Chỉ số tổng hợp được dùng nhiều nhất trong phân... tích thống kê... Nhờ đặc điểmnày mà phương pháp mang tên liên hoàn... CHƯƠNG 9LÝ THUYẾT QUYẾT ĐỊNH9.1.
Trang 1CHƯƠNG 8: CHỈ SỐ8.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, TÁC DỤNG CỦA CHỈ SỐ TRONG THỐNG KÊ
8.1.1 Khái niệm và phân loại chỉ số
8.1.1.1 Khái niệm:
Chỉ số trong thống kê là phương pháp biểu hiện quan hệ so sánh giữa 2 mức độ nào đócủa một hiện tượng kinh tế
Ví dụ : Giá trị tổng sản lượng công nghiệp của Xí nghiệp A năm 1888 là 500 triệu đồng, năm
1888 là 800 triệu đồng Nếu lấy năm 1888 so với năm 1888 thì chỉ số phát triển giá tổng sảnlượng công nghiệp của xí nghiệp này bằng 1,6 lần (hay 160%)
Chỉ số trên đây được tính bằng cách so sánh 2 mức độ của hiện tượng kinh tế ở 2 thờigian khác nhau (năm 1888 so với năm 1888) nhằm nêu lên biến động của hiện tượng qua thờigian Chỉ số này được biểu hiện bằng số tương đối, có thể là số tương đối kế hoạch (nhiệm vụ kếhoạch hoặc hoàn thành kế hoạch) còn có thể là số tương đối so sánh (so sánh giá cả 1số mặt hàngở thị trường A với giá các mặt hàng đó ở thị trường B hay ngược lại)
Như vậy khái niệm chỉ số trong thống kê khá rộng rãi, là phương pháp biểu hiện các quanhệ so sánh khác nhau Trong công tác thực tế, đối tượng chủ yếu của phương pháp chỉ số thườnglà các hiện tượng kinh tế phức tạp bao gồm nhiều đơn vị khác nhau, nhiều phần tử có tính chấtkhác nhau (khác nhau về tên gọi, về giá trị sử dụng, về đơn vị tính ) Muốn so sánh các mức độcủa hiện tượng kinh tế phức tạp này ta thường phải tìm cách trước hết biến đổi các đơn vị hoặcphần tử có tính chất khác nhau trở thành một dạng đồng nhất
8.1.1.2 Phân loại chỉ số :
Các chỉ số trong thống kê được chia làm nhiều loại tùy theo mục đích nghiên cứu Căn cứtheo phạm vi tính toán, thường phân biệt 2 loại chỉ số:
VD: Chỉ số giá cả từng mặt hàng, chỉ số khối lượng từng sản phẩm Chỉ số đơn có tác dụngquan trọng đối với việc nghiên cứu sự phát triển của những sản phẩm chủ yếu trong nền kinh tếquốc dân chỉ số này còn có thể được dùng làm cơ sở để tính toán các chỉ số tổng hợp
VD: Chỉ số tổng hợp giá cả của toàn bộ các mặt hàng bán lẻ tại một thị trường chỉ số tổng hợpcủa toàn bộ các sản phẩm của 1 xí nghiệp Chỉ số tổng hợp được dùng nhiều nhất trong phân
Trang 2tích thống kê Người ta còn có thể dùng khái niệm chỉ số tổng hợp để nêu lên biến động củatừng tổ, nhóm đơn vị của hiện tượng phức tạp.
Xét về tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu thường phân biệt 2 loại chỉ số:
năng suất lao động, năng suất thu hoạch, tiền lương
hóa tiêu thụ, diện tích gieo trồng, số lượng công nhân viên
Việc phân biệt hai loại chỉ số chỉ tiêu chất lượng và chỉ số chỉ tiêu số lượng giúp cho việcxác định công thức chỉ số của những nhóm chỉ tiêu gần giống nhau về tính chất Nhưng chú ýrằng việc phân biệt 2 loại chỉ số này cũng chỉ có tính chất quy ước bao gồm 1 số chỉ tiêu kinh tếthường dùng nhất
8.1.2 Đặc điểm của phương pháp chỉ số
Xây dựng chỉ số đối với các hiện tượng phức tạp thì biểu hiện về số lượng của các phầntử được chuyển về dạng chung để có thể trực tiếp cộng với nhau được, dựa trên cơ sở mối liên hệgiữa các nhân tố nghiên cứu với các nhân tố khác
Khi có nhiều nhân tố tham gia vào công thức chỉ số, việc phân tích biến động của nhân tốđược đặt trong điều kiện giả định các nhân tố khác là không thay đổi
8.1.3 Tác dụng của của chỉ số
Trong phân tích thống kê, chỉ số có tác dụng:
thường được gọi là chỉ số phát triển tính được bằng cách so sánh mức độ của hiện tượng ở 2thời gian khác nhau (kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc)
xí nghiệp, giữa 2 địa phương Các chỉ số loại này thường được gọi là chỉ số không gian hoặcchỉ số địa phương
kinh tế Các chỉ số này thường được gọi là chỉ số kế hoạch
bộ hiện tượng kinh tế phức tạp Thực chất đây cũng là việc phân tích mối liên hệ nhằm nêu lên
Trang 3các nguyên nhân quyết định sự biến động của hiện tượng phức tạp, tính toán cụ thể ảnh hưởngcủa mỗi nguyên nhân này.
