao dịch, sự kết hợp với việc phục vụ khách hành chu đáo đã mang lại thành công đáng kể cho Ngân hàng
Ta thấy doanh số cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên chủ yếu tập trung ở ngành trồng trọt và chăn nuôi, dịch vụ chiếm rất ít Nhu cầu vay vốn của các ngành tăng dần qua các năm
So sánh giữa năm 2009 và năm 2008 ta thấy: ngành trồng trọt tăng 44,65%, ngành chăn nuôi tăng 44,89%, ngành dịch vụ ngành nghề tăng 70,93%
Năm 2010: ngành trồng trọt tăng 17,78%, ngành chăn nuôi tăng 24,41%, ngành dịch vụ, ngành nghề tăng 41,12% so với năm 2009
Bảng 3 Doanh số cho vay của NHCSXH huyện Phổ Yên qua 3 năm 2008 - 2010
Chỉ tiêu
SL (tr.đ)
Cơ cấu (% )
SL (tr.đ)
Cơ cấu (% )
SL (tr.đ)
Cơ cấu (% ) 09/08 10/09
I Phân theo thời gian
Trang 11Qua bảng số liệu cho thấy Ngân hàng Chính
sách Xã hội huyện Phổ Yên đã thực hiện tốt
kế hoạch cho vay, đã cân đối được nguồn vốn
dành cho đầu tư trung hạn và dài hạn một
cách hợp lý Doanh số cho vay ngắn hạn
chiếm tỷ trọng nhỏ và giảm qua các năm: năm
2009 giảm 34,44% so với năm 2008, năm
2010 giảm 53,03% sao với năm 2009 Doanh
số cho vay trung hạn và dài hạn có tỷ trọng
tăng dần: năm 2008 chiếm 91,26%, năm 2009
chiếm 96,06%, đến năm 2010 chiếm 98,48%
Cụ thể: Năm 2008 doanh số cho vay đạt
34.676 triệu đồng, năm 2009 doanh số cho
vay là 53.123 triệu đồng, tăng 18.447 triệu
đồng, tốc độ tăng trưởng là 53,20% Đến năm
2010 doanh số cho vay đạt 66.261 triệu đồng
tăng 13.138 triệu đồng so với năm 2009 và
tốc độ tăng trưởng là 24,73%
Điều này chứng tỏ rằng, việc đầu tư vốn vay
của hộ nghèo và đối tượng chính sách đã
mang tính sản xuất hàng hóa, chuyển hẳn từ
sản xuất cây, con truyền thống, tự cung, tự cấp
sang áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
sản phẩm hàng hóa cung cấp cho thị trường
Hoạt động tín dụng cần đáp ứng hơn nữa nhu
cầu vay vốn của các hộ nghèo và các đối
tượng chính sách Việc đầu tư chưa đi đôi với
cách thức làm ăn, chuyển giao khoa học kỹ
thuật Đầu tư vốn còn manh mún, chưa có dự
án lớn nên hiệu quả đầu tư vốn chưa cao
Trong 3 năm, mặc dù cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ hoạt động chuyên môn còn thiếu
thốn, nhưng NHCSXH huyện Phổ Yên nói
riêng đã nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó
khăn, từng bước tạo lập hệ thống tổ chức
mạng lưới ổn định và phát triển hiệu quả, tạo
nền tảng vững chắc hỗ trợ tích cực cho ngân
hàng triển khai thực hiện có hiệu quả các mặt
hoạt động Tiếp tục sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội
* Tình hình dư nợ và thu nợ của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên
Tổng dư nợ có xu hướng tăng qua các năm, năm 2008 dư nợ mới chỉ đạt 79.769 triệu
đồng, nhưng đến năm 2009 dư nợ đã là
113.505 triệu đồng tăng 33.736 triệu đồng so với năm 2008, tốc độ tăng trưởng là 42,29%
đến năm 2010 tổng dư nợ lên đến 152.588
triệu đồng tăng 39.083 triệu đồng so với năm
2009, tốc độ tăng trưởng là 34,43%
Về doanh số thu nợ riêng năm 2010 so với năm 2009 giảm đi 4.255 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 19,73%, còn năm 2009 doanh
số thu nợ đạt 21.564 triệu đồng tăng so với năm 2008 là 9.411 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 77,44%
Nhìn vào số liệu trên ta thấy dư nợ quá hạn biến động ít Năm 2008 dư nợ quá hạn là 359 triệu đồng chiếm 0,45% tổng dư nợ, sang năm
2009 dư nợ quá hạn là 353 triệu đồng giảm so với năm 2008 là 6 triệu đồng tương ứng với giảm 1,67% Đến năm 2010 dư nợ quá hạn lên 354 triệu đồng, tăng 1 triệu so với năm
2009 tương ứng tăng 0,28%
Trong 3 năm qua Ngân hàng thực hiện công tác tăng cường quản lý cho vay, công tác kiểm tra, xử lý làm lành mạnh hóa chất lượng cho vay và các biện pháp ngăn chặn tình trạng tiêu cực: vay chồng chéo, sử dụng vốn sai mục đích, vay hộ vì vậy tổng dư nợ tăng nhưng dư nợ quá hạn lại giảm Số nợ đã được chính phủ xử lý khoanh nợ đã hết thời hạn khoanh; các hộ quá khó khăn không trả được;
nợ hạch toán trả lại tài khoản nợ quá hạn, một
số dự án do khách hành sản xuất kinh doanh thua lỗ không có khả năng trả nợ
Bảng 4 Tình hình dư nợ và doanh số thu nợ của NHCSXH huyện Phổ Yên qua 3 năm 2008 - 2010
Nợ quá hạn 359 0,45 353 0,31 354 0.23 98,33 100,28
(Nguồn: Phòng tín dụng NHCSXH huyện Phổ Yên)
Trang 127
Đây là khoản nợ mà sang năm 2011 Ngân
hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên cần
phải quan tâm thu hồi, làm giảm dư nợ quá
hạn, nâng cao chất lượng hoạt động cho vay
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM
NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
HUYỆN PHỔ YÊN
* Những kết quả đạt được
Thực hiện định hướng của Ngân hàng Chính
sách Xã hội tỉnh Thái Nguyên trong 3 năm
qua Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ
Yên đã và đang cố gắng mở rộng huy động
vốn và đầu tư vốn cho vay cho các đối tượng
chính sách xã hội theo quy định, chú ý và coi
trọng sản xuất nông nghiệp vì đây vẫn là
ngành kinh tế chủ đạo của địa phương
Về chất lượng cho vay nhìn chung có chiều
hướng tốt, Ngân hàng Chính sách Xã hội
huyện Phổ Yên thực hiện tốt chính sách của
Chính phủ về cho vay hộ nghèo và các đối
tượng đối tượng chính sách, triển khai cho
vay đối với hộ nghèo sản xuất kinh doanh,
cho vay giải quyết việc làm và xuất khẩu lao
động nhằm tạo điều kiện nâng cao thu nhập,
cải thiện đời sống người dân góp phần thực
hiện kế hoạch xóa đói giảm nghèo của huyện
Phổ Yên Cụ thể qua 3 năm 2008 – 2010 hoạt
động của Ngân hàng Chính sách Xã hội
huyện Phổ yên làm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ
15,01% năm 2008 xuống còn dưới 9,22%
năm 2010
* Những tồn tại và nguyên nhân
- Tồn tại:
Việc đầu tư cho vay nhất là đối với các hộ
nghèo vẫn mang tính chất chăn nuôi và sản
xuất truyền thống, mức vốn đàu tư bình quân
hộ còn thấp, chưa tập trung theo dự án nên
mức phát huy hiệu quả của đồng vốn chưa
cao Cho vay hộ nghèo ủy thác qua các đoàn
thể chính trị - xã hội bước đầu vẫn còn hạn
chế, một số nơi các tổ chức chưa thực sự nhận
thức hết trách nhiệm của mình trong vai trò
và trách nhiệm ủy thác từ khâu bình xét cho
vay tại tổ đến việc hướng dẫn, kiểm tra xem
xét sử dụng vốn vay và đôn đốc nợ quá hạn
Về tổ chức mạng lưới con người và cơ sở vật chất còn thiếu, hệ thống thông tin tuy đã được tăng cường một bước nhưng nhìn chung chưa tương xứng với yêu cầu phục vụ khách hàng ngày càng lớn Do vậy trong quá trình quản lý
nợ chưa thực sự sát sao
Các quy định về phương pháp cho vay, quy trình, thủ tục, giấy tờ hồ sơ cho vay có những
điều kiện chưa phù hợp, chưa đáp ứng được
nhu cầu chính đáng của người vay Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên mới chỉ chú trọng đàu tư cho từng đối tượng người vay cụ thể chứ chưa chú trọng đầu tư theo dự
án kinh tế, các ngành nghề truyền thống của
cả một khu vực Thời hạn cho vay còn chưa thông thoáng hoặc chưa phù hợp với chu kỳ sản xuất của khách hàng vay vốn
Việc chỉ đạo nắm bắt thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, thông tin kinh tế thị trường giá cả chưa đầy đủ, xử
lý thiếu chính xác Do vậy khách hàng khi gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn sai mục đích chưa được phát hiện
và xử lý kịp thời dẫn đến nợ quá hạn, có trường hợp là nợ có khả năng mất vốn
- Nguyên nhân:
Cơ chế chính sách của Nhà nước của các ngành chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ, môi trường pháp lý chưa thực sự thuận lợi cho hoạt động Ngân hàng Chính sách Xã hội, đặc biệt là hoạt động cho vay
Việc tổ chức chế biến, bao tiêu sản phẩm và công tác khuyến nông của Nhà nước đối với nông dân chưa tốt, làm cho các hộ nông dân gặp nhiều khó khăn dẫn đến khả năng trả nợ khó khăn dẫn đến nợ quá hạn
Địa bàn hoạt động của Ngân hàng Chính sách
Xã hội huyện Phổ Yên rộng, với số lượng khách hàng lớn, chủ yếu là các hộ sản xuất có trình độ dân trí thấp, ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế Khả năng tiếp cận thị trường, tổ chức các hoạt động kinh doanh còn hạn chế
Về phía cán bộ cho vay: Do thủ tục hồ sơ cho vay còn phức tạp, việc giải quyết cho vay còn chậm và phiền hà Mặt khác lãi suất cho vay của Ngân hàng chính sách thấp nếu chuyển sang nợ quá hạn vẫn áp dụng lãi suất thấp hơn bên ngoài, nên người vay vẫn chấp nhận nợ quá hạn tại Ngân hàng
Trang 13* Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Để nâng cao chất lượng hoạt động cho vay,
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên
đã đề ra một số giải pháp cụ thể như: tăng
cường công tác kiểm tra thẩm định trước khi
cho vay; tăng cường hiệu lực kiểm tra kiểm
soát nội bộ; đổi mới mô hình mạng lưới đào
tạo cán bộ; đa dạng hóa hình thức huy động
vốn; mở rộng đầu tư cho vay tới các ngành,
thành phần kinh tế; có những hình thức xử lý
nợ quá hạn triệt để và linh hoạt; phối kết hợp
với chính quyền địa phương trong quá trình
thực hiện
Tóm lại trong điều kiện hiện nay, trên cơ sở
các quan điểm định hướng về nâng cao chất
lượng hoạt động cho vay và những mục tiêu
mang tính chiến lược, sách lược được xác
định phù hợp với thực tiễn hoạt động của
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phổ Yên
trong từng thời kỳ Việc thực hiện các giải
pháp trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng
hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách
Xã hội huyện Phổ Yên năm 2011 và những năm tiếp theo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Phổ Yên,
báo cáo tình hình huy động và vay vốn của Ngân hàng CSXH Phổ Yên các năm 2008 - 2010 [2] Trần Đình Định (2002), Giải pháp tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ CNH - HĐH giai đoạn 2001 - 2010, Học
viện Ngân hàng
[3] Đỗ Tất Ngọc (2006), Tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động,
Hà Nội
[4] Trần Đình Tuấn (2008), Huy động và sử dụng các nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi, NXB Lao động - Xã
hội, Hà Nội
[5] Trần Quang Trung (2002), Thực trạng hoạt
động tín dụng ở Nông thôn Việt Nam, Tạp chí
Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 2, Học viện Ngân hàng
SUMMARY
CURRENT SITUATION OF CREDIT AT THE BANK
FOR SOCIAL POLICY IN PHO YEN DISTRICT
Nong Thi Kim Dung * , Ngo Quang Trung
College of Economics and Business Administration - TNU
Credit activities of the Bank for Social Policy is the use of financial resources mobilized by the State to carry out preferential loans for the poor and policy beneficiaries and is the implementing tool for the Party and State’s policies on socio-economic development in sectors in order to reduce poverty rapidly In addition, through the analysis and assessment of the possibility of the tentative investment subject, it gives the right decision to exploit the potential capacity of natural resources, labor and capital to increase more products to the society, more employment and more incomes for workers
Total funds raised from the sources of Social Policy Bank in Pho Yen district have increased over the years Thanks to the funds, households’ loans, especially the poor households have access to the new knowledge of science and technology in production and animal husbandry
To improve the quality of lending at the Social Policy Bank in Pho Yen district, firstly it needs to diversify the forms of funding to make capital investment lending policies reasonably, expand lending to the different economic sector, and at the same time, maintain and develop traditional clients; approach to lend the state units, small and medium sized enterprises, farm households, and customer loans service
Keywords: Credit, Bank for Social Policy, Pho Yen
*
Tel: 0916363008; Email: kimnongdung@yahoo.com
Trang 149
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỪNG TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
Phương Hữu Khiêm 1,* , Đỗ Anh Tài 1 , Trần Văn Nguyện 2 , Đinh Hồng Linh 2 , Nguyễn Đắc Dũng 2
