1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về đạo Tin Lành ở Việt Nam

67 3,1K 32
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về đạo Tin Lành ở Việt Nam
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 4,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo Tin Lành kể từ khi du nhập đến nay đã có sự phát triển mạnh mẽ, nó góp phần quan trọng trong đời sống tâm linh, lối sống, niềm tin của con người. Hơn nữa, khi tôn giáo này truyền vào Việt Nam, con người chưa có sự hiểu biết đúng đắn, nhiều vấn đề trong đạo cồn là điều bí ẩn khiến con người phải băn khoăn, vướng mắc. Bên cạnh đó, tất cả các đề tài cũng có tầm quan trọng không kém, nhưng đạo Tin Lành ở Việt Nam vừa mang tính thời sự sâu sắc, vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội rõ rệt chính nó đã khiến con người phải quan tâm và tìm hiểu. Đề tài được kết cấu thành 4 chương: Chương 1: Phong trào cải cách tôn giáo và sự ra đời đạo Tin lành Chương 2: Sự du nhập, quá trình truyền bá và sự phát triển của đạo Tin lành ở Việt Nam Chương 3: Cách thức tổ chức,các nghi lễ cơ bản và giáo lí của đạo Tin lành ở Việt Nam Chương 4: Một số nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu đề tài

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử xã hội loài người tôn giáo luôn là đề tài khiến cho mọi conngười, mọi quốc gia, mọi dân tộc đều phải quan tâm và tìm hiểu Ở nước ta hiệnnay, đã có rất nhiều tôn giáo như: Đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Công giáo… vàđạo Tin lành

Đạo Tin Lành kể từ khi du nhập đến nay đã có sự phát triển mạnh mẽ, nógóp phần quan trọng trong đời sống tâm linh, lối sống, niềm tin của con người.Hơn nữa, khi tôn giáo này truyền vào Việt Nam, con người chưa có sự hiểu biếtđúng đắn, nhiều vấn đề trong đạo cồn là điều bí ẩn khiến con người phải bănkhoăn, vướng mắc Bên cạnh đó, tất cả các đề tài cũng có tầm quan trọng khôngkém, nhưng đạo Tin Lành ở Việt Nam vừa mang tính thời sự sâu sắc, vừa mangtính chính trị, vừa mang tính xã hội rõ rệt chính nó đã khiến con người phải quantâm và tìm hiểu

Ngoài ra, xã hội ngày càng phát có nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo,đặc biệt là đạo Tin Lành, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo này để chống pháĐảng, nhà nước và nhân dân Điều đó khiến cho Đảng và nhà nước không thểkhông quan tâm

Như vậy trên đây là ý nghĩa tầm, tầm quan trọng của đạo Tin Lành Qua

đó, nó đã thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu về đạo Tin Lành ở ViệtNam” để làm đề tài nghiên cứu

Trang 2

TS Đỗ Quanh Hưng, ĐH Quốc gia Hà Nội với đề tài “mấy vấn đề về thần họcTin Lành ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ Khổng Quốc Khánh ĐH KHXH&NV

2010 “Tôn giáo và chính trị trường hợp đạo Tin lành ở khu vực Tây Nguyên hiệnnay”, bài tham luận và hồi kí “Đạo Tin lành” của Võ Doãn Nhẫn đăng trên mụctiểu luận và tạp bút trang saimonthidan.com

3 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Tìm hiểu đạo Tin lành ở Việt Nam

Về thời gian: Từ khi đạo Tin lành được truyến bá vào Việt Nam cho đến nay

4 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng, làm rõ nguyên nhân sự xâm nhập, phát triển đạoTin lành ở Việt Nam Trên cơ sở đó làm rõ hơn về cái nhìn đối với đạo Tin lànhcủa người dân Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Phương pháp nghiên cứu chủ đạocủa đề tài là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, đồng thời bàinghiên cứu còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp điền dã dân tộchọc kết hợp phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp nhằm cung cấpcái nhìn toàn diện, xuyên suốt về đạo Tin lành ở Việt Nam Ngoài ra công tácxác minh, xử lí, đánh giá tư liệu cũng được quan tâm chú trọng để làm sang tỏnội dung nghiên cứu

5 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,

đề tài được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Phong trào cải cách tôn giáo và sự ra đời đạo Tin lành

Trang 3

Chương này điểm qua về sự thống trị của giáo hội Thiên chúa, những mong muốn cải cách của GCTS đối với giáo hội, nguyên nhân sự ra đời đạo Tin lành trên thế giới

Chương 2: Sự du nhập, quá trình truyền bá và sự phát triển của đạo Tin lành ở

Việt Nam

Sau khi hình thành nên một tôn giáo mới, điều quan trọng là các mục sư

sẽ rao giảng đạo những vùng đất xa xôi, trong đó Việt Nam là một trong nhưng nơi các mục sư đạt chân đến để hoàn lành sứ mệnh của công cuộc truyền đạo.

Từ đó đạo Tin lành đã định hình ở Việt Nam và bắt đầu phát triển với những khó khăn và thử thách

Chương 3: Cách thức tổ chức,các nghi lễ cơ bản và giáo lí của đạo Tin lành ở

Việt Nam

Điểm qua về cách thức tổ chức, các lễ nghi cơ bản và giáo lí của đạo Tin lành ở Việt Nam

Chương 4: Một số nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu về đạo Tin lành ở Việt Nam từ khi du nhập, tồn tại

và phát triển đến ngày nay bước đầu nêu lên một số đặc điểm và rút ra những đóng góp của đạo trong đời sống tinh thần người dân Việt Nam, sự quan tâm của chúng ta với tôn giáo Tin lành

