1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát hiện Virus Viêm Não mới từ dịch não tủy của bệnh nhân có hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam pdf

5 487 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 377,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát hiện virut viêm não mới từ dịch não tuỷ của bệnh nhân có hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam Phan Thị Ngà 1 , Kouichi Morita 2 1 Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Hà Nội 2 Viện Y

Trang 1

Phát hiện virut viêm não mới từ dịch não tuỷ của bệnh nhân có hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam

Phan Thị Ngà 1 , Kouichi Morita 2

1 Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Hà Nội

2 Viện Y học Nhiệt đới, Trường Đại học Nagasaki Nhật Bản

Trong năm 2002, có 2 chủng virut Arbo mới được phân lập từ dịch não tuỷ (DNT) của bệnh nhân

có hội chứng não cấp (HCNC) ở miền Bắc Việt Nam bằng dòng tế bào muỗi C6/36 Virut hình cầu, có

vỏ (envelop), kích thước khoảng 50 nm, vật liệu di truyền là ARN Trình tự vật liệu di truyền của chủng virut có ký hiệu 02VN208 không giống trình tự của các chủng virut đã công bố trên thế giới Cặp mồi

đặc hiệu (specific) được thiết kế từ một phần trình tự clone gen của chủng virut có ký hiệu 02VN208

để định loại những chủng virut phân lập từ bệnh nhân và từ muỗi năm 2002 bằng kỹ thuật RT-PCR

Có 2 chủng virut phân lập từ dịch não tuỷ (DNT) của bệnh nhân HCNC và có 4 chủng virut phân lập

từ muỗi được xác định dương tính; Kết quả này là một bằng chứng cho thấy đây có thể là một loại virut Arbo do muỗi truyền gây viêm não, mới được phát hiện ở Việt Nam Virut Nam Định là tên của virut

được đặt theo tên địa phương của bệnh nhân Những nghiên cứu về huyết thanh học, siêu cấu trúc của virut cần được thực hiện để có cơ sở phân loại virut Arbo mới này

I Đặt vấn đề

Viêm não do virut là một trong những

nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em trong khu

vực châu á, đặc biệt là viêm não do virut viêm

não Nhật Bản (VNNB), tuy nhiên chỉ có

khoảng 20 – 60% trường hợp bị viêm não

được xác định là do virut VNNB, số còn lại có

thể là viêm não do virut khác [3, 8] Tương tự

như vậy ở Việt Nam, theo số liệu thống kê

hằng năm có khoảng 2000 – 3000 trường hợp

bị hội chứng não cấp (HCNC) do virut,

khoảng 30 – 50% số trường hợp bị HCNC

được xác định là do virut VNNB bằng kỹ thuật

MAC-ELISA, các virut gây viêm não tiềm ẩn

khác vẫn chưa được phát hiện ngoài virut

VNNB và virut đường ruột [1, 2] Năm 1971,

một số chủng virut thuộc nhóm Alpha được

phân lập từ muỗi ở miền Bắc Việt Nam, có giả

thiết rằng nó có thể là một virut Arbo mới gây

HCNC [6], tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa

phân lập được virut Alpha từ bệnh nhân Việt

Nam (số liệu phòng thí nghiệm) Do vậy mục

tiêu nghiên cứu của đề tài là phát hiện virut

viêm não mới do muỗi truyền từ DNT của

bệnh nhân có HCNC chưa rõ căn nguyên

II Nguyên vật liệu và phương pháp

1 Vật liệu:

Có 148 mẫu DNT được lấy từ bệnh nhân

có HCNC (3/2002 – 11/2002) tại Khoa Lây, Viện Nhi trung ương Các mẫu DNT này được xác định không có kháng thể IgM kháng virut VNNB bằng kỹ thuật MAC-ELISA

Huyết thanh được lấy vào ngày thứ 5 của bệnh và sau khi khỏi bệnh trên một năm (của bệnh nhân - chủng virut có ký hiệu 02V208

được phân lập từ DNT)

Kháng thể kháng virut nhóm Alpha, Flavi, Bunya, kháng thể gắn FITC do trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC, Colorado Mỹ cung cấp

Kháng thể định loại virut VNNB do Viện VSDTTƯ, Hà Nội cung cấp

Sinh phẩm cho kỹ thuật RT-PCR và cặp mồi đặc hiệu định loại virut VNNB do Viện Y học Nhiệt đới, Nagasaki cung cấp (841 N và

