1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tìm hiểu về quan họ docx

158 380 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về Quan họ
Tác giả Nguyễn Phan Hách
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa dân gian
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 706,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơđã được nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc năm 1978 thành bài hát Làng Quan họ quê tôi - một trong những bài hát đặc sắc và tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của âm nhạc bác học đến dân c

Trang 2

Quan họ

Quan họ là một làn điệu dân ca, một lối hát giao duyên nổi tiếng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam mà tập trung chủ yếu ở vùng Bắc Ninh-Kinh Bắc.

Nội dung chính trong buổi hát quan họ thường là khi hai bên nam-nữ hát đối nhau Bên nam gọi là liền anh, bên nữ gọi là liền chị Các câu hát có thể được chuẩn bị sẵn, nhưng ra đến khi đối đáp nhau thì thường dựa trên khả năng ứng biến của hai bên.

Các chàng trai, cô gái xứ sở quan họ hào hứng, hồi hộp đón chờ ngày hội làng, bởi trong những ngày hội đó, họ được thức thâu đêm, suốt sáng để được nghe, được hát và thi hát Qua đó, họ học thêm ở nhau những câu ca, những làn điệu mới, họ tìm

Trang 3

thấy ở nhau sự đồng cảm qua những ánh mắt, nụ cười.

Quan họ hiện đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý giao cho Bộ Văn hóa Thông tin có kế hoạch lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Các loại làn điệu quan họ

Các làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn,

Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý

Làng Quan họ quê tôi Mối liên hệ giữa thi ca và âm nhạc

-Bài thơ Làng Quan họ của nhà thơ

Trang 4

Phan Hách được sáng tác năm 1969 đầu tiên in trên báo Văn nghệ, đó là tâm tư, tình cảm của nhà thơ trước cuộc đời và cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng thời xuyên suốt đó là một không gian văn hóa Quan họ hiện lên trên từng lời thơ Bài thơ

đã được nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc năm 1978 thành bài hát Làng Quan họ quê tôi - một trong những bài hát đặc sắc

và tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của âm nhạc bác học đến dân ca.

dân ca Quan họ có những mạch ngầm cảm xúc phù hợp với mạch cảm xúc của thi ca và đó cũng là mạch cảm xúc của con người Việt Nam Chính giá trị nghệ thuật

đó là nguồn thi hứng, nguồn chất liệu dồi dào để nhà thơ viết lên những vần thơ đậm chất Quan họ Nguyễn Phan Hách sinh ra,

Trang 5

lớn lên trên vùng quê Quan họ, là người say mê và am hiểu Quan họ Chính tình yêu

và tâm hồn đồng điệu với những làn điệu Quan họ đã khơi nguồn cảm xúc để nhà thơ viết bài Làng Quan họ, bài thơ đã tái hiện được những nét văn hóa cổ truyền của Quan họ với những:

Tháng giêng mùa hát hội

Áo nâu ướp hương trầm

Nón thúng quai thao rủ

Buông dài nếp xống thâm

Đối với người dân vùng Kinh Bắc mùa xuân tháng giêng là mùa của lễ hội, tình yêu đôi lứa Bài thơ nhắc đến những hình ảnh quen thuộc của Quan họ ở đấy là những câu ca, nón thúng quai thao, áo nâu, cửa đình, rồi đến hình ảnh chị cả tựa mạn thuyền, Quan họ về trao duyên tất cả cho

Trang 6

thấy một không gian văn hóa của người Kinh Bắc hiện lên trên trang thơ đầy ắp chất Quan họ.

Bên cạnh đó Làng Quan họ còn là những vần thơ miêu tả về không khí chiến đấu chống Mỹ của dân tộc, lời ca Quan họ theo người chiến sỹ lên đường ra trận, người phụ nữ đưa chồng, tiễn người yêu cũng bằng câu hát:

Em tiễn anh lên đường

Trang 7

lồng vào tình yêu đất nước.

Từ sáng tác của thi ca đến âm nhạc bác học là một quá trình sáng tạo và biến đổi Đến năm 1978 bài thơ Làng Quan họ được nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc và có tên là Làng Quan họ quê tôi Như vậy sau mười năm bài thơ tồn tại theo đúng nghĩa của một bài thơ, Làng Quan họ đã được chắp lời ca tiếng hát từ đó tồn tại trong một loại hình nghệ thuật mới ở đây phải

kể đến vai trò của người nhạc sĩ là rất quan trọng, Nguyễn Trọng Tạo đã thổi vào bài thơ một sức sống mới, một tâm hồn đồng điệu giữa thi ca và âm nhạc, từ đó tạo ra sự hài hòa cân đối và sâu lắng Khi trở thành một tác phẩm âm nhạc, bài hát Làng Quan họ quê tôi đã có một sức sống mới, có sự biến đổi để phù hợp trong môi

Trang 8

trường tồn tại của mình Đối chiếu giữa hai văn bản của thơ ca và âm nhạc chúng

ta rất dễ dàng nhận ra điều đó Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã bắt được cái hồn của bài thơ, ông không lấy nguyên mẫu từng câu từng chữ trong Làng Quan họ, mà

sử dụng những câu, những đoạn phù hợp với ý tưởng của mình.