Qua các tác dụng nói trên, ta thấy chỉ số là một phương pháp không những có khả năngnêu lên biến động tổng hợp của hiện tượng kinh tế phức tạp mà còn có thể phân tích sự biếnđộng này Như chỉ số khối lượng sản phẩm là chỉ tiêu có tính chất tổng hợp biểu hiện biến độngcủa một tổng thể sản phẩm công nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau Còn chỉ số năng suất laođộng lại là chỉ tiêu có tính chất phân tích sự biến động của một trong các nhân tố quyết định biếnđộng khối lượng sản phẩm Có chỉ số lại bao gồm được cả hai tính chất tổng hợp và phân tích:như chỉ số giá cả của toàn bộ hay từng nhóm hàng là chỉ tiêu có tính chất tổng hợp (khác với chỉsố giá cả của từng mặt hàng riêng biệt) chỉ số này còn có ý nghĩa phân tích vì nó phản ánh biếnđộng của nhân tố giá cả trong mức tiêu thụ hàng hóa chung
8.2 CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN
Chỉ số trong thống kê được vận dụng trong phân tích kinh tế đối với nhiều chỉ tiêu thuộcnhiều lĩnh vực bao gồm chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá xuất khẩu, chỉ số khối lượng sản phẩm,chỉ số giá thành,…
Để minh hoạ phương pháp luận thiết lập và phân tích chỉ số thống kê, sau đây đề cập đếnchỉ số giá và chỉ số số lượng hàng tiêu thụ
Chỉ số giá phản ánh biến động giá bán của từng mặt hàng kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc
8.2.1.2 Chỉ số đơn về lượng hàng tiêu thụ:
Biểu hiện quan hệ so sánh giữa khối lượng tiêu thụ của từng mặt hàng ở 2 thời gian
0
1 q
Trang 4q1, q0: lượng hàng hóa tiêu thụ kỳ n/c và kỳ gốc.
Ví dụ : Giả sử có tài liệu về giá cả, lượng hàng hóa tiêu thụ tại một thị trường như sau:
Tên hàng Đơn vị tính Giá bán lẻ đơn vị (1000 đ) Lượng hàng tiêu thụ
Kỳ gốc (p o ) Kỳ n/c (p 1 ) Kỳ gốc (q o ) Kỳ n/c (q 1 )
Kỳ n/c (p 1 )
Kỳ gốc (q o )
Kỳ n/c (q 1 )
8.2.2 Chỉ số chung (chỉ số tổng hợp)
8.2.2.1 Vấn đề chọn quyền số cho chỉ số chung
Các chỉ số cá thể chưa cho ta biết tình hình so sánh giá cả của toàn bộ các hàng hóa trênthị trường Có những ý kiến cho rằng có thể lấy trung bình đơn giản các chỉ số cá thể để có chỉ sốchung
Trang 5Quyền số của chỉ số là những đại lượng được dùng trong công thức chỉ số chung và đượccố định giống nhau ở tử và mẫu số Quyền số của chỉ số có hai tác dụng:
- Biểu hiện vai trò quan trọng của mỗi phần tử hai bộ phận trong toàn bộ tổng thể, nghĩa là duytrì tỷ trọng của phần tử hay bộ phận đó tương xứng vị trí của nó trong quá trình tính toán
- Làm cho các phần tử vốn không thể cộng trục tiếp được với nhau được chuyển về dạng đồngnhất và có thể cộng được
Trong từng chỉ số cụ thể, quyền số có thể thực hiện một hoặc cả hai chức năng nói trên.Ví dụ: Quyền số của chỉ số chung giá cả là lượng hàng hóa tiêu thụ, đó là công cụ giúpcho việc so sánh giá cả giữa hai kỳ của các loại hàng có tầm quan trọng khác nhau Quyền số củachỉ số chung về lượng hàng hóa tiêu thụ là giá cả, có tác dụng như một nhân tố thông ước đểchuyển các lượng hàng hóa vốn không trực tiếp cộng được với nhau thành dạng đồng nhất (dạnggiá trị) và do đó có thể cộng được với nhau Mặt khác mỗi hàng hóa có giá cả khác nhau cũngnhờ có quyền số này mà chiếm vị trí tương xứng trong tổng mức tiêu thụ hàng hóa
Vấn đề chọn quyền số có ý nghĩa quan trọng đối với việc tính chỉ số chung vì nó quyếtđịnh ý nghĩa của mỗi chỉ số Có thể nói đây là vấn đề chủ chốt trong phương pháp tính chỉ sốchung
Muốn chọn quyền số cho mỗi chỉ số phải xét mối liên hệ giữa các nhân tố, đồng thời phảicăn cứ vào mục đích nghiên cứu Thông thường người ta căn cứ vào mối liên hệ giữa các nhân tốnày để lợi dụng các nhân tố khác còn lại là quyền số Nhưng mỗi nhân tố được nghiên cứu khôngchỉ liên hệ với một mà có thể với nhiều nhân tố khác nhau Như khối lượng sản phẩm côngnghiệp không những có liên hệ với giá cả mà còn có liên hệ với giá thành, với lượng lao độnghao phí, với lượng nguyên vật liệu sử dụng Mỗi nhân tố có liên hệ đều có thể được chọn làmquyền số của chỉ số khối lượng sản phẩm, nên ý nghĩa và kết quả tính toán của mỗi chỉ số khácnhau Rõ ràng ở đây còn phải tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu để chọn quyền số thích hợp
8.2.2.2 Chỉ số chung về giá
Trang 6Chỉ số tổng hợp về giá biểu hiện quan hệ so sánh giữa giá bán của một nhóm hàng haytoàn bộ các mặt hàng kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc và qua đó phản ánh biến động chung giá báncủa các mặt hàng.