2670 R)

Trang 2

Cặp mồi đặc hiệu với chủng virut có ký hiệu

02VN208 được thiết kế từ chuỗi kéo dài để tổng

hợp một sản phẩm PCR khoảng 400 bp

Hoá chất cho kỹ thuật nhuộm âm bản do

Viện VSDTTƯ, Hà Nội cung cấp

Dòng tế bào muỗi C6/36 tế bào Vero và

BHK 21, tế bào thần kinh chuột (Mouse

neuronal cells) môi trường nuôi tế bào, các

trang thiết bị và vật liệu cần thiết khác

2 Phương pháp:

Phân lập virut: Mẫu DNT được làm tan

băng, gây nhiễm vào tế bào C6/36 [4, 7],

quan sát tế bào trong 5 ngày Chai tế bào gây

nhiễm có hình ảnh huỷ hoại tế bào, nước nổi

tế bào gây nhiễm được lọc qua lọc 0,22 nm,

hỗn dịch lọc được cấy truyền lần thứ hai trên

tế bào C6/36 Nếu có hình ảnh huỷ hoại tế

bào sau lần cấy truyền này chai tế bào được

lưu giữ ở – 70oC để định loại virut

Định loại virut bằng kỹ thuật ELISA, huỳnh

quang, kỹ thuật RT-PCR

Xác định hình thái virut bằng kính hiển vi

điện tử với kỹ thuật nhuộm âm bản

Xác định sự thích ứng của virut trên động vật phòng thí nghiệm (chuột ổ), các dòng tế bào thường trực bằng thử nghiệm đám hoại tử (Plaque Assay)

Sử dụng dòng tế bào BHK 21 để thực hiện

kỹ thuật trung hoà giảm đám hoại tử, kết quả dương tính khi huyết thanh ở độ pha loãng 1/10 làm giảm 90% đám hoại tử

Virut được tinh chế từ nước nổi tế bào gây nhiễm virut bằng Polyethylene Glycol (PEG) 6.000 – Sucrose Gradient để tách chiết vật liệu di truyền theo phương pháp của Chapon [5], sử dụng enzym Dnase và Rnase xác định vật liệu di truyền của virut

Trình tự vật liệu di truyền của virut được xác định bằng những bộ mồi ngẫu nhiên sử dụng TOPOTA cloning kit của In-Vitrogen,

Mỹ So sánh trình tự nucleotit của virut với trình từ nucleotit của những virut đã được công bố trong ngân hàng số liệu

IV Kết quả

Kết quả phân lập virut bằng tế bào C6/36

Hình 1 Hình ảnh chủng virut có ký hiệu 02VN208 được phát hiện bằng kính hiển vi

điện tử với kỹ thuật nhuộm âm bản (mũi tên chỉ hạt virut X 150.000 )

14

Trang 3

Từ 148 mẫu dịch não tuỷ của bệnh nhân

có HCNC năm 2002, không phát hiện được

kháng thể IgM kháng virut VNNB bằng kỹ

thuật MAC-ELISA, sử dụng tế bào C6/36

phân lập được 4 chủng virut VNNB và 2

chủng virut không định loại được với các

kháng thể kháng virut nhóm Alpha, Flavi,

Bunya Hai chủng virut không định loại được

có ký hiệu 02VN193 và 02VN208 Hình thái

virut được xác định bằng kính hiển vi điện tử

theo phương pháp nhuộm âm bản, hai chủng

virut này có hình thái giống nhau: virut hình

cầu, có vỏ, kích thước khoảng 50 nm

Kết quả xác định virut

Trong nghiên cứu này chủng virut có ký

hiệu 02VN208 được chọn để xác định các đặc

tính của virut Kết quả thực nghiệm cho thấy

chủng virut này không gây liệt chuột, nhưng

virut thích ứng trên tế bào C6/36 và nhiều

dòng tế bào của động vật có vú khác đặc biệt

là dòng tế bào thần kinh chuột Sự thích ứng

của virut trên các dòng tế bào thường trực

được khẳng định bằng thử nghiệm đám hoại

tử tế bào và kỹ thuật RT-PCR

Bằng kỹ thuật trung hoà, xác định ở độ

pha loãng 1/10 của huyết thanh làm giảm

90% đám hoại tử, như vậy kháng thể trung

hoà kháng virut trong mẫu huyết thanh được

lấy sau khi khỏi bệnh hơn một năm vẫn còn

tồn tại và có phản ứng đặc hiệu với chủng virut có ký hiệu 02VN208

Vật liệu di truyền của virut được kiểm tra với enzym Rnase và Dnase Enzym Rnase đã tiêu huỷ toàn bộ vật liệu di truyền của virut, khẳng

