VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LẠI THỊ HUỆ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP HÌNH SỰ CỦA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA Ở VIỆT NAM Ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội ph[.]
Trang 1TƯ PHÁP HÌNH SỰ CỦA CƠ QUAN CẢNH SÁT
ĐIỀU TRA Ở VIỆT NAM
Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 9 38 01 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Anh
Hà Nội, năm 2020
Trang 2TƯ PHÁP HÌNH SỰ CỦA CƠ QUAN CẢNH SÁT
ĐIỀU TRA Ở VIỆT NAM
Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 9 38 01 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dẫn liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về tất cả những dẫn liệu, kết quả nghiên cứu đó Luận án này chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
LẠI THỊ HUỆ
Trang 4MỤC LỤC Trang
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 9
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 30 Chương 2: Những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế phòng, chống tội
phạm, hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra
35
2.1 Những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế phòng, chống tội
phạm
35
2.2 Những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp
hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra
48
Chương 3: Thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng hoạt động
hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra
71
3.1 Khái quát tình hình có liên quan đến hợp tác quốc tế về tương
trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra
71
3.2 Thực trạng quy định của pháp luật về hợp tác quốc tế về
tương trợ tư pháp hình sự
83
3.3 Thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp
hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra
89
Chương 4: Dự báo tình hình và các giải pháp nâng cao hiệu hợp tác quốc
tế về tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra
ở Việt Nam trong phòng, chống tội phạm thời gian tới
122
4.1 Dự báo các yếu tố tác động đến hợp tác quốc tế về tương trợ
tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra 122 4.2 Các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
về tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra ở Việt Nam trong phòng, chống tội phạm thời gian tới
131
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ANTT : An ninh trật tự BCA : Bộ Công an BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CAND : Công an nhân dân CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CSĐT : Cảnh sát điều tra
CSND : Cảnh sát nhân dân HTQT : Hợp tác quốc tế
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TTHS : Tố tụng hình sự
TTTP : Tương trợ tư pháp TTTPHS : Tương trợ tư pháp hình sự VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc nghiên cứu một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống các vấn đề
lí luận và thực tiễn về hợp tác quốc tế (HTQT) trong hoạt động tương trợ tư pháp hình sự (TTTPHS) của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) ở Việt Nam
để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này là rất cần thiết bởi các lý do sau:
Thứ nhất, xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của thế giới, và ngày càng được xúc tiến nhanh, ngoại giao đa phương và song phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên thế giới Cho đến nay, Việt Nam là thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực; có quan hệ ngoại giao với 189 nước, quan hệ kinh tế với trên 230 nước và vùng lãnh thổ, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 3 nước, quan hệ đối tác chiến lược với 13 nước, đối tác toàn diện với 13 nước Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Việt Nam đã mở rộng và củng cố quan
hệ với trên 80 nước và nhiều tổ chức quốc tế, từng bước nâng cao hiệu quả hợp tác với các nước láng giềng và các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nga,
Ấn Độ, Nhật Bản Ngày 7/1/2016, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký Quyết định số 40/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Thứ hai, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
Quá trình hội nhập quốc tế đã mang lại những thuận lợi để cộng đồng quốc tế phát triển bền vững, nhưng đồng thời không ít những nguy cơ, thách thức đang đe dọa an ninh toàn cầu, trong đó đặc biệt là vấn đề tội phạm Đối với Việt Nam, tình hình tội phạm, trong đó tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm phi truyền thống, tội
Trang 7phạm sử dụng công nghệ cao gia tăng đáng kể về số vụ và mở rộng phạm vi hoạt động, tính chất thủ đoạn hoạt động mới, tinh vi xảo quyệt, hậu quả xảy ra nghiêm trọng và tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp khó lường, …
Trước yêu cầu đó, HTQT về TTTPHS là một biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trở thành yêu cầu cấp thiết của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam nói chung, Cơ quan CSĐT nói riêng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh - trật tự của đất nước
Thứ ba, thực trạng HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT
Thời gian qua, Cơ quan CSĐT đã coi trọng và thực hiện bước đầu có hiệu quả HTQT về TTTPHS giữa Việt Nam với các quốc gia theo quy định của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập Mỗi năm tiếp nhận thực hiện và đề nghị phía nước ngoài thực hiện khoảng 300 yêu cầu TTTPHS Kết quả hoạt động này đã góp phần giải quyết nhiều vụ án hình sự, nhất là các vụ án thuộc tội phạm xuyên quốc gia Tuy nhiên, hoạt động này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc hạn chế đến hiệu quả phòng chống tội phạm như: hệ thống điều ước quốc tế cũng như pháp luật trong nước chưa đầy đủ, đồng bộ; sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia;
cơ chế phối hợp, ràng buộc giữa các quốc gia; nội dung yêu cầu tương trợ có những trường hợp còn chung chung, thiếu cụ thể, thiếu chính xác về địa danh, tên, thông tin khác; chất lượng dịch thuật tài liệu có trường hợp chưa chính xác; thực hiện yêu cầu tương trợ thường mất nhiều thời gian trong khi việc giải quyết các vụ án hình sự phải tuân thủ thời hạn luật định …
Thứ tư, hệ thống điều ước quốc tế và pháp luật trong nước
Việt Nam đã tích cực kí kết, tham gia nhiều điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực HTQT về TTTPHS Tuy nhiên, các hiệp định song phương về TTTPHS còn ít Có những hiệp định ký đã lâu, từ những năm 1980 nên đến nay có những quy định không còn phù hợp Có các hiệp định chung gồm nhiều lĩnh
Trang 8vực (hình sự, dân sự, lao động, gia đình) đã ký trước năm 2000 không còn phù hợp với thực tiễn cần tách ra thành hiệp định riêng
Luật TTTP năm 2007 đã thi hành được 12 năm, quá trình thực tiễn thực hiện thấy còn những vướng mắc, bất cập cần được nghiên cứu, tổng kết Cụ thể: Luật điều chỉnh cả 04 lĩnh vực TTTP về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao là chưa phù hợp; phạm vi tương trợ về hình sự còn hạn chế, chưa phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; chưa quy định về trình tự, thủ tục cam kết không áp dụng hình phạt
tử hình và một số nội dung yêu cầu cụ thể thường gặp Hiện nay, Bộ Tư pháp đang dự thảo đề xuất Chính phủ về định hướng sửa đổi Luật TTTP
Hệ thống văn bản trong nước hướng dẫn thực hiện hoạt động TTTP chưa đầy đủ, cụ thể dẫn đến việc thực hiện của các cơ quan chức năng còn gặp lúng túng, khó khăn
Từ những luận giải trên, tác giả chọn đề tài: “Hợp tác quốc tế về tương
trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra ở Việt Nam” làm đề tài
luận án Tiến sỹ, chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, mã số
về TTTPHS của Cơ quan CSĐT trong CAND từ 1/7/2008 đến 31/12/2019; từ
đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Trang 9Thứ nhất, thu thập, hệ thống hoá các công trình khoa học về HTQT
phòng, chống tội phạm, TTTPHS có tính tiêu biểu, chọn lọc; phân tích, đánh giá các tài liệu này theo những nội dung cụ thể và đưa ra các bình luận về xu hướng nghiên cứu trong thời gian qua;