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO CẢI CÁCH TÔN GIÁO VÀ

SỰ RA ĐỜI ĐẠO TIN LÀNH

1.1 Hoàn cảnh lịch sử

Thời kì trung đại, giáo hội Thiên chúa là một thế lực thống trị về mặt tưtưởng đầy quyền uy Giáo hội còn được sự ủng hộ của các lãnh chúa Phong kiến.Sang thế kỉ XVI giai cấp tư sản muốn loại bỏ những điều trong giáo lý khôngphù hợp với cuộc sống kinh doanh của mình, họ muốn những giáo lý phải phùhợp với trào lưu kinh doanh và lối sống của những người giàu có mới nổi lên Đó

là nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ lên phong trào cải cách tôn giáo ở Tây âu thế

kỉ XVI

Nguyên nhân trực tiếp hay đúng hơn là nguyên cớ của cuộc cải cách là đờisống xa hoa hưởng lạc của hang giáo phẩm trong giáo triều Rooma và nhất làviệc giáo hoàng Leon X ra lệnh ban ơn toàn xá cho những ai dâng cúng tiền củacho giáo hội bằng cách cho bán “Bùa xá tội” Những người đề xướng cải cáchkhông ai khác chính là những giáo sĩ công giáo: linh mục, tiến sĩ thần học MartinLuther (1483 – 1546), linh mục Thomas Munzer (1490 - 1525), linh mục JeanCalvin (1509 - 1564), linh mục Ubric Zwinghi (1484 - 1531)

1.2 Phong trào cải cách tôn giáo và sự ra đời đạo Tin lành

Đầu thế kỉ XVI phong trào cải cách tôn giáo diễn ra ở ba nơi: Đức, Thụy

Sĩ và Anh

Cải cách tôn giáo ở Đức

Người khởi xướng là Martin Luther (1483 – 1546), ông là con 1 thợ mỏnghèo ở Thirighen được học trở thành luật sư

Trang 5

Năm 1517 ông đã viết “Luận văn 95 điều” dán trước cửa nhà thờ ở trườngđại học Vitenbec tố cáo việc mua bán thẻ miễn tội hồi đó Trong “Luận văn 95”điều ông cho rằng việc mua bán thẻ miễn tội là giả dối, chỉ làm lợi cho nhữngngười lợi dụng nó Ông cho rằng chỉ cần long tin vào Đức Chúa là sẽ được cứuvớt, ngay cả những nghi lễ tốn kém, phức tạp cũng không cần thiết.

Phong trào đòi cải cách tôn giáo ở Đức diễn ra rất quyết liệt, rất nhiềungười dân đã ủng hộ tư tưởng của Martin Luther và sảy ra xung đột với giáo hội.Đến 1555 tư tưởng của ông được công nhận, tôn giáo cải cách của Martin Luther

đã từ Đức lan sang nhiều nước khác

Cải cách tôn giáo ở Thụy Sĩ

Đại biểu cho phong trào cải cách tôn giáo ở Thụy Sĩ là Canvanh (JeanCalvin) Năm 1536 Canvanh cho xuất bản cuốn “Thiết chế Cơ Đốc”, trong tácphẩm này ông thừa nhận có Thượng đế và thuyết tam vị nhất thể nhưng chỉ chấpnhận có kinh Phúc Âm Ông phê phán việc tu hành khổ hạnh và cho rằng cáiquan trọng nhất là long tin, ông cũng chủ trương khuyến khích việc làm giàu,chủ trương giảm bớt những nghi lễ phiền phức, tốn kém

Điểm quan trọng của thuyết Canvanh là thuyết định mệnh Ông cho rằng

số phận của con người là do Chúa trời định trước, việc bỏ tiền ra mua thẻ miễntội không giải quyết được gì Như vậy là ông chống lại việc mua bán thẻ miễntội, cho đó là một trò lừa bịp

Cải cách tôn giáo ở Thụy Sĩ được đông đảo mọi người ủng hộ Giơnevơ(Genève) trở thành trung tâm phong trào cải cách tôn giáo ở Tây âu

Cải cách tôn giáo ở Anh

Từ đầu thế kỉ XVI, kinh tế TBCN phát triển khá mạnh ở Anh, GCTS lớnmạnh muốn có một tôn giáo phù hợp với cuộc sống và công việc kinh doanh củahọ

Trang 6

Lúc đó nhà thờ ở Anh còn chiếm khá nhiều ruộng đất, vua Anh cũngmuốn chiếm một phần ruộng đất của nhà thờ và loại bỏ ảnh hưởng của giáo hộiRôma đối với vương quyền

Nhân việc giáo hoàng phản đối việc bỏ vợ của vua Anh lúc đó là HenriVIII, Henri VIII đã ban “Sắc luật về quyền tối cao” năm 1534, tuyên bố cắt đứtquan hệ với giáo hội Rooma và thành lập một tôn giáo riêng gọi là Anh giáo

Anh giáo do vua Anh làm giáo chủ nhưng mọi giáo lí, nghi lễ, phẩm hàmthì vẫn giống như Thiên chúa Các giáo phẩm thì do vua Anh bổ nhiệm, mọiruộng đất của giáo hội Rooma bị chính quyền tịch thu Anh giáo như vậy chưađáp ứng được yêu cầu của GCTS TS Anh cần có cải cách triệt để hơn, điều đó

đã dẫn tới sự thành lập Thanh giáo (tô giáo trong sạch) Thanh giáo xóa bỏ hếttàn dư của đạo Thiên chúa, đơn giản hóa các nghi lễ, cắt đứt liên hệ với Anhgiáo Họ thành lập một hội đồng riêng, đứng đầu là các Trưởng lão do các tín đồbầu ra

Như vậy thế kỉ XVI ở Tây âu đã có nhiều giáo phái mới ra đời Các giáophái này tuy ở các nước khác nhau, giáo lí cụ thể có điểm không giống nhaunhưng đều giống nhau một điểm là đơn giản hóa các nghi lễ, cắt đứt liên hệ vớigiáo hoàng và tòa thánh Rôma Họ chỉ tin vào kinh Phúc Âm Chữ Phúc Âmdịch ra Tiếng Việt là Tin Lành nên về sau người ta quen gọi là đạo Tin Lành

