Vay chuyển tiếp nền kinh tế Hỗ trợ cho các nước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường Thời hạn 5 năm Ân hạn 3,25 năm; lãi suất thị trường... Hỗ trợ các nước hội
Trang 2Tín dụng thông thường
• Mức tối đa được vay:
100% cổ phần của
nước đó
• Thời hạn 35 năm
• Ân hạn 3 năm với lãi
suất khoảng 5 - 7,5%.
Vốn vay bổ sung
• Mức vay có thể từ 100% đến 350% cổ phần của nước đó
• Thời hạn 3 - 5 năm
• Ân hạn 3,5 năm; lãi suất theo lãi suất thị trường
Vay dự phòng
• Tối đa được 62,5% cổ phần
• Thời hạn 5 năm
• Ân hạn 3,5 năm; lãi suất thị
trường
1.5.1 Các loại tín dụng
Trang 3Vay dài hạn
Nước đi vay phải
có chương trình
điều chỉnh kinh tế
Mức vay bằng
140% cổ phần
Thời hạn 10 năm
Ân hạn 4 năm; lãi
suất 6 - 7,5% năm
Vay bù đắp thất thu xuất khẩu
Hỗ trợ các nước ĐPT có đột biến thiếu hụt cán cân
TM
Mức vay tối đa bằng 100% cổ phần Thời hạn 35 năm
Ân hạn 3 năm với lãi suất 5 - 7,5%.
Vay chuyển tiếp nền kinh tế
Hỗ trợ cho các nước chuyển đổi
từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường Thời hạn 5 năm
Ân hạn 3,25 năm;
lãi suất thị trường
1.5.1 Các loại tín dụng (tiếp)
Ngoài ra, còn một số loại tín dụng khác như vay để duy trì
dự trữ điều hoà, vay
để điều chỉnh cơ cấu
Trang 41.5.2 Các thể thức cho vay
Khởi xướng từ năm 1952, thể thức được sử
dụng nhiều nhất Thời hạn 12 - 18 tháng Việc
trả nợ được thực hiện từ 21/4 - 4 năm tính từ
sau đợt rút vốn
Khởi xướng từ năm 1974.Thời hạn từ 4,5 - 7
năm Hỗ trợ các quốc gia khó khăn dài hạn
trong CCTT bắt nguồn từ CCKT Các quốc gia
vay áp dụng chương trình 3 năm Việc trả nợ
được thực hiện theo quy định bán niên.
Khởi xướng vào những năm 1960 Hỗ
trợ các nước hội viên bị thất thu xuất
khẩu tạm thời hoặc phải tăng chi phí
nhập khẩu lương thực quá mức do
biến động giá hàng hoá trên thế giới
Trả nợ được thực hiện từ 31/4 đến 5
năm theo quý.
Cho vay dự phòng (SBA)
Cho vay mở rộng (EMF)
Cho vay bổ sung dự trữ (SRF)
Cho vay bù đắp thất thu xuất khẩu (CFF)
Khởi xướng từ năm 1997 Hỗ trợ tài chính cho
những khó khăn đặc biệt về CCTT bắt nguồn từ
sự khủng hoảng và đổ vỡ lòng tin của thị trường
QG đi vay phải có các CS điều chỉnh mạnh mẽ
Không có hạn mức.Thời hạ là 2 - 2,5 năm và việc
trả nợ được thực hiện theo bán niên.
Trang 51.5.3 Các thể thức cho vay ưu đãi và thể thức đặc biệt
(1) Thể thức tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
(PRGF)
• Được xây dựng năm 1999 thay thế cho thể thức
ESAF.
• Thể thức cho vay ưu đãi này dành cho các nước
nghèo.
• Phải xuất phát từ Văn bản Chiến lược giảm nghèo
(PRSP)
• Có sự tham gia rộng rãi hơn của người dân và tăng
cường quyền làm chủ của nước hội viên.
• Hạn mức cho vay là 140% so với cổ phần của nước
hội viên tại Quỹ, một số trường hợp ngoại lệ là 185%
•Lãi suất là 0,5%/năm
•Thời hạn hoàn trả là 5,5 - 10 năm và trả nợ theo bán
niên.
Trang 61.5.3 Các thể thức cho vay ưu đãi và thể thức đặc biệt (tiếp)
(2) Trợ gi úp khẩn cấp (EA)
•Hỗ trợ các nước hội viên gặp khó khăn về
CCTT phát sinh do thiên tai bất ngờ hoặc do
xung đột vũ trang
•Thực hiện dưới hình thức giải ngân nhanh
(<25% cổ phần)
•Không đòi hỏi các chỉ tiêu thực hiện hoặc
phân chia giai đoạn giải ngân
•Thời hạn hoàn trả là 31/4 - 5 năm, trả theo
quý
Trang 71.5.3 Các thể thức cho vay ưu đãi và thể thức đặc biệt (tiếp)
(3) Thể thức giảm nợ theo Sáng kiến dành cho các
nước nghèo mắc nợ nặng nề (Sáng kiến HIPC)
• Là phương pháp tổng hợp được IMF và WB khởi
xướng vào năm 1996
• Nhằm giảm nợ cho các nước nghèo mắc nợ nặng
nề, đang theo đuổi các chương trình cải cách và
điều chỉnh do IMF và WB hỗ trợ
• Mục đích:
• Đảm bảo không một nước nghèo nào phải
chịu gánh nặng nợ nần không thể gánh nổi
• Đồng thời tăng cường mối liên kết giữa
giảm nợ, xoá đói giảm nghèo và chính sách
xã hội
Trang 81.6.1 Thành công
duy trì ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới trong suốt hơn 50 năm qua.
cộng đồng tài chính quốc tế.
hưởng lớn đến chính sách kinh tế vĩ mô của nhiều nước
Trang 91.6.1 Hạn chế
nhắc, thiếu dân chủ và không phản ánh được
sự tăng trưởng của những nền kinh tế đang
phát triển.
- Tính cứng nhắc: chỉ can thiệp khi đồng tiền 1
quốc gia có nguy cơ mất giá.
- Thiếu tính dân chủ: Số lượng phiếu bầu của
các thành viên IMF được tính toán dựa trên mức đóng góp của một nước đối với kinh tế toàn cầu Quyền lực của IMF vẫn nằm trong tay một nhóm nước Phương thức bầu giám đốc của IMF chỉ dành ưu tiên cho người châu Âu hoặc Mỹ
hiện nay.