Các chỉ số của Laspeyres và Paashe
Nếu chọn quyền số ở ký gốc, ta có chỉ số chung giá cả của Laspeyres:
p
p
1 0
0 0
Nếu chọn quyền số ở ký nghiên cứu, ta có chỉ số chung Paashe
q
p
1 0
pp
1 1
thay đổi cho việc tính toán dễ dàng hơn:
pp1 0
p
p p q
p q0
0
1 0
1 0
p qp
1 1
1 1 0 1
Tương tự thay vào các công thức (8.4), (8.5), (8.6)
Các chỉ số Laspeyres và Paashe theo lô gíc tư duy khác nhau: So sánh giá cả̉ thị trường,theo lượng tiêu thụ kỳ nào? Trước đây người ta hay dùng công thức Laspeyres vì nó không đòi
Trang 7hỏi phải tính ngay tổng của p1q1 và thường có sẵn các khối lượng kỳ gốc q0 Nhưng giờ đây khimáy tính đã ngày càng hoàn thiện người ta ưa dùng công thức Paashe vì tính hiện thực của nó.
- Chỉ số chung của Fisher:
Các chỉ số chung của Laspeyres và Paashe có bất lợi là không có tính nghịch đảo và có tính liênhoàn Fisher đề nghị dùng công thức có đầy đủ các tính trên
8.2.2.3 Chỉ số chung lượng hàng tiêu thụ
Chỉ số chung về lượng hàng tiêu thụ biểu hiện quan hệ so sánh giữa khối lượng tiêu thụcủa một nhóm hàng hay toàn bộ các mặt hàng kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc và qua đó phản ánhbiến động chung khối lượng tiêu thụ của các mặt hàng
- Nếu chọn quyền số ở kỳ gốc, ta có chỉ số chung lượng hàng tiêu thụ của Laspeyres:
qpI
0
0 q
- Nếu chọn quyền số ở kỳ gốc, ta có chỉ số chung lượng hàng tiêu thụ của Laspeyres:
qpI
1
1 q
- Chỉ số chung về lượng hàng tiêu thụ của Fisher
ưu tiên hay không cho mặt hàng đó Chỉ số giá cả có trọng số có thuận lợi hơn quyền số là khôngbị thay đổi liên tục, mà chỉ sau một thời kỳ nhất định ta mới lại chỉnh lý lại cho sát với thực tế
Trang 8Chỉ số tổng hợp giá cả có tác dụng rất rộng rãi Từ những chỉ số giá thị trường được tính liên tụchàng tháng, hàng năm (để quan sát lạm phát) cho đến chỉ số giá thị trường chứng khoán, chỉ sốgiá tư liệu sản xuất, chỉ số giá cả lao động (tiền lương), chỉ số giá từng loại sản phẩm Các chỉsố tổng hợp giá cung cấp những thông tin phản ánh sự sôi động của nền kinh tế thị trường.
- Chỉ số chung bình quân với trọng số:
Trường hợp ta cần tính chỉ số giá cả tổng hợp vùa đã có sẵn chỉ số đơn của giá cả các
nhất thiết phải sử dụng các quyền số trên, mà có thể sử dụng trọng số như đối với các chỉ số(phần 4):
m
mp
n n P
qp
qpp
p
1
Các chỉ số này có ứng dụng thực tế rõ rệt hơn các chỉ số (8.3) và (8.5)
biểu hiện bằng điểm số theo tầm quan trọng hoặc các hệ số ưu tiên:
mq
q
Trang 9hoặc nhiều mặt hàng giữa các chợ trong một địa phương hoặc giữa các địa phương khác nhau.Lúc này ta có các chỉ số giá cả không gian.
)qq(p
)qq(pI
B A B
B A A p
Trong đó: A và B là 2 địa phương cần so sánh
Cũng cần có nhu cầu tính chỉ số không gian về số lượng để so sánh lượng của hiện tượng giữacác địa phương kháa nhau Chỉ số số lượng tổng hợp theo không gian có thể dùng giá cố định(giá so sánh) do nhà nước ban hành:
Trong đó: A và B là 2 địa phương cần so sánh
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, ta không có đủ giá so sánh cho tất cả các mặt hàng nên cần sửdụng giá bình quân của 2 địa phương cần so sánh:
pqq
A B
Chỉ số tổng hợp số lượng cũng có thể dùng trọng số, tương tự như đối với chỉ số tổng hợpgiá cả lúc này chỉ cần có chỉ số đơn của số lượng (sản phẩm, hàng hóa ) và trọng số thí́ch hợplà có thể có chỉ số tổng hợp số lượng
8.5 HỆ THỐNG CHỈ SỐ
8.5.1 Khái niệm về cấu thành hệ thống chỉ số
Trong các phần trên đã trình bày phương pháp tính chỉ số đối với từng loại chỉ tiêu (chỉtiêu chất lượng và chỉ tiêu khối lượng) Các chỉ tiêu này có thể dùng để nghiên cứu độc lập, hoặcnghiên cứu trong mối quan hệ với nhau Ví dụ: giá cả, lượng hàng hóa tiêu thụ và mức tiêu thụhàng hóa có liên hệ với nhau, vì giá cả và lượng hàng hóa tiêu thụ là hai nhân tố cấu thành vàquyết định biến động của các mức tiêu thụ hàng hóa Khi dùng chỉ số để biểu hiện biến động của
Trang 10các chỉ tiêu này, ta vẫn có thể duy trì mối liên hệ giữa chúng với nhau bằng cách kết hợp chúnglại thành một hệ thống chỉ số.