Thứ hai, luận giải những vấn đề lý luận chung về hoạt động HTQT
phòng, chống tội phạm, HTQT về TTTPHS: khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm, nội dung, chủ thể ;
Thứ ba, phân tích làm rõ thực trạng quy định của pháp luật và thực
trạng hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam từ năm 2008 đến 31/12/2019, làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế;
Thứ tư, dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lý luận về HTQT về TTTPHS và thực trạng hoạt động HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án xác lập phạm vi nghiên cứu gồm:
Thứ nhất, trong phạm vi lý luận, luận án tiếp cận hoạt động HTQT về
TTTPHS dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Thứ hai, trong phạm vi thực tiễn, luận án tiếp cận hoạt động HTQT về
TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam trong giai đoạn 12 năm, từ 1/7/2008 (khi Luật TTTP năm 2007 có hiệu lực) đến 31/12/2019
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Trang 10Luận án nghiên cứu HTQT về TTTPHS theo cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và đa ngành, liên ngành tội phạm học, luật học
Cụ thể:
Thứ nhất, luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của
Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp hài hoà với các học thuyết, quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam trong toàn bộ cấu trúc nghiên cứu của luận án
Thứ hai, luận án kết hợp sử dụng các phương pháp luận, phương pháp
nghiên cứu và lý luận về tội phạm học để phân tích các mối quan hệ: tình hình tội phạm tác động đến HTQT về TTTPHS; HTQT về TTTPHS là biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm Kết hợp sử dụng các phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và lý luận về luật học trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các quy phạm pháp luật của Việt Nam, điều ước quốc tế và thực tiễn thực hiện hoạt động TTTPHS
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh sẽ sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu thực định, tội phạm học, luật học, xã hội học để tiếp cận nghiên cứu và chứng minh các vấn đề đặt ra đối với luận án Nghiên cứu sinh
dự kiến sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: phương pháp dùng để thu thập, xử lý và phân tích các số liệu (mặt lượng) về tội phạm xuyên quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam; về hoạt động HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam giai đoạn 2008 đến 31/12/2019 để tìm hiểu được bản chất (mặt chất) của tình hình tội phạm và công tác này
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: tổng kết thực tiễn hoạt động HTQT
về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam Thông qua các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này
Trang 11Phương pháp phân tích, tổng hợp: từ các thông tin, tài liệu thu thập được, tiến hành phân tích làm rõ tình hình tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm
có yếu tố nước ngoài, thực trạng hoạt động HTQT về TTTPHS Thông qua việc phân tích để tổng hợp lại kết quả đạt được, những hạn chế
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu, đánh giá các tài liệu có liên quan đến luận án phục vụ cho việc xây dựng luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn cho đề tài luận án
Phương pháp chuyên gia: tổ chức lấy ý kiến một số nhà khoa học có chuyên môn sâu về lĩnh vực nghiên cứu để bổ sung, hoàn chỉnh kết quả nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu điển hình: ngoài việc nghiên cứu chung, luận
án còn tập trung nghiên cứu những yêu cầu TTTPHS điển hình và cách giải quyết để rút ra những đặc điểm đặc trưng và xu hướng của hoạt động này
Phương pháp trao đổi, tọa đàm: tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi để thu thập thông tin từ cán bộ của các cơ quan chức năng có nhiều kinh nghiệm trong HTQT về TTTPHS
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn được luận giải, phân tích, tổng hợp, đánh giá là đóng góp chính của luận án Cụ thể những đóng góp mới bao
gồm: Thứ nhất, phân tích sâu sắc hơn về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung, mục đích của HTQT phòng, chống tội phạm Thứ hai, phân tích sâu sắc
hơn về khái niệm, chủ thể, nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ, kênh thực hiện,
thủ tục áp dụng, của HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT Thứ ba, đánh
giá rõ hơn thực trạng quy định của pháp luật, thực trạng kết quả, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế của HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT trong 12 năm qua Đây là phạm vi nghiên cứu mới về thời gian, không gian,
chủ thể Thứ tư, dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần
Trang 12nâng cao hiệu quả hoạt động HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam trong thời gian tới, trong đó kiến nghị xây dựng Luật TTTPHS là một ngành luật riêng
Trên cơ sở nghiên cứu các điều ước quốc tế, văn bản pháp luật và công trình nghiên cứu có liên quan, Luận án đưa ra nhận thức về khái niệm HTQT
về TTTPHS của Cơ quan CSĐT; nguyên tắc, nội dung, chủ thể, nhiệm vụ, kênh thực hiện, thủ tục áp dụng một số hoạt động cụ thể trong thực hiện HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT với tính chất là nội dung, biện pháp phòng, chống tội phạm
Với những kết quả nghiên cứu này, tác giả mong muốn góp phần hình thành xu hướng nghiên cứu HTQT về TTTPHS là một lĩnh vực cần thiết, quan trọng trong khoa học tội phạm học ở nước ta hiện nay, nhất là trong thời
kỳ hội nhập quốc tế Các vấn đề mà luận án đề cập đến và giải quyết mang tính tổng quát, cô đọng về mặt lý luận và cụ thể về mặt thực tiễn, do đó, nếu đạt được sự ủng hộ của các nhà khoa học, những kết quả này sẽ có khả năng làm cơ sở cho việc triển khai các nghiên cứu chuyên sâu hơn các vấn đề về HTQT về TTTPHS thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Các kết quả nghiên cứu sẽ làm giàu có và phong phú hơn hệ thống tri thức, hiểu biết về lĩnh vực HTQT phòng, chống tội phạm, HTQT về TTTPHS; góp phần hoàn thiện lý luận về các hoạt động này
Trang 13tới; từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở nước ta…
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
bố cục gồm có 4 chương, 11 mục và các tiểu mục Bốn chương gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm,
hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra
Chương 3: Thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng hợp tác quốc tế
về tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Chương 4: Dự báo tình hình và các giải pháp nâng cao hiệu hợp tác quốc tế
về tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong phòng, chống tội phạm
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong xu thế hội nhập quốc tế, hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm thì vấn đề HTQT về TTTPHS được hầu hết các quốc gia quan tâm thúc đẩy, đều có những nghiên cứu cũng như quy định của pháp luật về vấn đề này Tuy nhiên, do sự khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và nhất
là hệ thống pháp luật, chính sách hình sự và vấn đề chủ quyền quốc gia, nên mỗi quốc gia có những quy định pháp luật cũng như quan niệm, cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động này không giống nhau Hoạt động HTQT về TTTPHS không đơn giản chỉ là một nội dung của nghĩa vụ HTQT mà chính là hoạt động đối ngoại của của nhà nước thể hiện chủ quyền quốc gia Việc chấp thuận hay từ chối thực hiện và nội dung, mức độ, thủ tục thực hiện HTQT về TTTPHS phụ thuộc phần lớn vào ý chí chủ quyền của quốc gia được yêu cầu
Vấn đề HTQT trong lĩnh vực TTTPHS rất rộng, được nhiều nhà khoa học và các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Trong luận án này, nghiên cứu sinh đề cập đến các khía cạnh nghiên cứu thông qua các tác phẩm mà cá nhân tiếp cận được Theo đó, tập trung nghiên cứu các công trình mang tính chất phổ biến rộng rãi của Văn phòng Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm (UNODC) và một số tác giả trên thế giới Có thể kể đến các công trình sau:
