Khám phá Privacy của Internet Explorer Trước khi tìm hiểu phương pháp trình duyệt riêng tư, chúng ta cần phải biết phương pháp Internet Explorer lưu trữ những thông tin về các phiên trì
Trang 1Bảo mật phiên truy cập trong IE 8
Trang 2Internet Explorer 8 tích hợp nhiều tính năng bảo mật mới giúp quá trình trình duyệt trở nên bảo mật hơn rất nhiều so với các phiên bản trước Những tính năng mới này khá hiệu quả, linh hoạt do đó chúng có thể được sử dụng trong một số môi trường khác nhau
Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu những tính năng mới này của Internet Explorer 8 và phương pháp cấu hình chúng để sử dụng trong những tình huống khác nhau
Khám phá Privacy của Internet Explorer
Trước khi tìm hiểu phương pháp trình duyệt riêng tư, chúng ta cần phải biết phương pháp Internet Explorer lưu trữ những thông tin về các phiên trình duyệt của người dùng
Đầu tiên và cũng là quan trọng nhất, nếu bạn quan tâm tới số lượng dấu vết
có thể để lại trên một máy tính sau khi truy cập vào Internet với cấu hình mặc định của Internet Explorer Tốt nhất bạn nên quan tâm tới những thông tin này Người dùng nào đó với thói quen truy cập vào lược sử trình duyệt,
Trang 3cookies, và phiên dữ liệu sẽ biết được bạn đã truy cập vào những trang web nào và thực hiện các thao tác gì trên đó Tệ hơn, tin tặc có thể sử dụng những thông tin đó để đánh cắp mật khẩu, chiếm quyền phiên trình duyệt và lấy mọi thông tin cá nhân của bạn
Dưới đây là một số vị trí mà những kiểu dữ liệu như vậy thường được lưu trữ xuống khi người dùng truy cập Internet:
Folder Temp của Internet Explorer (hay còn gọi là Cache – bộ nhớ
đệm) Folder này nằm trong đường dẫn C:\Users\<tên người
dùng>\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files
IE Cookies Có đường dẫn C:\Users\<user
name>\AppData\Roaming\Microsoft\Windows\Cookies
IE History (lược sử) History nằm trong đường dẫn C:\Users\<user
name>\AppData\Local\Microsoft\Windows\History
Trang 4
IE Typed URL (những đĩa chỉ đã truy cập) Những địa chỉ này được
lưu trong key HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet
Explorer\TypedUrls
IE Forms AutoComplete (thông tin lưu trữ sau khi nhập dữ liệu vào
form trên trang web) Những thông tin này được lưu trữ trong key
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet
Explorer\IntelliForms\Storage1
IE Password AutoComplete (lưu mật khẩu sử dụng trên trang web)
Những mật khẩu này được lưu trữ trong
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet
Explorer\IntelliForms\Storage2
Tất nhiên, người dùng có thể xóa mọi thông tin lưu trữ này bằng cách vào
menu Tools chọn Internet Options rồi nhấn nút Delete Tuy nhiên, việc cho
phép Internet Explorer lưu trữ những thông tin này ngay sau khi truy cập có một chút phiền toái và chúng ta không thể thường xuyên nhắc nhở người dùng xóa bỏ những thông tin này vì lí do bảo mật
Trang 5InPrivate Browsing
Thông thường khi truy cập Internet chúng ta không bao giờ nghĩ đến việc một người dùng khác có thể tiếp cận mọi thông tin cá nhân một cách dễ dàng nhờ Cookies và thông tin phiên trình duyệt Đó chính là lí do Microsoft tích hợp tính năng InPrivate Browsing cho Internet Explorer 8 Nếu sử dụng một máy tính công cộng và bạn không muốn mọi người biết được bạn đã truy cập những gì thì bạn chỉ cần khởi chạy InPrivate Browsing
Trang 6InPrivate Browsing rất dễ sử dụng Để truy cập vào nó bạn chỉ cần nhấn tổ
hợp phím [Ctrl + Shift + P] sau khi mở Internet Explorer 8, sau đó bạn sẽ thấy cửa sổ trình duyệt InPrivate xuất hiện
Trong chế độ này những loại thông tin sau sẽ không được lưu trữ:
Cookies
Trang 7
History
Những file Temporary Internet sẽ được xóa sau khi đóng cửa sổ trình
duyệt InPrivate
Form dữ liệu
Mật khẩu
Những địa chỉ URL đã truy cập
Những truy vấn tìm kiếm
Những liên kết đã truy cập
Khi sử dụng chế độ này mọi thông tin về phiên trình duyệt của bạn sẽ không được lưu trữ, và tất nhiên bạn sẽ không phải thực hiện một thao tác khó nhớ