Tập hợp ba chỉ số trở lên có mối liên hệ mật thiết với nhau (thể hiện được ở dạng phươngtrình, tức là có dấu =) gọi là hệ thống chỉ số
Hệ thống chỉ số thông thường được vận dụng để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêutrong quá trình biến động Trong nghiên cứu kinh tế, nhiều chỉ tiêu tổng hợp có thể được cấuthành từ nhiều nhân tố liên quan thể hiện dưới dạng phương trình kinh tế và chính mối liên hệ đólà cơ sở thiết lập hệ thống chỉ số
Chỉ số Doanh thu = Chỉ số giá bán x chỉ số số hàng hóa tiêu thụ)
Chỉ số sản lượng =chỉ số năng suất lao động x chỉ số quy mô lao động
Như vậy cấu thành một hệ thống chỉ số thường bao gồm chỉ số toàn bộ và chỉ số của từngnhân tố
Chỉ số toàn bộ phản ánh biến động của hiện tượng phức tạp do ảnh hưởng của các nhântố cấu thành
Chỉ số nhân tố phản ánh ảnh hưởng của sự biến động của từng nhân tố đối với sự biếnđộng của hiện tượng phức tạp
Dựa vào hệ thống chỉ số có thể nhanh chóng xác định được một chỉ số chưa biết khi đãbiết các chỉ số khác trong hệ thống
8.5.3 Phương pháp xây dựng hệ thống chỉ số liên hoàn
Phương pháp này dựa trên cơ sở lý luận là các nhân tố cấu thành một hiện tượng phức tạpđều có cùng biến động Do đó, để nghiên cứu ảnh hưởng của từng nhân tố ta giả định các nhân tố
Trang 11lần lượt biến động Thứ tự phân tích của các nhân tố trong hệ thống chỉ số được xác định chủ yếuthông qua việc phân biệt các nhân tố mang đặc tính chất lượng hay số lượng
Trên cơ sở xác định các nhân tố, hệ thống chỉ số theo phương pháp liên hoàn có đặcđiểm:
có bấy nhiêu nhân tố Mỗi nhân tố là cơ sở để hình thành một chỉ số
tố đứng trước giống với tử số của chỉ số của nhân tố đứng sau Do đó, sự kết hợp của chỉ số nhântố hình thành một dãy các chỉ số liên tục, khép kín, đảm bảo quan hệ cân bằng Nhờ đặc điểmnày mà phương pháp mang tên liên hoàn
và mẫu số của chỉ số nhân tố Thực chất của kết quả tính này để phân tích biến động tuyệt đốicủa chỉ tiêu nghiên cứu ra thành những phần biến động do ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành.Theo đặc điểm trên việc thiết lập ra một hệ thống chỉ số liên hoàn được thực hiện theo cácbước:
theo trình tự tính chất lượng giảm dần và tính số lượng tăng dần
thông thường sử dụng quyền số là nhân tố số lượng kỳ nghiên cứu và đối với chỉ số củanhân tố số lượng thì sử dụng quyền số là nhân tố chất lượng kỳ gốc
Ví dụ để phân tích biến động tổng doanh thu do ảnh hưởng của nhân tố giá bán và lượng tiêu thụcủa các mặt hàng có thể vận dụng hệ thống chỉ số chung theo phương pháp liên hoàn như sau:
1 0 1
0
1 1 0
0
1 1
qp
qpq
p
qpq
p
qp
Số tuyệt đối tăng (giảm)
p q1 1 p q0 0 p q1 1 p q0 1 p q0 1 p q0 0
( ) ( )
8.5.4 Phương pháp biểu hiện ảnh hưởng biến động riêng biệt
Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng tất cả các nhân tố cấu thành hiện tượngnghiên cứu đều có vai trò ngang nhau và cùng biến động Do đó, tất cả các chỉ số nhân tố phải
Trang 12giống nhau và được chọn là kỳ gốc sao cho mỗi chỉ số nhân tố đều biểu hiện được ảnh hưởngriêng của nhân tố.