Sách: “The theory and practice of international criminal law” (Lý luận
và thực tiễn về pháp luật hình sự quốc tế), các tác giả Leila Nadya Sadat và
Michael P Schart, của NXB Martinus Nijhoff, Hoa Kỳ, năm 2008 Cuốn sách gồm tập hợp các bản luận văn về pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật quốc tế trên các lĩnh vực như: các hoạt động chống chủ nghĩa khủng bố,
Trang 15chống tra tấn và các tội phạm tàn bạo khác; bí mật giam giữ, bí mật sự đầu hàng và cưỡng bức mất tích trong “chiến tranh” chống khủng bố thời kỳ Tổng thống Bush; đường tới kỷ nguyên của trách nhiệm; ICC và sự thay đổi của pháp luật quốc tế; ICC và Công-gô: từ lý luận đến thực tiễn; tội phạm chống loài người: kế hoạch quốc gia hay yếu tố chính sách; sử dụng pháp luật quốc
tế về bảo vệ quyền con người trong bảo vệ nạn nhân bị buôn bán, cưỡng bức
nô lệ, cưỡng bức tình dục, cưỡng bức lao động và sự tù tội
Sách: “Fighting Terrorism and Drugs - Europe and International Police cooperation” (Đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố và ma túy - Sự hợp tác của Cảnh sát quốc tế và châu Âu), tác giả Jorg Friedrichs, của NXB
Routledge, Vương quốc Anh, năm 2008 Cuốn sách đã nghiên cứu việc áp dụng điều ước thông qua sự hợp tác quốc tế của cảnh sát, vấn đề mà các chính phủ mong muốn thông qua sự hợp tác quốc tế của cảnh sát, khi mà việc đó có thể ảnh hưởng đến sự độc quyền của họ trong việc sử dụng vũ lực một cách hợp pháp và khi mà các các yếu tố liên quan đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ lại đóng vai trò thứ hai
Bài viết: “International cooperation against transnational organized crime: Extradition and mutual legal assistance in criminal matters” (Hợp tác quốc tế chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia: Dẫn độ và tương trợ tư pháp về hình sự”, tác giả Matti Joutsen, Trưởng phòng Đối ngoại Bộ Tư pháp
Phần Lan: bài viết phân tích về hoạt động dẫn độ và TTTP về hình sự là hai công cụ cơ bản của hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề về hình sự Việc điều tra và truy tố các vụ án chống lại người bị tình nghi tham gia tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia luôn gặp nhiều khó khăn Đó là những khó khăn khi
xử lý vụ việc mà nghi can, nạn nhân, chứng cứ, nhân chứng, vấn đề mấu chốt hoặc hồ sơ tội phạm nằm ngoài thẩm quyền xét xử Điều này dẫn đến việc các
vụ án này có thể bị gạt sang một bên và “quên lãng”, với hi vọng rằng các cơ
Trang 16quan thẩm quyền của quốc gia khác có thể sẽ giải quyết được vụ việc Từ đó cho thấy việc HTQT giữa các quốc gia trong việc điều tra, truy tố tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia đã trở thành hết sức cần thiết, trong đó dẫn độ và TTTPHS trở thành hai công cụ chính để giải quyết vấn đề này
Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition (2012): Nguồn UNODC “Sổ tay về Tương trợ tư pháp và dẫn độ năm 2012”: Sổ tay này
nhằm đưa ra trong yêu cầu của Nghị quyết 5/8 tại Hội nghị các quốc gia thành viên có tiêu đề “Thực hiện các quy định về HTQT của Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” Trong nghị quyết này, UNODC đã trực tiếp phát triển một hướng dẫn để tạo thuận lợi trong việc soạn thảo, truyền tải và thực hiện các yêu cầu dẫn độ và TTTP Sổ tay này hướng tới các cơ quan trung ương hoặc các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia, các nhà hoạch định chính sách và những người thực thi pháp luật hình sự bao gồm các luật sư, điều tra viên, thẩm phán và quan tòa, những người có liên quan đến việc TTTP quốc tế
Manual on International Cooperation in Criminal Matters related to Terrorism (2009): Nguồn UNODC “Sổ tay về Hợp tác quốc tế trong giải quyết các vấn đề hình sự liên quan đến khủng bố năm 2009”: Mục tiêu của
cuốn sổ tay này nhằm hướng dẫn những chuyên gia pháp lý trong đấu tranh chống khủng bố có được hành động hiệu quả và nhanh chóng hơn Bên cạnh
đó, cuốn sổ tay cung cấp cho người đọc những câu trả lời liên quan tới các công cụ mà họ có thể sử dụng hoặc các hình thức liên quan để HTQT về vấn
đề dẫn độ và TTTP, cũng như đưa ra những bài học thực tế về những khó khăn và trở ngại mà họ có thể phải đối mặt Cuốn sổ tay cũng dự kiến được sử dụng như một công cụ trong việc đào tạo những chuyên gia pháp lý trong đấu tranh chống khủng bố
Trang 17Counter-Terrorism Legal Training Curriculum: Module 3: International Cooperation in Criminal Matters: Nguồn UNODC “Chương trình đào tạo pháp lý về chống khủng bố Bài giảng số 3: Hợp tác quốc tế trong các vấn đề hình sự”:Chương trình đào tạo là nền tảng để đưa ra những
kiến thức và chuyên môn cần thiết để tăng cường năng lực cho những cán bộ trong nước làm việc trong lĩnh vực tư pháp hình sự nhằm thực hiện khung pháp lý phổ quát về chống khủng bố Bài giảng số 3 của chương trình đào tạo tập trung vào vấn đề HTQT trong các vấn đề hình sự, đặc biệt là TTTP và dẫn
Bài viết “Evaluating mlats in the era of online criminal conduct”
(Đánh giá các hiệp định tương trợ tư pháp trong kỷ nguyên tội phạm mạng), tác giả Shalini S thuộc Trung tâm quản lý Viễn thông Ấn Độ, Nhóm nghiên cứu loạt bài viết CCG (năm 2015 – 2016) Bài viết nhấn mạnh vai trò quan trọng của các hiệp định TTTP trong quá trình điều tra, truy tố các vụ án hình
sự có yếu tố nước ngoài Tác giả chỉ ra những khó khăn trong việc sử dụng các hiệp định TTTP để thu thập thông tin, chứng cứ, dữ liệu điện tử: nguyên tắc tội phạm kép; tính kịp thời trong việc cung cấp kết quả tương trợ Từ đó, tác giả đề xuất các hiệp định TTTP trong kỷ nguyên tội phạm mạng cần đáp ứng đòi hỏi sau: Đơn giản hóa, giải quyết trực tiếp và kịp thời các yêu cầu
Trang 18tương trợ; các cơ quan thực thi pháp luật mỗi nước cần chủ động xác định, lưu giữ hay quả lý kho dữ liệu thông tin điện tử mà các quốc gia khác có thể cần thu thập; cần phải có thiện chí chính trị giữa các quốc gia trong việc dành cho nhau sự tương trợ
Bài viết “The mutual legal assistance problem explained” (Giải thích
những vấn đề tồn tại của hoạt động tương trợ tư pháp), tác giả Gail Kent, nguồn trang web của Trung tâm về Xã hội và Internet Hoa Kỳ ngày 23/02/2015 Tác giả cho rằng để giải quyết các vụ tội phạm mạng, chỉ riêng
hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là chưa đủ mà cần sự hỗ trợ của các hệ thống pháp luật quốc gia khác thông qua hoạt động TTTP Tuy nhiên, kênh TTTP còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thu thập chứng cứ ở nước ngoài: Việc thực hiện tương trợ phải áp dụng đồng thời nhiều hệ thống pháp luật; quá trình thực hiện tương trợ kéo dài; yêu cầu tương trợ đòi hỏi thỏa mãn nguyên tắc tội phạm kép; việc thực hiện tương trợ có thể phải tiếp cận dữ liệu
cá nhân, bí mật đời tư của công dân, do đó sẽ vi phạm các quyền công dân được pháp luật bảo vệ
Các công trình nghiên cứu trên chưa thể khái quát được tình hình nghiên cứu nước ngoài về HTQT trong lĩnh vực TTTPHS nhưng bước đầu đã gợi mở những luận điểm mang tính phương pháp luận, đã đóng góp giá trị khoa học không nhỏ như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết thúc đẩy hoạt
động HTQT nói chung, hoạt động TTTPHS nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa Đây là công cụ, biện pháp quan trọng để các nước cùng hợp tác đấu tranh chống tội phạm
Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã làm rõ khung pháp lý của HTQT
về TTTPHS: điều ước quốc tế, nội luật của các nước và một số định hướng hoàn thiện khung pháp lý này
Trang 19Thứ ba, một số công trình nghiên cứu đã đánh giá, phân tích những khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động TTTPHS, qua đó đưa ra một số giải pháp khắc phục
Thứ tư, các công trình nghiên cứu cho thấy giá trị của nghiên cứu
HTQT về TTTPHS trong việc phân tích, định hướng các xu hướng phát triển của hoạt động này trong bối cảnh toàn cầu hóa của thế giới
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm
