2.mục đích phát hành trái phiếu chính phủ: Phát hành trái phiếu nhằm các mục đích sau: + Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương theo quy định c
Trang 1ĐỀ TÀI: “PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ”
1.khái niệm về trái phiếu chính phủ:
“Trái phiếu Chính phủ” là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu
tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước
2.mục đích phát hành trái phiếu chính phủ:
Phát hành trái phiếu nhằm các mục đích sau:
+ Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung
ương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước
+Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay trái phiếu ngắn hạn +Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ;
+ Cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia……
3.các nguyên tắc phát hành trái phiếu chính phủ:
Quá trình phát hành trái phiếu chính phủ cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
1 Việc phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng
2 Việc phát hành trái phiếu phải tuân thủ các quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật liên quan
3 Chủ thể phát hành trái phiếu phải đảm bảo quản lý, sử dụng vốn trái phiếu đúng mục đích, hiệu quả và bố trí nguồn vốn trả nợ đầy đủ, đúng hạn
4.Các điều kiện và điều khoản của trái phiếu
Trang 2phiếu, đảm bảo tính đa dạng và tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn trái phiếu nhằm mục đích phát triển thị trường trái phiếu.
4.2 Khối lượng phát hành trái phiếu
Khối lượng trái phiếu phát hành từng đợt do chủ thể phát hành quyết định, căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn được cấp có thẩm quyền quyết định và điều kiện, khả năng huy động vốn trên thị trường
4.3 Mệnh giá trái phiếu
Mệnh giá trái phiếu do chủ thể phát hành quyết định Trường hợp trái phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, mệnh giá trái phiếu được quy định phù hợp với quy định về niêm yết và giao dịch chứng khoán
4.4 Đồng tiền phát hành, thanh toán trái phiếu
a) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương phát hành trong nước bằng đồng Việt Nam Trường hợp trái phiếu Chính phủ phát hành trong nước bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi thực hiện theo đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phát hành ra thị
trường quốc tế bằng ngoại tệ theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Nghị định này
c) Đồng tiền sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu cùng loại với đồng tiền khi phát hành
d) Việc sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền phát hành, thanh toán trái phiếu phải đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối
4.6 Lãi suất trái phiếu
a) Lãi suất trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương phát hành trong nước do chủ thể phát hành quyết định trong khung lãi suất do Bộ Tài chính quy định
b) Trái phiếu được phát hành theo lãi suất cố định, lãi suất thả nổi và lãi suất chiết khấu theo phương án phát hành được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trang 3- Chủ thể phát hành có thể mua lại trái phiếu trước hạn để giảm nghĩa vụ nợ hoặc
để cơ cấu lại nợ theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật về quản lý nợ công
- Việc mua lại trái phiếu trước hạn phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch
và hiệu quả
b) Hoán đổi trái phiếu
- Trái phiếu Chính phủ đã phát hành có thể được hoán đổi để cơ cấu lại nợ theo chương trình, kế hoạch cơ cấu lại nợ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật về quản lý nợ công
- Việc hoán đổi trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phải được sự chấp thuận của
Bộ Tài chính
- Việc hoán đổi trái phiếu phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và hiệu quả
5.phân loại trái phiếu chính phủ:
1 Tín phiếu kho bạc:là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần, 26 tuần hoặc
52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam Các kỳ hạn khác của tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính quyết định tùy theo nhu cầu sử dụng vốn và tình hình thị trường nhưng không vượt quá 52 tuần
2 Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01) năm trở