Trong trường hợp hệ thống chỉ số phân tích biến động tổng doanh thu, chỉ số giá được sửdụng chính là chỉ số giá quyền số kỳ gốc Vì tất cả các chỉ số nhân tố đều có quyền số kỳ gốc nênchỉ số toàn bộ không bằng tích các chỉ số nhân tố Để đảm bảo quan hệ cân bằng trong hệ thốngchỉ số, theo phương pháp này người ta thêm vào hệ thống chỉ số một đại lượng bổ sung gọi là chỉsố liên hệ
Chỉ số liên hệ biểu hiện ảnh hưởng chung của tất cả các nhân tố cùng biến động và cùngtác động với nhau
Mô hình chung thiết lập hệ thống chỉ số theo phương pháp này biểu hiện biến động riêngbiệt được minh hoạ như sau:
Chỉ số toàn bộ=Chỉ số nhân tố 1 x Chỉ số nhân tố2 x …x Chỉ số nhân tố n x Chỉ số nhân tố liênhệ
Tuỳ theo số lượng các nhân tố cấu thành của hiện tượng nghiên cứu mà trong hệ thốngchỉ số có thể bao gồm 1 hay nhiều chỉ số liên hệ Mỗi chỉ số liên hệ phản ánh kết quả cùng biếnđộng và cùng tác động lẫn nhau của hai hay nhiều nhân tố Theo mô hình chung trên, với n nhân
hưởng của các dạng liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các nhân tố
Có thể nhận thấy việc thiết lập hệ thống chỉ số theo phương pháp biểu hiện biến độngriêng biệt là tương đối phức tạp Hiện tượng nghiên cứu được phân tích thành càng nhiều nhân tốthì trong hệ thống càng có nhiều thành phần biểu hiện biến động và cùng tác động giữa các nhântố gây khó khăn trong quá trình xây dựng, tính toán và phân tích Như vây, phương pháp này cóthể áp dụng một cách thuận lợi nhất trong trường hợp hiện tượng nghiên cứu được phân tíchthành 2 nhân tố
Trong trường hợp phân tích biến động tổng doanh thu, hệ thống chỉ số theo phương pháp biểuhiện biến động riêng biệt được thể hiện như sau:
0 0
1
1 1
0 0
1 0
0
0 1
0 0
1 1
q p
q p q p
q p x q p
q p q
p
q p q
p
q p
o o
Lượng tăng (giảm) tuyệt đối:
Trang 13) )(
( ) (
)
0 0 1
p
Trong đó
(1) chỉ số toàn bộ nêu lên sự biến động của tổng doanh thu
(2) Chỉ số nhân tố phản ánh biến động riêng biệt của giá bán mặt hàng ảnh hưởng tới tổngdoanh thu
(3) Chỉ số nhân tố phản ánh biến động riêng biệt của lượng tiêu thụ của ảnh hưởng tới tổngdoanh thu
(4) Chỉ số liên hệ phản ánh kết quả của từng biến động và cùng tác động của giá và lượnghàng tiêu thụ ảnh hưởng tới tổng doanh thu
8.6 HẾ THỐNG CHỈ SỐ CỦA CHỈ TIÊU BÌNH QUÂN VÀ CHỈ TIÊU TỔNG LƯỢNG BIẾN
8.6.1 Hệ thống các chỉ số phân tích chỉ tiêu bình quân
Chỉ tiêu bình quân chịu ảnh hưởng biến động của tiêu thức nghiên cứu và kết cấu củatổng thể Như biến động tiền lượng trung bình của công nhân trong xí nghiệp là do biến động củabản thân tiền lương và biến động kết cấu công nhân (kết cấu tổng thể) có các mức lương khácnhau Biến động giá thành trung bình đơn vị sản phẩm là do biến động của bản thân giá thành(tiêu thức nghiên cứu) và biến động kết cấu tổng thể sản phẩm có giá thành khác nhau
Thống kê có thể dùng phương pháp chỉ số để phân tích vai trò và ảnh hưởng của các nhântố đối với biến động của các chỉ tiêu trung bình Ta dùng các ký hiệu sau:
Ta có thể xây dựng các chỉ số sau:
- Chỉ số cấu thành khả biến: Nêu lên biến động của chỉ tiêu trung bình giữa hai kỳ nghiên cứu.Chỉ tiêu này được tính bằng cách so sánh hai số bình quân của kỳ nghiên cứu và kỳ gốc:
x
x ff
x ff
01 1 0
1 1 1
0 0 0
Trang 14- Chỉ số cấu thành cố định: Nêu lên biến động biến động của chỉ tiêu bình quân do ảnh hưởngcủa tiêu thức nghiên cứu trong khi đó kết cấu của tổng thể được coi như cố định (thường được cốđịnh ở kỳ nghiên cứu)
x
x ff
x ff
1 1 1
0 1 1
:
Chỉ số này có ý nghĩa phân tích quan trọng, bởi vì nó nói lên chất lượng của công tác kinh tế,giúp cho lãnh đạo nắm được đúng đắn bản chất của hiện tượng Chỉ khi nào bản thân tiêu thứcnghiên cứu có biến động, thì biến động của chỉ tiêu bình quân mới có đầy đủ ý nghĩa
- Chỉ số ảnh hưởng kết cấu: Nêu lên biến động của chỉ tiêu bình quân do ảnh hưởng biến độngcủa riêng kết cấu tổng thể, còn bản thân tiêu thức nghiên cứu được coi như không đổi (thườngđược cố định ở kỳ gốc)
x
x ff
x ff
0 1 1
0 0 0
:
Có thể kết hợp 3 chỉ số nói trên thành hệ thống chỉ số sau :
Chỉ số cấu thànhkhả biến
= Chỉ số cấu thành cố
định
hưởng kết cấuĐược biểu hiện bằng công thức :
1 0
1
1 0 1
1 1
0
0 0 1
1 1
f
fxf
fx
f
fxf
fx
f
fxf
fx
Các lượng tăng, giảm tuyệt đối cũng có liên hệ với nhau như sau :
1 0 1
1 0 1
1 1 0
0 0 1
1 1
f
fxf
fxf
fxf
fxf
fxf
fx
Các lượng tăng giảm tương đối có liên hệ như sau:
x ff
x ffx
x ff
x ffx
x ff
x ffx
1 1 1
0 0 0 0
1 1 1
0 1 1 0
0 1 1
0 0 0 0
Trang 15Kỳ gốc Kỳ nghiên cứu Chỉ sốCông
trường
Lượngthan khai
thác (T)
Số ngàycông(ngày)
Tỷ
trọngngàycông
Năng suấtlao động(T/ng)
Lượngthan khaithác (T)
Số
ngàycông(ngày)
Tỷ
trọngngàycông
Năngsuất laođộng (T/
ng)
NSLĐcủa CT(%)
W TT
W TT
W TT
W TT
W TT
W TT
1 1 1
0 0 0
1 1 1
0 1 1
0 1 1
0 0 0
+ W: năng suất lao động từng công trường
+ T: Số ngày công thực tế từng công trường
+ (a): Chỉ số cấu thành khả biến hay chỉ số năng suất lao động trung bình toàn mỏ
+ (b): Chỉ số cấu thành cố định hay chỉ số năng suất lao động đã loại trừ thay đổi kết cấu+ (c): Chỉ số nêu rõ ảnh hưởng thay đổi kết cấu đến năng suất lao động trung bình
Với các số liệu trên ta có:
0,842 = 1,23 x 0,684
Tức là: năng suất lao động trung bình của mỏ giảm 15,8% là do :
- Năng suất lao động các công trường tăng 23%
Trang 16- Nguyên nhân chính gây giảm là thay đổi kết cấu sản xuất giữa các công trường mà biểu hiệntrực tiếp là số ngày công, làm năng suất lao động giảm tới 31,6%.