Hiện nay, các nghiên cứu về HTQT phòng, chống tội phạm trên cả phương diện lý luận và thực tiễn chưa nhiều Chúng ta chủ yếu trao đổi trên nguyên tắc hợp tác chung trong khuôn khổ các công ước quốc tế, nghị định thư, nghị quyết của Liên Hợp quốc, các thoả thuận khu vực, đa phương, song phương, trong các văn kiện của Liên Hợp quốc, Cảnh sát Hình sự quốc tế (Interpol), các hội nghị, hội thảo phòng chống tội phạm quốc tế, khu vực mới chỉ đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm chung chung, chưa chú trọng đến các biện pháp cụ thể nên hiệu quả chưa cao Việc ký kết, tham gia các công ước quốc tế, hiệp định TTTP, nghị định thư như là các công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý, về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, phòng chống tham nhũng, chống khủng bố của Việt Nam mới chỉ là những cơ sở pháp lý cơ bản, chưa được cụ thể hoá và tính khả thi chưa cao Mặt khác, sự khác biệt về điều kiện chính trị, kinh tế, địa lý cũng như tổ chức hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp, khác biệt trong tổ chức, nhiệm
vụ quyền hạn của lực lượng chức năng Việt Nam với các nước trong phòng chống tội phạm nói chung, HTQT phòng, chống tội phạm nói riêng và để giải quyết hài hoà giữa yêu cầu tăng cường HTQT phòng, chống tội phạm với việc giữ gìn bí mật an ninh quốc gia và bảo vệ chủ quyền quốc gia trong điều kiện
Trang 20gia nhập WTO đang là những vấn đề cần phải làm rõ trong HTQT phòng, chống tội phạm
Một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:
PGS.TS Nguyễn Phong Hòa có hai tác phẩm: Tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong quá trình hội nhập quốc tế, sách chuyên khảo, nxb CAND, 2011; và
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm của lực lượng CSND trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài
khoa học cấp Bộ trọng điểm, 2015 Hai công trình nghiên cứu trên nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của hoạt động HTQT trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng CSND gồm: tính tất yếu khách quan, khái niệm, cơ sở pháp lý, đặc trưng, nguyên tắc cơ bản, nội dung, hình thức, biện pháp Hai công trình đã đưa ra khái niệm “HTQT đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng CSND Việt Nam là quá trình hợp tác, thoả thuận, trao đổi, thống nhất hành động trong những chương trình chung theo các điều ước quốc tế giữa hai hay nhiều quốc gia (với tư cách Chính phủ hay Bộ, Ngành -
Bộ Công an hoặc Tư pháp, Nội vụ…) được đảm bảo bằng pháp luật quốc tế; góp phần hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các bên tham gia hợp tác nhằm thực hiện và giải quyết mục đích, nhiệm vụ và kế hoạch có tính pháp lý được đặt ra trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.” [24; tr.36], [52; tr.42] Về cơ bản, khái niệm trên đã phản ánh những dấu hiệu bản chất HTQT trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng CSND Việt Nam; xác định được chủ thể của quan hệ hợp tác là hai hoặc nhiều quốc gia; xác định được thuộc tính của quan hệ hợp tác; nội dung và mục đích của quan hệ hợp tác phòng, chống tội phạm Đã xác định 5 đặc trưng cơ bản của HTQT phòng, chống tội phạm của lực lượng CSND Việt Nam gồm: (1) Là mối quan hệ trực tiếp thông qua các hiệp định, biên bản ghi nhớ giữa Bộ Công an, Nội vụ, Cảnh sát các nước,
Trang 21Cảnh sát quốc tế và quan hệ “phát sinh” qua con đường ngoại giao; qua TTTPHS, dẫn độ tội phạm; qua Bộ Tư pháp, VKSNDTC (2) Vì mục đích của từng quốc gia và của các quốc gia có quan hệ hợp tác (3) Mang tính đa dạng với nhiều hình thức, luôn gắn với quản lý nhà nước về ANTT, trong các lĩnh vực: trao đổi thông tin, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, hoạt động tố tụng hình sự, hợp tác TTTP, dẫn độ tội phạm, chuyển giao phạm nhân (4) Cần có
kế hoạch hoặc đề án chung thống nhất để đảm bảo có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm (5) Góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội, kiên trì giữ vững nguyên tắc mềm dẻo trong sách lược, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia, quyền, lợi ích của đất nước, của công dân Việt Nam
Học viện CSND, Trung tâm nghiên cứu tội phạm học, Giáo trình “Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm”, nxb CAND, 2014 Giáo trình đã
nghiên cứu lý luận về HTQT phòng, chống tội phạm ở các khía cạnh: khái niệm, lịch sử hình thành phát triển, mục đích, vai trò, cơ sở pháp lý, chủ thể, phạm vi, nguyên tắc, trình tự thủ tục thực hiện Về khái niệm, giáo trình đã nhận định ở góc độ phản ánh những dấu hiệu bản chất của HTQT trong phòng, chống tội phạm, xác định chủ thể, các thuộc tính, nội dung và mục đích của hợp tác Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập, giáo trình đã đưa ra 4 nguyên tắc mà HTQT phòng, chống tội phạm phải tuân thủ: phù hợp với chính sách đối ngoại của nhà nước; tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế; phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Trang 22ThS Chử Văn Dũng (2010), Hoạt động Interpol trong thực hiện tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội
Công trình nghiên cứu đã đưa ra một số nhận thức lý luận chung về: HTQT là yêu cầu bức thiết trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay; TTTPHS
và dẫn độ tội phạm trong HTQT phòng, chống tội phạm; hoạt động Interpol trong thực hiện TTTPHS và dẫn độ Tác giả đánh giá "Hoạt động Interpol là một thực tiễn HTQT trong phòng, chống tội phạm hiệu quả không chỉ đối với Việt Nam mà còn phổ biến đối với nhiều quốc gia trên thế giới Vai trò của Interpol ngày càng tăng và có tác dụng to lớn trong quá trình hỗ trợ, giải quyết và thực hiện TTTPHS và dẫn độ tội phạm, cũng như là biện pháp để tăng cường nâng cao hiệu quả của HTQT trong phòng, chống tội phạm ở Việt Nam." [18; tr.203-204] Tác giả nhận định một số tồn tại, hạn chế của hoạt động này ở các vấn đề: giá trị pháp lý không phải lúc nào cũng được thừa nhận, một số trường hợp sử dụng hoạt động Interpol chỉ như là thủ tục kín hồ
sơ, như là biện pháp trung gian nên chưa được coi trọng Từ đó, tác giả đề ra các nhóm giải pháp: hoàn thiện cơ sở pháp lý; tăng cường tổ chức, bộ máy, nguồn nhân lực và đào tạo cán bộ; xây dựng và hoàn thiệt quy chế phối hợp giữa Văn phòng Interpol Việt Nam và các đơn vị liên quan; tăng cường hoạt động Interpol; tăng cường quan hệ quốc tế giữa Văn phòng Interpol Việt Nam với Tổng hành dinh Interpol và Văn phòng Interpol các quốc gia
Bùi Anh Dũng (2005), Hợp tác quốc tế của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam với Cảnh sát nước ngoài trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Nội
dung của đề tài luận án này có một số nội dung mà đề tài có thể tham khảo được như các khái niệm, nguyên tắc, nội dung, hình thức, cơ sở pháp lý về HTQT phòng, chống tội phạm của lực lượng CSND Tuy nhiên nghiên cứu trước đây chưa làm rõ được vị trí, vai trò, tác động của HTQT góp phần đảm
Trang 23bảo ANTT, phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế chưa được đánh giá đầy đủ, đặc trưng của từng loại văn bản liên quan trong HTQT phòng, chống tội phạm và các vướng mắc trong hợp tác với các nước trong phòng, chống tội phạm
Nguyễn Thành Long (2015), Phòng, chống tội phạm trên tuyến biên giới Tây Nam Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội Luận án đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về phòng, chống tội phạm nói chung, lý luận về phòng, chống tội phạm buôn lậu nói riêng Luận
án đã khảo sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá trình hình tội phạm và tình hình hoạt động phòng, chống loại tội phạm này trên tuyến biên giới Tây Nam, trong đó đã khẳng định những thành công, kết quả đạt được của hoạt động phòng, chống tội phạm này đã góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên toàn tuyến và các địa phương lân cận mặc dù vẫn còn một số hạn chế, tồn tại
