Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội Chùa làng - nơi quy tụ tượng cổ Đền thần với tượng anh hùng Lăng mộ với tượng ngoài trời Chương 5 .- Nghệ thuật tạo tượng Cách tạc tượng của cha ông xưa Một
Trang 3Tượng Tổ
Tượng Quan Hầu
Tượng những con thú huyền thoại Một số tượng con thú có thật
Trang 4Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội
Chùa làng - nơi quy tụ tượng cổ Đền thần với tượng anh hùng Lăng mộ với tượng ngoài trời Chương 5 .- Nghệ thuật tạo tượng
Cách tạc tượng của cha ông xưa Một số quy cách về tạo tượng Phật Sơn thếp tượng
Chương 6 - Phân loại tượng cổ
Phân loại theo chất liệu
Phân loại theo đề tài
Trang 5Phân loại theo phong cách
Tượng cổ Việt Nam trong mốiquan hệ giao lưu với nghệ thuật láng giềng
Tên thật: Chu Quang Trứ
Tiến sĩ (Tđ) - Phó Giáo sư
Sinh năm 1941 tại Tân Hồng, TừSơn, Bắc Ninh
Bút danh: Phương Anh, Anh Trứ,
Trang 6Tân Hồng
Địa chỉ: 9 - B22 - Nam ThànhCông - Hà Nội
Điện thoại: 8 356564
Đã xuất bản:
- Di sản văn hóa dân tộc trong tínngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam NXBThuận Hóa, 1996 - NXB Mỹ thuật2000
- Kiến trúc dân gian truyền thống ViệtNam NXB Mỹ thuật 1996 - NXB Mỹthuật, 1999
- Tìm hiểu nghề thủ công điêu khắc cổtruyền Việt Nam, NXB Thuật Hóa, 1997 -NXB Mỹ thuật, 2000
- Văn hóa - Mỹ thuật Huế, NXB Thuậnhóa, 1998 - NXB Mỹ thuật, 2000
Trang 7- Mỹ thuật Lý Trần, mỹ thuật Phật giáo,NXB Thuận Hóa, 1998 nxb Mỹ thuật2000.
- Chùa Tây Phương, NXb Mỹ thuật,1998
- Tượng cổ Việt Nam với truyền thốngđiêu khắc dân tộc - NXB Mỹ thuật, 2000
- Sáng giá chùa xưa, mỹ thuật Phật giáo - NXB Mỹ thuật, 2000
- Văn hóa dân gian ở Gia Đông(BắcNinh) - NXB Mỹ thuật, 2000
Cùng viết với các tác giả khác
- Hà Bắc ngàn năm văn hiến (3 tập), Sở
Trang 8Việt Nam , NXb Văn hóa, 1973.
- Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam,Viện nghệ thuật, 1975
- Mỹ thuật thời Trần, NXB văn hóa ,1997
- Mỹ thuật thời Lê sơ, NXB văn hóa,1978
- Nông thôn Việt Nam trong lịch sử(TH), NXB Khoa học và xã hội, 1978
- Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời LýTrần, NXB khoa học và xã hội, 1980
- Tranh dân gian Việt Nam, NXB vănhóa, 1984
-Những vấn đề nghệ thuật tạo hình 1984,Viện Mỹ thuật - Hội NSTHVN, 1985
- Những vấn đề nghệ thuật tạo hình
1985, Viện Mỹ thuật - Hội NSTHVN,1986
- Hà Sơn Bình di tích và danh thắng, Sở
Trang 9văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình, 1985.
- Địa chí Hà Bắc, Sở VH Hà Bắc,1986
- Lịch sử Hà Bắc, hội đồng sử học HàBắc, 1986
- Đại chí văn hóa dân gian Thăng LongĐông Đô Hà Nội , Sở VHTT Hà Nội,1986
- Mỹ thuật ứng dụng, Viện Mỹ thuật1986
- Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, NXB Vănhóa , 1987
- Phật giáo và văn hóa dân tộc, Phânviện nghiên cứu phật học 1989
- Trò chơi xưa và nay NXb Thể dục thểthao, 1989
- Hội hè Việt Nam , NXB văn hóa dântộc, 1990
- Huế ngàn năm văn vật, Viện văn hóa
Trang 10nghệ thuật - Công ty QLDL, Huế, 1990.