1 Đại học Thái Nguyên, 2 Trường ĐH Kinh tế & QTKD-ĐHTN
TÓM TẮT
Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới Huyện
Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, căn cứ địa cách mạng năm xưa, nơi mà diện tích rừng được đánh giá
là nhiều nhất tỉnh Thái Nguyên, đất lâm nghiệp có rừng của huyện là 27.438ha; Hiện nay toàn bộ
đất rừng cơ bản đã có chủ, được huyện, tỉnh giao Đặc biệt là giao tới hộ đạt 22.850ha/39.061ha,
giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng được 10.059ha/39.061ha; giao cho Ban quản lý rừng phòng
hộ được 2.064ha/39.061ha; còn lại UBND xã tự quản được 4.088ha/39.061ha, tỷ trọng giao đến hộ gia đình đạt gần 60% Rừng đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân nơi đây, hàng năm việc khai thác các sản phẩm từ rừng góp phần khá lớn vào thu nhập của nhân dân, những lâm sản hàng đầu là gỗ, củi, và các lâm sản phụ khác Tuy nhiên việc quản lý rừng của địa phương vẫn còn những tồn tại, bất cập, tỷ lệ đói nghèo cao Vì vậy bài viết này nhằm đi sâu phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý bền vững tài nguyên rừng cho mục tiêu bảo tồn cũng như sinh kế của người dân
Từ khóa: Bền vững, Định Hóa, Lâm sản, Quản lý rừng, Thực trạng
Với trên 70% tổng diện tích tự nhiên và là nơi
cư trú của ít nhất 1/3 dân số toàn quốc gia,
vùng rừng núi Việt Nam giữ một vị trí quan
trọng trong tiến trình phát triển của đất nước,
nơi đã và đang thuộc diện quan tâm của chính
phủ Việt Nam Đây cũng là nơi sinh sống của
đồng bào các dân tộc thiểu số với nguồn lợi
và sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên
thiên nhiên trong đó chủ yếu là tài nguyên
rừng và đất rừng
Định Hóa là một huyện miền núi nằm về phía
Tây-Bắc của tỉnh Thái Nguyên, với dân số
năm 2010 là 87.722 người, tổng diện tích đất
tự nhiên là 51.351 ha, trong đó diện tích đất
lâm nghiệp có rừng là 27.438 ha chiếm
53,68%, diện tích đất nông nghiệp chiếm một
phần nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên của
huyện (21%) Tài nguyên rừng và đất lâm
nghiệp đã và đang là nguồn sống quan trọng
của người dân trong huyện do bởi diện tích
đất nông nghiệp hạn chế
Do vậy hiểu được thực trạng quản lý rừng tại
huyện Định Hóa và đánh giá được những mặt
tích cực và tồn tại, yếu kém trong công tác
*
Tel: 0945855085; Email: phuonghuukhiem@gmail.com
quản lý, là cơ sở khoa học đối với việc phát triển các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp cho mục tiêu bảo tồn cũng như sinh kế của người dân THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỪNG TẠI
ĐỊNH HOÁ
Huyện Định Hóa có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, trong tổng số diện tích đất tự nhiên của huyện, thì đất lâm nghiệp có rừng là 27.438ha tương đương 53,68% tổng diện tích;
đất nông nghiệp bằng 2/5 của đất lâm nghiệp
(20,79% hay 10.625ha) Ngoài ra, huyện còn
có một diện tích lớn đất chưa sử dụng (bao gồm cả sông suối và đất núi đá vôi) có tiềm năng mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm nghiệp Định hóa có hệ thực vật, đa dạng tuy nhiên số lượng cá thể giảm đáng kể trên 65%
so với tài liệu năm 1990
Công tác quản lý rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp:
+ Thống kê theo chủ quản lý tại bảng 1
Đánh giá thực trạng lâm nghiệp của huyện
Về công tác lãnh đạo của cấp ủy:
Đã chấp hành chỉ thị của Ban thường vụ Tỉnh
ủy chỉ đạo về việc quản lý bảo vệ rừng, phát
triển rừng, quản lý lâm sản
Trang 15(Nguồn theo dõi diễn biến Tài nguyên rừng - Chi cục kiểm lâm Thái Nguyên)
Hiện trạng 3 loại rừng: Cho đến nay tại Định Hóa đã quy hoạch, phân loại quản lý được:
-Đất trống cây bụi (IB) 3131 243 322 2566
-Đất trồng cây rải rác (IC) 4169 1.694 1.145 1.331
- Núi đá cây bụi 1560 1.560 0 0
(Nguồn viện điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc bộ)
Thể hiện sự thống nhất cao trong cấp ủy là đã
có Nghị quyết chuyên đề của BCH huyện và
tất cả các BCH Đảng ủy các xã, thị trấn Đây
là một điểm nổi bật thể hiện tính quyết tâm
cao, coi việc quản lý bảo vệ rừng, phát triển
rừng, quản lý lâm sản là một trong những thế
mạnh hàng đầu của huyện trong phát triển
ngành nông lâm nghiệp, là một trong những
mũi nhọn trong phát triển kinh tế, xã hội và
an ninh quốc phòng
Về công tác quản lý của chính quyền:
Toàn bộ đất rừng và đất rừng cơ bản đã có
chủ, được huyện, tỉnh giao Đặc biệt là giao
tới hộ đạt 22.850ha/39.061ha, giao cho Ban
trong đó đa số rừng tự nhiên ở dạng "vườn
rừng" là loại rừng đã được truyền từ đời này
qua đời khác, một phần được giao theo chính
sách giao đất giao rừng của nhà nước trong
những năm qua (nghị định 02/1992/NĐ-CP)
Về kết quả sản xuất, khai thác lâm sản:
Khai thác các sản phẩm từ rừng là truyền thống của người dân nơi đây, đã góp phần khá lớn vào thu nhập của nhân dân trong khu vực, lâm sản hàng đầu là gỗ, củi
Ngoài khai thác để trao đổi hàng hóa, củi đốt còn làm nhà ở, theo số liệu thống kê: đã bán hàng năm trên 10.000m3 gỗ, 5.000ste củi, để làm nhà mỗi năm 140 -150 hộ tu sửa, làm mới nhà ở, bình quân 15m3/hộ ≈ 2.300m3/năm
Những loại lâm sản phụ được khai thác như:
song, mây, vàu, tre, mai, hóp, ghẹ, cây thuốc… là rất lớn Theo kết quả điều tra sản xuất lâm nghiệp năm 1995, 2000, 2005 cho thấy tổng thu nhập (GDP) từ rừng của người dân đem lại chiếm 5,7% - 6,0% - 6,2% và những số liệu trên cũng cho thấy việc khai thác quá mức đã làm cho tài nguyên suy giảm Hiện huyện còn 24.792ha diện tích đất
có rừng, có sản lượng trong đó rừng tự nhiên
là 18.957ha, hầu hết là rừng nghèo kiệt, không còn rừng giàu, không còn rừng trung bình Rừng trồng tăng lên 5.835ha trong đó rừng đặc dụng và rừng phòng hộ là 3.442ha, rừng sản xuất là 2.383ha
Từ thực tế giai đoạn từ năm 2006-2009 toàn huyện trồng được 3.880ha rừng, khai thác gỗ tròn đem bán 36.271m3; 15.500ste củi;
Trang 1611
20.500.000 tấn, cốt tre, nứa, giá trị sản xuất
lâm nghiệp (theo giá thực tế) 46.000 triệu
đồng Đây rõ ràng là đời sống của người dân
phụ thuộc rất nhiều vào rừng, vì vậy giải
quyết nhu cầu lâm sản cho người dân địa
phương khi quy hoạch rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ là vấn đề rất khó khăn và phức tạp,
có tính đặc thù cao, song lại rất quan trọng; có
tính chất quyết định tới nhiệm vụ khôi phục
bảo tồn, tôn tạo cảnh quan sau này
Đánh giá chung về thành tựu đạt được
trong những năm qua (giai đoạn từ năm
2000 trở lại đây)
Đã cơ bản thoát khỏi tình trạng suy thoái
rừng và bắt đầu bước vào giai đoạn phục
hồi, rừng đã được bảo vệ, môi trường sinh
thái được cải thiện
Độ che phủ rừng từ năm 2000 đã tăng liên tục
và đã đạt được ≈ 55% (theo tiêu chí mới)
Thông qua công tác tuyên truyền vận động
mà nhận thức của người dân về nghề rừng đã
được nâng lên rõ rệt
Các chương trình trồng rừng, bảo vệ rừng đã
tạo việc làm cho hàng ngàn lao động, góp
phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống
nhân dân
Trình độ lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, chính
quyền, cơ quan chuyên quản đã từng bước
nâng lên, có hiệu quả
Về tồn tại, yếu kém
Công tác quy hoạch chậm, đã xác định quy
mô rừng đặc dụng, rừng phòng hộ quá lớn so
với rừng sản xuất, hạn chế khả năng cung cấp
nông sản, chưa khai thác được khả năng hiệu
quả của rừng
Mặc dù diện tích rừng tăng lên, nhưng chất
lượng rừng vẫn suy giảm, cho thấy rừng tự
nhiên chủ yếu là rừng phục hồi, rừng giàu và
rừng trung bình không còn do khai thác quá
mức, phát triển không bền vững
Hiện tượng khai thác rừng trái phép vẫn còn
xảy ra tuy đã giảm nhiều
Kỹ năng canh tác kinh doanh, sử dụng rừng
và đất rừng hiệu quả thấp
Chưa phát triển công nghiệp chế biến thành
hàng hóa có giá trị cao, mới ở dạng bán sản
phẩm hoàn chỉnh, nên chưa thu hút được người dân tự đầu tư cho trồng rừng sản xuất, còn ỷ lại hoặc chờ Nhà nước hỗ trợ
Trên cùng một địa bàn huyện tồn tại 03 đơn vị: Kiểm lâm, Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ cùng hoạt động trên một địa bàn, cùng một nhiệm vụ chính là: quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, quản lý lâm sản, dịch vụ phát triển rừng và quản lý lâm sản (vừa qua ngày 07/05/2010, đã sát nhập 03 đơn vị)
Việc quy hoạch, giao đất giao rừng chưa cấp
được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
chưa căm mốc phân rõ 3 loại rừng giao cho các chủ rừng quản lý
Chính sách hiện hành chưa thu hút được người dân làm rừng, suất đầu tư hỗ trợ thấp, người làm nghề rừng có thu nhập thấp hơn nhiều so với nghề khác Nhà nước quy hoạch
được rừng đặc dụng, rừng phòng hộ chưa có
hỗ trợ đền bù nên không thể hướng dẫn người dân sử dụng, quản lý bảo vệ rừng đúng theo quy hoạch và quy chế quản lý rừng chung của Nhà nước, đã có một số vấn đề về chia sẻ lợi ích giữa chủ rừng và Nhà nước không hợp lý dẫn đến mất ổn định
Vốn đầu tư hàng năm cho lâm nghiệp còn ít, không tương xứng với yêu cầu phát triển Công tác quản lý còn có sự chồng chéo, không rõ ràng nhiệm vụ giữa các cơ quan chức năng, giữa cấp và ngành
Địa bàn quản lý rộng, dân có tỷ lệ nghèo quá
cao, trình độ dân trí thấp
Trình độ năng lực của cán bộ quản lý còn ở mức độ thấp, mặt khác điều kiện về vật chất,
kỹ thuật chưa đáp ứng để thi hành, thừa hành
Xu hướng sử dụng đất được chuyển đổi một cách tự nhiên biến động khá mạnh, chuyển từ
đất rừng sang đất nông nghiệp không ngừng
Trang 17tăng, điều này ban đầu có thể thấy góp phần
tăng thu nhập, đảm bảo được an ninh lương
thực, nhưng hậu quả đã và đang cho thấy sự
mất cân bằng sinh thái, nguy cơ thoái hóa đất
trở nên trầm trọng, hạn hán, lũ lụt, xói mòn,
lở đất… trở nên khốc liệt hơn Vì vậy với
điều kiện tự nhiên vùng núi của Định Hóa,
diện tích trồng cây lương thực ít nên hạn chế
phát triển ở mức như hiện nay, không nên mở
rộng, nên ưu tiên đất chưa sử dụng vào trồng
rừng, trồng cây công nghiệp là hướng sử dụng
đất đảm bảo bền vững của môi trường sinh
thái và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Một số bài học được rút ra:
Về quy hoạch 3 loại rừng phải căn cứ từ thực
tế cân đối: Quỹ đất và rừng, bảo đảm nhu cầu
lâm sản cho đời sống kinh tế khu vực; Địa
hình, địa chất, lưu vực, tính đặc thù riêng biệt
của khu vực; Quy hoạch phải có sự tham gia
của lãnh đạo, các nhà quản lý của địa phương
sở tại; Quy hoạch phải căn cứ từ quy hoạch
tổng quan của tỉnh, của huyện, chiến lược
phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng
của vùng, miền, địa phương sở tại; Quy hoạch
xong phải cắm mốc, phân định ranh giới rõ
ràng giữa bản đồ và thực địa, giao quyền sử
dụng đất và rừng cụ thể; Quy hoạch xong
phải có quy chế quản lý, tổ chức thực hiện
theo quy hoạch, xử lý nghiêm những hành vi
vi phạm quy chế theo luật định
Về chính sách và áp dụng chính sách: Ngân
sách lâm nghiệp ở đây chủ yếu từ nguồn ngân
sách trung ương và số ít tài trợ của một số tổ
chức phi chính phủ, nói chung suất đầu tư
thấp, chưa tương xứng, khó thu hút thành
phong trào, chưa tạo được cơ bản cho đời
sống của người làm nghề rừng Ở đây bài học
sử dụng để có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, hỗ
trợ là quan trọng hơn cả, đó là các quy định
chi tiết cụ thể quản lý phải phân định hợp lý,
cơ chế điều hành quản lý khoa học, tổ chức
nuôi trồng phải kịp thời vụ, đối với vật nuôi
trồng ưu tiên nơi khó khăn, xung yếu trước
Bộ máy quản lý và trình độ chuyên môn của
từng cán bộ, bảo đảm đúng vị trí, quan hệ
chặt chẽ, thống nhất, tập trung cao Khi xây
dựng dự án, thiết kế kỹ thuật phải chi tiết,
chính xác, thi công đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng; thực hiện với ngồn vốn điều hành tập trung, khoa học, hợp lý thực tế, có người dân tham gia Mọi chế độ chính sách dự án phải được công bố, công khai, hướng dẫn áp dụng, hướng dẫn sử dụng rõ ràng, mạch lạc, thanh quyết toán kịp thời