Cho đến nay bài hát Làng Quan họ quê tôi từ một tác phẩm âm nhạc bác học trở thành một bài hát dân ca, chính xác hơn là lẫn vào dân ca và tồn tại như một bài dân

ca Quan họ, đây thật sự là một trường hợp

hy hữu và rất đặc biệt Có được điều này bởi trong Làng Quan họ quê tôi chứa đựng những yếu tố của Quan họ, từ lời ca đến nhạc điệu đều đạt đến chuẩn mực của một bài Quan họ với những câu thơ sâu lắng,

Trang 9

duyên dáng và nhạc điệu nhẹ nhàng, tình

tứ Nhà thơ và người nhạc sĩ đã có sự đồng cảm, gắn tình yêu quê hương đất nước với tình yêu lứa đôi, gắn truyền thống với hiện tại.

Từ Làng Quan họ đến Làng Quan họ quê tôi biểu hiện sự ảnh hưởng của Quan

họ đối với thi ca, thi ca đối với âm nhạc bác học và âm nhạc bác học đối với dân

ca (âm nhạc dân gian) Có thể nói đây là hiện tượng tiêu biểu cho ảnh hưởng của văn nghệ dân gian đến những sáng tác hiện đại và ngược lại Hiếm có một loại hình nghệ thuật dân gian nào lại có được sự ảnh hưởng đến văn chương mạnh mẽ như Quan

họ và cũng hiếm có một bài thơ nào lại được sáng tác và trở thành một bài dân ca Quan họ hay đến vậy Bài hát Làng Quan

Trang 10

họ quê tôi đã tồn tại trong những môi trường như thế.

Theo BBN

Quan họ làng Diềm

Nếu như hội Lim được đông đảo khách thập phương biết đến bởi quy mô vùng miền, diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn thì lễ hội đền Vua Bà gói gọn trong một đơn vị hành chính nhỏ hẹp hơn, ấy là làng Diềm Tuy vậy, đối với giới nghiên cứu văn hoá dân gian, đây mới là một lễ hội đậm đặc nét văn hoá Quan họ mà ít bị phân tán bởi các hoạt động bên lề.

Trong 49 làng Quan họ gốc, chỉ ở Diềm mới có đền thờ Thủy tổ Quan họ gọi

là đền Vua Bà Theo tục lệ của làng, một năm có 4 tiết lệ chính là: Hội chùa (15 tháng Giêng âm lịch), Hội đền Vua Bà (6 -

Trang 11

2), Hội tát giếng (3 - 3), Hội đình (6 - 8), mỗi tiết lệ có một sắc thái riêng, trong đó Hội đền Vua Bà - kỷ niệm ngày Đức Vua

Bà du xuân giáng hạ xuống Trang Viêm Xá

là hoạt động có tính chất tâm linh truyền thống, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người dân miền Quan họ Trong Hội đền Vua Bà truyền thống, dân làng tổ chức lấy nước từ giếng Ngọc để làm lễ bao sai, sau đó cử hành tế lễ Đến tối tất cả các bọn Quan họ trong làng tụ tập trước cửa đền Vua Bà hát Quan họ với nội dung ca ngợi công đức của Người Mỗi khi gặp hạn hán, người dân làng Diềm lại

tổ chức lễ cầu đảo tại đền mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, vật nuôi sinh sôi nảy nở Hội đền Vua Bà mấy mươi năm nay không còn được tổ chức bài bản

Trang 12

và đầy đủ như trước đây nữa song vẫn giữ nguyên giá trị tâm linh, đặc biệt là trong sinh hoạt văn hoá Quan họ ở 5 mặt hoạt động: Dân ca Quan họ, tục kết bạn Quan

họ, văn hoá hành vi Quan họ, lễ hội Quan

họ và tín ngưỡng Quan họ Năm nay, phần Khai mạc lễ hội được tổ chức ngắn gọn, sau các tiết mục văn nghệ của chi Hội Người cao tuổi thôn, màn biểu diễn của của dàn nhạc gồm 9 trống, 4 chiêng do Viện Văn hoá - Thông tin (Bộ Văn hoá - Thông tin) trao tặng năm 2006 tạo ấn tượng đặc biệt Tiếng trống hội muôn đời vẫn thế, dồn dập, rộn ràng thúc giục bước chân du khách mau về với hội để thưởng thức những giá trị văn hoá riêng có vùng Thủy tổ Trong lễ hội đền Vua Bà, ở đâu

du khách cũng nghe những giai điệu trầm

Trang 13

bổng hội tụ đủ vang – rền – nền – nảy của người Quan họ Dù là trong đền Cùng, đền Vua Bà, trên thuyền rồng hay ở “nhà chứa” của các bọn Quan họ thì những lời ca đằm thắm, mượt mà của Quan họ sở tại giao lưu với các làng kết bạn và khách thập phương vẫn làm mê đắm hồn người Đến làng Diềm ngày thường đã thấy Quan họ là đặc trưng, ngày đông hội tưởng như là khí thở bởi người người hát Quan họ, nhà nhà hát Quan họ Ngay tại trung tâm văn hoá của thôn, chúng tôi được thưởng thức