Từ đó, luận án đề ra các giải pháp phòng, chống tội buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Nam trong thời gian tới gồm 2 nhóm: nhóm biện pháp loại trừ và nhóm biện pháp ngăn chặn Trong đó, luận án đề cập đến biện pháp "Tăng cường HTQT phòng, chống tội buôn lậu trên nguyên tắc phù hợp với pháp luật hiện hành của nước ta và pháp luật quốc tế, phù hợp với chương trình chống buôn lậu của Liên hợp quốc, của tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol) và tổ chức Cảnh sát các nước ASEAN (Aseanpol)" [33; tr.43]
Nguyễn Mai Trâm, (2017), Phòng, chống tội phạm mua bán người tại Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Luận án đã
nghiên cứu về tội mua bán người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành Luận án đi sâu phân tích, tổng hợp, đánh giá tình hình tội phạm mua bán người ở Việt Nam, nhận định về nguyên nhân và điều kiện của tình hình đó Từ đó, luận án đưa ra các giải pháp phòng, chống tội phạm mua bán người, trong đó có giải pháp về HTQT gồm: tăng cường ký kết các hiệp
Trang 24định đa phương, song phương; xây dựng các văn bản nội luật hóa; xây dựng
cơ chế hợp tác về phòng, chống tội phạm mua bán người giữa Việt Nam với các nước; đào tạo cán bộ; xây dựng và mở rộng mạng lưới sỹ quan liên lạc ở nước ngoài
Lê Quang Thành, (2016), Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật
học, Học viện Khoa học xã hội Luận án đã đánh giá tình hình, nguyên nhân
và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện
ở Việt Nam và thực tiễn hoạt động phòng, chống tội phạm này Qua đó, luận
án đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này Trong đó có giải pháp củng cố và tăng cường HTQT phòng, chống tội phạm trong tình hình mới gồm các nội dung: thực hiện tốt các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế
đã ký kết, gia nhập; tăng cường đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế với các nước lãng giềng, các nước có động người Việt sinh sống; tranh thủ sự giúp đỡ
về khoa học kỹ thuật của các nước
Trần Phương Đạt (2000), Hoạt động của Công an nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người nước ngoài gây ra ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ
luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Đề tài này chủ yếu đề cập đến phòng ngừa tội phạm do người nước ngoài gây ra ở Việt Nam, trong đó có đề cập đến một số đề xuất tăng cường HTQT của lực lượng Cảnh sát Việt Nam trong phòng ngừa tội phạm do người nước ngoài gây ra
Cục Đối ngoại – Bộ Công an, “Interpol - những điều cần biết”, Nxb
CAND, 2017 Sách chuyên khảo giới thiệu tổng quan về Interpol (lịch sử, cơ cấu, nhiệm vụ, điều lệ,…), Đại hội đồng Interpol Sách đề cập đến công tác phòng, chống tội phạm của Interpol ở các khía cạnh: vai trò của Interpol, mạng lưới I-24/7, các lĩnh vực tội phạm ưu tiên, hệ thống cơ sở dữ liệu, các
Trang 25chiến dịch, dự án, chương trình của Interpol; cơ chế hợp tác của Interpol và các đối tác; Interpol Việt Nam và hướng dẫn xử lý thông tin tội phạm
Phạm Quý Ngọ, “Công tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong tình hình mới”, Tạp chí Cộng sản, 2010 Bài viết nhận diện tội phạm
xuyên quốc gia và thực trạng tình hình tội phạm xuyên quốc gia ở Việt nam;
đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia ở Việt Nam
Nguyễn Khắc Hải, “Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người tại Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia
Hà Nội, tập 29, số 1 (2013), tr.20-26 Bài viết đi sâu vào thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến hợp tác khu vực và HTQT phòng, chống mua bán người, đề ra những giải pháp đối với hoạt động này tại Việt Nam
Nguyễn Thị Mai Nga, “Hợp tác quốc tế phòng, chống ma túy và tình hình phòng, chống tội phạm ma túy ở một số quốc gia”, Tạp chí Kiểm sát, số
11/2006 Bài viết đánh giá tình hình ma túy ở một số quốc gia: Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Myanma và vấn đề hợp tác của Chính phủ Việt Nam với tổ chức quốc tế, các quốc gia này trong phòng, chống ma túy
Việt Hưng, “Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia”, báo CAND, 23/8/2015 Trước những biến động phức tạp của tình
hình thế giới và khu vực, lực lượng CAND Việt Nam tiếp tục triển khai hiệu quả hoạt động đối ngoại, HTQT, tạo dựng thế trận an ninh nhân dân phòng tuyến bảo vệ an ninh trật tự từ xa, góp phần quan trọng vào những thành tựu đối ngoại của đất nước
Ngoài ra, có một số tác phẩm, bài viết về các vấn đề liên quan đến
HTQT phòng, chống tội phạm như: Phạm Hỗ (2003), Tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội; Tổng cục Cảnh sát (1999), Dẫn độ tội phạm và
Trang 26TTTPHS trong phòng, chống tội phạm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội; Nguyễn Xuân Yêm (1994), Tội phạm quốc tế - những bàn tay bạch tuộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đình Đường, “HTQT trong đấu tranh phòng chống tội phạm”, Báo Nhân dân điện tử, 12/8/2005; “Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm”, Trang điện tử ANTV, 23/2/2015; Nguyễn Thị Nga, “HTQT trong phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường biển”, Trang điện
tử Cảnh sát nhân dân, 23/4/2017; Đặng Xuân Khang, “HTQT trong phòng, chống tội phạm giữa Việt Nam và Ấn Độ trong bối cảnh hội nhập quốc tế”,
Trang điện tử Ho Chi Minh national academy of politics, 23/12/2016 Một số
bài viết của PGS.TS Trần Hữu Ứng gồm: Vấn đề tội phạm có tổ chức trong cộng đồng người Việt Nam ở Cộng hoà Liên bang Đức, Tạp chí trật tự an toàn
xã hội số 4, 1997, tr.14-16; Ý tưởng về mạng lưới sỹ quan liên lạc của Cảnh sát Việt Nam trong tương lai, Tạp chí Trật tự an toàn xã hội, số 8-9, 1997, tr.47-50; Về phòng, chống tội phạm do người Việt Nam gây ra ở Cộng hoà Liên bang Đức, Tạp chí Cảnh sát nhân dân, số 3, 1997, tr.24-26; Hợp tác quốc tế đấu tranh chống tội phạm, một yêu cầu bức xúc, Tạp chí Cộng sản, số
4, 1998; Vài suy nghĩ về HTQT đấu tranh chống tội phạm có tổ chức do người Việt Nam thực hiện ở nước ngoài, Tạp chí Luật học, số 12, 1998, tr.30-34 1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự
Đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả HTQT về TTTPHS Các công trình nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quan niệm, khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, phạm vi, chủ thể, cơ sở pháp lý của HTQT về TTTPHS chủ yếu
là các sách giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo về hoạt động HTQT Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả HTQT về TTTPHS thì
Trang 27ngoài các báo cáo tổng kết công tác của các đơn vị chức năng, thì chủ yếu là một số sách chuyên khảo, luận văn Thạc sĩ Trong các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến những vấn đề này ở những mức độ, khía cạnh khác nhau Cụ thể như:
Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp “Pháp luật tương trợ tư pháp quốc tế”, nxb Tư pháp, 2006; với mục đích là tài liệu tham khảo xây dựng dự án
Luật tương trợ tư pháp, công trình nghiên cứu đã phân tích về các vấn đề về TTTP nói chung ở nhiều lĩnh vực (dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hình sự, dẫn độ) gồm: tổng quan, các quan niệm, phạm vi điều chỉnh của pháp luật, các điều ước quốc tế quan trọng về vấn đề này Công trình đã khẳng định sự cần thiết của các hoạt động TTTP ở Việt Nam: "TTTP đang ngày càng trở thành hoạt động không thể thiếu được của cơ quan tư pháp bất
kỳ quốc gia nào" [90; tr.31]; "TTTP trong các vụ việc có yếu tố nước ngoài là một hoạt động không thể thiếu được của bất kỳ Tòa án và cơ quan tư pháp nào của nước ta" [90; tr.32] Công trình đã đánh giá sơ lược thực tiễn TTTP ở một số nước: các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Đông Âu) nửa cuối thế kỉ
20, các nước tư bản công nghiệp phát triển (một số nước Bắc Âu) ở những thập kỉ cuối của thế kỉ 20 Tác phẩm nêu quá trình hình thành và phát triển của hoạt động TTTP ở Việt Nam từ khi thành lập nước đến những năm 2000;
đã đi vào đánh giá một số lính vực TTTP về: dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hình sự, dẫn độ