Về tổ chức bộ máy quản lý lâm nghiệp thống nhất trên cùng một địa bàn nhằm tập trung lực lượng, tập trung lãnh đạo, tránh chồng chéo, gây bất cập, đông người nhưng vẫn yếu (kiểm lâm và 2 ban QLR trước đây):
Ban Quản lý rừng ATK mới chính thức hợp nhất ngày 07/05/2010 là khởi đầu của sự cải cách hành chính trong ngành ở một huyện miền núi Định Hóa Là mô hình đầu tiên ở Việt Nam có sự ứng dụng học hỏi ở một số nước đã thành công Ban quản lý mới muốn thành công được, việc cốt lõi phải xây dựng một Chi bộ Đảng thực sự đoàn kết có tính chiến đấu cao, lãnh đạo cấp ủy thực sự hội tụ
được trình độ lãnh đạo, quản lý, vững vàng
tay lái cả trong nghiệp vụ với kinh nghiệm thực tiễn, phát huy được năng lực của mọi cán
bộ, đảng viên, CBCC, viên chức và cán bộ hợp đồng lao động
Phải huy động được trí tuệ tập thể cao nhất, xây dựng được Quy chế hoạt động cơ quan mới, sát thực, khả thi cao nhất, điều hành nhịp nhàng, nghiêm túc nhất, có hiệu quả bằng các biện pháp kiểm tra tích cực
Tập trung khẩn trương nhanh nhất, trình UBND tỉnh được Quy chế, quản lý rừng ATK
Định Hóa, một chính sách, chế độ quản lý đặc
thù hợp lý nhất, có hiệu quả nhất
Đẩy nhanh, đẩy mạnh tốc độ điều tra, nghiên
cứu xây dựng các dự án thành phần trong lĩnh vực và định kỳ phải kiểm điểm, đánh giá, kiểm tra tiến độ xây dựng, tổ chức thực hiện
dự án, giải quyết phát sinh kịp thời
Xây dựng các mô hình quản lý ở cơ sở, xây dựng mô hình bảo vệ rừng, sử dụng rừng, nuôi trồng, phục hồi, tôn tạo cảnh quan từ các nhóm hộ, cộng đồng làng (bản) làm nghề rừng, nông lâm kết hợp gắn liền với công tác khuyến nông, khuyến lâm để đúc rút kinh nghiệm và phát triển bền vững
Trang 1813
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng,
đơn vị, tổ chức cấp ủy chính quyền cơ sở, tổ
chức chính trị xã hội ở địa phương tham gia
vào công tác quản lý, chỉ đạo, tuyên truyền
chế độ chính sách và pháp luật của Đảng và
Nhà nước đến từng nhà và từng người dân,
từng đối tượng quản lý, trên các kênh hiện có,
bằng những phương pháp lồng ghép đa dạng
phong phú; Tranh thủ mọi sự lãnh đạo, quản
lý của các cơ quan cấp trên và sự giúp đỡ về
tri thức quản lý của các chuyên gia trong và
ngoài nước về cả vật chất và tinh thần để
nâng cao năng lực quản lý cho toàn thể can
bộ, nhân viên trong đơn vị để đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của sự vận động và phát
triển của kinh tế và xã hội
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỊNH HOÁ
Quan điểm bảo vệ và phát triển rừng tại
Định Hóa
Giải quyết tốt mâu thuẫn giữa bảo tồn, tôn
tạo, phục hồi rừng đặc rụng, cảnh quan di tích
lịch sử
Khai thác tiềm năng, nhân lực và nguồn lực
khác tại chỗ, nhưng phải có sự đầu tư của Nhà
nước thông qua cơ chế chính sách đặc thù về
đất đai, hỗ trợ vốn ban đầu là khâu quyết định
Đảm bảo bình đẳng về lợi ích của các chủ
rừng, người quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng được sự đầu tư của Nhà nước, hạn chế
khai thác lâm sản, tuân thủ sự chỉ đạo, điều
hành của một cơ quan có trách nhiệm
Mục tiêu
Phục hồi, tôn tạo cảnh quan rừng, cây xanh
vùng ATK Định Hoá góp phần quan trọng
vào việc bảo vệ cảnh quan quần thể di tích
lịch sử quốc gia Việt bắc Bảo vệ sự đa dạng
sinh học tài nguyên rừng, tăng cường tác dụng
phòng hộ môi trường, đồng thời tăng khả năng
cung cấp lâm sản cho nhu cầu tại chỗ và
nguyên liệu cho công nghiệp, xây dựng
Đề xuất được chính sách ưu đãi để phát triển
lâm nghiệp góp phần cùng với các ngành đầu
tư phát triển toàn diện kinh tế, xã hội Nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
các dân tộc trong khu vực ATK Định Hoá
Giải pháp phát triển tài nguyên rừng
Nhóm giải pháp về kinh tế
+ Hỗ trợ kinh tế: Với định mức hỗ trợ cho
người dân tham gia chăm sóc, bảo vệ rừng như hiện nay còn là quá thấp, theo như kết quả tính toán mức thu nhập/hộ của các hộ không tham gia quản lý rừng chênh lệch cao hơn so với các hộ có tham gia quản lý rừng gần 2 lần hộ Trong khi diện tích đất lâm nghiệp của các hộ khu vực quản lý rừng gấp hơn 5 lần so với các hộ khác Như vậy
địnhmức hỗ trợ hiện nay cũng cần phải có
nhữn tỷ lệ tương ứng tức là mức hỗ trợ phải gấp 10 lần như hiện nay tương đương với
1 triệu đồng/ha/năm mới có thể đáp ứng được một phần mong đợi và khuyến khích người dân tham gia chăm sóc, bảo vệ rừng
+ Hỗ trợ vốn để phát triển ngành nghề, tăng thu nhập, giảm thời gian nông nhàn, giảm áp lực vào rừng: Hỗ trợ vốn để phát triển một số
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đang có tiềm năng ở địa phương như gây trồng và chế biến dược liệu, song mây, dệt thổ cẩm, nuôi ong, chế biến nông sản Việc phát triển những ngành nghề phụ nhằm giúp người dân phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở địa phương nhưng không gâp sức ép lên các nguồn lực tự nhiên của khu vực
+ Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Đặc biệt là
hệ thống giao thông đến các bản, làng, hệ thống trường học và mạng lưới điện được xác
định là một trong những giải pháp quan trọng
nâng cao dân trí, tăng cường trao đổi kinh tế, văn hóa, nhờ đó nâng cao được năng lực quản
lý các nguồn tài nguyên, trong đó có quản lý bảo vệ và phát triển rừng
+ Đầu tư cho phát triển kinh doanh tổng hợp nghề rừng với diện tích rừng sản xuất: Đầu tư
để kinh doanh lâm nghiệp tổng hợp gồm cả
gỗ, lâm sản ngoài gỗ cũng như phát triển chế biến lâm sản để nâng cao hiệu quả kinh tế của kinh doanh rừng, tạo ra sức hấp dẫn kinh tế cho cộng đồng tham gia vào bảo vệ và phát triển rừng
+ Đầu tư phát triển thêm những diện tích rừng có giá trị kinh tế và sinh thái cao ở đất
Trang 19chưa sử dụng: Theo quy hoạch phát triển
rừng trên địa bàn huyện cần đầu tư để phục
hồi rừng trên những diện tích chưa sử dụng
đây là một trong những biện pháp vừa nâng cao
thu nhập của người dân vừa phát triển rừng
+ Trú trọng đầu tư cho phát triển các hoạt
động lồng ghép được mục tiêu bảo tồn rừng
với mục tiêu phát triển kinh tế: Cần đầu tư
cho khai thác những tiềm năng du lịch sinh
thái dựa vào các sinh cảnh của khu vực rừng
ATK Nếu quản lý tốt chúng sẽ tạo ra những
nguồn thu đáng kể để cải thiện đời sống
người dân và đầu tư trở lại cho công tác phát
triển thêm rừng
+ Đầu tư phát triển thị trường lâm sản: Thị
trường lâm sản địa phương hiện tại chưa phát
triển, đặc biệt là các lâm sản ngoài gỗ như các
loại dược liệu, song, mây, dầu, nhựa Phần
lớn những lâm sản có giá cả không ổn định,
một phần do số lượng ít không hình thành
được thị trường, một phần khác do thiếu
thông tin về thị trường
Nhóm giải pháp xã hội
+ Tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận
thức về giá trị kinh tế, sinh thái của rừng,
khích lệ người dân tích cực tham gia bảo vệ
và phát triển rừng: Tăng cường tuyên truyền
giáo dục để nâng cao nhận thức của người
dân và để lôi cuốn người dân vào hoạt động
bảo vệ và phát triển rừng
+ Thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông lâm
nghiệp: Quy hoạch sử dụng đất ổn định kết
hợp với giao đất, giao rừng triệt để sẽ làm cho
mọi diện tích đất lâm nghiệp đều có chủ cụ
thể Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho
người dân cũng như cộng đồng tham gia vào
bảo vệ và phát triển rừng
+ Xây dựng tổ chức quản lý lâm nghiệp ở cấp
xã: Hiện nay với thực tế mỗi xã có một cán
bộ phụ trách nông lâm nghiệp và kinh tế là
quá mỏng, cán bộ kiểm lâm của huyện và cán
bộ nông nghiệp của huyện không thể hàng
ngày sâu sát với thực tế các xã do vậy cần có
chính sách và ngân sách cho việc tăng cường
cán bộ cấp xã có thể triển khai dần để đảm
bảo sao cho mỗi xã có ít nhất 01 cán bộ
chuyên trách lâm nghiệp cho địa bàn huyện
+ Củng cố và xây dựng các tổ chức cộng
đồng liên quan đến quản lý bảo vệ và phát
triển rừng ở cấp xã: Các tổ chức xã hội như:
Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, các tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên
có vai trò rất lớn trong việc vận động nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước góp phần ổn định xã hội, tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất phát triển
+ Xây dựng quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm với lực lượng quản lý bảo vệ rừng các Ban quản lý khu di tích, rừng đặc dụng và rừng bảo vệ: Một trong những nguyên nhân
của hiệu quả quản lý bảo vệ rừng chưa cao là thiếu sự phối hợp tốt giữa các lực lượng kiểm lâm và lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên cùng một địa bàn Vì vậy, cần có sự phối hợp tốt hoạt động, để thực hiện hiệu quả những nhiệm vụ chung vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng và ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng
Nhóm giải pháp khoa học công nghệ
+ Nghiên cứu xây dựng những mô hình trình diễn về kinh doanh rừng có hiệu quả cao: Nội
dung của việc xây dựng mô hình trình diễn phải bao gồm trồng mới hoặc trồng thêm những loài có giá trị kinh tế cao, trong đó có
cả cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ có thể thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của người dân về sản phẩm rừng, và nhu cầu sản xuất hàng hóa, nhờ đó giảm được áp lực vào rừng
+ Nghiên cứu phát triển hệ thống mô hình trình diễn nông lâm kết hợp có thu nhập cao:
Cần nghiên cứu những biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi trong
hệ canh tác nông nghiệp và coi đó như một nhân tố làm giảm sức ép của đời sống cộng
đồng vào tài nguyên rừng Những biện pháp
kỹ thuật đó có thể phải hướng vào cải tiến kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lương thực sang cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, cải thiện tập đoàn vật nuôi
mà trước hết là đại gia súc
+ Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch sinh thái trong vùng ATK: Kết hợp với
các khu vực khác của tỉnh Tuyên Quang,
Trang 2015
Vĩnh Phúc và Bắc Cạn, đề xuất mô hình phát
triển du lịch sinh thái làm cơ sở cho các hoạt
động sản xuất và dịch vụ khác phát triển Để
làm được điều này cần có sự tham gia của các
doanh nghiệp du lịch trên địa bàn và xây
dựng đề án với sự hỗ trợ của tỉnh trong việc
tạo ra tour du lịch và vận động người dân
tham gia xây dựng tour du lịch đó cũng như
tham gia vào các hoạt động của tour từ đó họ
có thêm nguồn thu
+ Tăng cường hoạt động khuyến nông,
khuyến lâm: Hoạt động khuyến nông, khuyến
lâm cần hỗ trợ kỹ thuật công nghệ cụ thể: Có
tổ chức khuyến nông, khuyến lâm đủ năng lực
hoạt động thường xuyên tại các thôn để
hướng dẫn đồng bào kỹ thuật trồng, chăm sóc
các loại cây trồng, vật nuôi mới, kỹ thuật
phòng trừ sâu bệnh cho các loại cây trồng, vật
nuôi Ngoài việc phổ biến, chuyển giao kỹ
thuật công nghệ, cần chú ý các hoạt động bồi
dưỡng kiến thức về quản lý kinh tế cho các hộ
gia đình, cung cấp thông tin về thị trường giá
cả để cho các hộ có quyết định chính xác
trong sản xuất kinh doanh
+ Phát triển hệ thống phổ biến kiến thức bản
địa liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng:
Kiến thức bản địa do cha ông để lại là cẩm nang vô cùng quan trọng trong công tác quản
lý, bảo vệ và chăm sóc vốn rừng đặc biệt nó phù hợp với thực tế của địa phương do vậy cần phải phát huy và được xây dựng thành một hệ thống để phổ biến tại các bản, xã Đây
là một giải pháp đơn giản nhưng có hiệu quả trong quản lý và phát triển rừng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo cáo Kinh tế xã hội huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, năm 2009, 2010
[2].Báo cáo đánh gia công tác quy hoạch và quản
lý rừng của Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
[3].Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010
[4].Các số liệu thống kê của Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa, Hạt kiểm lâm Định Hóa, phòng Tài nguyên Môi trường và Phòng NN&PTNT huyện Định Hóa, Viện điều điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc bộ
[5].Niên giám thống kê huyện Định Hóa năm 2009-2010.