Kết quả tính toán của công thức này hoàn toàn giống như công thức trên
Hệ thống chỉ số của số trung bình có tác dụng rất rõ rệt trong phân tích kinh tế - xã hội Bất kỳmột sự thay đổi công thức nào trong tổng thể hiện tượng cũng đều tác động (có hại hoặc có lợi,tùy theo chuyển dịch của cơ cấu) đến các chỉ tiêu phản ánh các mặt của hiện tượng Vì vậy cầncó hệ thống chỉ số này để hiểu rõ cơ chế của ảnh hưởng đó và có các cách xử lý cần thiết
8.6.2 Hệ thống chỉ số phân tích sự biến động của chỉ tiêu tổng lượng biến
Tổng lượng biến trong phân tích thống kê được biểu hiện ở nhiều chỉ tiêu như tổng sảnlượng, tổng chi phí, tổng quỹ lương….Nhân tố ảnh hưởng đến tổng lượng biến tiêu thức có thểđược biểu hiện một cách tổng quát như sau:
Trong đó: xi: lượng biến của tiêu thức với fi là số đơn vị (tần số tương ứng)
Như vậy có 2 cách để xác định nhân tố ảnh hưởng đến tổng lượng biến tiêu thức Theocách thứ nhất, tổng lượng biến tiêu thức được cấu thành bởi 2 nhân tố là bản thân các lượng biếnvà số đơn vị (hay tần số tương ứng)
Theo cách thứ 2 tổng lượng biến tiêu thức được cấu thành từ 2 nhân tố là chỉ tiêu bìnhquân và chỉ tiêu tổng số đơn vị của tổng thể
Trong trường hợp thứ nhất thì sự kết hợp của các nhân tố cho phép thiết lập hệ thống chỉsố tổng hợp giống như phân tích chỉ tiêu doanh thu theo 2 nhân tố là giá và lượng tiêu thụ.Dovậy, ở đây chỉ đề cập cụ thể hệ thống chỉ số phân tích tổng lượng biến của tiêu thức theo cáchthứ 2 với các nhân tố chỉ bao gồm chỉ tiêu bình quân và quy mô của tổng thể
Hệ thống chỉ số đươc biểu hiện theo công thức như sau:
1 0 1 0
1 1 0
1 1 0
1
f x
f x x f x
f x f x
f x T
T
o
Biến động tuyệt đối
Trang 170 0 1
1 0 1 0
1 T (x x ) f ( f f )x
T
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Chỉ số là gì? Phân biệt sự khác nhau giữa chỉ số và phương pháp chỉ số?Trình bày đặc
điểm, tác dụng của chỉ số
2 Quyền số của chỉ số là gì? Phân tích tác dụng và cách thức lựa chọn quyền số và thời kỳ
của quyền số?
3 Trình bày khái niệm và tính chất của chỉ số cá thể (chỉ số đơn)?
4 Trình bày phương pháp tính chỉ số chung?
5 Khái niệm và cấu thành hệ thống chỉ số? Cho ví dụ?
6 Trình bày nội dung thiết lập hệ thống chỉ số theo phương pháp liên hoàn?
7 Ý nghĩa của chỉ số cấu thành khả biến, chỉ số cấu thành cố định và chỉ số ảnh hưởng kết
cấu?
8 Tại một cửa hàng có số liệu về giá và lượng của một số mặt hàng như sau:
a Chỉ số tổng hợp về giá (quyền số năm 1990, năm 1994)
b Chỉ số tổng hợp về lượng (quyền số năm 1990, năm 1994)
c Phân tích sự biến động tổng giá trị hàng hoá bán ra của doanh nghiệp?
9. Có t i li u v doanh nghi p A nh sau: ài liệu về doanh nghiệp A như sau: ệu về doanh nghiệp A như sau: ề doanh nghiệp A như sau: ệu về doanh nghiệp A như sau: ư vậy ta có kết quả sau:
năm 1995 so với năm 1994
Trang 18B 48000 52000 +3.6%
Hãy tính
a Chỉ số tổng hợp về giá cả (theo công thức của Laspeyres và Paashe)
b Chỉ số tổng hợp về số lượng hàng bán ra (theo công thức của Laspeyres và Paashe)
c Phân tích sự biến động tổng doanh thu của doanh nghiệp A bằng hệ thống chỉ số
10.Cho t i li u sau v doanh nghi p X ài liệu về doanh nghiệp A như sau: ệu về doanh nghiệp A như sau: ề doanh nghiệp A như sau: ệu về doanh nghiệp A như sau:
Tên hàng
lượng hàng năm 1995 sovới năm 1994(%)
a Chỉ số chung về giá của Laspeyres và Paashe năm 1995 so với năm 1994?
b Chỉ số chung về lượng của Laspeyres và Paashe năm 1995 so với năm 1994?
c Phân tích sự biến động tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp trên bằng hệ thống chỉ số?