“Khách đến chơi nhà” do 2 liền chị Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Hải – cặp hát đối đạt giải Nhất 50 bài tại Hội thi Hát Quan họ đầu xuân Đinh Hợi trình bày Quan họ giống như dòng suối cứ chảy mãi, chảy mãi được tiếp nối muôn đời Du

Trang 14

khách mọi miền tìm đến hội Diềm cũng bởi để thoả lòng mong ước được thẩm thấu thứ âm nhạc độc đáo ấy Chị Trịnh Lan Ly công tác ở Hà Nội năm nào cũng ghé hội Diềm cất công tìm học cho được đôi ba làn điệu Quan họ cho biết “Tôi có thể thức thâu đêm để được nghe các liền anh, liền chị hát canh Thật khó lý giải vì sao mình lại yêu thích đến thế lối hát truyền thống này, dường như có một sự giao hoà đặc biệt giữa tâm hồn những người hát để rồi lưu lại sau mỗi lần gặp mặt là nỗi vấn vương thật khó tả ”

Hội đền Vua bà ít ồn ào mà sâu lắng, nhẹ nhàng, đúng như phong thái của người Quan họ Lễ hội tôn vinh Đức Vua Bà đã không còn chỉ của riêng làng Quan họ

Trang 15

Viêm Xá mà đã trở thành một tín ngưỡng độc đáo hướng về một vị nữ vương có công lớn khai sinh và truyền dạy sinh hoạt văn hoá Quan họ.

Theo BBN

Đôi điều về Công, Dung, Ngôn, Hạnh của phụ nữ Quan họ

Trong lễ giáo xưa, những chuẩn mực

để đánh giá người phụ nữ là Tam Tòng (Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu

tử tòng tử), Tứ Đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) Trải qua tiến trình lịch sử, có những giá trị, chuẩn mực không còn phù hợp nữa Tuy nhiên, sự phát triển luôn gắn liền với tính kế thừa Trong truyền thống

và đương đại “Tứ Đức” của người phụ nữ

Trang 16

Quan họ thể hiện như thế nào?

Theo quan niệm xưa, Công là sự khéo léo của phụ nữ trong việc làm tại gia đình.

Họ phải biết sắp xếp công việc sao cho hợp lý, việc gì cũng cần chu đáo, không chỉ khéo léo về nữ công gia chánh, đảm đang nội trợ mà còn phải biết “đối nội, đối ngoại” khôn khéo, nuôi dạy con cái khỏe mạnh, chăm ngoan Sự tháo vát, nhanh nhạy của người phụ nữ Quan họ ngày xưa:

“Gái Nội Duệ-Cầu Lim đẹp người, đẹp nết vẫn được ngợi ca “Bấy lâu con gái làng nhà/Đảm đang nức tiếng, tài hoa nhất vùng/Đã thạo dệt cửi, lại giỏi nữ công/Ngược xuôi Nam Bắc, gánh gồng bán buôn” Người phụ nữ thời nay ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, họ không chỉ “đảm việc nhà” mà còn

Trang 17

“giỏi việc nước”.

Dung là sự hòa nhã trong sắc diện Đó

là vẻ đẹp của sự hài hòa giữa hình thức và tâm hồn Thời thế thay đổi, song không ít chuẩn mực vẫn nguyên chân giá trị Vẻ đẹp mang tính cổ truyền của người phụ nữ thời xưa “Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng” không còn phù hợp với nhịp sống hiện đại nữa, nhưng có ai phủ nhận “Cái nết đánh chết cái đẹp”? Sắc đẹp là diễm phúc Nhưng bản thân cái đẹp không phải là đức tính Nữ tính là nét chung, chỉ cần gọn gàng, tinh tế trong cách

ăn mặc, trang điểm, một vẻ mặt tươi tắn, phong thái cởi mở, khiêm nhường thì người phụ nữ đã đẹp lên rất nhiều trong mắt người khác giới Về cách ăn mặc,

Trang 18

trang phục truyền thống của người phụ nữ Kinh Bắc nói riêng và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung chủ yếu là áo, yếm, váy một kiểu Ngày nay, sự giao thoa với cộng đồng thế giới và do công việc đã khiến trang phục của chị em thật phong phú về cả màu sắc lẫn kiểu cách Họ quan tâm xem mặc trang phục gì, khi nào và ở đâu để vừa đẹp lại vừa thuận tiện, thoải mái Nếu

là công chức, họ nhanh nhẹn, năng động với bộ vest công sở; nếu là công nhân ở các khu công nghiệp mặc bảo hộ lao động, cuốn gọn mái tóc dài duyên dáng để bảo đảm an toàn trong sản xuất Tất cả thể hiện họ là phụ nữ của thế kỷ XXI, bao hàm trong chữ Dung là sự hòa quyện giữa tâm hồn và hình thức.

