Đó là nước hút trong các mao quản trong thành tế bào, nước bị hút thẩm thấu, không tham gia vào thành phần của vỏ thủy hóa xung quanh các phân tử và ion, trừ nước thuộc lớp khuếch tán
Trang 1Các dạng nước trong cây
Trong cây nước tồn tại ở hai dạng
là nước tự do và nước liên kết Tuy nhiên, nước nào được coi là nước
tự do và nước nào được coi là nước liên kết thì có nhiều quan điểm
khác nhau Một số cho rằng nước liên kết là nước không bị đông lại ở nhiệt độ thấp hơn -10oC và không
có thể dùng làm dung môi ngay cho những chất dễ bị hòa tan như
đường (Macximov)
Trang 2Quan niệm thứ hai cho rằng,
phần lớn nước bị liên kết bằng cách tham gia vào sự thủy hóa hóa học cũng như vào sự liên kết cấu
trúc Phần nước còn lại được coi là nước tự do Đó là nước hút trong
các mao quản (trong thành tế
bào), nước bị hút thẩm thấu,
không tham gia vào thành phần của vỏ thủy hóa xung quanh các
phân tử và ion, trừ nước thuộc lớp khuếch tán của vỏ thủy hóa là còn giữ được tính linh động
(Alecxeiev)
Một số nhà nghiên cứu khác lại thấy rằng, trong mọi trường hợp nước trong thực vật đều là nước
liên kết và tùy theo tác dụng của
Trang 3các lực giữa các phân tử và nội
phân tử mà hoạt tính của nước bị biến đổi đi Vì vậy, các tác giả này
đã nghi ngờ sự tồn tại của dạng
nước tự do Họ đã đưa ra sự phân chia thành hai dạng nước liên kết: nước liên kết chặt và nước liên kết yếu trong đó nước liên kết yếu là nước vẫn giữ được tính chất của
nước thông thường
Sớ dĩ có những quan điểm khác
nhau về các dạng nước trong cây là
vì không có ranh giới rõ rệt về hai dạng nước tự do và nước liên kết (dạng nước này có thể chuyển
thành dạng nước kia) Sau này
người ta đã đưa ra quan niệm như
Trang 4sau để phân biệt hai dạng nước
trên:
Nước tự do hay nước liên kết yếu là nước bị rút ra khỏi thực vật nhờ
những lực hút nước xác định và
nước đó có những tính chất gần
giống với tính chất của nước
thường (nghĩa là có thể dùng làm dung môi và đông đặc ở nhiệt độ
gần 0 o C)
Nước liên kết hay nước liên kết
chặt là phần nước còn lại mà tính chất của chúng đã bị biến đổi (hầu như không có khả năng làm dung môi và đông đặc ở nhiệt độ thấp
hơn 0 o C)
Tiếp theo người ta lại phân chia cụ thể hơn thành 3 dạng nước như
Trang 5+ Nước liên kết chặt là nước bị giữ lại do quá trình thủy hóa hóa học các ion và các phân tử, các chất
trùng hợp thấp và trùng hợp cao + Nước liên kết yếu là nước thuộc các lớp khuếch tán của vỏ thủy
hóa, nước liên kết cấu trúc và nước hút thẩm thấu
+ Nước tự do là nước bị hút trong các mao quản của thành tế bào và phần nước bị hút thẩm thấu của dịch tế bào, không tham gia
vào thành phần vỏ thủy hóa xung quanh các ion và phân tử
Ý nghĩa của các dạng nước
Sự khác nhau về tính chất của nước
tự do và nước liên kết đã đưa đến
Trang 6sự khác nhau về ý nghĩa của chúng đối với đời sống của thực vật
+ Nước tự do chiếm một lượng lớn trong thực vật (70%) lại là dạng
nước còn di động được và còn giữ nguyên những đặc tính của nước
cho nên đóng vai trò quan trọng
trong quá trình trao đổi chất của
thực vật Do đó, người ta đã xác
định rằng, lượng nước tự do qui
định cường độ các quá trình sinh lí + Nước liên kết chặt và không chặt
là dạng nước chiếm 30% lượng
nước trong cây Tùy theo mức độ khác nhau dạng này mất tính chất ban đầu của nước như khả năng
làm dung môi kém, nhiệt dung giảm
Trang 7xuống, độ đàn hồi tăng lên, nhiệt
độ đông đặc thấp
Vai trò của dạng nước này là đảm bảo độ bền vững của hệ thống keo trong chất nguyên sinh vì nó
làm cho các phân tử phân tán khó lắng xuống, hiện tượng ngưng kết ít xảy ra
Trong các cơ thể non, hàm lượng nước liên kết thấy nhỏ hơn trong
các cơ thể già Khi thực vật gặp