11 Có tài liệu về sản lượng của 3 xí nghiệp cùng sản xuất 1 sản phẩm như sau:
Sản lượng năm
2001 so với kếhoạch năm 2001(%)
a Tỷ lệ % tăng sản lượng của 3 xí nghiệp năm 2001 so với năm 1999
b Chỉ số công nhân 3 xí nghiệp năm 2001 so với năm 1999
c Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc tăng sản lượng 2001 so với năm 1999
Trang 1912.Có t i li u v 3 xí nghi p cùng s n xu t 1 lo i s n ph m nh sau: ài liệu về doanh nghiệp A như sau: ệu về doanh nghiệp A như sau: ề doanh nghiệp A như sau: ệu về doanh nghiệp A như sau: ả sau: ất 1 loại sản phẩm như sau: ại sản phẩm như sau: ả sau: ẩm như sau: ư vậy ta có kết quả sau:
13 Có tài liệu về sản lượng của 3 xí nghiệp cùng sản xuất 1 sản phẩm như sau:
a Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới giá thành trung bình của cả 3 xí nghiệp kỳ báo cáo
so với kỳ gốc?
b Phân tích các nhân tổ ảnh hưởng tới tổng giá thành của cả 3 xí nghệp kỳ báo cáo so vớikỳ gốc?
Trang 20CHƯƠNG 9
LÝ THUYẾT QUYẾT ĐỊNH9.1 ĐẶT VẤN ĐỀ:
9.1.1 Nhà quản lý với vấn đề ra quyết định
Hằng ngày các nhà quản lý ở mọi cấp đều phải ra quyết định liên quan đến các hoạt độngsản xuất kinh doanh của đơn vị mình Các quyết định đó có những quyết định rất thành côngnhưng cũng có những quyết định bị thất bại Có những quyết định đem lại kết quả lớn hoặc gây
ra tổn thất Tất cả diễn biến trên là do người lãnh đạo doanh nghiệp ra quyết định có đúng đắnhay không Quyết định đúng đắn phải thể hiện đúng vào thời gian và đúng về phương án sản xuấtkinh doanh Tuy nhiên các tình huống để ra quyết định rất đa dạng trên mọi lĩnh vực sản xuấtkinh doanh như:
Qua trình bày trên cho thấy người quản lý phải từng ngày, từng giờ ra quyết định cần
Trang 21thiết để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
9.1.2 Vì sao thống kê lại xây dựng Lý thuyết quyết định.
quyết định ra đời muộn hơn nhiều ngành khoa học khác nhưng nó lại phát triển rất nhanh chóngvà được nhiều người quan tâm, bởi lẽ nó là một thứ công cụ phục vụ đắc lực cho các nhà làmcông tác quản lý ở mọi cấp, mọi lĩnh vực Lý thuyết quyết định rất gắn bó với lý thuyết thống kêvì:
+ Khi ra quyết định một trong những điều hết sức quan trọng là phải nắm bắt được thôngtin cần thiết Nếu thiếu thông tin sẽ làm tăng thêm độ rủi ro cho đơn vị
+ Thống kê là nơi cung cấp thông tin ban đầu và thông tin đã xử lý phục vụ cho lãnh đạocác cấp Thông tin thống kê được thu nhập có hệ thống và theo phương pháp chuyên môn mà cáclĩnh vực khác không thể có được hoặc giả muốn có được thì chi phí để thu thập thông tin quá caokhiến cho đơn vị không chị nổi chi phí để tự mình thu thập
+ Thống kê có phương pháp chuyên môn để sau khi thu thập thông tin, xử lý thông tintìm ra tính quy luật vận động của hiện tượng nghiên cứu Điều đó có nghĩa là cung cấp thêmthông tin có tính chất hoàn hảo hơn phục vụ cho việc ra quyết định, giảm bớt mức độ rủi ro
9.1.3 Các yếu tố hợp thành của một quá trình ra quyết định.
Mỗi nhà quản lý đều có một đội ngũ tham mưu vạch ra các tình huống và phương sách đểxử lý tình huống hay còn gọi là phương án hành động hay phương án tác chiến Tương ứng vớimỗi cách tác chiến lại có những điều kiện phải có để thực hiện và kết quả có thể đạt được Tổnghợp toàn bộ quá trình ra quyết định bao gồm 4 nội dung cơ bản sau:
9.1.3.1 Vạch ra các phương án có thể xảy ra
Mỗi công việc thường có nhiều cách thực hiện và sẽ đem lại kết quả có thể không tươngđồng, thậm chí còn đối lập Ví dụ, ở Tây Nguyên với loại đất đỏ Bazan rất thích hợp cho việctrồng cây công nghiệp lâu năm như: Cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao, điều… Song vấn đề là nênchọn cây gì trong 5 loại cây kể trên Bởi lẽ cả 5 loại cây đều thích hợp với điều kiện tự nhiên:Đất đai, khí hậu, nhiệt độ… Nếu chọn đúng thì sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, nếu chọn sai thìchắc chắn là thua lỗ nặng nề Cái khó của người ra quyết định ở đây là vấn đề xác định mức độcung, cầu và giá cả trên thị trường quốc tế Mức cung phụ thuộc vào chiến lược phát triển củacác nước có điều kiện tự nhiên giống như Việt Nam Song về điều kiện thời tiết (mưa, năng, khôhạn, bão tố…) diễn ra rất thất thường, điều kiện thời tiết ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất cây
Trang 22trồng Thực tế đã diễn ra ở Tây Nguyên là có lúc, có nơi phá cao su để trồng cà phê (những nămgiữa thập niên 80) và có khi lại phá bỏ cà phê để trồng cao su (những năm đầu của thế kỷ XXI).