- Mỹ thuật Huế, Viện Mỹ thuật - Trungtâm quản lý DL Huế, 1992
- Những vấn đề văn hóa xã hội thờiNguyễn, NXB Khoa học xã hôi, 1991
- Lược sử võ cổ truyền Việt Nam, NXBThể dục Thể thao, 1991
- Trò chơi trẻ em, NXb Thể dục thểthao, 1991
- Đô thị cổ Hội An, NXb Khoa học xãhội, 1991
- Đô thị cổ Hội An (tiếng Anh), NXBThế giới, 1992
- Di sản văn hóa dân gian Hội vănnghệ dân gian Việt Nam 1992
- Ai lên quán dốc chợ Giàu, NXB Vănhọc, 1992
- Nghiên cứu Mỹ thuật, Viện mỹ thuật,1992
Trang 11- Tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh,Viện Mỹ thuật, 1992
Văn hóa vì con người, NXb Văn hóa Tạp chí văn hóa nghệ thuật, 1993
- Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa,Tạp chí văn hóa nghệ thuật, 1993
- Từ điển văn hóa Việt Nam, NXb Vănhóa, 1993
- Phố Hiến, Sở Văn hóa Thông tin Hảihưng, 1994
- Phố Hiến(tiếng Anh), NXb Thế giới,1994
- Lễ hội Hà Tây, Sở VHTT Hà Tây,1995
- Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam,NXB Thế giới, 1995
- Nhà Trịnh và chúa Trịnh, ban nghiêncứu và ban biên soạn lịch sử Thanh Hóa,1995
Trang 12- Lịch sử Mỹ thuật và mỹ thuật học,NXB giáo dục, 1998.
- Văn hóa và lịch sử người Thái ở ViệtNam , NXB Văn hóa Dân tộc, 1998
- Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giáolưu văn học Việt - Hoa trong lịch sử, NXBThế giới, 1998
- Tạp chí hán Nôm: 100 bài tuyển chọn.Viện Nghiên cứu Hán nôm, 2000
- Văn hóa Thăng long, Hà Nội: Hội tụ
và tỏa sáng, NXB Chính trị Quốc gia,2000
Hơn 400 luận văn khoa học công bốtrên các tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, khảo
cổ học, Dân tộc học, văn hóa nghệ thuật,Nghiên cứu Mỹ thuật, Mỹ thuật, Nghiêncứu phật học, Tập văn giáo hội phật giáoViệt Nam, văn hóa dân gian, Văn hóa dân
Trang 13gian, Kiến trúc, kiến trúc Việt Nam, Tácphẩm mới, mỹ thuật thời nay, Viện bảotàng mỹ thuật, Viet Nam sosial sciences,Nghiên cứu giáo dục, Hán Nôm,Công tác
tư tưởng văn hóa, Etudes Vietnammiennes,
Mỹ thuật Công nghiệp, Huế xưa và nay,Tem, Việt Nam - Đông Nam á ngày nay Các báo: Nhân dân, Quân đội Nhân dân,văn nghệ, Thống nhất, Tổ quốc, Khoa học
và Tổ quốc, Văn nghệ Dân tộc và miềnnúi, Văn hóa, địa chính,
Trang 14Việt nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, chúng tađều dễ dàng nhận ra bộ mặt văn hóa vậtthể của nó là các kiến trúc chùa và đình,nhiều nơi còn có đền, miếu, lăng mộ Đó
là những di tích có tính tín ngưỡng và tôngiáo, là chỗ dựa tâm linh của dân làng,thậm chí của cả vùng Xã hội luôn biếnđộng, qua các giai đoạn lịch sử cổ đại,trung đại, cận đại và hiện đại, những thayđổi kinh tế- xã hội ở các điểm nút luôn đạtbước tiến thần kỳ, trong đó tốc độ pháttriển ở thời đại chúng ta đạt đến sự chóngmặt, nhưng trên hình thái ý thức tư tưởnglại có sự kết đọng những giá trị tinh thần
để trở thành truyền thống, trong đó gắn với
di tích văn hóa và giúp cho di tích văn hóavừa là di sản của hôm qua vừa là tài sảncủa hôm nay, luôn sống động với thời đạichính là các hoạt động lễ và hội Lễ có
