Điện tâm đồ ĐTĐ: Là một trong những thăm dò rất có giá trị để chẩn đoán NMCT cấp và định khu NMCT.. ĐTĐ cần đợc làm ngay khi bệnh nhân nhập viện và làm nhắc lại nhiều lần sau đó để giúp
Trang 1NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP
(Kỳ 2)
III Cận lâm sàng
A Điện tâm đồ (ĐTĐ): Là một trong những thăm dò rất có giá trị để chẩn đoán NMCT cấp và định khu NMCT ĐTĐ cần đợc làm ngay khi bệnh nhân nhập viện và làm nhắc lại nhiều lần sau đó để giúp chẩn đoán cũng nh theo dõi Những thay đổi trên ĐTĐ biến thiên theo thời gian mới có nhiều giá trị Các tiêu chuẩn
của chẩn đoán NMCT cấp trên ĐTĐ là:
1 Xuất hiện sóng Q mới (rộng ít nhất 30 ms và sâu 0,20 mV) ở ít nhất 2
trong số các miền chuyển đạo sau: D2, D3 và aVF; V1 đến V6; D1 và aVL, hoặc
2 Xuất hiện đoạn ST chênh lên hoặc chênh xuống (> 0,10 mV) ở ít nhất 2
trong số các miền chuyển đạo nói trên, hoặc
3 Sự xuất hiện mới bloc nhánh trái hoàn toàn trong bệnh cảnh lâm sàng nói
trên
Bảng 3-2 Liên quan giữa vị trí NMCT cấp và tỷ lệ tử vong
Trang 2
Tỷ lệ tử vong (%)
Vị trí
NMCT
Thay đổi trên ĐTĐ
Trong
30 ngày
Trong
1 năm
Đoạn gần
của ĐMLTT
(LAD) (NMCT
tr-ớc rộng)
ST chênh lên ở V1-6, DI, aVL hoặc kèm theo bloc nhánh trái
19,6
25,6
Trang 3
Đoạn giữa
của LAD
ST chênh lên V1-6, DI và aVL
9,2
12,5
Đoạn xa của
LAD
ST chênh lên ở V1-4, hoặc D1, aVL và V5-6
6,8
10,2
NMCT sau
dới rộng (Đoạn
gần của ĐMV phải
hoặc động mạch
mũ)
ST chênh lên ở D2, D3, aVF và kèm theo một trong các chuyển đạo sau
6,4
8,4
Trang 4
NMCT sau
dới nhỏ (Đoạn xa
của ĐMV phải
hoặc ĐM mũ)
V1, V3R, V4R
V5-6
R>S ở V1, V2 hoặc ST chênh lên chỉ ở D2, D3 và aVF
4,5
6,7
Lu ý là: sóng Q thờng xuất hiện trung bình sau 8-12 giờ, tuy nhiên trong
một số trờng hợp không có sóng Q mà chỉ có biến đổi của đoạn ST (NMCT không
Q - hay NMCT dới nội tâm mạc)
Trờng hợp NMCT thất phải thì cần làm thêm các chuyển đạo V3R đến V6R
để tìm các biến đổi này
Trang 5Trong trờng hợp kèm theo bloc nhánh phải hoàn toàn, việc chẩn đoán trên ĐTĐ trở nên khó khăn hơn Nếu bệnh nhân có NMCT trớc bên có thể thấy hình ảnh sóng T chênh đồng hớng với phức bộ QRS ở V1-V4
<v:shapetype id="_x0000_t75" coordsize="21600,21600" o:spt="75" o:preferrelative="t" path="m@4@5l@4@11@9@11@9@5xe" filled="f" stroked="f">
Hình 3-1 NMCT sau dới cấp
B Các men sinh học trong huyết thanh bệnh nhân
1 Creatine Kinase (CK): 3 iso-enzyme của men này là CK-MB, CK-MM,
CK-BB đại diện cho cơ tim, cơ vân và não theo thứ tự trên Bình thờng CK-MB chiếm khoảng <5% lợng CK toàn phần (bình thờng CK toàn phần trong huyết thanh từ 24-190 U/l ở 37oC và CK-MB < 24 U/l)
Trang 6a Men này bắt đầu tăng 3-12 giờ sau nhồi máu, đỉnh cao khoảng 24 giờ và trở về bình thờng sau 48-72 giờ
b Lu ý là men này có thể tăng trong một số trờng hợp khác nh viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, sau mổ tim, sau sốc điện Nó cũng tăng trong một số bệnh khác nh: chấn thơng sọ não, chấn thơng cơ (kể cả tiêm truyền), tiêu cơ vân, bệnh viêm cơ, suy thận mạn, tập thể lực quá mạnh
2 Troponin: bao gồm Troponin I và T, là hai loại men có giá trị chẩn đoán
cao và khá đặc hiệu cho cơ tim, hơn nữa nó còn có giá trị tiên lợng bệnh Các men này bắt đầu tăng khá sớm sau NMCT (3-12 giờ) đạt đỉnh ở 24-48 giờ và tăng tơng
đối dài (5-14 ngày)
3 Lactate DeHydrogenase (LDH): bao gồm 5 iso-enzymes và gặp ở mọi
mô trong cơ thể LDH tăng từ 8-12 giờ sau nhồi máu, đạt đỉnh ở 24-48 giờ và kéo dài 10-14 ngày Tỷ lệ LDH1/LDH2 > 1 có ý nghĩa trong NMCT
Giờ
Trang 7
Hình 3-2 Thay đổi các men sau NMCT cấp (theo giờ)
4 Các Transaminase SGOT và SGPT: ít đặc hiệu cho cơ tim Tuy nhiên
ở điều kiện của chúng ta thì xét nghiệm các men này cũng vẫn có giá trị nhất định
Trong NMCT thì SGOT tăng nhiều hơn SGPT
C Siêu âm tim: cũng rất có giá trị, đặc biệt trong những thể NMCT không
Q hoặc có bloc nhánh Thờng thấy hình ảnh rối loạn vận động vùng liên quan đến
vị trí nhồi máu Mức độ rối loạn từ giảm vận động, không vận động, vận động nghịch thờng và phình thành tim Siêu âm tim còn giúp đánh giá chức năng thất
Trang 8trái, các biến chứng cơ học của NMCT (thủng vách tim gây thông liên thất, hở van
tim do đứt dây chằng), tràn dịch màng tim, huyết khối trong buồng tim
D Thăm dò phóng xạ tới máu cơ tim: thờng không cần dùng trong giai
đoạn cấp của NMCT Các thăm dò này có ích ở giai đoạn sau để đánh giá mức độ tới máu cho từng vùng cơ tim và sự sống còn của cơ tim nhằm giúp ích cho chỉ định can thiệp mạch vành