SUMMARY
FOREST MANAGEMENT SITUATION IN DINH HOA DISTRICT
OF THAI NGUYEN PROVICE
Phuong Huu Khiem 1,* , Do Anh Tai 1 , Tran Van Nguyen 2 , Dinh Hong Linh 2 , Nguyen Dac Dung 2
1 Thai Nguyen University, 2 College of Economics and Business Administration - TNU
In recent years, sustainable forest management has become a principle of forest management business and also a standard that forest management business has to be reached Dinh Hoa district
of Thai Nguyen provice, the old revolutionary base, where forest cover is considered as most Thai Nguyen, and forest land in the district is 27,438ha Up to now, the entire forest land has been given the owners’ right by the district and provincial authorities Especially, those assigned to households reach 22,850ha/39,061ha, assigned to special-use forest management boards are 10,059ha/39,061ha; assigned to the protection forest management are 2,064ha/39,061ha and the rest of 4.088ha/39.061ha belong to self-governing commune The proportion allocated to households is nearly 60% Forests play an important role in people’s living here; every year the extraction of forest products has a great contribution to people's income; the leading forest products include timber, firewood, and the other forest products However, the management of local forests retains inadequacies, poverty rate is still high So it is necessary to analyze deeply the situation, causes and propose solutions for the sustainable management of forest resources for conservation and people's livelihoods
Keywords: Forest management, Sustainable, Situation, Forest Products, Dinh Hoa
*
Tel: 0945855085; Email: phuonghuukhiem@gmail.com
Trang 22Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát
triển phát triển kinh tế xã hội năm năm 2006 – 2010 là: “Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” “Về giáo dục và đào tạo, phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”
Để giáo dục và đào tạo luôn là quốc sách hàng đầu, qua đó phát triển phát triển nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển Nhất là trong điều kiện hiện nay – phát triển nền kinh tế tri
thức thì tri thức được coi là một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất Thông qua các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian gần đây cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển giáo dục đào tạo, không ngừng tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế mới, thị trường lao động mới ở trong và ngoài nước Giáo dục đào tạo vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho
sự phát triển kinh tế xã hội
Huyện Phổ Yên là một huyện có vị trí chiến lược và quan trọng của tỉnh Thái Nguyên Nghiên cứu
và hoàn thiện chính sách quản lý chi NSNN cũng như đổi mới và nâng cao công tác quản lý chi Ngân sách cho giáo dục đào tạo là một yêu cầu thực tế khách quan
Từ khoá: Ngân sách, giáo dục, Huyện Phổ Yên
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm
thực tiễn trong công tác quản lý chi ngân sách
cho sự nghiệp giáo dục đào tạo từ đó đề xuất
phương hướng và một số giải pháp cơ bản để
quản lý tốt hơn công tác chi ngân sách nhằm
thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp giáo dục
đào tạo Mặt khác, tham mưu cho UBND
tỉnh, UBND các huyện ban hành các chính
sách tài chính phù hợp với sự nghiệp giáo dục
đào tạo tại Thái Nguyên nói chung và huyện
Phổ Yên nói riêng
Trong bài viết này chúng tôi tiến hành đánh
giá thực trạng quản lý chi Ngân sách nhà
nước cho giáo dục đào tạo huyện Phổ Yên,
rút ra những ưu điểm, tồn tại làm cơ sở cho
việc đề xuất những giải pháp hoàn thiện công
tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục
đào tạo huyện Phổ Yên trong điều kiện nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
*
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành nghiên cứu chúng tôi đã khảo
sát, thu thập số liệu phòng Tài chính - Kế hoạch
của tỉnh Thái Nguyên và huyện Phổ Yên
Sử dụng phương pháp thống kê so sánh giữa chi ngân sách cho giáo dục đào tạo qua các năm trên địa bàn huyện Phổ Yên
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng lập và phân bổ dự toán chi NSNN cho giáo dục, đào tạo của huyện Phổ Yên
Căn cứ vào dự toán ngân sách đã được HĐND tỉnh thông qua và quyết định phân bổ của UBND tỉnh Thái Nguyên, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên để thống nhất về nguyên tắc, phương pháp phân bổ dự toán chi tiết cho các đơn vị thuộc ngành và các huyện theo Mục lục NSNN, đồng thời Sở Tài chính thông báo dự toán chi ngân sách cho các đơn vị, huyện, ngành để các đơn vị tiến hành lập dự toán chi tiết theo nhiệm vụ chi và Mục lục NSNN gửi cơ quan Tài chính thẩm định (Sở
Trang 23Tài chính đối với các đơn vị thuộc ngành, cấp
tỉnh; phòng Tài chính đối với các đơn vị cấp
huyện) và thông báo dự toán chi tiết theo
mục lục ngân sách đến từng cơ quan, đơn vị
thụ hưởng
Do chưa xây dựng được định mức chi tổng
hợp cho các cấp học và các trường nên ở
huyện Phổ Yên hiện việc phân bổ dự toán chi
ngân sách cho các đơn vị thực hiện theo
phương pháp tính theo nhóm mục chi theo
nguyên tắc là đảm bảo các khoản chi tối thiểu
cho con người như: chi lương, các khoản phụ
cấp theo lương, học bổng học sinh, sinh viên,
các khoản chi bắt buộc tính theo lương
(BHXH, BHYT, KPCĐ)…, cho khối giáo dục
của từng huyện hoặc cho từng đơn vị thuộc
khối đào tạo, các khoản chi khác được tính
toán phân bổ theo khả năng ngân sách đã
được cân đối Riêng kinh phí ngân sách, thiết
bị hàng năm được bố trí chung cho toàn khối
giáo dục, chưa tiến hành phân bổ cho từng đối
tượng cụ thể trong quá trình lập và phân bổ
dự toán, kinh phí khi tốt nghiệp được bố trí
cho toàn ngành, khi có nhu cầu chi, phòng
Giáo dục và đào tạo phối hợp với phòng Tài
chính tính toán, gửi dự toán chi về Sở Giáo
dục và Đào tạo tổng hợp, thống nhất với Sở
Tài chính để tiến hành cấp phát cho đơn vị
Công tác điều hành, cấp phát NSNN cho Giáo
dục - Đào tạo
Hiện nay, ngân sách chi cho giáo dục - đào
tạo được thực hiện như sau: Sở Tài chính phối
hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo điều hành và
cấp phát kinh phí trực tiếp cho các đơn vị
giáo dục đào tạo thuộc ngành, cấp tỉnh (trừ
một số đơn vị như Trung tâm giáo dục thường
xuyên, các trường THPT thuộc quyền quản lý
của cấp tỉnh nhưng việc điều hành và cấp phát
kinh phí trực tiếp cho các đơn vị này được
giao cho huyện) và điều hành cấp phát kinh
phí sự nghiệp giáo dục - đào tạo cho các
huyện (đối với các huyện chưa được phân cấp
nhiệm vụ chi cho sự nghiệp giáo dục) Ở cấp
huyện, phòng Tài chính huyện phối hợp với
phòng Giáo dục và đào tạo điều hành và cấp
phát kinh phí trực tiếp cho các đơn vị, cơ sở
giáo dục, đào tạo thuộc huyện quản lý và một
số đơn vị cấp tỉnh như đã nêu trên
Với cơ chế điều hành như trên việc cấp phát các khoản chi NSNN cho giáo dục - đào tạo thực hiện như sau :
+ Đối với các đơn vị thuộc ngành, cấp tỉnh : Hàng năm, căn cứ vào dự toán chi cả năm đã
được cấp có thẩm quyền phê duyệt, các chế
độ, chính sách chi tiêu của Nhà nước quy định và nhiệm vụ trong năm, các đơn vị lập
dự toán gửi Sở Tài chính thẩm định Sau khi thẩm định, Sở Tài chính ra thông báo cho các ngành quản và quyết định giao dự toán cho các đơn vị thụ hưởng ngân sách trực tiếp Trên cơ sở thông báo của Sở Tài chính, ngành chủ quản quyết định giao dự toán cho đơn vị trực thuộc ngành Kho bạc nhà nước căn cứ quyết định giao dự toán của cấp có thẩm quyền để cấp phát kinh phí cho các đơn vị thu hưởng ngân sách
+ Đối với các đơn vị cấp huyện và các đơn vị cấp tỉnh nhưng do huyện trực tiếp điều hành
và cấp phát kinh phí: Hàng năm, trên cơ sở dự toán NSNN đã được HĐND tỉnh thông qua,
Sở Tài chính thông báo cho UBND các huyện Tại các huyện, phòng Giáo dục và đào tạo phối hợp với phòng Tài chính lập dự toán chi trình chủ tịch huyện ký, gửi Sở Tài chính
và Sở Giáo dục và Đào tạo Sau khi thẩm
định, Sở Tài chính tiến hành giao dự toán cho
huyện Căn cứ vào dự toán đã được duyệt, huyện tiến hành giao dự toán cho các đơn vị thụ hưởng
Quyết toán và kiểm tra các khoản chi NSNN cho giáo dục - đào tạo
Công tác quyết toán các khoản chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo ở huyện Phổ Yên được tiến hành theo một trình tự chung đó là các
đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết
toán gửi các đơn vị dự toán cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp để tổng hợp, xét duyệt và chuẩn y Cụ thể, trình tự lập, gửi, xét duyệt báo cáo quyết toán thời gian qua thực hiện như sau: Các đơn vị phải lập báo cáo quyết toán quý, năm gửi phòng Tài chính huyện, phòng Giáo dục và đào tạo (đối với các đơn vị cấp huyện); gửi phòng Tài chính,
Sở Giáo dục và Đào tạo (đối với các đơn vị
Trang 2419
trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo) Phòng
Tài chính huyện chủ trì phối hợp với phòng
Giáo dục và đào tạo huyện duyệt quyết toán
đối với các đơn vị trực thuộc huyện Phòng
Tài chính huyện duyệt báo cáo quyết toán đối
với các đơn vị trực thuộc tỉnh Sau khi duyệt
báo cáo quyết toán của các đơn vị trên địa
bàn, phòng Tài chính tổng hợp báo cáo quyết
toán gửi Sở Tài chính, Sở Giáo dục và đào tạo
để thẩm tra xét duyệt và ra thông báo duyệt y
quyết toán cho toàn huyện
Tình hình sử dụng kinh phí
Chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo gồm 2
phần là chi thường xuyên và chi XDCB tập
trung Cơ cấu các khoản chi này trong tổng
chi NSNN cho giáo dục và đào tạo như sau
bảng 1
Qua số liệu trên cho thấy trong tổng chi
NSNN cho giáo dục - đào tạo ở Phổ Yên thì
chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu
Trong những năm qua, tỷ trọng chi thường
xuyên chiếm trên 94%, phần dành cho công
tác xây dựng trường sở chiếm tỷ trọng rất
nhỏ, khoảng 2,7 – 5,1%
Quản lý các khoản chi thường xuyên
Trong chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo, phần lớn là các khoản chi thường xuyên Vì vậy, chất lượng quản lý các khoản chi này tác
ứng cho việc thực hiện các nhiệm vụ của
ngành, các khoản chi thường xuyên được chia thành 4 nhóm: Chi thanh toán cá nhân (chi cho con người); Chi cho hoạt động chuyên môn; Chi mua sắm, sữa chữa; Các khoản chi khác Nội dung của chi thanh toán các nhân là chi lương và các khoản có tính chất lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, phụ cấp, học bổng, tiền công) sau đây gọi tắt là chi lương Để
đánh giá một cách khái quát tình hình quản lý
và sử dụng kinh phí chi thường xuyên của giáo dục - đào tạo, trước hết chúng ta sẽ phân tích tỷ trọng các nhóm mục chi chủ yếu trong chi thường xuyên trong giai đoạn 2007 –
2009 thông qua bảng số liệu tại bảng 2
Bảng 1 Cơ cấu chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo giai đoạn 2005 – 2009
Đơn vị tính : triệu đồng
Tăng trưởng (%)
Số tiền % Số tiền % Số tiền % 08/07 09/08
Tổng Chi NSNN cho GD-ĐT 47.944 100 66.382 100 73.921 100 38,46 11,36
Chi thường xuyên 46.663 97,3 63.020 94,9 72.001 97,4 35,05 14,25 Chi đầu tư XDCB 1.281 2,7 3.362 5,1 1.920 2,7 202,23 -50,39