Trang 19

Các cụ ta có câu “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang/Người khôn nói tiếng dịu dàng

dễ nghe”, lời nói có duyên bao giờ cũng gây được thiện cảm với người nghe Ngôn trong Tứ Đức là lời nói dịu dàng, có duyên Không thể phủ nhận sức thuyết phục của người phụ nữ mỗi khi lên tiếng khuyên chồng, dạy con ở nhà, cho đến dàn xếp công việc, thương lượng trong kinh doanh, buôn bán Quan niệm về Ngôn của người con gái thời nay kế thừa, phát triển để phù hợp với sự giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài Phụ nữ hôm nay vẫn “học ăn, học nói” để nói năng lịch thiệp, xã giao khéo léo, mạnh dạn, ứng xử thông minh và

có kiến thức Tìm về với sinh hoạt văn hóa Quan họ để thấy sự khéo léo của các liền chị Quan họ mời nhau miếng trầu mà gửi

Trang 20

biết bao nhiêu tình cảm “Cái miếng trầu ngon kết ngãi đá vàng/ Đá vàng là bạn trăm năm/Nguyện xin hảo hợp sắt cầm hòa hai/Trầu này thắm mãi không phai” Cái duyên của người Quan họ đã vấn vít bao khách thập phương khi đến với vùng đất Kinh Bắc-Bắc Ninh để mỗi mùa xuân-mùa trẩy hội cứ “đến hẹn lại lên”-“Quan họ trở

ra về có nhớ đến chúng em chăng?/Ai đem người ngọc thung thăng chốn này/Quan họ trở ra về khăn áo người gửi lại đây/ Chữ nhớ thương em xếp để dạ này bao quên” Chẳng phải chỉ ngày xưa mà cả thời nay, phụ nữ Kinh Bắc vận áo mớ ba mớ bảy, cất câu “Người ơi, người ở đừng về” với đầy đặn vang, rền, nền, nảy thì có ai mà không lưu luyến, vấn vương?

Trang 21

Hạnh thể hiện phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Đó là thương chồng, thương con, giàu lòng nhân ái, đức hy sinh, son sắt thủy chung “Chồng em áo rách em thương/Chồng người áo gấm xông hương mặc người” (Ca dao) Vẫn cần giữ nguyên những phẩm chất đó, phụ nữ thời nay còn

là những công dân sống có trách nhiệm với cộng đồng, họ có ước mơ, có hoài bão và biết nỗ lực để biến ước mơ, hoài bão ấy trở thành hiện thực.

Trong thước đo của xã hội hiện đại, Công, Dung, Ngôn, Hạnh có nhiều thay đổi Song là sự kế thừa và phát triển thêm những giá trị để phù hợp với thời đại Sự tiếp biến về văn hóa khi giao lưu với cộng đồng quốc tế là sự hòa nhập chứ không

Trang 22

hòa tan Và với người phụ nữ Việt Nam nói chung, người phụ nữ Kinh Bắc-Bắc Ninh nói riêng, những phẩm chất tốt đẹp ấy vẫn cần được lưu giữ

Vũ Thanh Phúc

Giá trị nội dung tư tuởng của sinh hoạt văn hóa Quan họ

Khi quan niệm Quan họ là một hình thái sinhhoạt văn hóa dân gian, một tổng thể donhiều yếu tố văn hóa nghệ thuật hợp thành,trong đó, nổi bật là giá trị của nghệ thuật cahát Quan họ, thì giá trị nội dung tư tưởng củaQuan họ bao hàm nhiều ý nghĩa phong phú,sâu, rộng hơn

Quan họ là một tổng thể hợp thành từ nhiềuyếu tố văn hóa hóa nghệ thuật dân gian xứBắc (tên gọi theo sự phân vùng văn hóa dângian, chỉ vùng đất phía Bắc Thăng Long, sôngHồng, chủ yếu là đất Bắc Ninh ngày nay),

Trang 23

trong một quá trình lịch sử lâu dài, có nhiềutầng, nhiều lớp trong một chỉnh thể văn hóa;gắn bó với văn hóa, văn minh làng xã, thuhút và biểu hiện những ước mơ tập hợp vàhành động chung cho những nguyện vọng,những khao khát của con người xứ Bắc nhiềuđời, đối với quyền sống, quyền hưởng hạnhphúc của con người trên bình diện văn hóa -

"mừng xuân, mừng hội, vui bàu, vui bạn "

ta có thể thấy ở đây sự phô diễn dồn nén,

Trang 24

tích tụ, sinh động những giá trị của văn hóaquan họ: người đẹp, trang phục đẹp, cử chỉđẹp, ngôn ngữ đẹp, tiếng nói, tiếng cười,miếng trầu, chén nước đều có chuẩn mựcvăn hóa, thắm đượm tình người, nghĩa nặng,