Trang 15thiêng, hội có vui là nhờ sự cộng cảm của
cả cộng đồng với lịch sử Người ta thắphương và tâm niệm trước Tổ tiên, Thánh,Thần, Phật, Mẫu và những nhân vật giúpviệc chuyển tải siêu lực của các vị Nhữnglực lượng siêu nhiên ấy có khi được hìnhdung qua bài vị, đôi khi qua tranh vẽ,nhưng phổ biến là qua tượng thờ
Tượng thờ có rất nhiều ở các chùa Mỗingôi chùa được xem như một bảo tàngđiêu khắc cổ truyền thông thường có dămchục pho, nhiều như chùa Mía (SùngNghiêm Tự - Hà Tây) có tới gần 300 pho.Các pho tượng trong một chùa thườngthuộc nhiều thời, nhất là từ thời Mạc đếnthời Nguyễn, thậm chí ngày nay vẫn được
bổ sung Đó là một kho báu, toàn hiện vậtgốc, thực sự chứa đựng tài hoa của cha
Trang 16ông Có những chùa như chùa Tây Phương(Sùng Phúc Tự- Hà Tây) có cả một hệthống tượng trên Phật điện đạt đến đỉnhcao của nghệ thuật tạc tượng chẳng nhữngcủa Việt Nam mà của cả thế giới, làm kinhngạc cả những người sành nghệ thuật nhất.
Bên cạnh chùa, nhiều đền thờ các anh hùngdân tộc và các nhân vật lịch sử như ThánhGióng, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, vuaĐinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành, TrầnHưng Đạo và nhiều nhân vật ít tiếng tămhơn như các con của vua Đinh, vợ con vua
Lê và một số đại thần cũng được tạc tượngthờ Nếu tượng ở chùa thường do dân làng
tổ chức làm thì nhiều tượng ở các đền loạitrên thường do triều đình đứng ra tổ chứctạc
Trang 17Nhiều quý tộc cỡ lớn là những ông hoàng,
bà chúa - cung tần, công chúa, quận chúa
có thể xem là cái gạch nối giữa triều đìnhvới dân làng, giữa Vương quyền và Thầnquyền đã xin nhà nước xuất công quỹ cùngvới tiền của riêng cúng vào việc xây dựngchùa to cảnh đẹp, sau đó cũng được tạctượng thờ ở một số chùa, điển hình là các
bà hoàng thái hậu Vũ thị Ngọc Toản nhàMạc và Trịnh thị Ngọc Trúc nhà Lê
Không chỉ quý tộc cấp cao, nhiều quan lại
- nhất là các quận công từng giữ các trọngtrách về quân sự hay dân sự, đồng thời lại
là những thái giám, tổng thái giám, sau khitích lũy được khá nhiều của cải nhưngkhông có con cháu trực hệ, đã làm nhiềuviệc công đức cho quê hương, hoặc đượcdân làng bầu làm Hậu Thần, Hậu Phật có
Trang 18khi tạc tượng thờ, hoặc xây cất lăng mộriêng cũng có những hàng tượng người vàtượng thú phục vụ.
Đặc biệt với tục bầu Hậu với ý nghĩa tạo
sự trường tồn, gắn bó lâu dài với mai sau,nhiều người không có con trai nối dõi tôngđường, thì bản thân hoặc con gái "có máumặt" một chút cũng thường mua Hậu, cóthể tạc tượng để dân làng thờ Như vậyngay cả những người bình dân cũng có thểđược đi vào nghệ thụật tượng tròn
Chùa thì thường phải có sư tăng là nhữngngười chăm sóc phần hồn cho các phật tử,
do đó các vị cao tăng trở thành tổ chùa,khi mất chẳng những được các Phật tử xâytháp mộ, mà phần nhiều còn được tạctượng thờ trong nhà Tổ Đây là những
Trang 19tượng người thực việc thực, tạc khi cònsống hay mới mất, do đó có nhiều giá trịcủa loại tượng chân dung.