Nguồn: phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Phổ Yên
Bảng 2 Cơ cấu các nhóm mục chi trong tổng chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo
Số tiền (%) Số tiền (%) Số tiền (%) 08/07 09/08
Nhóm 1 38.816 84,5% 48.886 81,1% 52.698 77,2% 25,9% 7,8% Nhóm 2 3.936 8,57% 4.785 7,94% 8.814 12,92% 21,6% 84,2% Nhóm 3 2.454 5,35% 4.138 6,86% 3.708 5,43% 68,6% -10,4% Nhóm 4 706 1,54% 2.487 4,12% 3.013 4,42% 252,3% 21,1%
Nguồn: phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Phổ Yên
Trang 25* Về tình hình quản lý sử dụng các nhóm mục chi chủ yếu trong chi thường xuyên
Biểu 1 Cơ cấu chi NSGD của huyện Phổ Yên giai đoạn 2007-2009
Nguồn: phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Phổ Yên
- Quản lý các khoản chi thanh toán cá nhân
(chi cho con người) - Nhóm 1:
Các khoản chi cho con người mà nội dung cơ
bản của nó là chi lương và các khoản có tính
chất lương luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong
cơ cấu chi thường xuyên cho giáo dục - đào
tạo Phổ Yên trong những năm qua Năm
2007, số tiền chi cho nhóm 1 là 38.816 triệu
đồng chiếm cơ cấu 84,5% trong tổng chi ngân
sách cho giáo dục, đào tạo Năm 2009, chi
cho nhóm 1 đạt 52.698 triệu đồng chiếm cơ
cấu 77,2% và có xu hướng giảm dần trong
giai đoạn nghiên cứu
- Quản lý chi cho hoạt động chuyên môn –
Nhóm 2:
Nhóm mục chi này nhằm phục vụ trực tiếp
cho hoạt động giảng dạy và học tập và các
hoạt động chuyên môn khác của các trường
và các cơ sở giáo dục, nó ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng giảng dạy của giáo viên và
học sinh Thực tế nhóm mục chi này ở Phổ
Yên trong giai đoạn trên đạt tỷ lệ bình quân
9,81%, đảm bảo khung quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo (mức khung Bộ Giáo dục và
đào tạo quy định tại Thông tư số 30/TT- GD
tỷ lệ này phải đạt từ 6 – 10%)
Theo số liệu trên, chi hoạt động chuyên môn
thời gian qua có xu hướng tăng lên từ 8,57%
năm 2007 lên 12,92% năm 2009 Điều này
thể hiện sự tích cực trong công tác hoạt động chuyên môn của các đơn vị, cơ sở giáo dục
đào tạo
- Quản lý chi mua sắm, sữa chữa– Nhóm 3: Với tình trạng nhà cửa và trang thiết bị của các trường học của Phổ Yên như hiện nay, cần thiết phải đầu tư một khoản kinh phí khá lớn mới có thể đáp ứng được việc mua sắm, sữa chữa các công trình, thiết bị hiện có Tuy nhiên, số liệu cho thấy, số tiền ngân sách đầu
tư cho công tác này ở Phổ Yên chưa nhiều và chiếm tỷ lệ khá nhỏ chỉ chiếm 5,35% năm
2007 và 5,4 3% năm 2009 so với tổng chi thường xuyên cho giáo dục - đào tạo của huyện Nhìn chung, số tiền các trường nhận
được quá nhỏ nên công tác mua sắm, sữa
chữa tiến hành chắp vá không có hiệu quả
Trang 2621
Quản lý chi XDCB tập trung
Trong công tác quản lý chi đầu tư XDCB cho
giáo dục - đào tạo thời gian qua còn có những
hạn chế nhất định Cụ thể là :
- Việc hướng dẫn các quy trình, văn bản quản
lý của các cấp có thẩm quyền chưa đồng bộ,
kịp thời; trong khi quản lý, cấp phát và thành
quyết toán vốn đầu tư XDCB ở Trung ương
và địa phương có nhiều thay đổi nên các đơn
vị không nắm bắt được kịp thời Mặt khác, do
không hiểu được phân công, phân cấp trách
nhiệm trong quản lý XDCB nên các đơn vị
gặp khó khăn trong công tác đầu tư XDCB,
rất lúng túng không biết phải xin ý kiến
hướng dẫn của cấp nào, ngành nào
- Chưa thực hiện nghiêm túc quy chế đấu thầu
theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày
01/9/1999, Nghị định số 14/2000/NĐ-CP
ngày 05/5/2000 và Nghị định số
66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 của Chíh phủ Do quy mô
xây dựng và mua sắm thiết bị không lớn, mặt
khác vốn đầu tư cho các công trình XDCB
thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo có nhiều
nguồn vốn tham gia nên nhiều dự án thực
hiện theo hình thức chỉ định đấu thầu hoặc
đấu thầu hạn chế còn phổ biến, tính cạnh
tranh trong đấu thầu thấp Quá trình chuẩn bị
đấu thầu còn kéo dài, nhất là việc xin phê
duyệt danh sách nhà thầu Tình trạng các nhà
thầu chạy lo thủ tục thay cho các chủ đầu tư,
hợp thức hồ sơ dự thầu còn khá phổ biến
- Việc quản lý vật liệu, giá cả vật liệu, thiết bị
một số nơi còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến lãng
phí vốn, chất lượng xây dựng, thiết bị mua
sắm không cao
- Do hồ sơ thủ tục không đảm bảo nên việc
thành toán vốn cho công trình còn quá chậm
không phù hợp với tiến độ công trình Tình
trạng vốn chờ công trình còn phổ biến Bên
cạnh đó do công tác quản lý vốn đầu tư của
các chủ đầu tư còn non kém, nhiều chủ đầu tư
còn giao cho các nhà thầu tự lo công việc
hoặc cố ý gây khó khăn cho nhà thầu không
chịu ký khối lượng và thanh toán tiền cho bên
B, trong khi đó B thi công phải vay vốn ở các
tổ chức tín dụng để thi công và phải trả lãi
nhưng vốn ngân sách lại ứ đọng ở Kho bạc
không thanh toán được
- Hiện tượng các tổ chức tư vấn thiết kế công trình lãng phí, tăng khối lượng, kết cấu không cần thiết để tạo điều kiện cho B “bớt xén” mà không ảnh hưởng đến chất lượng công trình, vận dụng đơn giá cao để lập dự toán Thế nhưng sự kiểm tra xét duyệt của các cơ quan Nhà nước trách nhiệm chưa cao, còn có biểu hiện làm lơ, bỏ qua để trình phê duyệt làm thất thoát vốn đầu tư của NSNN
Các kết quả đạt được
* Về mô hình và tổ chức bộ máy quản lý : Với mô hình quản lý ngân sách giáo dục - đào tạo ở huyện Phổ Yên như hiện nay phần nào
đã tạo điều kiện cho ngành giáo dục - đào tạo
làm tốt hơn công tác chuyên môn, tạo điều kiện cho UBND các huyện tham gia vào công tác quản lý giáo dục - đào tạo nhiều hơn
* Về công tác điều hành và cấp phát chi ngân sách:
Về cơ bản, công tác điều hành và cấp phát kinh phí ngân sách cho hoạt động giáo dục -
đào tạo ở huyện Phổ Yên thực hiện tương đối
tốt theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn dưới luật Cơ chế phân công, phân cấp và quản lý điều hành ngân sách hàng năm của tỉnh đã quy định tương đối cụ thể về nhiệm vụ quản lý điều hành và cấp phát ngân sách cho từng cấp Vì vậy, thời gian qua việc cấp phát kinh phí chi thường xuyên cho giáo dục - đào tạo đảm bảo đúng
dự toán được duyệt
Những tồn tại và hạn chế
* Về mô hình và tổ chức bộ máy quản lý : Với mô hình quản lý ngân sách giáo dục - đào tạo ở huyện Phổ Yên như hiện nay có thể thấy chưa có sự gắn chặt giữa kết quả hoạt động của hệ thống giáo dục - đào tạo với hệ thống ngân sách trong tỉnh, còn có sự tách rời giữa vai trò quản lý nhà nước và quản lý ngân sách
đối với một số cấp quản lý nhất là đối với sở
chủ quản Nhìn chung, Sở Giáo dục và Đào tạo chưa nắm được tình hình quản lý ngân sách của các đơn vị thuộc các ngành khác quản lý cũng như các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo đóng trên địa bàn huyện (các trường PTTH, các trung tâm giáo dục thường xuyên) nhưng việc quản lý ngân sách
được uỷ quyền cho huyện
Trang 27* Về công tác lập và phân bổ dự toán :
Công tác lập và phân bổ dự toán còn một số
hạn chế sau :
- Chưa coi trọng công tác lập dự toán chi
ngân sách đúng như vị trí vốn có của nó Vẫn
còn tình trạng đơn vị trực tiếp chi tiêu không
lập dự toán hàng năm mà các cơ quan tài
chính hoặc cơ quan chủ quản cấp trên làm
thay cho đơn vị, vì thế không đảm bảo quyền
dân chủ của đơn vị Mặt khác, do khả năng
ngân sách bị hạn chế, số hướng dẫn (số kiểm
tra) lập dự toán thấp, dự toán các đơn vị cơ sở
lập lại quá cao so với khả năng ngân sách có
thể đáp ứng được nên việc xây dựng dự toán
ở cơ sở đôi khi chỉ mang tính hình thức
- Chất lượng dự toán nhìn chung chưa cao,
thuyết minh dự toán còn sơ sài, dự toán của
các đơn vị cơ sở chưa nêu được ưu nhược
điểm trong quá trình chấp hành dự toán năm
trước, nêu kiến nghị và biện pháp khắc phục
năm kế hoạch
- Việc công khai dự toán ngân sách cho
ngành, huyện và các đơn vị chưa thực hiện
nghiêm túc
- Việc tính toán, phân bổ ngân sách cho giáo
dục - đào tạo dựa trên phương pháp tính theo
nhóm mục chi nhìn chung phù hợp trong điều
kiện khả năng ngân sách hạn hẹp của huyện
Phổ Yên như hiện nay Nhưng phải nói rằng
phương pháp tính toán khá phức tạp, đòi hỏi
phải có đội ngũ cán bộ với số lượng, chất
lượng tương xứng mới đảm bảo được độ
chính xác cao
* Về công tác điều hành và cấp phát chi ngân
sách:
Công tác điều hành và cấp phát kinh phí ngân
sách cho hoạt động giáo dục - đào tạo ở
huyện Phổ Yên còn một số hạn chế, cụ thể là:
- Việc phân cấp cho các huyện quản lý, điều
hành và cấp phát ngân sách trực tiếp cho các
đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo
đóng trên địa bàn huyện là chưa phù hợp với
phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục - đào
tạo Vì vậy, gây khó khăn trong việc tổ chức
thực hiện các khâu lập dự toán và quyết toán
ngân sách
- Do dự toán không sát với tình hình thực hiện nhiệm vụ chi trong năm, có một số khoản chi từ nguồn kinh phí dự phòng ngành, kinh phí sự nghiệp ngành… các đơn vị đến cuối năm mới triển khai thực hiện nên việc cấp phát dồn vào cuối năm, gây nên tình trạng kết dư ngân sách chuyển sang năm tại một số
đơn vị cơ sơ tương đối lớn
* Về công tác quyết toán
- Hầu hết các đơn vị còn gửi quyết toán chậm
so với quy định của Nhà nước Chất lượng báo cáo quyết toán các đơn vị lập không cao,
hồ sơ sổ sách kế toán một số đơn vị còn sơ sài, không đúng quy định gây khó khăn cho công tác kiểm tra, quyết toán
- Công tác thẩm tra quyết toán kinh phí thường xuyên của NSNN cho giáo dục - đào tạo ở huyện Phổ Yên trong những năm qua nhìn chung còn chậm so với quy định, số lượng các đơn vị được thẩm tra, thông báo duyệt y quyết toán chưa nhiều, hàng năm ở cấp huyện chỉ mới thẩm tra xét duyệt và ra thông báo duyệt y quyết toán cho khoảng 60 – 70% các đơn vị trực thuộc, các đơn vị còn lại chỉ mới dừng lại ở khâu tổng hợp báo cáo quyết toán Công tác kiểm tra, xét duyệt quyết toán còn mang hình thức chiếu lệ
* Về quản lý sử dụng nguồn kinh phí :
- Đối với quản lý chi thường xuyên : + Vẫn còn tình trạng một số đơn vị sử dụng kinh phí không đúng mục đích, không triển khai nhiệm vụ chi như kế hoạch đã được duyệt + Nhiều khoản chi không tuân theo tiêu chuẩn, định mức, thủ tục quy định như chi hội nghị, công tác phí, có đơn vị khi mua sắm trang thiết bị không làm đầy đủ các thủ tục duyệt giá theo quy định
+ Hách toán các khoản chi còn chưa đúng với mục lục NSNN hiện hành, nhất là đối với một
số khoản chi mua sắm, sữa chữa…Một số khoản chi không có trong dự toán được duyệt nhưng đơn vị vẫn thực hiện, cuối năm đơn vị lại làm thủ tục xin điều chỉnh mục chi để hợp
lý hóa thủ tục cho các khoản chi đó
Trang 2823
- Đối với quản lý chi đầu tư XDCB:
Việc sử dụng vốn đầu tư XDCB ngân sách
cấp cho giáo dục - đào tạo vẫn còn lãng phí,
thất thoát, kém hiệu quả Trong những năm
gần đây, dư luận xã hội bàn nhiều về vấn đề
tiêu cực, lãng phí, thất thoát trong đầu tư
XDCB và các công trình phục vụ cho giáo
dục - đào tạo cũng không tránh khỏi tình
trạng đó Qua thực tế khi quyết toán một số
công trình, cơ quan thẩm định thông thường