ân sâu Tiếng hát quyện hòa thơ nhạc, bổngtrầm, non nỉ, thiết tha, âm vang, đối đáp,bay lượn, quấn quýt trong một tổng thể vẻđẹp ấy từ chập tối đến tàn canh đã đưa mọingười vào một thế giới của tình bạn, tìnhyêu, tình người "sum họp trúc mai", "bốn bểgiao tình", thế giới lung linh, say đắm củasáng tạo và thưởng thức nghệ thuật, thật sựmang lại những khoảnh khắc hạnh phúc chocon người Cho nên, đến với Quan họ là đếnvới sự liên kết con người bằng sợi dây ânnghĩa, yêu thương, của tình bạn trọn đời, tìnhbạn truyền đời, tình yêu nam nữ mang màusắc lý tưởng kiểu Quan họ, như phong tục, lềlối Quan họ đã ước định Con người có thêmsức mạnh, niềm tin yêu để chống lại sự côđơn, sự bất lực trước một xã hội còn nhiềubất công, áp bức đè nặng nhiều thế kỷ

Trang 25

Sự phân biệt đẳng cấp, phân biệt thân phận,nhất là trong xã hội xưa, là nỗi đau tinh thầncủa nhiều người Ðến với Quan họ là đến vớimối quan hệ tôn lẫn kính chung, sự bình đẳnggiữa con người với con người: giữa nam và

nữ, giữa các thân phận rất khác nhau trongđời thường Không ở đâu trong xã hội cũ conngười lại được sống trong mối quan hệ

"người với người là bạn" như trong sinh hoạtvăn hóa quan họ

Trước vũ trụ bao la, huyền bí, đi trong cuộcđời xưa nhiều rủi hơn may, người Quan họ đãlấy tiếng hát Quan họ làm nhịp cầu đến vớithế giới thần linh để cầu mưa, cầu phúc, cầuduyên, cầu lộc, giải hạn hy vọng vượt quađược mọi thác ghềnh, hy vọng tấm lòngthành kính và tiếng hát diệu kỳ kia sẽ xua đimọi tai ương, bất hạnh, mang lại niềm tincho cuộc sống Tiếng hát Quan họ đã trởthành người bạn đồng hành mang đến sự chechở, an ủi vĩnh hằng trước mọi đe dọa củathế giới siêu nhiên

Trang 26

Ðến với sinh hoạt văn hóa Quan họ, bằngnhững phong tục, lề lối ước định của mìnhngười Quan họ đã hình thành những quanniệm đạo đức, những hành vi và tình cảmđạo đức bắt nguồn từ những lẽ phải có cội rễsâu xa trong truyền thống văn hóa dân gianđối với quan hệ bạn bè, quan hệ yêu đươngnam nữ, quan hệ vợ chồng, tình làng, nghĩaxóm, quan hệ lớp người trước với lớp ngườisau, lớp già lớp trẻ dựa trên nghĩa nặng, ânsâu, tôn lẫn kính chung, trước sau đùm bọc,thủy chung v.v

Ðến với sinh hoạt văn hóa quan họ cũng làđến với quyền được sáng tạo, diễn xướng,thưởng thức những giá trị văn hóa, nghệthuật của chính mình, của những tri âm, tri

kỷ, của cộng đồng người gắn bó, hòa hợpvới mình, trong sự tự do và chân thật Bằngsáng tạo văn hóa, nghệ thuật, người quan họ

có thể nói với chính mình, với bàu bạn, vớicon người về những ước mơ, khát vọng,buồn, thương, yêu, ghét , về những điềucuộc đời nên có và phải có vừa để tự giải

Trang 27

phóng tinh thần cho mỗi cá thể vừa để gắn

bó có ích và tốt đẹp đối với cuộc đời

Tóm lại, với sinh hoạt văn hóa quan họ,trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật nhiềuđời, người xứ Bắc đã suy ngẫm, sáng tạo vàthực hiện không mệt mỏi, công phu, đầy tàinăng những bước tiến hướng tới một cuộcsống làm cho con người ngày một được tôntrọng hơn, ngày một hạnh phúc hơn, đượccống hiến và hưởng thụ nhiều hơn trong đờisống tinh thần thiêng liêng của con người

2.Giá trị tư tưởng nghệ thuật

của lời ca quan họ

Ðôi nét về văn bản lời ca

Cho đến nay, chưa có con số chính thức cuốicùng về số bản lời ca quan họ Theo con số

đi sưu tầm, ghi chép được của Ðoàn dân caquan họ thì có gần 250 bài bản lời ca Có tàiliệu nói có 500 bản lời ca