Thật ra tượng cổ còn nhiều nhóm và ởtrong nhiều loại hình di tích nữa Tất cảđều khẳng định sự phong phú và đa dạngcủa mảng nghệ thuật này, nó phổ biến trongkhông gian và quán xuyến trong thời gian,gắn với cá nhân từ bình dân đến quý tộc vàgắn với cả nhà nước nữa Trong kho tàngtượng cổ vô cùng phong phú ấy, rất hiếmtượng có ghi tên tác giả, hầu như đều làtượng khuyết danh, là sản phẩm của cáchiệp thợ cũng không rõ tên, có thể tìm radấu ấn thời đại để xác định niên đại tươngđối chứ không thể tìm ra phong cách tácgiả, lại do không có một quy pháp tạotượng cụ thể, tất cả đều thuộc dòng chảy
Trang 20nghệ thuật dân gian nhưng nhiều tác phẩm
đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạotượng
Tượng cổ còn đến nay là đã vượt quađược sự phá hủy của con người và củathiên nhiên Nếu con người chủ tâm phá thì
dù làm bằng chất liệu nào cũng sẽ bị hủyhoại, nhưng nó chỉ xảy ra trong nhữngtrường hợp đặc biệt, có tính tiêu cực củalịch sử Đất nước trải qua nhiều lần chiếntranh, cả ngoại xâm và nội chiến, nặng nềnhất là hơn nghìn năm Bắc thuộc và haimươi năm nhà Minh đô hộ đã chủ trươngphá hủy triệt để văn hóa Việt Nam, gây tổnthất lớn lao cho điêu khắc Trong thờichúng ta bom đạn của đế quốc Mỹ đã hủydiệt rất nhiều di tích cổ, trong đó làm biếnmất hoàn toàn cả khu đền tháp Chăm-pa ở
Trang 21Đồng Dương và một phần khu thánh địa
Mỹ Sơn khiến lương tri nhân loại phải lêntiếng Cũng có cả nhận thức của chínhchúng ta một thời không đầy đủ đã thả nổi
di tích và có những can thiệp phi văn hóa,hậu quả là làm hư hại không ít đến điêukhắc Sự phá hủy của thời gian thì thôngqua mối mọt và thời tiết, đặc biệt là lụt lội
và gió bão Về mặt này, nếu được bảoquản tốt ở trong nhà thì có thể hạn chếđược khá nhiều Riêng đồng thì độ hư hạibởi thời gian là ít, đá bền là thế nhưng vẫn
bị mưa gió bào mòn, gỗ tự hủy lại có đồngminh là mối mọt rất sẵn ở xứ nhiệt đới độ
ẩm cao, đất tự bở ra và nếu có thêm sự hỗtrợ của nước thì sẽ rất nhanh hỏng
Mặc dù với những sự hủy hoại trên, tượng
cổ còn lại đến nay khá nhiều, người xưa đã
Trang 22lường trước được "kẻ thù" của nó để tìmcách hạn chế, do đó đã tìm được những vậtliệu dễ kiếm, và đôi khi cả vật liệu quý đểlàm tượng Tượng ngoài trời thường bằng
đá, để mộc, phổ biến ở các lăng mộ.Tượng trong nhà đa số bằng gỗ - và phải
là gỗ mít bền và thiêng, sau đó còn đượcsơn thếp trên cơ sở tượng mộc đã hoànhảo Tượng đồng khá hiếm vì là chất liệuquý còn để đúc tiền, song có khi lại làmrất lớn và hun đen để khẳng định chấtđồng, song cũng nhiều tượng đồng thườngsơn thếp như tượng gỗ Gỗ, đá, đồng chính
là những chất liệu đích thực của điêu khắcngười xưa cho là sạch và thiêng Thời Lêtrung hưng, năm 1728 từng có lệnh làmtượng Phật phải bằng gỗ hoặc đá, nếu làmbằng đồng phải xin phép bề trên, cấm làmtượng Phật và các tượng khác bằng đất hay