đã cắt giảm ở mức 10% giá trị đề nghị quyết
toán, trong khi đó số lượng các công trình
hàng năm chưa được quyết toán vẫn còn
nhiều Vì vậy, có thể nói sự thất thoát, lãng
phí vốn trong lĩnh vực này vẫn chưa được
khắc phục
Các kiến nghị
* Về chi thường xuyên :
- Nâng dần tỷ trọng chi cho đào tạo trong tổng
chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo để xúc
tiến loại hình này phát triển nhanh, đáp ứng
yêu cầu về số lượng cán bộ, công nhân kỹ
thuật lành nghề phục vụ cho sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của huyện Phấn đấu
tăng dần tỷ trọng chi ngân sách cho dạy nghề
mỗi năm tăng từ 1,5 – 2% trong tổng mức
ngân sách đầu tư cho giáo dục - đào tạo, đảm
bảo đến năm 2011 ngân sách đầu tư cho dạy
nghề đạt 6-8% tổng mức đầu tư cho giáo dục
- đào tạo
- Điều chỉnh lại cơ cấu chi ngân sách cho các
phân ngành trong khối giáo dục một cách hợp
lý hơn: quan tâm hơn đến việc đầu tư ngân
sách cho giáo dục mầm non, nâng dần tỷ
trọng chi cho khối THCS và THPT trong khối
giáo dục một cách hợp lý, phù hợp với xu
hướng tăng học sinh ở các cấp học này
- Hoàn thiện cơ cấu nhóm mục chi trong chi thường xuyên :
Những năm vừa qua, do kinh phí ngân sách cấp còn hạn hẹp nên phần chi cho các hoạt
động cần thiết tức thì như con người chiếm tỷ
trọng phần lớn, phần chi cho hoạt động giảng dạy, học tập và chi cho mua sắm, sữa chữa chưa được chú ý thích đáng
Trong điều kiện nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục - đào tạo còn hạn hẹp như hiện nay, trong những năm tới tốt nhất chi thường xuyên cho giáo dục - đào tạo phải đảm bảo
được cơ cấu giữa chi lương/ngoài lương ở
mức tối thiểu, đạt được các yêu cầu sau: đáp
ứng đủ mức chi thường xuyên cho con người;
chi hoạt động giảng dạy phải đảm bảo ở mức hợp lý; giảm dần tỷ trọng chi quản lý ở mức vừa phải, hạn chế và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi hội nghị, tiếp khách trong chi quản lý…
* Về chi đầu tư XDCB tâp trung : Tăng tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Luật Ngân sách Nhà nước [2] Báo cáo thu - chi NSNN cho giáo dục, đào tạo tỉnh Thái Nguyên năm 2009
[3] Báo cáo thu - chi NSNN cho giáo dục, đào tạo huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên năm 2009 [4] Đề án Cải cách giáo dục tỉnh Thái Nguyên năm 2009
[5] Giáo trình Quản lý Tài chính nhà nước – Học viện Tài chính
[6] Hồ Chí Minh với sự nghiệp Giáo dục – Nhà xuất bản sự thật 1990
[7] Tào Hữu Phựng - Đổi mới Ngân sách Nhà nước
[8] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc -Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Trang 29SUMMARY
SOLUTIONS FOR MANAGEMENT OF STATE BUDGET EXPENDITURE OF EDUCATION AND TRAINING AT PHO YEN DISTRICT, THAI NGUYEN PROVINCE
Dong Van Tan *
College of Economics and Bussiness Administration -TNU
The tenth meeting of Vietnam Communist Party confirmed the general goal of strategy of socio – economic development in the period of 2006 – 2010: “It’s necessary to bring our country out of the underdevelopment, creating the foundation for our country to be an industrialized country toward modernization” “On education and training, to strive for this field along with science and technology is indeed a top national policy, through innovative education and comprehensive training and development of high quality human resources, revive education in Vietnam”
Education and training is always a top national policy, thereby developing the human factor, direct force of development Especially in the present context - the development of knowledge economy, the knowledge is considered an important factor of production forces Through the development of economic - social policies in recent years, the Party and State are always interested in education and training development, and constantly increase investment in education and training aimed at improving people's , personnel training and fostering of talents to meet the requirements of the new economy, new labor markets in our country and abroad Education and training is both objective and also the force for economic and social development
Pho Yen district has a strategic and important location of Thai Nguyen province Research and improve the management of state budget expenditure policy as well as innovation and improvement of the management of budget expenditure for education is a objective and real requirement
Keywords: Budget, education, Pho Yen district
*
Trang 3025
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở KHU VỰC NÔNG THÔN HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Hoàng Thị Hoa 1,* , VũThị Hải Anh 2 , Hồ Lương Xinh 2
Định hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực nông thôn huyện Phổ Yên dựa trên cơ
sở sản xuất nông nghiệp nông thôn để phù hợp với những lợi thế và tiềm năng của huyện Vì vậy việc đưa ra các nhóm giải pháp để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển là vấn đề hết sức cần thiết trong công cuộc hiện nay
Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V), nông thôn, Phổ Yên, Thái Nguyên
Việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cho
phép khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn
tài nguyên thiên nhiên, ngồn vốn, công nghệ
và thị trường, tạo công ăn việc làm cho người
lao động, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, giảm bớt sự giàu nghèo, hỗ trợ sự
phát triển cho các doanh nghiệp lớn Với một
số lượng đông đảo, chiếm 96% tổng số doanh
nghiệp của cả nước đã tạo công ăn việc làm
cho gần một nửa số lao động trong các doanh
nghiệp, đóng góp đáng kể vào GDP và kim
ngạch xuất khẩu của cả nước, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đang khẳng
định vai trò không thể thiếu của mình trong
phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Phổ Yên là một huyện trung du miền núi nằm
ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên Cùng với
sự phát triển của dân số ngày một đông đã
làm cho quỹ đất ngày càng hạn hẹp điều này
đã làm dư thừa một lượng lớn lao động Việc
phát triển các DNN&V sẽ giải quyết được
phần nào nỗi bức xúc về việc làm ngày một
gia tăng trên địa bàn huyện, nhằm hạn chế
được một số lượng lớn lao động đang rời bỏ
quê hương để đi các tỉnh khác kiếm sống Tuy
nhiên, thực tế hiện nay các doanh nghiệp trên
địa bàn huyện Phổ Yên đang hoạt động với
quy mô vốn và lao động chưa hợp lý trong
*
Tel: 0913 888 044 ; Email: hthoatng@gso.gov.vn
từng lĩnh vực hoạt động, trình độ tổ chức quản lý còn thấp kém, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh còn thấp Việc tìm ra định hướng và giải pháp nhằm phát triển DNN&V
cả về số lượng và chất lượng ở huyện Phổ Yên là việc làm cấp thiết và có ý nghĩa to lớn
đối với sự phát triển kinh tế của huyện
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Ngoài nguồn số liệu thứ cấp, chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ các doanh nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn huyện phổ theo như số liệu thống kê của huyện
Các phương pháp như phân tích cơ bản như phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp chuyên gia, chuyên khảo, phương pháp so sánh… và một số phương pháp khác cũng
được sử dụng trong nghiên cứu này
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ta thấy số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở huyện Phổ Yên không ngừng tăng lên, từ 90 doanh nghiệp (2008), đến 122 doanh nghiệp (2009), và 135 doanh nghiệp (2010), bình quân qua 3 năm số lượng doanh nghiệp tăng 23,11% Doanh nghiệp tư nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp: chiếm 43,33% (2008), 45,08% (2009), và 42,96% (2010) Số lượng công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn cũng tăng lên đáng kể Năm 2008 số lượng công ty TNHH là 21 (chiếm 23,33%) thì đến năm 2010 là 35 công
Trang 31ty (chiếm 25,93%), bình quân qua 3 năm số
công ty TNHH tăng 29,39% Công ty cổ phần
năm 2008 là 17 công ty, đến năm 2010 tăng
lên là 25 công ty, như vậy bình quân qua 3
năm số lượng công ty cổ phần tăng 21,52%
Điều này đã thể hiện xu hướng phát triển và
cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa của huyện
Phổ Yên theo hướng tăng các công ty cổ phần
và công ty TNHH đây cũng là xu hướng
chung của toàn tỉnh Thái Nguyên, góp phần
phát triển kinh tế của huyện
Kết quả sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhìn vào kết quả sản xuất kinh doanh ta thấy
phần lớn các doanh nghiệp chủ yếu doanh thu
thu từ hoạt động bán hàng là chính, còn doanh
thu từ các hoạt động khác là ít Doanh thu
bình quân 1 cơ sở năm 2008 là 16.819 triệu
đồng đến năm 2010 là 17.760 triệu đồng, bình
quân qua 3 năm doanh thu tăng 26,43%
Qua số liệu tại bảng 2 ta thấy tổng lợi nhuận
trước thuế bình quân của một cơ sở năm 2008
là 521,54 triệu đồng đến năm 2010 là 769 triệu đồng, bình quân qua 3 năm tổng lợi nhuận trước thuế tăng 49,01% Lợi nhuận chủ yếu là thu từ hoạt động sản xuất kinh
Hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Hiệu quả kinh tế tính BQ/1 cơ sở ta thấy bình quân 1 lao động tạo ra doanh thu năm 2008 là 677,28 triệu đồng/lao động/năm, đến năm
2010 là 692,95 triệu đồng/lao động/năm, bình quân qua 3 năm tăng 1,82% Đối với doanh nghiệp cứ đầu tư 1 triệu đồng TSCĐ thì năm
2008 tạo ra 5,85 triệu đồng doanh thu, đến năm 2010 tạo ra được 7,25 triệu đồng doanh thu, bình quân qua 3 năm tăng 16,41% Nếu xét hiệu quả kinh tế đơn thuần trên một
số tiêu chí truyền thống thì hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thấp
hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn nhưng nếu tính hiệu quả kinh tế xã hội trong tổng thể thì hiệu quả kinh doanh của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cao hơn nhiều
Bảng 1 Số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở huyện Phổ Yên
Chỉ tiêu
Số lượng (DN)
Cơ cấu (%)
Số lượng (DN)
Cơ cấu (%)
Số lượng (DN)
Cơ cấu (%)
2009 /2008
2010/
2009
Tốc độ phát triển
(Nguồn: Chi Cục Thống kê huyện Phổ Yên, 2008-2010)
Bảng 2 Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở huyện Phổ Yên
2010 /2009
Tốc độ phát triển
1 Doanh thu bán
hàng & cung câp DV 1.402.200 15.580,00 1.944.680 15.940,00 2.227.500 16.500,00 138,69 114,54 126,62
2 Doanh thu từ hoạt
Trang 3227
Thể hiện qua các vấn đề: Thu hút một lượng
vốn nhàn rỗi trong dân; tạo ra nhiều việc làm
với chi phí thấp và chủ yếu bằng vốn của dân
mà lẽ ra Nhà nước phải tốn rất nhiều vốn đầu
tư để giải quyết việc làm; tăng tính cạnh tranh
trong nền kinh tế do số lượng doanh nghiệp
và số lượng chủng loại hàng hoá tăng lên rất
nhanh; làm cho nền kinh tế đặc biệt là các
doanh nghiệp lớn hoạt động hiệu quả hơn;
tăng mức độ an toàn giảm bớt rủi ro trong nền
kinh tế thị trường biến động do tăng lượng
hàng hoá cũng như số doanh nghiệp có thể
thay thế; đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của
người tiêu dùng với giá rẻ hơn và thuận tiện
hơn; đa dạng hoá và tăng thu nhập dân cư góp