Trang 7

CHƯƠNG 2: SỰ DU NHẬP, QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM

2.1 Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa – giáo dục trước khi đạo Tin lành truyền vào Việt Nam

2.1.1: Tình hình kinh tế

Thực dân Pháp đã xác định chính sách khai thác thuộc địa Đông Dươngvới tinh thần là thuộc địa Đông Dương phải được giành riếng cho thị trườngPháp, nền sản xuất ở đây chỉ được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốcnhững nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có Công nghiệpnếu được khuyến khích thì cúng chỉ giói hạn nhằm bổ sung cho công nghiệpchính quốc, không làm hại đến nền công nghiệp chính quốc

Nông nghiêp: Đây là ngành đòi hỏi vốn đầu tư ít hơn nhưng lại thu lợinhuận rất cao Thòi kỳ này nông nghiệp được đầu tư ít nhất (40 triệu phơ răng)

vì nhu cầu hàng hóa từ nông nghiệp chưa lớn Mặc dù vậy Pháp hiểu rõ vị trí củalĩnh vực này trong tương lai nên dã tìm mọi mánh khóe tàn ác để cướp đoạt vàhợp thức hóa ruộng đất của nông dân Năm 1890 chung chiếm được 10.000ha,năm 1913 lên đến 470.000 ha, trong đó vung bị chiếm đoạt nhiều nhất là Nam

kỳ Đồng thời với việc chiếm đất đó đã xuất hiện những tên điền chủ lớn cótrong tay từ 2000 đến 20.000 mẫu đất như Laba, Lika

Công nghiệp: Chiếm 74% số vốn, cụ thể có các ngành sau: Công nghiệpkhai thac mỏ, được đầu tư nhiều nhất (249 triêu phơ răng) vì ngành này nhanhchóng thu được lợi nhuận nhiều như than, kẽm thiếc Thời kỳ này hàng loạt công

ty khai thác mỏ ra đời như công ty than hông gai, công ty than bắc kỳ… số giấyphép thăm dò ,khai thác tăng liên tục, năm 1907 có 469 giấy phép được cấp thìdến năm 1912 lên đến 3.070 giấy

Trang 8

Công nghiệp nhẹ và chế biến, tập trung vào các ngành sản xuất vải sợi,gạch, ngói… số lượng các xí nghiệp ngày càng tăng, năm 1903 co 82 xí nghiệp,năm 1906 tăng lên 200 xí nghiệp.

Thương nghiệp Pháp đã xác định thị trướng Đông Dương phải giành riêngcho thị trường Pháp Nhưng thời kỳ này tư bản pháp bị cạnh tranh bởi thươngnhân Hoa kiều và Ấn kiều vì vậy để độc chiếm thị trường Đông Dương, chúng

đã thực hiên hai chính sách: thứ 1, sử dung hàng rào thuê quan, đánh thuế nặng(5% giá trị hang hóa)vào hàng hóa xuất xứ ở các nước khác và của thương nhânkhông phải người Pháp còn hang hóa của pháp đánh thuê nhẹ(2,5% giá trị hànghóa) Thứ 2, sủ dụng lực lượng Hoa kiều để lũng đoạn thị trường vì Hoa kiều có

đủ sức mua hang hóa của Pháp để bán lại ỏ Viêt Nam kiếm lời

Chính sách khai thác thuộc địa thực dân Pháp lần thứ nhất đã phá vỡ nềnkinh tế cổ truyền của Việt Nam nền kinh tế phong kiến đơn thuần mang tính tựchất tự cung tự cấp sang nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến hay là nền kinh tế

tư bản chủ nghĩa mang hình thái thưc dân mang nặng tính áp đặt, què quặt phiếndiện có sự đan xen giữa các yếu tố TBCN dưới dạng thực dân với những quan hệsản xuất phong kiến vẵn được duy trì Mặc dù vậy,những biến đổi của nền kinh

tế đã thể hiện tính tiến bộ hơn so với thời kì trước

Trang 9

các co quan chức năng khác Dưới bộ may Liên Bang là bộ máy cai trị các xứ.Nam kỳ là đất thuộc địa ,thưc dân Pháp trực tiếp nắm quyền về mọi mặt, thườngđược goi là chế độ cực trị Từ năm 1861 đến 1879 đứng đầu Nam kỳ viên đô đốcngười Pháp Pháp chia Nam kỳ thành 20 tỉnh và hai thành phố Sài Gòn và ChợLớn.Đứng đầu tỉnh là công xứ người Pháp ,dứng đầu thành phố là Chánh đốc lý.Nam kỳ Pháp không chia thành đơn vị phủ huyện,mà phân chia thành trung tâmhành chính hoặc sở đại lý, đứng đầu là đốc phủ xứ, tri phủ, tri,huyện Đơn vị caitrị ở cơ sở làng xã thời phong kiến bao gồm xã trưởng, hương trưởng và hộiđồng làng mục.

Trung kỳ là đất bảo hộ triều đình Triều đình nhà Nguyễn được duy trìnhưng mọi quyền hành đều thuộc về tòa khâm xứ người Pháp đứng đầu Phápchia Trung kỳ thành 14 tỉnh và 1 thành phố Đà Nẵng.Năm 1888 Vua ĐồngKhánh nhượng Đà Nẵng cho Pháp nên goi là đất nhượng địa Đứng đầu tỉnh làviên công xứ người Pháp cùng viên Tổng Đốc hoặc Tuần Phủ, người Việt Dướitỉnh là phủ huyện, châu, đứng đầu là tri phủ, tri huyện, tri châu Tổng là đơn vịhành chinh trung gian giữa phủ huyện làng xã Đứng đầu xã và ấp là lý trưởng vàphó lý, còn có hội đông kỳ hào làng mục điều hành moi công việc của một láng

xã như chế độ tự quản Bắc kỳ là đất nửa bảo hộ, đứng đầu là viên tổng sứ ngườiPháp Năm 1886 Pháp đề nghị triều Huế cử một viên sứ cùng thống trị Bắc kỳ vàviên thống sứ Đến năm 1879 khi Pháp bình định sang Bắc kỳ dã đề nghị triềuđình Huế bỏ chức vụ này Toàn Bắc kỳ chia thành 26 tỉnh và hai thành phố HàNội và Hải Phòng Năm 1888 triều đình nhượng cho Pháp 2 thành phố này nêngọi là đất nhượng địa.Năm 1891 Pháp cắt 1 số khu vực của 1 số tỉnh để thành lập