Trang 23các thứ tạp nham , quy định vậy là để đạoPhật được trong sáng Nhưng ngày naytrong các chùa cũng gặp nhiều tượng đất,hầu hết thuộc thời Nguyễn, có nghĩa là khilệnh cấm của nhà Lê không còn hiệu lực,
và việc dựng chùa tạc tượng cũng có phầntràn lan Tượng đất đôi khi được nung cònnon , thường thì đắp đất có trấu và sơ đểchống nứt nẻ và để khô tự nhiên, bằng cáchnào thì cũng được sơn vẽ ra ngoài Trongđiều kiện bảo quản tốt, tượng đất như thếcũng rất bền
Đối với điêu khắc cổ dường như không cóchất liệu trung gian Người xưa cậy từ gỗ,
đá những "phần thừa" để cái còn được giữlại là tượng theo đúng kích thước dự định,hoặc đắp từ đất cứ bồi lớn dần cho đến khiđạt kích thước và tu chỉnh cho hoàn hảo
Trang 24Điều này khác với ngày nay thường làmnhỏ rồi phóng to, làm bằng chất liệu tạm làthạch cao , khi có điều kiện mới chuyểnsang chất liệu chính thức, còn nếu khôngthì cứ để ở tình trạng thạch cao dễ sứt mẻ.
Rõ ràng trong kho nghệ thuật tạo hình cổtruyền , điêu khắc tượng tròn là phổ biến,
và đúng nghĩa cả về chất liệu , tạo thànhtruyền thống trong mỹ thuật, phát triển ởmọi nơi và mọi thời Đó chính là cốt lõicủa mỹ thuật dân tộc, là cơ sở để ngày naycác nhà điêu khắc học tập cha ông, kết hợpvới yêu cầu của thời đại để sáng tạo nhữngtác phẩm mới làm đẹp cho xã hội, đưa môitrường văn hóa Việt Nam hòa nhập vớimôi trường văn hóa thế giới mới
Ngày xưa cha ông ta liên tục làm điêu
Trang 25khắc, tạc tượng không ngừng tay, nhưngdường như không có sự tổng kết Từ cuốithế kỷ XIX khi tiếp xúc cưỡng bức với vănhóa phương Tây, người Pháp mới có kếhoạch nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam.Nhưng từ khi những chuyên khảo đơn lẻđến những tổng kết về nghệ thuật Việt Nam
có tính lịch sử, người ta nói nhiều đếnchùa, đền nhưng lại rất ít đi vào nghệ thuậttạc tượng Từ những năm thuộc thập niên
60 trở đi , Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ ( rồisau này là Viện Mỹ thuật) trong khi tìmhiểu những di tích đã đặt nhiều kỳ vọng ởđiêu khắc nhất là tượng thờ, một số ấn bảnphẩm về mỹ thuật các thời Lý - Trần -Lê -Mạc đã giành cho điêu khắc, mà trọng tâm
là tượng tròn một tỷ lệ thích đáng Tiếptheo những công trình khái quát về mỹthuật cổ Việt Nam hay về một di tích cụ
Trang 26thể, phần nhận định còn khiêm nhường ,song phần tư liệu đã cố gắng tập trung chotượng.
Trong đời sống mỹ thuật của xã hội hômnay, kể cả sáng tác và tiêu thụ tác phẩm,điêu khắc không có nhiều cơ hội để pháttriển như hội họa, nhưng những công trìnhquy mô lớn và bền lâu, thậm chí mang tầm
cỡ thời đại là những tượng đài ghi mốclịch sử, đang được cả Nhà nước và nhândân quan tâm xây dựng, nó sẽ góp phầnlàm thay đổi diện mạo các thành phố hiệnđại
Với những giá trị của tượng cổ Việt Nam
có tính xuyên thời đại, nhưng việc tập hợp
tư liệu và nghiên cứu kho báu này mới ởbước đầu, thì đề tài "Tượng cổ Việt Nam
Trang 27với truyền thống điêu khắc dân tộc" hyvọng sẽ góp thêm những hiểu biết mới cótính hệ thống.