là vào Internet Options để xóa chúng sau khi kết thúc phiên trình duyệt
Trang 8Chặn InPrivate Browsing bằng Group Policy
InPrivate Browsing rất hiệu quả trong việc đảm bảo bảo mật cho hệ thống tuy nhiên lại không thực sự hiệu quả trong việc quản lý nhân viên VÌ không có thông tin nào về phiên đăng nhập được lưu trữ nên bạn không thể có bằng chứng kết luận nhân viên đó có xao nhãng công việc hay không Đây chính là
lí do Microsoft đã tích hợp một công cụ quản trị bổ sung giúp kiểm soát
InPrivate Browsing bằng cách sử dụng Group Policy
Trong trường hợp này chúng ta cần phải tắt bỏ chế độ InPrivate Browsing
Để tắt bổ chế độ này, trước tiên chúng ta phải tạo một Group Policy Object mới Trong Group Policy Object mới này, duyệt tìm tới Computer
Configuration | Administrative Templates | Windows Components |
Internet Explorer | InPrivate
Có một số tùy chọn mà bạn có thể lựa chọn tại đây, nhưng mục đích của chúng ta là tắt bỏ chế độ InPrivate Browsing nên chúng ta chỉ chú ý tới tùy
chọn Turn off InPrivate Browsing Cài đặt cho tùy chọn này là Enabled rồi
Trang 9áp dụng nó cho một số người dùng hay nhóm người dùng cụ thể để họ không thể sử dụng InPrivate Browsing để xóa mọi dấu vết trình duyệt
InPrivate Filtering
Cùng với InPrivate Browsing, Microsoft cũng đã giới thiệu tính năng
InPrivate Filtering giúp cung cấp thông tin về các ứng dụng nhóm 3 muốn sử dụng thông tin trình duyệt của người dùng
Trang 10Bạn đã từng gặp trường hợp sau khi mua trực tuyến một mặt hàng nào đó, bạn truy cập sang một trang web khác và những banner quảng cáo trên trang
đó hiển thị cùng loại sản phẩm mà bạn đã tìm trước đó? Đây là một ví dụ điển hình cho thấy các trang web sử dụng code theo dõi người dùng mà
không cần sử dụng đến Cookies
Một ví dụ khác, giả sử bạn trình duyệt vào trang web có địa chỉ
www.fakewebsitegoeshere.com Trang web này chứa đoạn code sau:
<script src=”http://www.fakewebsitegoeshere.com/trackingservice.js”>
Sau khi rời khỏi trang web đó bạn truy cập sang trang web
www.thiswebsitecouldnotbefaker.com Trang web này cũng chứa đoạn mã
sau:
<script
src=”http://www.thiswebsitecouldnotbefaker.com/trackingservice.js”>
Đây là hai trang web hoàn toàn khác nhau nhưng chúng cùng sử dụng một dịch vụ nhóm ba Điều này có nghĩa là mỗi khi bạn truy cập vào hai trang
web này hay bất vứ trang web nào khác sử dụng lệnh *.js thì mọi thao tác của
bạn sẽ bị ghi lại (thường sử dụng cho mục đích quảng cáo)
Trang 11InPrivate Filtering theo dõi những tập lệnh nhóm ba này sau đó sẽ tự động chặn nội dung này trên những trang web mà nó nhận thấy có sử dụng InPrivate Filtering có thể được cấu hình trong menu Safety ở phía trên bên phải của cửa sổ Internet Explorer 8 Vào menu Safety chọn InPrivate
Filtering Settings, sau đó bạn có thể lựa chọn tự động chặn nội dung nhóm
ba, chọn nội dung chặn hay cho phép, hay tắt bỏ cài đặt
Trang 12Tuy nhiên tính năng này cũng có một số giới hạn Chẳng hạn, khi cấu hình cho nó tự động chặn thì rất có thể trang web mà bạn truy cập vào sẽ kém tương tác hơn Ngoài ra, người dùng rất dễ vô tình kích hoạt tính năng này,
do đó một số trang web nhất định sẽ không hiển thị chính xác nếu gặp phải những vấn đề tương tự Có một số phương pháp khác có thể sử dụng thay cho việc lựa chọn chặn nội dung, nhưng vấn đề thứ hai có thể được khắc phục bằng cách sử dụng Group Policy để tắt bỏ tính năng InPrivate Filtering Cài
đặt này của Group Policy Object có tên gọi Turn off InPrivate Filtering và
có thể được tìm thấy trong Computer Configuration | Administrative
Tools | Windows Components | Internet Explorer | InPrivate
Kết luận
Trong bài viết này chúng ta đã tìm hiểu vị trí lưu trữ thông tin phiên truy cập của Internet Explorer 8 và phương pháp ngăn chặn những thông tin này với InPrivate Browsing Ngoài ra chúng ta cũng đã tìm hiểu InPrivate Filtering và phương pháp nó có thể chặn những tập lệnh nhóm ba sử dụng thông tin trình duyệt