4 đạo quan binh Phả Lại, Lạng Sơn, Yên Bái, Sơn La Năm 1916 Pháp lại đặtthêm 1 đạo quan binh thứ năm gồm Lai Châu, Thượng Lào Hệ thống chínhquyền từ tỉnh trở xuống về cơ bản giống như ở Trung kỳ, các chức vụ ở tỉnh đều

do người Pháp nắm còn cấp dưới tỉnh do người Việt nắm

Trang 10

2.1.3 Tình hình văn hóa – giáo dục

là kìm hãm nhân dân ta trong tình trạng ngu muội mất đoàn kết dân tộc và tinhthần đấu tranh để từ đó dễ bề cai trị và bóc lột.Các chính sách đó vô cùng thâmđộc

Giáo dục

Pháp duy trì hệ thống trường Hán học chia làm 3 cấp Bậc ấu học ở các làng xãhọc chữ Nho, thêm 1 ít chũ quốc ngữ và 1 số ít kiên thức khoa học phổ thong.Bậc tiểu học ở phủ huyện dạy chữ Hán, quốc ngữ, lịch sử, địa lý ở mức sơ đẳng,chữ Pháp là môn học tình nguyện Bậc trung học ở tỉnh, học các môn như trườnghuyện, nhưng chữ Pháp là môn bắt buộc, cùng với hệ thống trường học này các

kỳ thi hương hội đình vẫn mở như cũ Các kỳ thi hương hội đình vẫn mở như cũ

1905 toàn quyền Bô chủ trương cải cách giáo dục,Bắc kì và Trung kỳ mởthêm bậc tiểu học Pháp Việt Năm 1906 chỉ có 25 trưởng loại này, ngoài ra Pháp

mở thêm trường sư phạm Hà Nội, Nam Định, các trường chuyên nghiệp vàxưởng học nghề …

Trang 11

Năm 1915 Pháp bác bỏ kỳ thi hương ở Bắc kỳ, năm 1918 bỏ kì thi hương

ở Trung kì, và đến năm 1919 bỏ luôn kỳ thi hội ở Huế đánh dấu sự chấm dứt tồntại chế độ khoa cử phong kiến ở nước ta Tháng 6/1919 Khả Định ra chỉ dụ bãi

bỏ các trường chữ Hán Nhưng chính giáo dục nhằm tạo điều kiện cho văn minhphương Đông chế ngự, loại bỏ dần chữ Hán, nhằm đào tạo 1 lớp tri tức Tây học,tầng lớp thượng lưu trí thức phuc vụ cho chính quyên thực dân dễ cai trị đấtnươc ta Tuy nhiên, không phải tất cả những trí thức tây học ấy vụ cho thực dân,ngược lại đã xuất hiện 1 số trí thức Tây học đầy tinh thần yêu nước và đầu tàutrong cuộc tiếp xúc văn hóa đông tây, ở Viêt Nam trước đó

2.2 Sự du nhập và quá trình truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam

2.2.1 Sự du nhập

Tháng 2 năm 1887 tiến sĩ A.B Simpson người sáng lập Hội truyền giáoPhước Âm Liên Hiệp đã nhận định trong tạp chí “ The word, the word and theword” như sau : “ Miền bán đảo Đông Nam Á đã bị lãng quên quá nhiều Đạivương quốc An Nam, cùng với Tây Tạng cần được xem là cánh đồng truyền giáocủa Hội”

Một số người cho rằng các giáo sĩ La Mã là những người đặt chân đầutiên đến Việt Nam vào khoảng thế kỉ X Thời vua Lê Anh Tông (1557-1573) mộtthánh giá đã được tìm thấy trong một khu đền cổ

Dù đã từng có các thương gia, sĩ quan Tin Lành Pháp làm việc ở ViệtNam, thậm chí giáo Hội Tin Lành Pháp đã từng gửi Mục sư sang Hải Phòng(1884) để chăm lo cho các tín hữu Tin Lành Châu Âu, thì việc truyền bá chongười Việt Nam vẫn bị lãng quên

Năm 1886 Mục sư Boisset kêu gọi Hội truyền giáo Pháp sớm gửi giáo sĩđến truyền giáo tại Việt Nam vì cánh cửa đang mở hãy đến ngay kẻo trễ Thếnhưng, giáo hội Tin Lành đã bỏ qua cơ hội quí báu để đem Tin Lành đến ViệtNam

Trang 12

Năm 1893 Mục sư David Lelachear đến thăn Sài Gòn và trở về báo cáovới tiến sĩ A.B.Simpson tại Singapore rằng cánh cửa tại Việt Nam cũng như toàn

xứ Đông Dương thuộc Pháp đã mở cửa cho việc giảng Tin Lành

Do chính quyền Pháp-Việt lúc đó chỉ cho phép giáo sĩ của Công giáo Pháp

và Tây Ban Nha được truyền bá đạo còn các giáo sĩ ngoại quốc khác đều bị cấm,nên Tiến sĩ A B Simpson quyết định thành lập cơ sở truyền giáo tại tỉnh QuảngTây, Nam Trung Hoa để làm bàn đạp tiến vào Việt Nam, ông bà giáo sĩC.H.Reeves đã được phái đến Quảng Tây