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trungvào phương pháp khảo sát điền đã, đi thực
tế các di tích để lấy tư liệu ngay tại hiệntrường bằng các kỹ năng đo đạc, chụp ảnh,hỏi nhân dân địa phương, in rập các bia kýliên quan Bên cạnh đó là khai thác thưtịch, trước hết là các sách sử, truyện ký vàvăn bia có liên quan của người xưa để lại.Tận dụng thành tựu của một số công trìnhnghiên cứu về mỹ thuật đã được xuất bản
Để hiểu được những gì tàng ẩn trong các
tư liệu trên, còn phải vận dụng các phươngpháp liên ngành văn hóa - nghệ thuật -khảo cổ - lịch sử - dân tộc học Tất cả sẽđược chỉ đạo bởi phương pháp luận Mác-
Trang 28Lênin thông qua phép biện chứng duy vật
và duy vật lịch sử
Chúng tôi chân thành cảm ơn các đồngnghiệp đã giúp đỡ tư liệu và tác giả cáccông trình liên quan mà chúng tôi đã khaithác
Công trình này ngoài phần khai mở vàphần đóng kết, có hai phần với sáuchương:
+ Phần I: Tượng cổ Việt Nam trong tiếntrình lịch sử
- Chương I: Tượng của người Việt cổ
- Chương II: Tượng của giai đoạn đầu kỷnguyên độc lập (thời Lý - Trần)
- Chương III: Các tượng tiêu biểu của thời
kỳ độc lập lần thứ 2 (thời Lê sơ đến
Trang 29- Chương V: Nghệ thuật tạo tượng.
- Chương VI: Phân loại tượng cổ
Những minh họa ảnh được tập hợp thànhmột phụ lục kèm theo, coi như phụ bản
Trong cách trình bày trên, chúng tôi tự hạnchế phạm vi nghiên cứu tượng cổ ViệtNam ở dòng nghệ thuật chủ đạo của dântộc chủ thể là người Việt cổ và người Việt.Đây cũng là quan niệm thông thường nhằmvào nền nghệ thuật chính thức được hìnhthành dưới ảnh hưởng của các nhà nước
Trang 30trung ương tập quyền Vì thế ở đây chúngtôi không bàn đến tượng nhà mả TâyNguyên, vì trước hết những tượng ấy bằng
gỗ ở giữa rừng chưa đủ thời gian để trởthành "tượng cổ", và nó tự phát của một sốtộc người ở ngoài ảnh hưởng của các triềuđình phong kiến Việt Nam Còn với điêukhắc Chăm Pa vô cùng rực rỡ, cả trămnăm qua đã thu hút nhiều người nghiên cứu
và làm ngỡ ngàng nhân loại sành nghệthuật, song vốn xưa nó thuộc một quốc giariêng độc lập, mới hòa nhập dần vào quốcgia Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV,nhưng những thành tựu ấy lại bị lãng quên,phải đến thế kỷ XX mới bừng lên tỏa sáng.Nằm ngoài dòng chảy truyền thống dướiảnh hưởng của các nhà nước Việt Namxưa, tự nó khẳng định một vương quốcnghệ thuật riêng, nên tượng cổ Chăm Pa
Trang 31cần được trình bày trong một đề tài lớn, ởđây chúng tôi chỉ đề cập đến trên bìnhdiện so sánh khi tìm hiểu mối giao lưu củatượng cổ Việt Nam với các nền nghệ thuậtláng giềng
Trang 32khi bắt đầu biết mài đá và cũng bắt đầubiết đến một nền nông nghiệp sơ khai thìđồng thời cũng bắt đầu biết làm nghệ thuật.Nhưng khác với nhiều nền nghệ thuật trênthế giới thường được mở đầu bằng một sốhình vẽ trong hang động vẽ cảnh săn bắn
và bằng những tượng Vệ nữ, nghệ thuật tạohình Việt Nam lại được mở đầu bằng hìnhkhắc ba mặt người và một mặt thú tronghang Đồng Nội (Hòa Bình) và hình khắctrên mũi dùi xương Lam Gan (Hòa Bình)
Tiếp theo, đi sâu vào thời kỳ đồ đá mài vàtiến tới một nền nông nghiệp lúa nước,ngày càng hoàn thiện kỹ thuật chế tác đồgốm, thành tựu nghệ thuật tạo hình vẫnthiên về hình khắc với viên cuội ở động
Ky (Thái Nguyên) một mặt khắc các nhómhình kỷ hà còn mặt kia khắc hình một mặt
Trang 33người, miếng đất sét ở bản Nghinh Tắc(Thái Nguyên) cũng chỉ khắc những nhómvạch ở dìa và những dãy vạch chữ V ởtrong lòng Tuy nhiên ở Nà Ca (TháiNguyên) đã tìm thấy một phác tượng đượcđẽo từ một viên cuội còn dài 6,4cm, rộng3,4cm và dày 2,5cm, thể hiện một đầungười trán nhẵn, cằm rộng, mũi dài, mắtnheo, miệng cười hình chữ V biểu hiệnmột tình cảm vui tươi.