lên và đồng tiền phát hành là đồng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi
3 Công trái xây dựng Tổ quốc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01)
năm trở lên, đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam và được phát hành nhằm huy động nguồn vốn để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước
II.PHƯƠNG THỨC PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ:
Phương thức phát hành trái phiếu
1 Tín phiếu kho bạc: được phát hành theo phương thức đấu thầu qua sở giao dịch
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc phát hành trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về trình tự thủ tục phát hành tín phiếu kho bạc Trường hợp phát hành trực tiếp tín phiếu kho bạc cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính thống nhất với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với từng đợt phát hành
Trang 42 Trái phiếu Chính phủ được phát hành theo các phương thức sau:
a) Đấu thầu phát hành trái phiếu
b) Bảo lãnh phát hành trái phiếu
c) Đại lý phát hành trái phiếu
d) Qua kho bạc nhà nước
2.1.Qua kho bạc nhà nước:
Đây là phương thức phát hành mà kho bạc nhà nước sẽ huy động lực lượng nhân
sự tại chỗ của đơn vị tự tổ chức tiêu thụ trái phiếu thông qua hệ thống của mình ở trong nước và thông qua hệ thống văn phòng đại diện ở nước ngoài
Đây là phương thức vay nợ chủ chốt trong điều kiện nền kinh tế của đất nước chưa hình thành thị trường chứng khoán hoặc thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ chưa phát triển để giải quyết áp lực phải huy động lượng vốn vay cần thiết cho ngân sách nhà nước(NSNN)
2.2.Bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ:
Bảo lãnh phát hành trái phiếu:tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi phát hành trái phiếu chính phủ(TPCP) ra thị trường chứng khoán, phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn lại chưa phân phối hết trong đợt phát hành
2.3 Đấu thầu phát hành trái phiếu:
Đây là phương thức tiêu thụ mới,tốc độ tập trung vốn nhanh,trái phiếu chính phủ góp phần đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường,trở thành một trong những loại chứng khoán chủ lực thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển
2.4.Đại lý phát hành:
Đại lý phát hành là việc tổ chức phát hành ủy thác cho một tổ chức khác thực hiện bán trái phiếu cho các nhà đầu tư Tổ chức nhận làm đại lý phát hành được hưởng phí đại lý phát hành căn cứ theo số lượng trái phiếu tiêu thụ được,lượng trái phiếu tiêu thụ không hết của đợt phát hành,đại lý được quyền hoàn trả lại cho tổ chức phát hành
III.THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN VỪA QUA:
Những thông tin về đợt phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu của chính phủ
Việt Nam năm 2005:
Trang 5Ngày 27/10/2005, Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu tiên ra thị trường quốc tế tại New York, trị giá chào bán là 750 triệu USD với lãi suất
7,125%/năm và có thời hạn là 10 năm
Kết quả thành công của lần phát hành đầu tiên của trái phiếu quốc tế đạt được:
Ngày 29/10/2005 là ngày định giá trái phiếu Chính phủ VN trên thị trường tài chính thế giới thì số lượng các nhà đầu tư đặt mua lên tới 4,5 tỷ USD,gấp khoảng 6 lần giá trị chào bán của trái phiếu quốc tế ban đầu
Đặc lãi suất trái phiếu Chính phủ VN phát hành rất hiệu quả, thấp hơn lãi suất trái phiếu của các nước trong khu vực có cùng hệ số tín nhiệm Lãi suất trái phiếu loại 10 năm của VN thực trả là 7,125%/năm Trong khi, mức lãi suất trái phiếu Chính phủ Philippines loại 10 năm giao dịch ở mức 8,1%/năm, còn trái phiếu Chính phủ Indonesia loại 10 năm giao dịch ở mức 7,8%/năm
Trái phiếu quốc tế phát hành lần đầu tiên của Việt Nam đã được Tạp chí Tài chính quốc tế và các nhà đầu tư khu vực châu Á đánh giá là trái phiếu phát hành thành công nhất của năm 2005 và được Tạp chí Tài chính quốc tế trao giải thưởng
“trái phiếu quốc tế phát hành thành công nhất trong năm 2005”
Đợt phát hành trái phiếu quốc tế này đã tạo bước ngoặc đặc biệt và tạo nền tảng quan trọng cho các đợt phát hành sau vì sự thành công của đợt phát hành này