phần xóa đói giảm nghèo
Lao động và thu nhập của lao động trong
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nếu xét theo lao động và thu nhập của người
lao động ta thấy số lao động thu hút vào
doanh nghiệp năm 2008 là 2.235 lao động đến
năm 2010 là 3.460 lao động, tăng 1,5 lần so
với năm 2008 Lương bình quân năm 2008 là
1.750.000 đồng/người/năm thì đến năm 2010
đã đạt 2.510.000 đồng/người/năm
Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Các DNN&V khu vực nông thôn có hai loại
thị trường chính: một loại chủ yếu để bán cho
thị trường địa phương, một loại chủ yếu để
bán trên thị trường các thành phố lớn Khoảng
1/3 các doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm của
mình trên thị trường địa phương, 18% số
doanh nghiệp hộ gia đình và 14% số doanh nghiệp tư nhân bán toàn bộ sản phẩm ở các thành phố lớn Như vậy, trên 70% số sản phẩm của các doanh nghiệp được tiêu thụ tại
địa phương và thị trường trong tỉnh, thị
trường ngoài tỉnh chỉ chiếm 22,7% Việc tiêu thụ hàng hoá phụ thuộc chủ yếu vào mạng lưới phân phối cá nhân và các doanh nghiệp
tư nhân không chính thức ở địa phương Còn DNN&V ở nông thôn hầu như chưa đủ năng lực để tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường nên hầu hết các sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tại thị trường trong nước, bên cạnh đó lại luôn bị sức ép cạnh tranh lớn của các sản phẩm nhập ngoại, của các sản phẩm cùng loại do các doanh nghiệp lớn sản xuất Khoảng 80% doanh nghiệp
sử dụng nguyên liệu tại chỗ đáp ứng 50-60% nhu cầu nguyên liệu dùng vào sản xuất
Giá thành cao, chất lượng thấp, mẫu mã kiểu dáng chậm được cải thiện, khả năng cạnh tranh trên thị trường kém là những thách thức lớn đối với các DNN&V ở nông thôn mong muốn xuất khẩu, đến nay mới chỉ có khoảng 7-10% các sản phẩm của các DNN&V nông thôn và khoảng 1% sản phẩm các hộ ngành nghề được xuất khẩu ra thị trường quốc tế, trong khi đó các doanh nghiệp Nhà nước xuất khẩu 21% sản lượng
Bảng 3 Hiệu quả kinh tế tính bình quân trên 1 cơ sở doanh nghiệp nhỏ và vừa
2010 /2009
Tốc độ phát triển
Doanh thu/Lao động Tr.đ/lđ 677,28 686,19 692,95 101,32 102,31 101,82 Doanh thu/Tổng TS Lần 1,51 1,54 1,58 101,99 104,64 103,31 Doanh thu/TSCĐ Lần 5,85 6,37 7,25 108,89 123,93 116,41 Lợi nhuận/Lao động Lần 21,00 24,33 30,00 115,86 142,86 129,36 Lợi nhuận/Tổng TS Lần 0,04 0,05 0,07 125,00 175,00 150,00 Lợi nhuận/TSCĐ Lần 0,18 0,23 0,31 127,78 172,22 150,00
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2008-2010)
Bảng 4 Lao động và thu nhập của người lao động
- Tổng thu nhập của người lao động (nghìn đồng) 46.935 74.346 104.215
- Thu nhập bình quân/người/tháng (nghìn đồng) 1.750 2.028 2.510
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2008-2010)
Trang 33Mối quan hệ giữa các DNN&V khu vực nông
thôn với khách hàng dường như ít mật thiết
hơn so với hệ thông các DNN&V trong nền
kinh tế nói chung Các doanh nghiệp nông
thôn dường như có nhiều khách hàng hơn, ít
khi sản phẩm theo đơn đặt hàng trước và
hiếm có các hợp đồng phụ Sự khác nhau giữa
các DNN&V khu vực nông thôn với các
DNN&V ở chỗ các DNN&V khu vực nông
thôn có mối quan hệ không được chặt chẽ với
khu vực nhà nước, các doanh nghiệp Nhà
nước chỉ cung ứng dưới 10% đầu vào cho
doanh nghiệp nông thôn và mua sản phẩm với
tỷ lệ ít hơn 10%
Định hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở huyện Phổ Yên
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu
vực nông thôn trên cơ sở phát triển sản xuất
nông nghiệp, nông thôn: Phát triển DNN&V
ở nông thôn, đặc biệt là hộ ngành nghề phù
hợp với điệu kiện và tiềm năng của từng địa
phương được coi là con đường cơ bản để giải
quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động nông nghiệp, chuyển sản xuất
tự cấp tự túc ở nông nghiệp sang sản xuất
hàng hóa, tăng thu nhập
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa phù hợp
với lợi thế và tiềm năng của huyện Phổ Yên:
Phát triển DNN&V nông thôn trước hết phải
tập trung vào các ngành có nhiều tiềm năng,
có lợi thế so sánh nhằm thu hút nhiều và
nhanh lực lượng lao động từ nông nghiệp
chuyển sang Những tiềm năng và lợi thế so
sánh đó là: Nguyên vật liệu tại chỗ, nghề
truyền thống và nghề mới, lao động dồi dào
và giá nhân công hạ, thị trường tiêu thụ tiềm
năng lớn và yêu cầu không cao Phổ Yên là
huyện có tiềm năng về du lịch
Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được ưu tiên phát triển trên cơ sở thị trường trong một số ngành lựa chọn: Trước hết, cần ưu tiên phát
triển trên cơ sở thị trường các ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ hải sản sau thu hoạch, chế biến lương thực thực phẩm và một số ngành thích hợp với điều kiện phân tán ở nông thôn, gắn với nguồn tài nguyên tự nhiên, sử dụng nhiều nguyên liệu và lao động tại chỗ nhưng không đòi hỏi trình độ tay nghề cao như các ngành bảo quản, dệt may, thủ công mỹ nghệ, sản xuất vật liệu xây dựng, lắp ráp máy móc
Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được khuyến khích phát triển trong một số ngành mà doanh nghiệp lớn không có lợi thế tham gia:
Trước hết cần phát triển có chọn lọc các doanh nghiệp thuộc một số ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp: công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa, xây dựng nông thôn
Đặc biệt chú trọng công nghiệp chế biến nông
lâm hải sản bởi lẽ đây là ngành có quan hệ trực tiếp và có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mối liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhau, với doanh nghiệp lớn và với thành thị: Các doanh nghiệp đều coi những doanh
nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh của mình trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu cũng như trong tiêu thụ sản phẩm Chính sự thiếu tin cậy giữa các doanh nghiệp bị hạn chế khả năng phát triển chuyên sâu của doanh nghiệp, hạn chế cơ hội để doanh nghiệp đổi mới và phát triển Để khắc phục tình trạng này các doanh nghiệp cần phải coi hợp tác, phối hợp
và hoặc chuyển giao lợi thế giữa các doanh nghiệp có liên quan và sự hỗ trợ lẫn nhau sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh
Bảng 5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
ĐVT: %
- Thị trường tiêu thụ tại huyện 52,2 44,7 40,6
- Thị trường tiêu thụ trong tỉnh 25,6 28,1 29,4
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2008-2010)
Trang 3429
Một số giải pháp phát triển DNN&V ở
nông thôn huyện Phổ Yên
* Nhóm giải pháp trực tiếp
Nâng cao năng lực tài chính
- Thực hiện sự hợp tác dưới nhiều hình thức
như liên doanh, liên kết… để tăng cường khả
năng tài chính
- Sử dung có hiệu quả nguồn vốn tự có và vốn
đi vay
- Cho phép các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản
xuất kinh doanh có hiệu quả được quyền phát
hành cổ phiếu nhằm thu hút vốn nhàn rỗi của
người lao động làm việc trong doanh nghiệp
của dân và của các doanh nghiệp khác
Đổi mới công nghệ
Các doanh nghiệp có thể thực hiện các giải
pháp sau để nâng cao trình độ công nghệ và
để đạt được hiệu quả cao
- Tiến hành liên doanh liên kết với các doanh
nghiệp lớn trong và ngoài nước để tạo ra
những cơ sở kỹ thuật tài chính đủ
- Tiến hành nghiên cứu để đưa ra những công
nghệ phù hợp với doanh nghiệp vừa tiết kiệm
được chi phí vừa nâng cao được trình độ
nghiên cứu công nghệ của doanh nghiệp
Đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ lao động
- Thực hiện liên kết đào tạo với các trường
chuyên nghiệp ở Tỉnh, trung ương, cử người
đi học các lớp nâng cao cả về công nghệ,
quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, tổ
chức các lớp và mời chuyên gia, các nhà khoa
học của Thành phố và trung ương về đào tạo
- Thực hiện cơ chế tuyển dụng linh hoạt thông
qua chính sách ưu tiên những người có trình
độ cao về địa phương làm việc
- Tiếp tục triển khai chủ trương xã hội hoá
trong đào tạo nghề nhằm huy động sự đóng
góp của tất cả các thành phần kinh tế và các
tổ chức xã hội
Mở rộng thị trường và nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Đối với thị trường quốc tế: Phổ Yên cần đẩy
mạnh phát triển các thị trường, các sản phẩm
truyền thống để hội nhập với thị trường quốc
tế, trước hết là các sản phẩm: chè, thủ công truyền thống và nông sản sạch thông qua các
dự án liên kết sản xuất và chế biến như chè,
đại gia súc và dược liệu
- Đối với thị trường trong nước: cần tận dụng triệt để lợi thế về đầu mối giao thông với các vùng trong nước đề quảng bá, trao
đổi sản phẩm
- Đối với thị trường trên địa bàn Huyện cần khuyến khích phát triển đa dạng, năng động
để có thể thu hút và thích ứng với nhiều tầng
lớp tiêu dùng khác nhau, ở các vùng với các sản phẩm đặc trưng của mỗi vùng
* Nhóm giải pháp gián tiếp
Tăng cường vai trò của Nhà Nước trong việc
hỗ trợ
- Ban hành bổ sung và sửa đổi các chính sách, quy định hiện hành liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Ban hành các luật riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Kiện toàn hệ thống tổ chức, quản lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Xây dựng cơ sở hạ tầng
- Tiến hành nâng cấp, mở rộng các tuyến
đường giao thông trong Huyện, đặc biệt là các
tuyến đường nối giữa các huyện và các xã
- Tiến hành xây dựng các khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tập trung, đưa hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vào nề nếp, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, lâu dài của các doanh nghiệp
đồng thời thu hút các nhà đầu tư trong và
ngoài nước
Hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chính sách vốn có tác động mạnh tới việc cải thiện tình hình vốn cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn an toàn thuận lợi
và khó hiệu quả cần thiết phải đổi mới theo hướng:
- Ưu đãi lãi suất
- Thành lập trung tâm bảo lãnh
Trang 35Đổi mới chính sách thuế
- Đơn giản hoá hệ thống thuế suất, hạ mức
thuế suất
- Tránh đánh thuế chồng chéo
- Cải cách cơ chế thu nộp, kiểm tra thuế theo
hướng có sự độc lập giữa các bộ phận này, có
thể kiểm tra lẫn nhau
- Thực hiện cơ chế tự khai báo mức thuế, Nhà
nước kiểm định và doanh nghiệp tự nộp thuế
- Bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế đồng thời ưu tiên các
doanh nghiệp trong nước hơn các doanh
nghiệp nước ngoài
- Mở rộng đối tượng được ưu đãi
- Tăng mức độ ưu đãi cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa
Đào tạo trình độ lao động trong các
doanh nghiệp
- Thành lập trung tâm tư vấn về quản trị kinh
doanh nhằm tư vấn cho các doanh nghiệp
những chính sách của Nhà Nước
- Kết hợp với các trường Đại học trên địa bàn,
trường dạy nghề để tổ chức các lớp đào tạo,
bồi dưỡng chủ doanh nghiệp
- Dành một nguồn ngân sách cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa để nâng cao trình độ
lao động
Cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp
- Thành lập các ngân hàng dữ liệu về các
doanh nghiệp nhỏ và vừa, về thị trường, công