điều kiện khô hạn, hàm lượng nước liên kết tăng lên Cho nên, có thể là hàm lượng nước liên kết liên quan với tính chống chịu của thực vật như chịu hạn, chịu rét, chịu
mặn Người ta đã dùng tỷ số hàm lượng nước liên kết và nước tự do
Trang 8để đánh giá khả năng chống chịu
của thực vật và ứng dụng trong việc chọn các giống cây có khả năng
chống chịu tốt nhất
Sự phân bố của các dạng nước
trong cây
Trong thành tế bào chủ yếu gồm
nước liên kết bởi các chất cao phân
tử cellulose, hemicellulose, các
chất pectin, nước liên kết cấu trúc
và nước bị hút trong các mao quản Trong chất nguyên sinh, việc
xác định các dạng nước trong chất nguyên sinh gặp nhiều khó
khăn do tính chất phức tạp và tính không ổn định về thành phần và
cấu trúc của nó Tuy nhiên, người
Trang 9ta cũng xác định rằng, trong chất
nguyên sinh nước bị liên kết bởi sự thủy hóa hóa học của protein và các chất cao phân tử khác, nước liên
kết cấu trúc, nước liên kết bởi các chất trùng hợp thấp và nước bị hút bằng thẩm thấu (bên trong các đại phân tử)
Ảnh hưởng của một số điều kiện
ngoại cảnh đến các dạng nước của thực vật
+ Ảnh hưởng của điều kiện dinh
dưỡng khoáng Ảnh hưởng của
dinh dưỡng khoáng đến tỷ lệ nước
tự do và nước liên kết trong cây có thể là do ảnh hưởng trực tiếp của
các ion đến sự thủy hóa hóa học và
do sự biến đổi tiến trình trao đổi
Trang 10chất ảnh hưởng đến tỷ lệ các chất tích nước ít hay nhiều trong tế bào Ảnh hưởng trực tiếp của các ion
đến sự thủy hóa hóa học là do
chúng bị hút bám trên bề mặt các tiểu phần bị bị thủy hóa (các đại
phân tử) cho nên chúng có thể tác động đến sự thủy hóa hóa học các ion cũng như sự thủy hóa hóa học trung hòa điện
Người ta đã chứng minh rằng, các chất điện li tăng lên sẽ làm cho
lượng nước liên kết tăng lên
Tuy nhiên, đối với các ion K+,
Cs+, I- thì ngược lại, tức là lượng nước liên kết giảm đi do cấu trúc của nước trong các vỏ thủy hóa
kém bền vững đi
Trang 11Sự hút bám một loại ion này có thể kèm theo sự thải ra các ion khác
(sự trao đổi hút bám) Nếu mức độ thủy hóa của ion bị hút bám lớn
hơn mức độ thủy hóa của ion bị
thải ra thì lượng nước liên kết với đại phân tử sẽ tăng lên Trong
trường hợp ngược lại, lượng nước liên kết sẽ giảm đi
Bằng thực nghiệm người ta đã chỉ
ra rằng, việc tiêm các dung dịch
của tất cả các muối gây ra sự giàm lượng nước tự do và làm tăng
lượng nước liên kết vì các ion đã ảnh hưởng đến sự thủy hóa hóa học các đại phân tử
Ảnh hưởng của dinh dưỡng
khoáng còn thể hiện ở chỗ các
Trang 12ion khoáng ảnh hưởng đến thành phần các chất hữu cơ do cây tổng hợp Đó là các đại phân tử có chứa các nhóm ưa nước (nhóm phân cực hay ion) mà số lượng và sự phân bố của các nhóm này chi phối mức độ thủy hóa của các đại phân tử nên có thể làm biến đổi các liên kết cấu
trúc của nước các kết quả nghiên cứu đã cho thấy khi thủy phân
protein có thể xảy ra sự phân giải peptid để tạo thành các nhóm phân cực mới (NH2 và COOH) liên kết với các phân tử nước mới
+ Ảnh hưởng của nhiệt độ Sự thủy hóa hóa học là một quá
trình ngoại nhiệt Vì vậy, khi hệ
hút nhiệt thì phải xảy ra quá trình
Trang 13ngược lại tức là sự thủy hóa do
chuyển động nhiệt của các phân tử nước tăng lên, gây tác động ngược lại sự định hướng của các phân tử nước
Do vậy, khi nhiệt độ tăng thì hàm lượng nước liên kết giảm, nhưng
hàm lượng nước liên kết cấu trúc
và nước hút thẩm thấu thì lại tăng lên, do sự giảm lực liên kết của các nhóm phân cực làm cho cấu trúc
các đại phân tử trở nên xốp, cùng với việc tăng động năng của các ion
và các phân tử làm cho lượng nước liên kết cấu trúc và sự hút nước
thẩm thấu tăng lên
Ngoài ảnh hưởng đến sự thủy hóa,
sự tăng nhiệt độ còn ảnh hưởng đến
Trang 14quá trình trao đổi chất qua việc
thúc đẩy quá trình thủy phân làm giảm lượng các chất cao phân tử, dẫn đến việc giảm lượng nước liên kết và tăng lượng nước tự do