Năm 1897 giáo sĩ C.H.Reeves đã vượt qua biên giới Hoa- Việt vào thămviếng tỉnh Lạng Sơn

Năm 1899, giáo sĩ R.A.Jaffray vượt biên giới Hoa- Việt đi dọc theo songHồng đến Hà Nội, nhưng không đặt được điểm tựa nào cho việc truyền giáo

Năm 1902, Hội truyền giáo nghĩ rằng người nói tiếng Pháp vào xứ thuộcPháp sẽ dễ dàng hơn nên đã cử ông bà Sylvan Dayan người Canada thuộc Phápsang Việt Nam Ông bà Dayan đến Hải Phòng với kế hoạch mở một cơ sở truyềngiáo tại Bắc Kì, nhưng bị chính quyền Pháp gây khó khăn nên năm sau phải trởlại Hoa Nam

Năm 1902, Thánh Kinh Hội Anh Quốc đã lập được trụ sở tại Đà Nẵng và pháthành kinh thánh bằng chữ Hán , chữ Nôm phổ biến cho dân cư ở Quảng Nam và

Trang 13

tâm của cả nước , duyên hải miền trung là địa bàn kém phát triển nhất của Cônggiáo La Mã Hơn nữa , Đà Nẵng là một nhượng địa của Pháp nên việc lập thủtục cho một cơ sở tôn giáo trên chính mảnh đất của Thánh kinh hội sẽ dễ dàngđược chấp nhận hơn.

Sau đó các giáo sĩ trở lại Hoa Nam để làm công tác chuẩn bị

Như vậy, năm 1911 được xem là năm đầu tiên Tin Lành truyền đến ViệtNam

2.2.2 Quá trình truyền bá

Sau khi đặc cơ sở tại Đà Nẵng Mục sư A.B.Simpson đã bổ nhiệm 9 giáo sĩthuộc CMA vào Việt Nam Tới năm 1915 lấy lý do là các mục sư Tin LànhCMA hoạt động gián điệp cho Đức, chính quyền Pháp ở Đông Dương đã cấmcác giáo sĩ CMA hoạt động, phải tới khi mục sư K.Jaffay phó hội trưởng CMAgặp toàn quyền Đông Dương các giáo sĩ CMA mới được tự do truyền đạo

Đến năm 1916 CMA đã lập được 16 chi hội Tin Lành tại Việt Nam trong

đó có 5 chi hội Bắc Kì, 6 chi hội Trung Kì và 5 chi hội Nam Kì các chi hội đềunằm trong một tổ chức thống nhất là Hội Thánh Tin Lành Đông Dương Pháp

Năm 1920, nhà in mang tên Tin Lành đầu tiên được xây dựng tại Hà Nộicác in phẩm, kinh thánh, thánh ca, các ấn phẩm truyền giáo, nguyệt san thánhkinh khác được in bằng Tiếng Việt chỉ trong vòng 2 năm tới năm 1922 nhà inTin Lành đã phát hành hơn 12000 ấn phẩm

Năm 1921 trường kinh thánh đầu tiên được mở tại Đà Nẵng dưới sự quản

lý của mục sư D.Jeffrey chương trình đào tạo của trường dự theo trường thánhkinh, Nyack tại Mỹ khóa học đầu tiên có 8 chủng sinh, tới khóa đào tạo năm

1930 có 99 chủng sinh

Năm 1928, Đại hội đồng các mục sư đã quyết định phân chia Tin Lành tạiViệt Nam thành hai hạt là Bắc- Trung hạt và Nam hạt

Trang 14

Năm 1931 chia thành ba hạt: Bắc- Trung-Nam tồn tại đến năm 1954 Tínhđến năm 1940 ở Việt Nam có 189 chi hội và khoảng 15000 tín đồ trong thời kì

đế quốc Nhật vào Đông Dương từ 1940 phần lớn cavs giáo sĩ được triệu hồi vềnước hội thánh ngừng hoạt động

Năm 1945 sau khi người Nhật rút lui hội thánh được đổi tên thành Hôithánh Tin Lành Việt Nam

Năm 1948 các hoạt động của Tin Lành ở ba miền mới phục hồi trở lại Sauhiệp đinh Gionevo (1954) hội thánh chia làm hai là Hội thánh Tin Lành ViệtNam (Miền Bắc) và Hội thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Nam) do phần lớn mục

sư, tín đồ di cư vào nam Hội Thánh Tin Lành Miền Nam được coi là nới tiếp HộiThánh Tin Lành Việt Nam

Tại Miền Nam sau 1954 có nhiều Hội Thánh Tin Lành đã được thành lậptại Việt Nam với các hệ phái Tin Lành khác nhau ngoài Hội Thánh Tin LànhViệt Nam được hình thành sớm nhất từ CMA từ năm 1911 thì trong thời kì1945-1954 có thêm các hội thánh khác như: Hội Thánh Cơ Đốc truyền giáo ViệtNam, Hội Thánh lien hữu Cơ Đốc….được hình thành tính đến nay ở Việt Nam

có khoảng vài chục Hội thánh thuộc hệ phái Tin Lành đang hoạt động truyềnđạo

2.3 Các giai đoạn phát triển của đạo tin lành ở Việt Nam

Trang 15

cáo có một người chịu báp têm,tín hữu đầu tien của của ông là Nguyễn VănPhúc,một trong số người đầu tiên bán sách Tin Lành.