Nếu tính theo số bài bản về bài hát (ca khúc

và lời) thì có trên dưới 200 bản, và nếu mỗi

Trang 28

bài ca đều có 2 lời thì ta có trên dưới 400 bàilời ca Lời ca cho một bài nào đấy, nhìnchung thống nhất trong cả vùng, nhưng cũng

có những dị bản, và nhất là khác đi một số

từ ngữ nào đấy Trong trường hợp có nhữngchữ khác nhau trong lời ca, cũng như khácnhau về giai điệu bài ca (chi tiết nào đấy)cũng thường gây nên tranh cãi nhiều khi gaygắt trong giới quan họ mà không phải baogiờ cũng tiến tới thống nhất được Nhưng,như một thói quen trong nếp nghĩ và nhiềukhi kiên định giữ nếp nghĩ này: "ông bà, bố

mẹ, anh chị làng tôi ca thế, chúng tôi cũng cathế"

Ví dụ có làng hát:

Rủ nhau đi gánh nước thuyền

Ðứt quang vỡ sải nước liền xuống sông

Nhưng làng khác nhất định hát :

Rủ nhau đi gánh nước thuyền

Ðứt quang vỡ sải nước liền xuôi đông

Trang 29

Có một ví dụ nữa, các cụ hát:

Ðêm qua gió mát giăng thanh

Bỗng đâu thấy khách bên thành sang chơi

Câu ca này gần như câu thơ trong TruyệnKiều :

Lần thâu gió mát trăng thanh

Bỗng đâu thấy khách biên đình sang chơi

Thấy sự khác nhau ấy đừng vội níu kéo lờihát kia trở về nguyên văn lời thơ TruyệnKiều, vì, sự sửa chữa một số chữ là có dụng

ý hợp cảnh, hợp tình, hợp người mà nhiềukhi ta chưa hiểu được

Quan họ có hệ thống lời ca riêng, đạt tới mộttrình độ riêng, đáp ứng những nhu cầu vănhóa, nghệ thuật có nhiều nét riêng của sinhhoạt văn hóa quan họ Nhưng cũng như âmnhạc quan họ, lời ca quan họ đã du nhập, thuhút tinh hoa của kho tàng thơ ca dân gian,

Trang 30

dân tộc như: ca dao,tục ngữ, hệ thốngtruyện thơ nôm, lời ca của hát chèo, tuồng,

ả đào, ví, trống quân, vv Chính vì vậy, khitìm hiều lời ca quan họ cũng cần có những trithức về thơ ca dân gian, dân tộc để nhiều khiphải so sánh, đối chiếu, liên tưởng mới hiểuđúng hoặc hiểu sâu một từ ngữ, một hìnhảnh, hình tượng một lời ca

Khi chúng ta có một hệ thống lời ca, am hiểuđặc điểm ra đời và lưu hành hệ thống lời ca

đó, có tri thức về thơ ca dân gian, dân tộc,hiểu và vận dụng được các phương pháp tìmhiểu, thưởng thức thơ ca; đặt lời ca gắn liềnvới âm nhạc và hoạt động ca hát quan họ chúng ta có thể hiểu được những giá trị nhiềumặt của hệ thống lời ca quan họ

3.Giá trị tư tưởng của lời ca Quan họ

Nội dung tổng quát của hệ thống lời ca quan

họ là sự mơ ước, khát khao về hạnh phúccủa cuộc sống; trong đó, người với ngườisống trong thương yêu, người cùng thiênnhiên sống trong sự hòa hợp gắn bó, là hạt

Trang 31

nhân cơ bản của hạnh phúc.

Sự mơ ước, khát khao đó được biểu hiệntrong những lời ca khi chúc mừng, khi cầuxin trong hát nghi lễ (hát lễ thờ, hát mừngchạ, hát cầu đảo ), khi thiết tha, đằm thắm,say mê hát về tình yêu nam nữ, về tình bạntrọn đời, tình bạn truyền đời của Quan họ

Khao khát thương yêu và được thương yêu

Trong lời ca quan họ cần lưu ý: người ta ít khidùng chữ yêu mà hầu hết dùng chữ thương;

ít khi xưng hô, gọi nhau bằng những chữchàng, nàng, mình, ta, anh, em mà haydùng chữ người, ngay cả trong những bài bộc

lộ sâu sắc những tình cảm của tình yêu namnữ

Về chữ thương và chữ yêu, trong khẩu ngữdân gian xưa, cũng ít khi dùng chữ yêu nói vềtình yêu nam nữ Cho đến đầu thế kỷ XX, khi

đi đến nhà gái dạm hỏi, bà mối hoặc ông mốicũng thường nói: "Hai cháu đã thương

Trang 32

nhau ", hoặc "hai cụ đã thương đến cáccháu ", hoặc "đã thương thì thương chochót " Cha mẹ căn dặn những vợ chồngmới cưới cũng thường nói: "các con đãthương nhau thì phải giữ cho đến đầu bạcrăng long, mãn chiều, xế bóng " ít khingười ta dùng chữ yêu để chỉ tình yêu nam

nữ Mấy chục năm gần đây, chữ yêu thaythế dần chữ thương và gần như chữ chính khinói đến tình yêu nam nữ, gần như chuyểnhẳn để biểu hiện một khía cạnh nào đó củatình yêu nam nữ mà thôi

