Cá chạch và vị thuốc ngư... Cá chạch Misgurnus anguillicaudatus Cantor thuộc họ cá chạch Cobitidae, tên khác là cá chạch bùn, cá chạch đồng, là loài cá nước ngọt.. Vây lưng không có gai
Trang 1Cá chạch và vị thuốc ngư
Trang 2Cá chạch (Misgurnus anguillicaudatus Cantor) thuộc
họ cá chạch (Cobitidae), tên khác là cá chạch bùn, cá chạch đồng, là loài cá nước ngọt Thân tròn, dẹt bên, nhất là gần đuôi, dài khoảng 150mm Đầu nhỏ, hơi tròn, mắt bé, miệng thấp có râu Da mỏng, dưới da có nhiều tuyến tiết chất nhờn, nên rất trơn nhẵn Vảy nhỏ, lẫn sâu dưới da nên khó thấy
Vây lưng không có gai cứng, vây ngực và vây bụng ngắn, vây đuôi rộng Cá có màu vàng, nâu hoặc xám đen Lưng sẫm hơn bụng Trên thân có nhiều chấm, mỗi chấm do rất nhiều chấm nhỏ hợp thành Ở gốc vây đuôi, có một chấm to màu đen, trên vây có nhiều sọc đen song song
Cá chạch suối (Noemacheilus pulches) cũng được sử dụng
Bộ phận dùng làm thuốc của cá chạch là thịt Trong 100g thịt cá có 9,6g protid, 3,7g lipid, 2,5g carbohydrat, 28mg
Ca, 72mg phosphor, 0,9mg sắt; các vitamin A, B1, B2 và acid nicotinic
Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, cá chạch
Trang 3được dùng với tên thuốc là thu ngư hay du ngư, nê thu Sách Dược tính chỉ nam ghi: thu ngư rang hay nấu đều ăn rất ngon, nấu với bột gạo thành cháo mà ăn có tác dụng điều trung, ích khí, chữa được chứng trĩ, lại giải được
chứng háo khát và làm cho những người say rượu tỉnh
ngay
Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) và Hải Thượng Lãn Ông (Lĩnh nam bản thảo) cũng ghi dược liệu thu ngư (cá chạch)
có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng mạnh dương,
bổ khí huyết, tiêu khát, giải rượu, sát khuẩn, chữa nóng trong, khát nước, liệt dương, viêm gan, trĩ, ghẻ lở
Dạng dùng thông thường là thức ăn - vị thuốc được chế biến như sau: làm sạch cá, rửa cho hết nhớt, cắt bỏ đầu và đuôi, chặt từng khúc rồi nấu cháo hoặc làm canh ăn đều hằng ngày Có thể đem cá sấy khô, tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g với nước ấm