Có thể nói trong giai đoạn này , sổ tín hữu cũng tăng dần, đoi hỏi một nơithờ phụng ổn định đã trở nên càn thiết Vì vậy, ngày 30-3-1914 sau gần một nămchuẩn bị một nhà thờ bang tranh đươc dưng lên tại Đà Nẵng ( ; Trang27).Đây là nhà thờ Tin Lành dầu tiên ở Việt Nam Ngày 05-4- 1914 lớp Chúanhật được mở ra vơi 7 người tham dự

Đến 12-1915,Pháp ra nghị định cấm đạo Tin lành truyền giáo cho ngườibản xứ, đóng cửa các nhà thờ trừ một cai ở Đà Nẵng, họ còn ra lệnh trục xuấtgiảo sĩ gốc Đức hoặc có tên giống người Đức Kết quả có 4 giáo sĩ bi trục xuấtcòn lại 5 người bi quản chặt tại Đà Nẵng Sau khi Pháp thắng Đức, số giáo sĩ TinLành CMA(Liên hiệp truyền giáo Kitô) của Mỹ trở lại 9 người, năm 1921 tănglên 18 người, năm 1927 tăng lên 27 người và được Thực Dân Pháp cho phép ra

Hà Nội nhưng dò xét kỹ( ; Trang 105) Các giáo sĩ phải làm một “ Bản hiếnchương mười điều” như bản cam kết với nhà cầm quyền Thực Dân o Việt Namrằng, Hôi truyền giáo tuyệt đối không nhằm mục đích cải cách xã hội, khôngnhúng tay làm an sinh, không ding vào làm bất kỳ một công việc từ thiện nhânđạo nào, không trợ giúp y tế hay kinh tế nào để truyền đạo, mà chỉ đơn thuần latruyền đạo “ suong”

Vì vậy năm 1916, giáo sĩ R.A.Jafray đến gạp toàn quyền Đông Dương tai

Hà Nội để xin tiếp tục truyền giáo, và chính quyền Pháp nơi dần lệnh cấm chophép các giáo sĩ đươc hoạt động tại các thành phố Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng

và Nam Kỳ, ông bà giáo sĩ Cac man lên Hà Nội để tiến hành việc phiên dịch và

in ấn Kinh Thánh.Viêc in ấn cũng có từ trước đó, từ 1914 đến 1920 đã có nhà inriêng tai Hà Nội , họ xuất bản “San nguyệt thánh kinh báo” và in thêm nhiềusách(co cả Tin Lành bằng chữ Khơ- me), số lương tăng nhanh chóng, năm 1922

Trang 16

in 127.807 ấn phẩm với 3.197.300 trang; đến 1925 đã là 812.345 ấn phẩm với13.606.828 trang (các tôn giao lớn trên thế giới; trang 107)

Từ sự phát triển sơ khai đơn lẽ dần dần đạo Tin Lành có sự phát triểnmạnh hơn và ngay càng chứng tỏ vị thế của mình.Năm 1918 sổ tín hữu tai ĐàNẵng lên tới 58 người và mở thêm một điểm tại Hải Châu phía nam thành phố

Đà Nẵng Tại Hà Nội có 4 tin huux đươc báp têm ( ;Trang 29)

Hơn nữa sau chiến tranh thế giới thứ nhất, năm 1918 các giáo sĩ J.D.Olsen

va I.R.Stebbins đươc cử đến Sài Gòn ; giáo sĩ R.M.Jackson và D.I.Jeffrey đươc

cử đến Hải Phòng ;cô Mary har tman o tai Đà Nẵng ( ;Trang 30) Như vậy thìsau chiến tranh thế giới thứ nhât, ngày càng có nhiều người truyền giáo vào ViệtNam, số lương cũng như các hội thánh không ngừng tăng lên, nhiều trườngkinh thánh được mở ra Cụ thể : Năm 1921 trương kinh thánh được mở tại DàNẵng, do giáo sĩ D.I.Jeffrey phụ trách niên khóa đầu tiên có 8 người Cung trongnăm đó 1921, Hội Thánh Đà Nẵng có 115 tín hứu và trở thành Hội Thánh tự tựđầu tiên tại Việt Nam.Cuối 1921 với 22 giáo sĩ và sự giúp đỡ của 8 truyền đạosinh Việt Nam.’, hội truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp đã thuyết lâp được 5 cơ

sở truyền đạo , 8chi hội với 138 tin hữu

Từ 1918-1927 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đạo Tin Lành Cụ thể

1924, có 22 điểm truyến giáo đến năm 1927 tăng lên 87 điểm số tín đồ 1921 là

180, năm 1924 là 1571, năm 1927 tăng lên tới 4236(cac tôn giáo trên thê gioi vaViÊT NAM; 1O7)

Từ 1918-1927 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đạo Tin Lành cụ thể:

1918 có điểm truyền giáo, năm 1924 có 22 điểm năm 1927 tăng lên 87 điểm Sốtín đồ năm 1921 là 180, năm 1924 là 1571, năm 1927là 4236 (các tôn giáo trênthế giới và Việt Nam, Mai Thanh Hải, trang 107) Đa số những người trong Hộithánh là nhân dân, thợ thuyền, thị dân buôn bán và một nhóm nhỏ tư chức rất íttri thức học giả Năm 1922, Hội thánh cử Mục sư Lê Văn Long lên vùng gần

Trang 17

biên giới campuchia rủ được ba bốn chục người Khơ-me bỏ Phật giáo Nam tong

đi sang đạo Tin Lành, nhưng rồi số này cũng rơi rụng dân

Đánh dấu bước phát triển mói của đạo Tin Lành ở Việt Nam là vào tháng3năm 1927 tại Đà Nẵng, 50 đại biểu tín đồ của 74 chi hội họp bầu một ủy banchấp hành có 5 người Việt chính thức đặt tên tổ chức “ Giaos Hội Tin LànhĐông Pháp” Hơn nữa, địa bàn của Hội thánh còn đươc mở rộng cụ thể : TạiQuảng Nam theo ghi nhận của Lê Văn Thái trong bốn mươi năm trong chức vụthì từ Hội An, Tin Lành được truyền dọc sông Thu Bồn, từ Vụ Gia đến PhongThử, lạc thành Đại An, Trường An, Khánh Bình, Phú Lãnh, Thanh Qúi, Tam Kì