Về chữ Người trong lời ca Quan họ: "Người

ơi, Người ở đừng về", "Người về để nhệngiăng mùng", " Người ra đứng mũi, tôi rachịu sào " "kẻ bắc, người nam " khiến taliên tưởng đến chữ Người trong các câu thơTruyện Kiều:

Người đâu gặp gỡ làm chi

Người mà đến thế thì thôi

Chữ "người" chứa đọng những tình cảm đậm

Trang 33

đà, sâu sắc, tinh tế, trong mối quan hệ giữangười với người của một thời, không hoàntoàn giống nghĩa bao hàm của chữ ngườidùng trong ngôn ngữ thơ ca hiện nay.

Khi đã được nghe trọn vẹn nhiều canh hátQuan họ với hàng trăm bài ca nối tiếp nhau

từ đầu đến cuối, đối đáp nam nữ, tiếng bổng,tiếng trầm, thanh trong, thanh đục rồi suyngẫm trước hệ thống lời ca quan họ, nhiềungười cảm thấy ngay từ canh hát đầu tiên,sau đó ngày càng lắng đọng, ghi sâu trongtiềm thức, trong xúc cảm của ta về sự khaokhát yêu thương và được yêu thương giữacon người với con người

Mở đầu canh hát người quan họ đã biểu lộngay nỗi vui mừng vừa trân trọng, vừa thânthiết trước cảnh "sum họp trúc mai", "tứ hảigiao tình", "bốn bể giao hoà ", với ý nghĩa

"tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm",

"càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông"

Một canh hát quan họ, trước hết, là sự sum

Trang 34

vầy bàu bạn trong tình sâu, nghĩa nặng, là sựthực hiện một khát khao gặp mặt, giao hoà,sau nhiều ngày đêm khắc khoải, chờ mong

tơ tưởng:

Ngày thì luống những âm thầm

Ðêm nằm ít cũng tám, chín, mười lần chiêmbao

(Giọng La rằng)

Thế rồi canh hát cứ tiếp diễn, tiến triển cùngvới sự thôi thúc, đan xen của hai tình cảmmãnh liệt nhất của tuổi trẻ là tình yêu nam

nữ và tình bạn thần tiên (chữ của Huy Cận,trong bài thơ "Với người Quan họ") Người tahát với nhau về ân sâu, nghĩa nặng, vì chỉ có

ân sâu, nghĩa nặng, chỉ có tình gắn liền vớinghĩa, với ân thì thương yêu kia mới thật,mới sâu, mới bền, mới chung thuỷ:

Nghĩa người tôi bắc lên cần

Tạc lên bia đá, để bên dạ vàng

Ðem vàng mà bắc lên cân

Trang 35

Bên vàng nặng chín, bên ân nặng mười

Canh hát càng về khuya thì tiếng hát quan

họ càng bổng, trầm, non nỉ, tình người quan

họ càng nồng đượm, thiết tha

Dây nào xe bốn chúng tôi

Se chín lần kép, se mười lần đơn

Có những bài hát cứ láy đi láy lại 3, 4, lầnbằng một âm hưởng xoáy sâu vào lòngngười:

Nay tôi tưởng đến người, mai tôi nhớ đếnđôi ba người tình duyên

ơ này anh Hai ơi! ơ này anh Ba ơi! Cáichút tình sâu, trăm em xin đợi, nghìn em xinchờ, chờ từ đây

Sông sâu nước chảy đá mòn

Tình thâm mong trả, nghĩa còn đấy đâyMong cho sum họp những ngày

Người quan họ nhìn nhau bằng một tấm lòng

Trang 36

trân trọng lẫn nhau, trân trọng con người,nền tảng của tình yêu, tình bạn, nên họ pháthiện tinh tế những vẻ đẹp tâm hồn và hìnhthể của nhau Sự phát hiện ấy lại được hátlên cho nhau, vì nhau, nên tiếng hát kia càngthấm sâu vào xúc cảm người hát, ngườinghe:

Không yêu em lấy đạo bùa cho phải yêu

Cây trúc, trong văn chương bác học cũngthường gặp, thường là biểu tượng cho mộtnhân cách đã đến đỉnh, một bản lĩnh sinh sôi,nảy nở vừa mềm mại, uốn lượn từ trong kẽ

đá nhô ra, vừa cứng rắn thách thức cùng bãogiông, mưa, tuyết Anh Hai, anh Ba, anh Tư,chị Hai, chị Ba, chị Tư cũng mang vẻ đẹpvẹn toàn ấy, hơn cả vẻ đẹp vẹn toàn ấy, nên