Nguyễn Ngọc Anh, sách chuyên khảo Tương trợ tư pháp về hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CAND, 2009, đã nghiên cứu những
vấn đề lý luận cơ bản về TTTPHS, phân tích, đánh giá những yếu tố tác động đến TTTPHS ở Việt Nam, thực trạng cơ sở pháp lý, tổ chức thực hiện TTTPHS ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2008; dự báo các yếu tố tác động đến thực hiện TTTPHS giữa Việt Nam với các nước đến năm 2020; đề
Trang 28ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả TTTPHS ở Việt Nam như: hoàn thiện
cơ sở pháp lý, tổ chức thực hiện có hiệu quả điều ước quốc tế về TTTPHS, xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp và quy trình công tác, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật
Bộ Tổng chưởng lý Australia, Bộ Tư pháp Việt Nam, Cẩm nang hướng dẫn Luật tương trợ tư pháp, nxb Bộ Tư pháp, 2010, tại phần nêu sự cần thiết
ban hành Luật TTTP đưa ra nhận định TTTP là một đòi hỏi khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, là hoạt động không thể thiếu của Tòa án và các cơ quan tư pháp Việt Nam Trong đó, tác phẩm đã sơ lược về tình hình HTQT, các vụ việc pháp lý phát sinh cần có sự hỗ trợ, hợp tác của các cơ quan pháp luật và tư pháp các nước liên quan từ những năm 1970 đến những năm đầu của thế kỉ 21
PGS.TS Nguyễn Phong Hòa (chủ biên), sách chuyên khảo Tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong quá trình hội nhập quốc tế, nxb CAND, 2011; tác phẩm
nghiên cứu về lý luận của hoạt động HTQT nói chung trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Trong đó nghiên cứu TTTP ở khía cạnh là một nội dung của HTQT phòng, chống tội phạm với các bản chất: thực chất hoạt động TTTP là
sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các quốc gia trong việc giải quyết thỏa đáng các vấn
đề tư pháp mà các bên liên quan; cơ sở pháp lý, nguyên tắc thực hiện là các điều ước quốc tế và pháp luật các nước liên quan; nội dung gồm cả TTTP dân
sự và TTTPHS, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án phạt tù; cơ quan thực hiện do pháp luật mỗi quốc gia quy định và thường là cơ quan tư pháp; mục đích hoạt động là bảo vệ tối đa Nhà nước, cơ quan, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân của nước này trên lãnh thổ của nước kia Tác phẩm đã phân tích đánh giá thực trạng HTQT của lực lượng CSND Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010 ở các lĩnh vực: tuyên truyền phổ biến pháp luật, điều
Trang 29ước, trao đổi thông tin tội phạm; sỹ quan liên lạc; đàm phán, ký kết, tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế; điều tra, truy nã, dẫn độ tội phạm Đồng thời
đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả HTQT đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng CSND ở các khía cạnh: tổng kết, rút kinh nghiệm; hoàn thiện cơ sở pháp lý; hoàn thiện các quy chế phối hợp, quy trình công tác; nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế của các tỉnh giáp biên; thiết lập mạng lưới sỹ quan liên lạc Cảnh sát ở một số nước; công tác đào tạo cán bộ
GS, TS Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên) “Sổ tay về công tác tương trợ tư pháp về hình sự”, nxb Lao động, 2013; trên cơ sở các quy định của Luật
TTTP và các điều ước quốc tế, tác phẩm đã phân tích về các vấn đề của TTTPHS gồm: khái niệm, phạm vi tương trợ, nguyên tắc, các trường hợp từ chối tương trợ, hồ sơ ủy thác, chi phí thực hiện, ngôn ngữ sử dụng, cơ quan thực hiện, quy trình thực hiện và cơ sở pháp lý thực hiện
TS Trần Công Phàn (chủ biên) “Sổ tay công tác tương trợ tư pháp hình sự”, nxb Lao động, 2015; trên cơ sở các quy định của Luật TTTP và các
điều ước quốc tế, tác phẩm đã phân tích về các vấn đề của TTTPHS gồm: khái niệm, nguyên tắc, phạm vi tương trợ, áp dụng pháp luật, từ chối hoặc hoãn thực hiện tương trợ, cơ quan thực hiện, ngôn ngữ sử dụng, chi phí thực hiện và quy trình thực hiện
GS.TS Nguyễn Xuân Yêm (2013), Khoa học hình sự Việt Nam, tập 3,
“Chiến thuật hình sự”, nxb CAND Công trình đã nghiên cứu, phân tích về
TTTPHS ở các khía cạnh: khái niệm, các nguyên tắc cơ bản, cơ sở từ chối, các hình thức tương trợ, nội dung quy định trong các hiệp định về TTTP
Công trình đã cho rằng "hiện nay TTTPHS được thực hiện dưới hai hình thức: Thứ nhất là kênh tương trợ chính giữa các nước theo các điều ước quốc tế hoặc quan hệ thân thiện giữa hai nước Thứ hai là theo kênh không chính thức như kênh Cảnh sát hình sự quốc tế INTERPOL – ICPO." [95; tr.290]
Trang 30Nghiên cứu sinh chưa thống nhất với nhận định này Quan điểm của nghiên cứu sinh cho rằng kênh Interpol không phải là kênh thực hiện hoạt động TTTPHS, mà chỉ là kênh trao đổi thông tin phòng, chống tội phạm Hoạt động TTTPHS là hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế đã kí kết thông qua cơ quan trung ương (đối với Việt Nam là VKSNDTC), hoặc trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại thông qua kênh ngoại giao (đối với Việt Nam là Bộ Ngoại giao xác định nguyên tắc này trước khi chuyển yêu cầu TTTPHS của nước ngoài cho VKSNDTC)
Nguyễn Huy Hùng, luận văn Thạc sĩ “Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an”, 2011, đã nghiên cứu
những vấn đề lý luận chung về TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA ở các khía cạnh: khái niệm, nguyên tắc, phạm vi, cơ sở pháp lý, đặc điểm, nhiệm vụ Luận văn đã phân tích đánh giá thực tiễn hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA trong 5 năm (2006 – 2010) Đồng thời tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA gồm: Hoàn thiện lý luận và pháp luật; bổ sung và đào tạo cán bộ; tăng cường cơ sở vật chất; đẩy mạnh các hoạt động HTQT
Nguyễn Xuân Quyển, 2016, “TTTP về hình sự trong phòng, chống tội phạm của Cơ quan CSĐT BCA”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội Luận văn đã đánh giá tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài có liên quan đến hoạt động TTTPHS, đánh giá tình hình thực hiện hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA trong 5 năm (2011 đến 2015), phân tích theo 6 nhóm nội dung tương trợ quy định tại Điều 17 Luật TTTP năm 2007, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế chủ yếu của hoạt động này Từ
đó, luận văn đưa ra cá giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới: hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao năng lực cán bộ và tăng cường cơ
sở vật chất, hoàn thiện cơ chế thực hiện, tăng cường quan hệ hợp tác
Trang 31Lại Thị Huệ, 2017,“Nâng cao hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an trong quá trình hội nhập quốc tế”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát Luận văn đã nghiên
cứu những vấn đề lý luận chung về TTTPHS về: các quan niệm, khái niệm, nguyên tắc, phạm vi, cơ sở pháp lý; nghiên cứu những vấn đề lí luận chung về TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA ở các khía cạnh: khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ Luận văn đã phân tích đánh giá tình hình tội phạm xuyên quốc gia, đánh giá thực tiễn hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA trong 6 năm (2011-2016) theo từng nhóm phạm vi tương trợ quy định tại Điều 17 Luật TTTP năm 2007 gồm: tống đạt các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ phục vụ công tác điều tra, giải quyết vụ án hình sự; truy cứu trách nhiệm hình sự; trao đổi thông tin có liên quan đến điều tra vụ án hình sự; thực hiện các yêu cầu TTTP khác về hình sự Đồng thời, tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA ở các khía cạnh: Hoàn thiện pháp luật, trong đó có việc đàm phán ký kết các điều ước quốc tế, sửa đổi Luật TTTP 2007, ban hành các văn bản hướng dẫn; nâng cao năng lực cán bộ; khắc phục những tồn tại, nâng cao chất lượng trong thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp; tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị chức năng; đẩy mạnh các hoạt động HTQT
Hoàng Thị Thúy Hòa, 2013, "Hoàn thiện pháp luật về TTTP về hình sự