nghệ, thể chế để cung cấp hoặc bán cho các
doanh nghiệp với giá hợp lý
- Phổ biến những thông tin về pháp luật,
chính sách thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng
- Phổ biến kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa tham gia các hội trợ triển lãm ở trong và
ngoài nước, ký kết các hợp đồng kinh tế với
các đối tác trong và ngoài nước
- Tổ chức các câu lạc bộ để các doanh nghiệp
nhỏ và vừa có thể trao đổi học tập kinh
nghiệm lẫn nhau
Xúc tiến xuất khẩu
- Nhà Nước khuyến khích doanh nghiệp nhỏ
và vừa tăng cường xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết hợp tác với nước ngoài
Thị trường và tăng khả năng cạnh tranh
- Trợ giúp việc trưng bày, giới thiệu quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm có tiềm năng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Chính phủ tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cung ứng hàng hoá và dịch vụ theo kế hoạch mua sắm bằng nguồn ngân sách
- Chính phủ khuyến khích phát triển hình thức thầu phụ công nghiệp tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với các doanh nghiệp khác
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng cho xã hội khối lượng hàng hoá lớn và giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, các DNN&V ở khu vực nông thôn còn tạo nên nguồn thu nhập ổn định cho một bộ phận dân
cư, khai thác các nguồn lực và các tiềm năng tại chỗ của các địa phương trên các vùng của
đất nước Đồng thời với việc phát triển các
DNN&V đã hình thành nên một đội ngũ các nhà doanh nghiệp năng động, sáng tạo, thúc
đẩy sản suất có hiệu quả hơn Các doanh
nghiệp đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, ngày càng gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác dụng hỗ trợ, bổ
sung thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Chính sách hỗ trợ phát triển DNV&N ở Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Cúc - Nxb Chính trị
Quốc gia
[2] Giải pháp phát triển DNV&N ở Việt Nam,
GS.TS Nguyễn Đình Hương - Nxb Chính trị Quốc gia
[3].Giáo trình Quản trị Kinh doanh, GS.TS
Nguyễn Thành Độ; TS Nguyễn Ngọc Huyền - Nxb LĐ-XH
[4] Số liệu Chi Cục Thống kê huyện Phổ Yên
2008 - 2010
[5].Báo cáo huyện Phổ Yên lần 8 tháng 3.2010
[6] Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên
2008 - 2010
Trang 3631
SUMMARY
ORIENTATION AND SOLUTIONS FOR THE DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM-SCALED ENTERPRISES IN RURAL AREAS IN PHO YEN DISTRICT, THAI NGUYEN PROVINCE
Hoang Thi Hoa 1,* , Vu Thi Hai Anh 2 , Ho Luong Xinh 2
1 Department of Statistics of Thai Nguyen province
2 College of Agriculture and Forestry - TNU
Small and medium enterprises play an important role in socio-economic development of the country, especially for areas where the development of economy is still dependent on rural agriculture The orientation of small and medium enterprises in rural areas in Pho Yen district is to base on agricultural production in order to match the advantages and potential of the district Therefore, it is necessary to introduce solutions for the delopment of the small and medium
Trang 3833
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Trần Đình Tuấn 1,* , Lê Thị Thu Hương 2 , Phùng Trí Dũng 3
mô chi ngân sách không ngừng tăng lên và quản lý sử dụng ngân sách chặt chẽ, hợp lý, hiệu quả hơn Tuy nhiên, cũng còn có nhiều vấn đề hạn chế trong công tác quản lý thu và chi ngân sách Việc quản lý thu còn chưa chặt chẽ để thất thoát nguồn thu, chưa khai thác và mở rộng nguồn thu cho ngân sách Chi ngân sách vẫn còn chưa hợp lý, gây lãng phí và hiệu quả thấp trong sử dụng ngân sách Vì vậy, hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước của Thành phố Thái Nguyên hiện nay là một yêu cầu cấp thiết có tính khách quan Muốn thực hiện có hiệu quả vấn đề này cần xem xét để thực hiện các giải pháp theo đề xuất của tác giả
Từ khóa: Quản lý ngân sách, Ngân sách nhà nước, Quản lý ngân sách Thành phố Thái Nguyên
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là bộ phận cấu
thành quan trọng nhất của nền tài chính quốc
gia Quốc gia muốn phát triển cần phải quản
lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây
dựng chính sách thu, chi ngân sách nhà nước
lành mạnh, hợp lý, củng cố kỷ luật tài chính,
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng,
an ninh, đối ngoại
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực
thuộc tỉnh Thái Nguyên, đóng vai trò là trung
tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - y tế - giáo
dục - khoa học của tỉnh Thái Nguyên nói
riêng và của vùng Đông Bắc nói chung
Trong những năm qua, Thành phố đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội Tốc độ phát
triển kinh tế đều tăng qua các năm Công tác
quản lý thu, chi ngân sách được đặc biệt chú
trọng vì thu ngân sách của Thành phố Thái
Nguyên luôn chiếm tới 50% tổng thu ngân
sách của tỉnh, đáp ứng cơ bản nhiệm vụ chi
ngân sách của tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên
* Tel: 0912.039920
thực tế cho thấy quá trình quản lý ngân sách còn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Vì vậy, nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước, tạo điều kiện tăng thu ngân sách và sử dụng ngân sách nhà nước tiết kiệm, có hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân luôn là một yêu cầu bức thiết đối với lãnh đạo và các cơ quan quản lý của Thành phố Thái Nguyên THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Thực trạng quản lý thu ngân sách
Trong những năm qua, thu ngân sách thành phố Thái Nguyên đã đạt nhiều kết quả to lớn, nguồn thu ngày càng tăng lên, cơ cấu nguồn thu ngày càng ổn định hơn Tình hình thu ngân sách của thành phố Thái Nguyên 3 giai
đoạn 2008-2010 được tổng hợp qua bảng 1
Tổng thu NSNN có tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước Năm 2010 tổng thu ngân sách trên địa bàn là 706.486.385 nghìn đồng, tăng hơn 1,8 lần so với năm 2009 và 2,3 lần so với năm 2008
Trang 39Bảng 1 Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Đvt: Nghìn đồng
* Thu phân theo lĩnh vực thu
A Thu NS Trung ương
I Thu cân đối NSNN 291.926.980 388.147.295 486.849.460 1.Thu thuế,phí, khác 192.983.374 231.407.501 318.477.188 2.Thu tiền SD đất 99.043.606 156.739.793 168.372.272 II.Thu quản lý qua ngân sách 10.642.684 9.638.377 219.636.924 B.Thu NS địa phương 430.372.158 543.542.350 918.799.653 I.NS TP được hưởng 384.277.077 490.626.760 857.047.279 II.NS xã được hưởng 46.095.081 52.915.590 61.752.374
* Thu phân theo sắc thuế
A Thu cân đối NSNN 291.926.980 388.147.295 486.849.460 I.Thu thuế,phí,lệ phí,thu khác 192.983.374 231.407.501 318.477.188 1.Thuế XD các đơn vị ngoại tỉnh 3.340.100 5.543.800 8.792.300 2.Thuế ngoài quốc doanh 106.145.356 116.721.224 183.820.063 3.Lệ phí trước bạ 37.318.259 49.277.606 60.823.014
B Thu từ năm trước chuyển sang 51.313.332 89.424.212 112.167.427
C Thu quản lý qua NSNN 10.642.684 9.638.377 219.636.924
Nguồn: Báo cáo quyết toán thu - chi ngân sách Thành phố Thái Nguyên
Thực trạng quản lý chi ngân sách
Tình hình chi ngân sách Thành phố Thái
Nguyên giai đoạn 2008 – 2010 được tổng hợp
qua số liệu tại bảng 2
Số liệu thống kê được cho thấy, chi ngân sách
Thành phố không ngừng tăng lên qua các
năm Năm 2010 tăng 1,8 lần so với năm 2009
và so với năm 2008 là 2,2 lần
Giai đoạn vừa qua, ngân sách đã tập trung vào
nhiệm vụ chi đầu tư phát triển, đáp ứng nhu
cầu các khoản chi sự nghiệp trên các lĩnh vực, chi cho bộ máy QLHC, đảm bảo ANQP và bổ sung cân đối ngân sách xã, phường
Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển của
Thành phố trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chỉnh trang đô thị, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật nhất là các lĩnh vực
có liên quan đến việc phát triển kinh tế và cải thiện đời sống người dân
Trang 40I.Chi thường xuyên 207.271.577 241.318.241 301.927.926 1.Chi sự nghiệp kiến thiết kinh tế 40.918.923 48.954.290 68.255.520 2.Chi sự nghiệp giáo dục -đào tạo 110.207.434 148.167.705 178.600.645
4.Chi sự nghiệp phát thanh truyền hình 1.726.747 2.350.000 2.954.900 5.Chi sự nghiệp VH, thông tin thể thao 2.938.925 4.710.700 8.209.184 6.Chi sự nghiệp an sinh –xã hội 6.159.153 9.601.108 9.493.481 7.Chi quản lý hành chính Nhà nước 18.072.316 23.634.166 29.844.019 8.Chi an ninh-quốc phòng 1.365.000 1.486.000 2.350.300
II.Chi xây dựng cơ bản 82.951.156 102.642.290 175.315.960 III.Chi bổ sung cho NS cấp dưới - 24.445.186 26.047.460 IV.Chi quản lý qua ngân sách 7.121.819 5.696.438 214.327.073
A.Chi trong cân đối 39.426.711 43.857.983 54.093.613 I.Chi thường xuyên 30.912.222 37.884.289 6.548.535 II.Chi đầu tư xây dựng cơ bản 6.106.984 5.973.693 5.309.851 B.Chuyển nguồn NS sang năm sau 5.547.515 7.512.015 1.238.683
Nguồn: Báo cáo quyết toán thu - chi ngân sách Thành phố Thái Nguyên
Dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ, HĐND,
UBND Thành phố, trong những năm qua
Thành phố Thái Nguyên đã đạt nhiều kết quả
khả quan trong công tác quản lý thu ngân
sách, hoàn thành vượt mức dự toán thu được
giao, năm sau cao hơn năm trước, đảm bảo
nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm
được giao Có thể xem xét kết quả thu ngân
sách trên một số mặt như sau:
Thứ nhất, công tác quản lý thu thuế: Thành
phố đã tập trung củng cố và tăng cường tổ
chức bộ máy quản lý thu ngân sách Chất
lượng đội ngũ cán bộ thuế từng bước được
nâng cao về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo
đức, góp phần quyết định đến việc hoàn thành
vượt mức dự toán ngân sách hàng năm được
tỉnh giao Thuế từ khu vực kinh tế NQD là
khoản thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng thu thuế của thành phố và cũng là nội
dung trọng tâm trong công tác quản lý thu
thuế của Chi cục Thuế Thành phố Đến cuối
năm 2010, số đối tượng nộp thuế đã lên tới
hơn 1.250 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 24
hợp tác xã và hơn 11.00 hộ kinh doanh cá thể
Để đảm bảo việc thu đúng, thu đủ thuế cho
ngân sách, ngành thuế đã tổ chức quản lý từng đối tượng nộp thuế cho các đội thuế và tới từng cán bộ thuế Ngoài ra ngành thuế còn thực hiện việc ủy nhiệm thu cho UBND các
xã, phường và Ban quản lý chợ thu một số khoản thuế nhằm tăng cường khai thác nguồn thu, gắn thu ngân sách với nhu cầu chi, đồng thời đây cũng là một bước xã hội hóa công tác thuế, từ đó tạo điều kiện chống thất thu thuế
có hiệu quả hơn Công tác thanh tra, kiểm tra thuế cũng rất được coi trọng nhất là trong
điều kiện các doanh nghiệp chuyển dần sang
hình thức tự khai, tự nộp thuế Riêng trong năm 2010, Chi cục Thuế đã tiến hành hơn 600 cuộc kiểm tra hàng tồn kho, kiểm tra quyết toán thuế, truy thu và phạt các đối tượng vi phạm gần 5 tỷ đồng Chi cục thuế còn tiến hành kiểm tra 7.225 lượt hộ ngừng, nghỉ kinh doanh, phát hiện truy thu hàng chục triệu
đồng; kiểm tra và đề nghị hoàn thuế cho 59
doanh nghiệp với số tiền là 13,141 tỷ đồng;