Trang 37

"đứng một mình", "đứng nơi nào" cũng xinh.Cho nên "không yêu em (tôi) lấy đạo bùacho phải yêu" Câu kết bài ca bộc lộ rõ ràngcũng một bản lĩnh xứng đôi với bản lĩnh, cốtcách của trúc và với một tình cảm mãnh liệt

về sự thương yêu và được yêu

Canh hát càng về khuya, càng nhiều nhữngbài hát như vậy được hát với tình cảm "nhưtỉnh như mê", "như là chiêm bao"

Người quan họ ước mơ sự hoà hợp, gắn bósắt son, chung thuỷ Nâng chén rượu xuânmời bạn khi gần tàn canh hát, trước lúc chiatay, người Quan họ hát:

Tay nâng đĩa muối đĩa gừng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau

Một sự thuỷ chung kể cả vàng cũng khôngđổi được:

Dù ai cho bạc, cho vàng

Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay

Trang 38

Khi đã tàn canh hát, theo phong tục Quan

họ, không thể không chia tay trước khi trờisáng hoặc khi mặt trời đã xế về tây (tronghát ngày hội), người Quan họ hát với nhaunhững bài hát giã bạn với tất cả nỗi niềmquyến luyến, nuối tiếc sự "sum họp trúcmai", "loan phương sánh bầy", "rồng đượcgặp mây" mà "trăm năm mới có một ngày":

Người về em vẫn khóc thầm

Ðôi bên vạt áo ướt đầm như mưa

Người ơi! Người ở đừng về!

"Người ơi! Người ở đừng về" ngày nay đã trởthành lời níu kéo nặng tình, nặng nghĩa trong bao cuộc chia tay từ Nam chí Bắc củađất nước và ở cả nước ngoài, có lẽ vì trongtiếng hát níu giữ kia của Quan họ đã ẩn tàng

Trang 39

một tấm lòng, những nỗi niềm của Quan họđối với bạn trong cả chiều dài lịch sử đi tìmbạn tri âm, tri kỷ.

Ðã có niềm vui họp mặt thì cũng có nỗi buồnchia xa Buồn đến "ruột héo, dạ sầu" nhưngQuan họ vẫn hy vọng, hẹn hò để hy vọng:

Khăn áo người gửi lại đây

Nhớ thương xếp để dạ dày này bao quênQuan họ về, đến hẹn lại lên!

âm vang "đến hẹn lại lên" đã là âm vang ámảnh, ẩn quất, dứt, nối bao thế hệ Quan họnhư một lời nguyện ước, một hy vọng vềhạnh phúc, một sự trông đợi khôn nguôi Có

lẽ vì vậy, bốn chữ "đến hẹn lại lên", được hátlên khi về kết của một bài giã bạn

"Con nhện giăng mùng", cũng trở nên lời hẹnước của bao cuộc chia tay hôm nay ở nhiềumiền đất nước Cũng chỉ bằng bốn chữ ấythôi, con người hôm nay đã nói được baođiều muốn nói và nói được cả những điềuchẳng thể nói ra, trong giây phút tạm biệt

Trang 40

Tạo nên cầu nối này của quá khứ và hiện tại

là hiệu quả thẩm mỹ đã trở thành bất tử củasinh hoạt văn hoá Quan họ, của ca hát quan

họ, nhưng trong đó, những điểm đỉnh củanhững thành tựu nghệ thuật cứ óng ánh, lấplánh bao đời như thế buộc ta phải tìm hiểu,khám phá, học tập không ngừng

Một tình yêu thiên nhiên, tình yêu quêhương thắm thiết

Từ hệ thống lời ca quan họ, người quan họ

đã phác vẽ tài tình về một quê hương vớimột tình yêu quê hương chân thật, tự nhiên

mà thắm thiết Trước hết, đó là một quêhương "sơn thuỷ hữu tình", những "đường vềQuan họ", những "đầu làng có chiếc giếngkhơi", những "cây gạo chon von", một "quánDốc chợ Cầu", một "quán trắng phố Nhồi",những cửa chùa rộng mở ngày hội cho traithanh gái lịch về sum vầy ca xướng, nhữngđêm trăng suông "nửa đêm về sáng trăngbằng ngọn tre", những "dòng sông phẳnglặng nước đầy", một sông Dâu "ba bốn chiếcthuyền kề", những bến đò ngang "vẳng tiếng

Ngày đăng: 29/06/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng cây trúc trong lời ca Quan họ đã dẫn  đến  một  biểu  tượng  không  hoàn  toàn lặp lại biểu tượng quen thuộc của trúc mà đã biến hoá đi thành một biểu tượng về vẻ đẹp theo  góc  độ  thẩm  mĩ  của  người  bình  dân, người Quan họ - Tìm hiểu về quan họ docx
Hình t ượng cây trúc trong lời ca Quan họ đã dẫn đến một biểu tượng không hoàn toàn lặp lại biểu tượng quen thuộc của trúc mà đã biến hoá đi thành một biểu tượng về vẻ đẹp theo góc độ thẩm mĩ của người bình dân, người Quan họ (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w