Phải đến khi người nguyên thủy trên đấtnước ta bắt đầu biết đến đồ đồng thì nghệthuật tạo tượng mới thực sự được bắt đầu.Ngay ở giai đoạn đầu là văn hóa PhùngNguyên, cách ngày nay chừng 4000 năm,đồng còn rất hiếm (mới chỉ tìm thấy xỉđồng), cơ bản vẫn là đồ đá, và đồ gốmđược đẩy lên đỉnh cao ở cả tạo dáng và
Trang 34trang trí, thì đá và gốm cũng trở thành chấtliệu của điêu khắc tượng tròn Vào nửa saucủa thiên niên kỷ II trước CN, người Việt
cổ bước vào giai đoạn văn hóa Đồng Đậuthuộc trung kỳ thời đại đồng thau, đồ đávẫn chiếm ưu thế - nhất là về đồ trang sức,
đồ gốm được nung ở nhiệt độ cao hơn, đồđồng thau đã có nhiều loại, nhưng về tạotượng mới chỉ tìm được tượng gốm Phảichăng tượng đá và tượng đồng đều quá ítnên chưa tìm được? Đến cuối thiên niên kỷ
II trước CN, người xưa tiến tới hậu kỳ thờiđại đồng thau với văn hóa Gò Mun, đồ đásuy thoái và bị lãng quên dần, đồ gốmđược nung già với hoa văn trang trí ảnhhưởng đồ đồng có xu hướng hình học hóa,
đồ đồng thau đã trở nên phổ biến Tuy thế,tượng ở giai đoạn này hầu hết vẫn là đồgốm, tượng đồng mới tìm được một tác
Trang 35phẩm nhỏ song đã ở trình độ hoàn hảo,chứng tỏ chất liệu này đã quen với điêukhắc.
Ba giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên Đồng Đậu - Gò Mun chiếm một thời gianlịch sử dài tới 2000 năm, được gọi chung
-là các văn hóa Tiền Đông Sơn, phát triểnliên tục và trực tiếp từ thấp đến cao, tạothành một chuỗi sơ kỳ - trung kỳ - hậu kỳ
đồ đồng, có ý nghĩa là cái cầu nối từ thờiđại đồ đá với văn hóa Đông Sơn rực rỡdiễn ra suốt thiên niên kỷ I trước CN và cảvài thế kỷ đầu CN, thuộc giai đoạn đồngmuộn và sắt sớm
Ở văn hóa Đông Sơn, đồ đá rất ít vànghèo, đồ gốm nặng tính thực dụng, trái lại
đồ đồng phát triển rất rực rỡ cả về kỹ thuật
Trang 36và nghệ thuật Nhưng xưa nay nói đến vănhóa Đông Sơn, nhiều người thường chỉnghĩ đến thành tựu nổi bật là các trốngđồng thuộc loại I theo cách phân chia củaHêgơ (Heger) ở đầu thế kỷ XX mà ngàynay được gọi chung là "Trống đồng ĐôngSơn" Điều đó không sai, nhưng thật ra vềnghệ thuật tạo hình lúc này phải đặt trọngtâm vào tượng với số lượng rất lớn, hầuhết đều bằng đồng thau, tuy nhiên cũng cómột ít tượng đá và gốm.