định virut có vật liệu di truyền là ARN So sánh với trình tự vật liệu di truyền của chủng virut này với các chủng virut đã công bố trên thế giới trong ngân hàng số liệu, xác định trình tự vật liệu di truyền của nó không giống với trình tự vật liệu di truyền của các chủng virut đã công bố, chỉ có 40% tương tự như trình tự vật liệu di truyền của virut Corona

Cặp mồi đặc hiệu được thiết kế từ chủng virut có ký hiệu 02VN208 được dùng để kiểm tra với những chủng virut phân lập trong năm

2002 từ DNT của bệnh nhân có HCNC và từ muỗi bằng kỹ thuật RT-PCR Xác định có 6 chủng virut dương tính với cặp mồi này trong

đó có 2 chủng virut phân lập từ DNT bệnh nhân HCNC (chủng virut có ký hiệu 02VN193, 02VN208) và 4 chủng virut phân lập từ muỗi

Culex Tritaeniorhynchus và Culex Vishnui

(chủng virut có ký hiệu 02VN9, 02VN18, 02VN178 và 02VN108)

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Hình 2 Kết quả định loại các chủng virut phân lập năm 2002 bằng cặp mồi đặc hiệu

với chủng virut có ký hiệu 02VN208 (sản phẩm PCR khoảng 400 bp)

Trang 4

Ghi chú các cột gen kiểm tra sản phẩm

PCR trên Agarose 1%: 1: Thang chuẩn DNA

100 bp; 2: Chứng dương (02VN208); 3:

02VN193, 4: 02VN 9; 5: 02VN18,

6: 02VN178, 7: 02VN180, 8: vi rut VNNB;

9: Chứng âm; 10: Thang chuẩn DNA 1 kb)

IV Bàn luận

Trong nghiên cứu này có 2 chủng virut

Arbo mới có vật liệu di truyền là ARN được

phân lập bằng dòng tế bào muỗi C6/36 Trình

tự vật liệu di truyền của chủng virut này được

xác định không giống trình tự vật liệu di truyền

của các virut đã được công bố trong ngân

hàng số liệu, như vậy đây là một chủng virut

mới được phát hiện ở Việt Nam cũng như trên

thế giới Kết quả xác định dương tính với các

chủng virut phân lập từ bệnh nhân và từ muỗi

năm 2002 bằng cặp mồi đặc hiệu với chủng

virut có ký hiệu 02VN208 là cơ sỏ để khẳng

định đây là virut gây HCNC do muỗi truyền [hình 2] Kiểm tra một số chủng virut phân lập

từ DNT của bệnh nhân HCNC trong năm

2003, xác định có 1 chủng dương tính với cặp mồi này (số liệu phòng thí nghiệm) Tên của virut được đặt theo tên địa phương của bệnh nhân, chủng virut có ký hiệu 02VN208 có tên

là virut Nam Định

Hai chủng virut Arbo mới phân lập từ bệnh nhân HCNC trong mùa dịch viêm não hè năm

2002, cả hai bệnh nhân hồi phục hoàn toàn sau điều trị Do chẩn đoán bằng phân lập virut thường ít đạt kết quả (bảng 1), nên việc chế tạo sinh phẩm cho kỹ thuật chẩn đoán và giám sát huyết thanh học cần được đề cập tới trong những nghiên cứu tiếp theo để ứng dụng cho chẩn đoán, giám sát huyết thanh học làm cơ sở để xác định dịch tễ, lâm sàng HCNC do virut Arbo mới này

Hình3 Kết quả xác định sự nhân lên của virut trên tế bào thần kinh chuột gây nhiễm với chủng virut có ký hiệu 02VN208 (sản phẩm PCR khoảng 400 bp)

Ghi chú các cột gen kiểm tra sản phẩm

PCR trên Agarose 1%: 1: Thang chuẩn DNA

100 bp; 2: Chứng dương (02VN208); 3 - 7:

ARN của virut trong nước nổi tế bào gây

nhiễm chủng virut có ký hiệu 02VN208 sau 1,

2, 3, 4 và 5 ngày; 8: Chứng âm

V Kết luận

1 Virut Arbo mới được phân lập từ DNT của bệnh nhân có HCNC năm 2002 có đặc

điểm: hình cầu, có vỏ, kích thước khoảng 50

nm, vật liệu di truyền được xác định là ARN

2 Virut thích ứng trên tế bào muỗi C6/36, BHK-21…và đặc biệt là tế bào thần kinh chuột Trình tự vật liệu di truyền của virut không giống