đã có ý nghĩa tác động đến các nhà đầu tư quốc tế để họ xây dựng các hạn mức tín dụng đầu tư vào Việt Nam trong tương lai đồng thời đã nâng cao hệ số tín nhiệm cho trái phiếu Chính phủ Việt Nam trên thị trường trái phiếu quốc tế, mở ra kênh huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp cũng như Chính phủ Việt Nam trong thời gian sau này Ở đợt phát hành lần này, Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) là doanh nghiệp đầu tiên đã được lựa chọn giải ngân
Phân tích những nguyên nhân thành công của trái phiếu quốc tế của chính phủ Việt Nam lần đầu năm 2005:
1.Tính mở cửa của nền kinh tế:
Có thể khẳng định rằng Việt Nam là thị trường mới nổi có mức độ phát triển thuộc loại nhanh nhất trong thời gian gần đây ở khu vực và trên thế giới.Điều này
có được là do thành công của thị trường Việt Nam là thành công cải cách và mở
Trang 6cửa được thực hiện một cách tích cực trong suốt thời gian qua(kể từ sau ĐH VI năm 1986).các chính sách cải cách đã có tác động mạnh mẽ,thực sự tạo được động lực giải phóng sức sản xuất của các chủ thể trong toàn bộ nền kinh tế
2.Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định:
Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính trong khu vực,Việt Nam vẫn
có được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định.Cụ thể:đầu những năn 90 của thế
kỷ 20,Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP trên 8-9%/năm.từ sau khủng hoảng tài chính khu vực châu Á năm 1997,bước sang thế kỷ 21,Việt Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trên 7-8%/năm.Đây là một lý do quan trọng làm tăng trưởng tỷ trọng chứng khoán Việt Nam trong danh mục đầu tư thị trường Châu Á và tăng sức hấp dẫn của thị trường việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 73.Tổng đầu tư toàn xã hội luôn ở mức cao
Quá trình cải cách kinh tế,đặc biệt là sự thừa nhận và tôn trọng khu vực kinh tế tư nhân,cải cách hành chính,tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài đã giúp cho Việt Nam đạt kỷ lục mới trong việc thu hút đầu tư,kể cả đầu tư nước ngoài
Đặc biệt từ cuối những năm 90 của thế kỷ 20 Việt Nam luôn duy trì tỷ trọng đầu tư 40%GDP
Chính việc duy trì tỷ trọng đầu tư cao đã làm nâng cao năng lực sản xuất của toàn
bộ xã hội cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Trang 84.Việt Nam là quốc gia đã và đang thực hiện khá thành công cải cách hệ thống tài chính.
Số lượng và chất lượng các trung gian tài chính tăng nhanh,từ đó tăng chất lượng các dịch vụ tài chính và chuyển tải được một lượng vốn đáng kể cho phát triển kinh tế.Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao,chất lượng tín dụng trong nền kinh tế được cải thiện đáng kể.sự phát triển của hệ thống tài chính đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động,góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH
5.Việt Nam đã và đang cải cách thành công khu vực doanh nghiệp:
Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tạo diện mạo mới nâng cao chất lượng hoạt động của DNNN thống qua thay đổi phương thức quản lý theo hướng minh bạch hóa hơn,đồng thời có thể giúp chính phủ thu về lượng lớn thống qua bán cổ phiếu của các công ty cổ phân hóa thuộc doanh nghiệp nhà nước,đồng thời với đó là phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân,công ty TNHH,công ty cổ
phần,quyền bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp được nâng lên,mặt khác tác động của việc cải cách hành chính thực sự tạo hiệu quả cho các doanh nghiệp
Trang 96.Thị trường tài chính tiền tệ được điều hành tương đối tốt:
Tỷ lệ lạm phát ở mức trên 7%/năm,đây là mức khá cao tuy nhiên con số này khá
ổn định,lãi suất trong nền kinh tế khá ổn định và có xu hướng giảm,tỷ giá được điều hành khá tốt,điều này giúp cho duy trì ổn định giá trị VND so với USD,cân đối ngân sách nhà nước được xử lý tốt thông qua phát hành trái phiếu chính phủ
Trang 107.Cơ sở hạ tầng được đầu tư tốt và cải thiện đáng kể:
Cơ sở hạ tầng bao gồm cơ sở hạ tầng kinh tế,hệ thống thông tin,cơ sở hạ tầng giao thông,cơ sở hạ tầng kỹ thuật,cơ sở hạ tầng xã hội của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và nâng cao điều này góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển kinh tế
8.Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp xây dựng và dịch vụ đồng thời giảm tỷ trọng các nghành nông,lâm,ngư nghiệp.