9.1.3.2 Các biến cố có thể xảy ra
Biến cố là sự kiện xảy ra trong quá trình thực hiện phương án hành động, nó nằm ngoàitầm kiểm soát của người ra quyết định Số biến cố xảy ra càng ít thì việc ra quyết định càng đơngiản và ngược lại Trong thực tế thường có nhiều biến cố xảy ra làm cho việc ra quyết định đúngđắn thường rất khó khăn Ví dụ, Công ty xe đạp Thống Nhất có nên mở rộng quy mô sản xuất xeđạp điện hay không? Vì với nguồn lực có hạn (vốn sản xuất; số lao động nhất là lao động lànhnghề…), nếu quy mô mở rộng sản xuất hàng A thì công ty phải cắt giảm sản lượng sản xuất mặthàng B, C… và ngược lại Cung xe đạp điện phụ thuộc vào cầu trên thị trường, nếu cung vượtcầu thì hàng bị ứ đọng, nếu cung thấp hơn cầu thì không đạt được lợi nhuận tối đa Cầu về xe đạpđiện lại phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, phụ thuộc vào giá xăng dầu; vào việc cho phép đăngký xe gắn máy; vào giá cả xe máy Điều đó chứng tỏ, cùng một lúc có nhiều biến cố đồng thờixuất hiện đòi hỏi phải xử lý
Một trong những yếu tố cần thiết trong tiến trình ra quyết định là phải tính được khả năng (xácsuất) các biến số có thể xảy ra Xác suất xuất hiện của một biến cố mang tính chất khách quan
9.1.3.3 Kết toán
Tương ứng với mỗi phương án có các nội dung tương ứng như: Xác suất của biến cố; giátrị kinh tế có thể đạt được Giá trị này có thể là tiền hoặc là một đơn vị lợi ích Các giá trị nàyđược gọi là kết toán Tất cả các thông tin này được tổng hợp trong một bảng tính toán để nhàquản lý so sánh từ đó lựa chọn ra phương án tối ưu
9.1.3.4 Tiêu chuẩn để ra quyết định
Khi quyết định lựa chọn một phương án nào đó, người quản lý phải căn cứ vào một hoặcmột số tiêu chuẩn đã được đặt ra từ trước Chẳng hạn, khi xây dựng một cơ sở sản xuất ngườiquản lý phải lựa chọn các phương án khác nhau về quy mô sản xuất; kinh tế sản xuất Tiêu chuẩnđể lựa chọn phương án có thể là: Tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu; quy mô thu hút lao động; mức lợinhuận đạt được Cái mà các nhà quản lý thường quan tâm hơn cả mức lợi nhuận Ví dụ, Công ty
X cần lựa chọn để ra quyết định xây dựng một cơ sở sản xuất ô tô với 3 loại xe:
Trang 23Cung (S) và cầu (D) của 3 loại xe này có thể xảy ra ở 3 mức: Thấp, trung bình và cao.Lượng sản phẩm sản xuất của từng mức độ với mỗi loại xe cũng có sự khác nhau Về chi phí sảnxuất, Công ty phải chi ra khoản chi phí cố định như: Khấu hao TSCĐ; chi phí nhân công Do đónếu sản xuất quá ít, lượng cung chưa đạt đến điểm hoà vốn thì công ty sẽ bị lỗ.
Theo tính toán của các nhà chuyên môn; nếu công ty sản xuất các loại sản phẩm vớilượng cung khác nhau, số lãi có thể thu được như sau: (Đơn vị tính: Triệu đồng)
bình đạt lợi nhuận là 400; còn ở mức cao sẽ đạt lợi nhuận là 600
lợi nhuận là 800; còn ở mức cao sẽ đạt lợi nhuận là 1.000
lợi nhuận là 700; còn ở mức cao sẽ đạt lợi nhuận là 2.000
Tương ứng với từng mức, giả sử có xác suất về nhu cầu là 0,1; 0,7 và 0,2
Từ thông tin trên lập bảng tính sau:
Bảng 9.1 Lợi nhuận kỳ vọng theo các phương án
Đơn vị tính: Triệu đồng
CẦU
Hành động(Chọn dây chuyền sản xuất )
Lợi nhuận kỳ vọng theo các
phương án
MỨC
XÁCXUẤT
Sản phẩmA
Sản phẩmB
Sản phẩmC
Sản phẩmA
Sản phẩmB
Sản phẩmC
Tiêu chuẩn để lựa chọn phương án xây dựng nhà máy xoay quanh mức lợi nhuận để ra quyếtđịnh có các tiêu chuẩn cụ thể sau:
Theo tiêu chuẩn này, người ra quyết định lựa chọn phương án đem lại lợi nhuận cao nhấtcó thể đạt được mà không xem xét tới các “phản ứng phụ” Chẳng hạn, để có lợi nhuận cao nhấtđòi hỏi phải trang bị kỹ thuật hiện đại Phản ánh phụ ở đây là phải có nguồn vốn huy động lớnhơn và đội ngũ lao động phải có tay nghề cao Lựa chọn theo tiêu chuẩn này thường phải chấpnhận độ rủi ro cao nhất Với ví dụ trên sẽ chọn phương án lắp đặt dây chuyền sản xuất xe con với