Từ Cần Thơ,có các chi Hội được phát triển như: Phong Điền, Cái Răng, ÔMôn, Kế Sách…Hơn nữa , từ Mĩ Tho một loạt các chi Hội khác được hình thànhbao gồm: Bến Tre, Gò Công, Tân Thạch, Qưới Sơn, Tân An, Lộc Thuận…

Từ năm 1924 đến 1926 đã có Hội đồng nhưng chỉ mang tính cách bồi linh,nhưng chỉ từ năm 1927 mới có hội đồng hành chính để đưa ra ban trị sử TổngLiên Hội đầu tiên Đại hội đồng Tổng lien hội 1927 đầu tiên Đại Hội đồng TổngLiên Hội 1927 gồm 50 đại biểu, mục sư truyền đạo tín hữu của 7 chi hội tự trị và

67 hội nhánh đã họp tại Đà Nẵng từ ngày 5 đến ngày 13 tháng 3 và đã quyết địnhthành lập Hội Thánh Tin Lành độc lập với Hội truyền giáo Phước Âm lien hiệp(CMA) với tên gọi của Hôij thánh là “Hội Tin Lành Đông Pháp” bân trị sự Tổngliên hội đầu tiên đã được bầu bao gồm: Mục sư Hoàng Trọng Thừa (Hội trưởng),mục sư Trần Dĩnh (Hội phó), mục sư Dương Nhữ Tiếp (Thư kí), ông NguyễnThành Long (Thủ quỹ ), mục sư Lê Văn Long (Nghị viện) (100 năm hình thành

và phát triển của Hội thánh Tin Lành Việt Nam, trang 44)

Đại Hội Đồng năm 1928 đã thong qua dự thảo Hiến Chương đầu tiên vàquyết định phân chia thành hai địa hạt là: Trung- Bắc hạt (gồm Bắc Kì và Trungkì), và Nam hạt (gồm Nam kì và cam-bốt) Các đại biểu của địa hạt họp tại Đà

Trang 18

Nẵng và Mỹ Tho và cử mục sư Trần Xuân Phan làm chủ nhiệm Bắc- Trung hạt

và mục sư Bùi Tự Do làm chủ nhiệm Nam hạt

Như vậy, trong Hiến chương 1928 đó đã có sự phân chia rõ rệt, Hiếnchương có 37 khoảng, 156 mục, mỗi mục có từ 2 đến 10 ý, sau này các năm

1936, 1952, 1958 chỉ sửa chưa ít ( các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam, MaiThanh Hải, trang 107) Hiến chương nói mục đích chính là tập hợp những ngườiViệt Nam tin nhận Tin Lành khiến “ Sư tài lâm của chúa mau đến” Đối với việcbài lạy ảnh tượng và thờ cúng tổ tiên, Hiến chương qui định phải “ Dẹp bỏ hìnhtượng và thờ cúng tổ tiên”, cũng trong năm đó năm 1928 Ban Trị Sự Tổng Liênhội cũng trình Hiến chương lên Hoàng đế Bảo Đại và toàn quyền Đông Dương

để xin tư cách pháp nhân, nhưng mãi đến năm 1942 toàn quyền Đông Dươngmới kí quyết định công nhận

Đến năm 1931, Đại hội đồng quyết định chia thành ba hạt: Bắc Hạt ( từThanh Hóa trở ra do mục sư Lê Văn Thái làm chủ nhiệm ), Trung Hạt ( từ Nghệ

An đến Ninh Thuận do mục sư Lê Văn Long làm chủ nhiệm ),và Nam Hạt ( mục

sư Lê Tự Do làm chủ nhiệm) Hội thánh cũng quyết định tên gọi là Hội ThánhTin Lành Việt Nam Đông Pháp Trong giai đoạn này có nhiều hội trưởng như:Mục sư Hoàng Trọng Thừa ( 1927-1928), mục sư Dương Nhữ Tiếp (1928-1931),mục sư Trần Xuân Phan (1931-1933), mục sư Lê Đình Tươi ( 1933-1942) (100năm hình thành và phát triển của Hội thánh Tin Lành Việt Nam; trang 44)

Sau đây ta có thể chia sự phát triển tại ba miền của đất nước Việt Nam:

Tại Bắc Hạt

Hội thánh đã phát triển mạnh mẽ qua chức vụ của mục sư Lê Văn Thái năm

1928 chỉ có gia đình mục sư Thái được cử ra Bắc nhưng đến đầu 1933 đã có 40gia đình Mục sư truyền đạo được cử ra ( đa số là từ miền Trung ) và tính tháng 7năm 1934 thì có 570 người tin Chúa Năm 1933, mục sư Thái đã truyền giáo chođồng bào các tỉnh miền núi phía Bắc kết quả khách quan nhiều chi hội được

Trang 19

thành lập Đến năm 1940 Bắc hạt đã có 58 chi hội so với 56 ở Trung kì và 75 ởNam hạt ( 100 năm hình thành và phát triển đạo Tin Lành ở Việt Nam ; trang46) Tuy nhiên do ảnh hưởng của chiến tranh chỉ trong năm 1947 có 22 nơi phảiđóng cửa Tỉ lệ người chịu Bap-tem trên số người tin chúa ở Bắc hạt cũng kháthấp so với các hạt khác Đơn cử năm 1939 Nam hạt có 638/1479; Trung hạt có389/1934; còn Bắc hạt chỉ có 99/1248.