16

Trang 5

trình tự của các chủng virut đã công bố trong

ngân hàng số liệu, nó là một chủng Arbo virut

mới được phát hiện ở Việt Nam

Đề tài được thực hiện tại Phòng thí nghiệm

virut Viêm não, Khoa Virut, Viện VSDTTƯ, Hà

Nội, với sự hỗ trợ kinh phí từ Bộ Y tế và Viện

VSDTTƯ

Các tác giả xin trân trọng cảm ơn sự hợp

tác trong nghiên cứu này của:

- Tập thể cán bộ Khoa lây Viện Nhi

Trung ương

- PGS TS Nguyễn Kim Giao, các

đồng nghiệp của Phòng Kính hiển vi điện tử,

Phòng thí nghiệm Virut viêm não, Khoa Virut

Viện VSDTTƯ

- Tiến sĩ Manmohan Parida, Khoa

Virut, Viện Y học Nhiệt đới, Nagasaki, Nhật

Bản cho sự trợ giúp về kỹ thuật sequencing

tại Nagasaki

- Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC,

Colorado Mỹ

Tài liệu tham khảo

1 Phan Thị Ngà, Nguyễn Thị Kiều Anh,

Vương Đức Cường, Vũ Sinh Nam, Phạm Thị

Minh Hằng, Trần Văn Tiến 2002 Giám sát,

chẩn đoán Viêm não Nhật Bản ở Việt Nam

(2000 – 2001), Tạp chí Y học dự phòng, tập

XII, số 4 (55 ), 2002, tr 5 – 11

2 Nguyễn Thị Hiền Thanh 2003 Bước

đầu tìm hiểu căn nguyên gây viêm màng não

ở trẻ em do một số virut đường ruột Tạp chí Y

học dự phòng, tập XIII, số 4 (61): 5-12

3 Boquan C and Sanju T 1996 Arbovirus survey in China in recent ten years Chinese Medical Journal, 109 (1): 13 – 15

4 Calisher C H., Shope R E., and Walton T.E 1988 Cell cultures for diagnosis

of Arbovirus infections in livestock and wildlife Journal of Tissue Culture Methods, Vol 11, No 3: 157 - 163

5 Chapon C., Cech T R., Zaug A J

1997 Polyadenylation of telomerase RNA in budding yeast RNA 3:1337 – 1351

6 Ha D Q., Calisher C H., Tien P H., Karabatsos N., and Gubler D J 1995 Isolation of a newly recognized Alphavirus from mosquitoes in Vietnam and evidence for human infection and disease Am J Trop Med Hyg 53 (1): 100 -104

7 Igarashi, A (1978) Isolation of singl’s Aedes Albopictus cell clone sensitive to Dengue and Chikungunyaviruses J Gen Virol 40: 531 – 544

8 Mackenzie J S., Chua K B., Daniels

P W., Eaton B T., field H E., Hall R A., Halpin K., Johansen C A., Kirkland P D., Lam S K., McMinn P., Nisbet D J., Paru R., Pyke A T., ritchie S A., siba P Smith d w., Smith G a., Hurk A F., Wang L F., Williams

D T 2001 Emerging viral Diseases of Southeast Asia and the Western Pacific Emerging Infectious Disease, Vol 7, No 3:497 – 504

Summary

Detection of new viral encephalitis from Cerebrospinal fluids

of acute encephalitis syndrome patients in North Vietnam

Two new Arbo viruses were isolated from cerebrospinal fluids of acute encephalitis syndrome patients in the North Vietnam in 2002 by C6/36 cells It was determined spherical, envelope and RNA virus The sequence of the virus did not homology with any known sequences that are available in the data bank Specific primer pair was designed for RT-PCR to examine unknown human and mosquito isolates in 2002 Four mosquito and 2 human isolates were confirmed positive by the primer pair indicating the virus to be a new Arbovirus Nam Dinh virus was named after patient’s locality Further study on serology, ultramorphology should be needed in order to have sufficient data to classify this new Arbovirus in Vietnam

Ngày đăng: 25/03/2014, 03:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hình ảnh chủng virut có ký hiệu 02VN208 đ−ợc phát hiện bằng kính hiển vi - Phát hiện Virus Viêm Não mới từ dịch não tủy của bệnh nhân có hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam pdf
Hình 1. Hình ảnh chủng virut có ký hiệu 02VN208 đ−ợc phát hiện bằng kính hiển vi (Trang 2)
Có ký hiệu 02VN193 và 02VN208. Hình thái - Phát hiện Virus Viêm Não mới từ dịch não tủy của bệnh nhân có hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam pdf
k ý hiệu 02VN193 và 02VN208. Hình thái (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w