ở Việt Nam", Luận văn Thạc sỹ Luật học; Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn đã đánh giá quá trình hình thành và phát triển pháp luật về TTTPHS Việt Nam theo các giai đoạn: từ 1984 đến trước khi ban hành Luật TTTP năm 2007, từ khi ban hành Luật tương trợ tư pháp năm 2007 đến 2013 Đã đánh giá thực trạng pháp luật về TTTPHS ở Việt Nam ở các nội dung: quản lý Nhà nước, tổ chức bộ máy làm công tác
Trang 32TTTPHS, kết quả thực hiện các yêu cầu, đàm phán, ký kết các hiệp định, công tác phối hợp với các cơ quan chức năng trong nước và nước ngoài trong hoạt TTTPHS Đã đánh giá hoạt động TTTPHS nói chung trong 5 năm từ 1/7/2008 đến 2012
Nguyễn Ngọc Chi, “Hợp tác quốc tế và những vấn đề đặt ra khi thi hành Bộ luật tố tụng hình sự 2015”, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà
Nội, tập 34, số 1(2018), trang 1-12 Bài viết nêu sự cần thiết và cơ sở của việc sửa đổi quy định về HTQT trong TTHS của Bộ luật TTHS năm 2015; những nội dung chính của Bộ luật này về HTQT; một số vấn đề đặt ra khi thi hành quy định của Bộ luật về HTQT
Ngoài ra, có một số bài viết nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến
HTQT về TTTPHS như: Nguyễn Ngọc Anh, “Hoàn thiện chế định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Trang điện
tử Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội; Phan Vũ, “Hướng dẫn công tác hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp hình sự năm 2017”, Trang điện tử Kiemsat, 06/2/2017; Nguyễn Văn Thắng, “Một số vấn đề về tương trợ tư pháp trong trao đối thông tin lý lịch tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, Trang điện
tử Bộ Tư pháp, 06/5/2017; Ngô Quỳnh Anh, “Giới thiệu khái quát về tương trợ tư pháp về hình sự của Ô-xtrây-lia”, Trang điện tử Trường Đại học kiểm
sát Hà Nội; Vụ Hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp hình sự - VKSNDTC,
“Kết quả thực hiện chủ trương tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạt động tư pháp”, Trang điện tử VKSNDTC, 01/8/2013; Nguyễn Hương,
“Nâng cao hiệu quả công tác tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án phạt tù”, Trang điện tử CAND, 18/12/2017
Tổng quan tình hình nghiên cứu về HTQT trong hoạt động TTTPHS cho thấy các tác phẩm nghiên cứu tuy không nhiều nhưng đã đóng góp không nhỏ trong việc làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Trang 33* Về lý luận HTQT về TTTPHS:
Đối với khái niệm hợp HTQT về TTTPHS, hiện chưa có định nghĩa chính thống và thống nhất, chưa được quy định trong luật Các nhà nghiên cứu đã có sự tương đồng trong khái niệm hướng đến bản chất của vấn đề, trên
cơ sở các quy phạm pháp luật
Các kết quả nghiên cứu cũng đã làm sáng tỏ một cách cơ bản về khái niệm, nguyên tắc, phạm vi, chủ thể, cơ sở pháp lý của vấn đề Những lập luận trong các công trình khoa học này, dù được diễn giải theo cách này hay cách khác, đều xuất phát từ những luận điểm được đồng thuận cao trong giới khoa học pháp lý hình sự, đều xuất phát từ các quy phạm pháp luật
Qua nghiên cứu các tác phẩm trên có thể đưa đến một số kết luận mang tính khái quát như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu trong phần lớn các công trình khoa học nêu
trên được xuất phát trên nền tảng lý luận quy phạm thực định của Luật TTTP, BLTTHS, các điều ước quốc tế về TTTPHS
Thứ hai, các nội dung nghiên cứu được triển khai trên cơ sở phân tích,
bình luận các quy phạm thực định để làm sáng tỏ nội hàm về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, phạm vi, chủ thể, cơ sở pháp lý của HTQT về TTTPHS
* Về thực trạng HTQT về TTTPHS:
Thứ nhất, các nghiên cứu phân tích, đánh giá thực tiễn trên nền tảng
chủ yếu là tình hình, kết quả HTQT về TTTPHS được phản ánh tại các báo cáo tổng kết của các đơn vị chức năng
Thứ hai, thực tiễn được nhìn nhận, đánh giá thông qua quan điểm chủ
quan của tác giả Qua đó, các tác giả đã rút ra những nhận định về kết quả thực hiện trên các mặt ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật
Trang 34Thứ ba, các công trình nghiên cứu tiếp cận thực tiễn HTQT về
TTTPHS ở các góc độ, phạm vi khác nhau: TTTP chung gồm nhiều lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, hình sự, dẫn độ, ; HTQT đấu tranh phòng, chống tội phạm (phạm vi rộng, hợp tác bao gồm cả hoạt động TTHS và hoạt động trao đổi thông tin tội phạm); hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA (phạm vi hẹp, hợp tác trong tố tụng hình sự về TTTP, của một cơ quan điều tra) Các công trình nghiên cứu đánh giá thực tiễn ở các giai đoạn khác nhau, thường là 5 năm: 2006 – 2010, 2006 – 2010, 2011 – 2015, 2011 – 2016; một
số công trình nghiên cứu cả quá trình, giai đoạn lớn gồm nhiều thập kỉ để phục vụ xây dựng Luật TTTP
Thứ tư, chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực
tiễn ở góc độ, phạm vi HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam Đây là vấn đề vừa có phạm vi rộng, vừa có tính chuyên sâu: hợp tác về tố tụng hình sự trong lĩnh vực TTTPHS của toàn bộ 64 Cơ quan CSĐT trên toàn quốc Chưa có nghiên cứu nào tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn HTQT
về TTTPHS trong phạm vi 12 năm từ khi Luật TTTP năm 2007 có hiệu lực (1/7/2008) đến 31/12/2019
* Về giải pháp nâng cao hiệu quả HTQT về TTTPHS:
Thứ nhất, cơ sở mà các công trình nghiên cứu đưa ra giải pháp gồm:
thực tiễn thực hiện hoạt động HTQT về TTTPHS, nhất là các vấn đề còn tồn tại, vướng mắc; dự báo tình hình thời gian tới, mỗi tác giả, công trình nghiên cứu có những dự báo riêng tại các thời điểm, giai đoạn khác nhau
Thứ hai, các nghiên cứu trên đã đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao
hiệu quả hoạt động TTTPHS theo từng phạm vi nghiên cứu của công trình Các giải pháp chủ yếu về các vấn đề: hoàn thiện pháp luật; xây dựng cơ chế hợp tác, phối hợp; xây dựng củng cố hệ thống cơ quan thực thi hợp tác; nguồn lực cán bộ thực thi
Trang 351.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
1.3.1 Những vấn đề đã nghiên cứu
Những công trình khoa học mà tác giả tiếp cận được nêu trên không phải là toàn bộ hệ thống các nghiên cứu về HTQT phòng, chống tội phạm nói chung, HTQT về TTTPHS nói riêng ở nước ta trong thời gian qua, nhưng chúng đã phần nào phản ánh được trạng thái, xu hướng và quy mô của các nghiên cứu Có thể đưa ra một số kết luận chung đánh giá như sau:
* Về tình hình nghiên cứu HTQT phòng, chống tội phạm ở nước ta trong thời gian qua:
Những năm gần đây, có nhiều tác giả quan tâm hơn đến nghiên cứu HTQT trong phòng, chống tội phạm Tuy nhiên không nhiều công trình nghiên cứu hoạt động này ở diện rộng bao quát, mà chủ yếu đi vào từng nội dung, khía cạnh cụ thể của HTQT phòng, chống tội phạm như: hoạt động của chủ thể là lực lượng Cảnh sát; hoạt động TTTP; hoạt động Interpol; phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; phòng chống mua bán người; phòng chống tội phạm ma túy; Các tác phẩm chủ yếu nghiên cứu về thực tiễn hoạt động
và đưa ra các giải pháp, yêu cầu đối với các hoạt động cụ thể trên Một số ít tác phẩm nghiên cứu về lý luận HTQT phòng, chống tội phạm trên các khía cạnh: khái niệm, lịch sử hình thành phát triển, mục đích, vai trò, cơ sở pháp lí, chủ thể, phạm vi, nguyên tắc, trình tự thủ tục thực hiện Có thể nói các kết quả nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung tri thức lý luận và thực tiễn về HTQT phòng, chống tội phạm trong khoa học tội phạm học nước ta
Thời gian tới, cần nghiên cứu, luận giải làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận: khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm, nội dung, cơ sở pháp lý của HTQT trong phòng, chống tội phạm
* Về tình hình nghiên cứu HTQT về TTTPHS ở nước ta thời gian qua:
Trang 36Thứ nhất, phần lớn xu hướng nghiên cứu HTQT về TTTPHS ở nước ta