Bảng số liệu trang 212
Trang 11Trong nội bộ các nghành kinh tế cũng có sự chuyển dịch:trong ngành NN thì tỷ trọng chế biến xuất khẩu tăng,giảm tỷ trọng chăn nuôi.
9.Thị trường tiêu dùng tăng mạnh:
Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng hàng năm cao trên 20%/năm.Triển vọng phát triển thị trường tiêu dùng ở một nước có hơn 86 triệu dân được xem là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài trong việc phát triển hệ thống phân phối,bán lẻ tại Việt Nam
Trang 1210.Thị trường BĐS giá quá cao,và luôn ở trong tình trạng đóng băng:
Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho tăng cầu đầu tư chứng khoán Việt Nam
11.Hệ thống pháp luật được cải thiện đáng kể:
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng lớn tới mức độ rủi ro của của các doanh
nghiệp cũng như sức hấp dẫn của các nhà đầu tư cả ở trong và ngoài nước.Tại Việt Nam trong những năm gần đây hệ thống pháp lý luôn được xây dựng theo hướng đồng bộ,khả thi,ổn định,hiệu quả cũng như sự phù hợp của hệ thống pháp luật với các thông lệ trên thế giới
Một loạt các văn bản pháp lý quan trọng đã được ban hành,như:Luật doanh
nghiệp(),Luật các tổ chức tín dụng(),Luật chứng khoán(),Luật đầu tư chung(),Các luật thuế,luật Bảo hiểm….đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các
Trang 13Kết luận:
Những nguyên nhân phân tích trên đã dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,Rủi ro chính trị,rủi ro lãi suất,rủi ro sức mua,rủi ro tỷ giá trên thị trường của trái phiếu quốc tế của chính phủ Việt Nam là tương đối thấp,điều này làm tăng sự hấp dẫn của trái phiếu quốc tế của chính phủ Việt Nam
IV.NHỮNG TỒN TẠI, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TRONG THỜI GIAN TỚI.
1. Tồn tại.
- Xếp hạng hệ số tín nhiệm
Theo các chuyên gia, lãi suất trên thị trường quốc tế thời điểm đó vẫn đang ở mức thấp, việc chọn lãi suất cố định vẫn thích hợp cho các lần phát hành tới Lãi suất cố định của trái phiếu quốc tế một số quốc gia thường được tính bằng lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng thời hạn cộng với một biên độ Biên độ nhiều hay ít một phần phụ thuộc vào hệ số tín nhiệm Thời điểm này mức độ tín nhiệm của Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều, minh chứng là kết quả mức lãi suất 7.125% cho lần phát hành đầu tiên trái phiếu Chính phủ Tuy nhiên mức hệ số tín nhiệm thời điểm này vẫn ở mức độ trung bình
- Tính hấp dẫn của trái phiếu
Về mặt lý thuyết, rủi ro càng nhiều hay hệ số tín nhiệm càng thấp thì nhà đầu tư yêu cầu lãi suất càng cao khi đầu khi vào trái phiếu Theo một số chuyên gia, các nhà đầu tư đã ấn định mức lãi suất 7.1255 là tương đối cao so với xếp hạng rủi ro của Việt Nam
Với mức dự trữ ngoại hối tại thời điểm đó của Việt Nam khoảng 7.503 tỷ USD, tương đương 2,6 tháng nhập khẩu, rõ ràng không có gì lạ khi lần vay nợ thương mại đầu tiên trái phiếu của Chính phủ Việt Nam được đăng kí mua lên tới 4,5 tỷ USD, cao gấp 6 lần so với lượng trái phiếu Việt Nam đã phát hành Tuy nhiên, những lần vay sau tính hấp dẫn trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam có thể khác, rủi ro tăng lên và mức lãi suất đi vay có thể sẽ cao hơn
- Giá trái phiếu
Trái phiếu không phải là nợ mà là công cụ nợ, có thể mua bán, sang nhượng, tính thanh khoản khi niêm yết cao hơn hẳn việc vay nợ Song dẫu sao vẫn phải trả, cả