Từ những thông tin lẻ tẻ về khảo cổ họcViệt Nam trước năm 1945 và đặc biệt lànhững thập niên 60-70 và đầu 80, năm
1983 trên tạp chí Khảo cổ học số 4, trongbài "Điêu khắc Đông Sơn : Truyền thống
và tính độc đáo", Trịnh Sinh đã thống kêtrong toàn bộ thời đại đồ đồng của Việt
Trang 37Nam đã phát hiện được 207 tượng, trừ 2tượng gốm chưa được xác định, các giaiđoạn Tiền Đông Sơn có 22 tượng (gồm 1tượng đá, 20 tượng gốm và 1 tượng đồng),Đông Sơn có 183 tác phẩm (gồm 1 tượng
gỗ, 1 tượng đá, 1 tượng gốm, 2 tượng sừng
và 178 tượng đồng) Như vậy xã hội càngphát triển thì đời sống văn hóa nghệ thuậtcàng phong phú, chất liệu cũ (đá, đất nung)phổ biến ở các giai đoạn Tiền Đông Sơnthì sang giai đoạn Đông Sơn chỉ chiếm một
tỷ lệ hết sức nhỏ bé, để nhường chỗ chochất liệu đồng có nhiều ưu thế trong chếtác và bảo quản Theo sự khảo tả củaTrịnh Sinh, đối chiếu với quan sát thực tế,chúng ta có thể nhận ra một sự diễn tiến ởnhững đỉnh cao của nghệ thuật tạo tượng ởthời dựng nước đầu tiên
Trang 38Tượng người đàn ông ở di chỉ Văn Điển
Hình 1Tượng người đàn ông ở di chỉ Văn Điển(Hà Nội) thuộc văn hóa Phùng Nguyên, làlúc người nguyên thủy từ trung du trànxuống và từ ven biển tràn lên, cùng tiếnvào chinh phục đồng bằng Bắc Bộ Tượnglàm bằng đá, chỉ cao 3,6cm, nhỏ bằng đầuđũa, thể hiện một người đàn ông ở tư thếđứng (hoặc nằm?) Mặt tượng trái xoan,
Trang 39mắt tròn nhỏ, mũi dài, hai má mài vát vàotạo cho cằm hơi nhọn, ngực nở, bụng thon,giới tính nam được nhấn mạnh, phần chân
bị gẫy dưới đùi có hướng hơi co lại Cácchi tiết về tai và tay đều lược bỏ Trên đầu
có dấu vết một vòng nhỏ hay ngạnh đểbuộc dây đeo như kiểu đeo bùa Tượngnhỏ nhưng mang rõ tính cách hiện thực, mở
ra một hướng đi đúng cho các giai đoạnsau Để làm ra tác phẩm này, con người ở
sơ kỳ thời đại đồ đồng đã vận dụng tổnghợp các kỹ thuật chế tác đá như cưa, đẽo,mài, khoan, dũa một cách rất thành thạo.(Hình 1)
Một số tượng bò
Sang văn hóa Đồng Đậu, tại di chỉ ĐồngĐậu (Vĩnh Phúc) đã tìm thấy khá nhiều
Trang 40tượng thú gần gũi với người như bò, gà,chim đều bằng đất nung Một số tượng bò
đã bị vỡ nát, tuy thế vẫn có con bò cònnguyên vẹn Tượng bò dài 5cm thuộc loại
bò u, dáng lao về đằng trước, cặp sừnggiương lên nghênh chiến, toàn thể toát ramột vẻ hung dữ, khối hình gọn đến mứcđơn sơ song vẫn giữ được vẻ hiện thực.(Hình 2)
Hình 2Vẫn thuộc văn hóa Đồng Đậu và đề tài bò,
ở di chỉ Tiên Hội còn có tượng cái đầu bò