thời gian qua là cách tiếp cận nghiên cứu thực định Do đó, các nghiên cứu lý luận HTQT về TTTPHS được triển khai trên nền tảng lý luận quy phạm về HTQT, về TTTHS trong BLTTHS, Luật TTTP và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập Cách tiếp cận này đã đem đến nhiều thành tựu quan trọng trong các nghiên cứu về HTQT về TTTPHS Với cách tiếp cận này, các công trình khoa học đã phân tích làm rõ lý luận về: khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm, chủ thể, nội dung của HTQT về TTTPHS Đồng thời nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình thực hiện HTQT về TTTPHS ở các khía cạnh: kết quả đạt được; những tồn tại, vước mắc khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn; đánh giá ở những góc độ, phạm vi khác nhau của từng công trình nghiên cứu Qua đó, một số công trình đã đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện về lý luận, pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động này Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các luận cứ, cơ sở cho việc thiết kế các phương hướng, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện HTQT về TTTPHS ở các khía cạnh lý luận, quy phạm pháp luật, thực tiễn Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu trên
là sự bổ sung, đáp ứng tri thức lý luận và thực tiễn về HTQT về TTTPHS trong khoa học tội phạm học nước ta
Thời gian gần đây, các nhà khoa học đã dần cởi mở hơn trong việc mở rộng các định hướng, phương pháp, cách tiếp cận mới đa ngành và liên ngành trong các nghiên cứu về HTQT về TTTPHS Bên cạnh cách tiếp cận quy phạm thực định về HTQT về TTTPHS, một số tác giả đã tiếp cận vấn đề này qua các phương diện khác như: tội phạm học, xã hội học
Tới đây, cần thiết luận giải sâu sắc hơn về các vấn đề lý luận: khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm, chủ thể, nội dung của HTQT về TTTPHS
Thứ hai, các công trình nghiên cứu thực tiễn HTQT về TTTPHS còn ít,
nhưng cơ bản đã đánh giá được tình hình chung về hoạt động HTQT, một số
Trang 37Luận văn Thạc sỹ đánh giá tình hình hoạt động TTTPHS của Cơ quan CSĐT BCA trong phạm vi 5 năm Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực tiễn hoạt động này trong phạm vi 12 năm từ khi Luật TTTP năm 2007 có hiệu lực (1/7/2008) đến 31/12/2019 Chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực tiễn ở góc độ, phạm vi HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam, đây là một trong những chủ thể quan trọng của hoạt động TTTPHS
Thứ ba, một số ít tác phẩm đã đưa ra các quan điểm, giải pháp cơ bản
để nâng cao hiệu quả hoạt động TTTPHS về các vấn đề: hoàn thiện pháp luật; xây dựng cơ chế hợp tác, phối hợp; xây dựng củng cố hệ thống cơ quan thực thi hợp tác; nguồn lực cán bộ thực thi Tuy nhiên, cần làm rõ hơn các giải pháp này, nhất là đặt trong bối cảnh Cơ quan CSĐT thực thi nhiệm vụ trong quá trình hội nhập quốc tế
1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trước nhu cầu phát triển của khoa học tội phạm học, yêu cầu thực tiễn hoạt động HTQT về TTTPHS, tác giả cho rằng cần triển khai nghiên cứu HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tri thức đã được tổng kết của các công trình khoa học trong và ngoài nước để bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận và nâng cao hiệu quả trong thực tiễn hoạt động HTQT
về TTTPHS của Cơ quan CSĐT ở Việt Nam, luận án sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, luận án tiếp tục nghiên cứu lý luận HTQT phòng, chống tội
phạm, tập trung làm sâu sắc thêm về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung, mục đích của hoạt động này
Trang 38Thứ hai, luận án tiếp tục nghiên cứu lý luận HTQT về TTTPHS của Cơ
quan CSĐT, tập trung làm sâu sắc thêm về khái niệm, chủ thể, nguyên tắc, nội dung, thủ tục áp dụng, nhiệm vụ, kênh thực hiện của hoạt động này
Thứ ba, tổng hợp, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng quy định
của pháp luật và đánh giá thực trạng HTQT về TTTPHS của Cơ quan CSĐT
ở Việt Nam từ khi Luật TTTP năm 2007 có hiệu lực (1/7/2008) đến 31/12/2019 Đây là phạm vi nghiên cứu mới về thời gian, không gian, chủ thể Luận án phân tích, đánh giá tình hình tội phạm xuyên quốc gia, tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài; tình hình thực hiện các yêu cầu TTTPHS do nước ngoài đề nghị của Cơ quan CSĐT; tình hình yêu cầu TTTPHS do Cơ quan CSĐT Việt Nam đề nghị nước ngoài; đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
Thứ tư, luận án dự báo tình hình tác động đến hoạt động HTQT về
TTTPHS, cùng với kết quả nghiên cứu từ thực tiễn để đưa ra những quan điểm về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này của Cơ quan CSĐT Vấn
đề này tập trung vào việc định hướng hoàn thiện pháp luật, cơ chế hợp tác và nguồn lực cán bộ
Trang 39Kết luận Chương 1
Chương 1 của Luận án đã thống kê, phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước, các tác giả trong nước mà Nghiên cứu sinh tiếp cận được về lĩnh vực HTQT phòng, chống tội phạm và HTQT về TTTPHS Chương 1 đã đi sâu phân tích một số công trình nghiên cứu về các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của Luận án Qua đó đánh giá những vấn đề đã được nghiên cứu, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, luận giải trong Luận án
Như vậy hệ thống các công trình khoa học được luận án thống kê, phân tích trên đây cơ bản đã phản ánh được xu hướng nghiên cứu về HTQT về TTTPHS ở nước ta trong thời gian qua Những thành tựu, kết quả nghiên cứu
đó đã đóng góp cho kho tàng tri thức lý luận và thực tiễn về lĩnh vực HTQT
về TTTPHS là không thể phủ nhận Trong điều kiện hiện nay với sự phát triển của khoa học và cách nhìn nhận đa chiều cho phép các công trình nghiên cứu HTQT về TTTPHS được triển khai trong cách tiếp cận mang tính đa ngành và liên ngành Do đó, vai trò của việc tổng quan tình hình nghiên cứu lĩnh vực HTQT về TTTPHS đưa đến những cơ sở, căn cứ cụ thể cho việc nhận diện các vấn đề đặt ra mang tính cấp bách cần được triển khai nghiên cứu trong thời gian tới
Trong phạm vi, khả năng và mục đích nghiên cứu của mình, tác giả cho rằng xu hướng nghiên cứu HTQT về TTTPHS sẽ sớm trở thành một chủ đề được triển khai bởi nhiều công trình khoa học khác trong thời gian tới Vì vậy, việc nghiên cứu để thiết lập các khung lý thuyết, lý luận chung, nhiên cứu về thực tiễn để đưa ra các giải pháp nâng cao hoạt động HTQT về TTTPHS (điều sẽ được tiến hành trong các chương sau đây) là rất cần thiết
Trang 40CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM, HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP HÌNH SỰ CỦA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA
2.1 Những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm
2.1.1 Khái niệm hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm
Cùng với sự phát triển giao thoa về kinh tế, văn hóa, xã hội, tội phạm cũng đã mở rộng địa bàn hoạt động và mang tính “toàn cầu” xuyên quốc gia, rất linh hoạt và rất nhạy bén trong việc lợi dụng các thành tựu của khoa học
và công nghệ hiện đại để hoạt động phạm tội Hậu quả do tội phạm gây ra là không thể tính hết được ở trong từng quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế… đòi hỏi phải kịp thời ngăn chặn Vì thế, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm không dừng lại ở phạm vi một quốc gia, không phải là trách nhiệm của một quốc gia, mà có tính toàn cầu, cần có sự HTQT Để thực hiện nhiệm vụ
đó, lực lượng Cảnh sát ở mỗi quốc gia riêng biệt không thể có khả năng độc lập tự giải quyết toàn bộ vấn đề, mà cần phải hợp tác, liên kết chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với các loại tội phạm mang tính quốc tế trong tình hình mới HTQT phòng, chống tội phạm cũng được đặt trong tổng thể của tính toàn cầu đó, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của nó
Giáo trình Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, nxb CAND,
2014, của Học viện CSND đưa ra khái niệm: “Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm là hoạt động hợp tác, phối hợp, trao đổi giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, với các tổ chức quốc tế khác nhằm thực hiện các hoạt động ký kết điều ước quốc tế trong phòng, chống tội phạm, tương trợ tư pháp về hình
sự, dẫn độ, chuyển giao người có án phạt tù cũng như các hoạt động khác có