Tại Trung Hạt

Hội thánh tiếp tục được củng cố và phát triển dưới sự dẫn dắt của các mục

sư Lê Văn Long, Đoàn Văn Khánh, Ông Văn Trung Nhiều chi Hội được mở tạiQuảng Nam, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Ninh Thuận Đến 1941 nhiều chihội vững mạnh thiết lập tại Phong Thử, Đại An, Trường An, Thu Bồn, Phú Lãnh,Khánh Bình, Phúc Bình, Quế Sơn, Cảm Long, Tiên Phước, Quế Phương, TràMy…

Trong thời kì này, Trung hạt đã cung cấp nhiều nhân sự cho Bắc hật vàNam hạt Đặc biệt tháng giêng năm 1928 trường kinh thánh cử 8 truyền đạo raHuế để làm chứng và phân phát sách Tin Lành Mặc dù có lệnh cấm truyền đạo.Năm 1931 Huế được phép mở một phòng nhóm và hội thánh cử mục sư HoàngTrọng Thừa ra đảm đương công việc, Hội truyền giáo cũng cử giáo sĩ D.I Jeffey

ra Huế Sâu đó giáo sĩ I R.Stenbbins được cử ra thay thế, ông mở rộng việctruyền bá Tin Lành ra các nơi: Thừa Thiên, Phong Điền, Điền Sanh, QuảngTrị…

Như vậy tại Trung hạt đạo Tin Lành đã được phát triển mạnh mẽ và từngbước chứng tỏ vị thế của mình

Tại Nam hạt

Hội Thánh đặc biệt phát triển ở vùng Trung Nam Hạt Từ cứ điểm Mỹ Tho nỗlực truyền giáo nên lan truyền rộng rãi đến Tân An, Gò Công, An Hòa, BaTri….Khoảng đầu thập nien 1930 giáo sĩ P E.Carlson cùng một số mục sư Việt

Trang 20

Nam đã mua một chiếc tàu làm phương tiện truyền giáo Tin Lành trên các consong nước ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Con tàu Tin Lành này do ôngHuỳnh Văn Ngà điền động một thời gian khá lâu len lỏi ở các sông rạch từ MỹTho đến Rạch Gía, đem Tin Lành đến cho mọi người :

Bên cạnh vùng Trung Nam hạt sự phát triển càng lan rộng ở miền Đông Nam hạttập trung chủ yếu ở khu vực Biên Hòa và một vài nơi như Thủ Đức, Bến Cát,.Riêng tại Sài Gòn năm 1927 các giáo sĩ thuê một địa điểm gần nhà ga và bến xebuýt Tại đây họ đã mở ngay hội thánh phía trước làm phòng đọc sách và giảinghĩa đạo, phía trên làm phòng giảng Tin Lành Những người từ khắp nơi đếnđây nghe giảng Tin Lành tiếp nhận Chúa và đem hạt giống Tin Lành về quêhương mình Đến năm 1934 nhà thờ đầu tiên được xây dựng tại 155 Trần HưngĐạo

Như vậy, từ khi đạo Tin Lành truyền vào Việt Nam đến 1942 đã có sự phát triểnmạnh mẽ về cố lượng tòa thánh mà còn cả số lượng chi hội theo thống kê cụ thểđến cuối 1934 số chi hội tại Bắc hạt là 38, tại Trung hạt là 34, Nam hạt là 47.Năm 1940 số chi hội tại Bắc hạt tăng lên 58, Trung hạt 56, Nam hạt 75 Hơn nữanăm 1941 tại Việt Nam có 22 giáo sĩ của hội truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp

có 176 mục sư truyền đạo vào Việt Nam có tới 104 chi hội và điểm nhóm số tínhữu tăng lên đến 11.751( 100 năm hình thành và phát triển của Hội Thánh TinLành Việt Nam ; trang 50)

2.3.2 Giai đoạn 1942-1954

Trong giai đoạn này, hoàn cảnh lịch sử Việt Nam hết sức đặc biệt và nó đãtác động sâu sắc đến đạo Tin Lành Chiến tranh Thế Giới Thứ Hai bùng nổ,tháng 6-1940 Nhật Bản kiểm soát Đông Dương, năm 1945 Nhật Bản đầu hangĐông Dương, cùng lúc đó thì quân đội Anh và Trung Hoa vao giải giáp quân độiNhật Bản Tất cả đó đã làm cho tình hình chính trị nước ta hết sức rối ren Hơnnữa cách mạng Tháng Tám, năm 1945 thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ

Trang 21

ra đời đã tác động không nhỏ đến đạo Tin lành Sau đó, là cuộc kháng chiếntrường kì chống Pháp kéo dài đến tám năm.

Trong hoàn cảnh đó, tưởng chừng như đạo Tin lành có thể chậm phát triển, tụthậu thế nhưng đạo Tin Lành không những được duy trì mà còn phát triển mạnhmẽ

Ngày 19 tháng 01 năm 1942, toàn quyền Pháp Jean Decoux mới kí quyếtđịnh công nhận Ban lãnh đạo của Hội thánh, gồm các mục sư: Lê Đình Tươi,Viên Công Thảo, Bùi Tự Do, Lê Văn Quế, Lê Văn Thái, Lê Văn Long Đây làthời điểm quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của Hội Thánh cả về tự trị, tựquản và tự cung cấp mọi hoạt động điều hành giáo hội và truyền bá Phúc Âmđều do các lãnh đạo và tín hữu Việt Nam thực hiện, thời gian này Hội thánh ViệtNam không nhận tài trợ từ hội truyền giáo mà còn đâng hiến hỗ trợ cho các giáo

sĩ đang bị qunr thúc cho đến hết chiến tranh Thế giới thứ hai

Đến tháng 8 năm 194, Đại hội đồng lần thứ 19 được nhóm họp tại ĐàNẵng đã bầu mục sư Lê Văn Thái làm hội trưởng hội đồng cũng quyết địnhthành lập tổ chức đoàn Thanh niên Tin Lành, củng cố Ban chứng đạo và pháttriển chương trình truyền đạo cho người Thượng

Hơn nữa, từ 1942-1945 dù bị ảnh hưởng của cuộc chiến tranh và nạn đóinhưng không một tín hữu nào bị chết vì nạn đói Qua thử thách Hội thánh còn trởnên vững mạnh, số tín hữu gia tăng, Hội thánh xây dựng được 18 nhà thờ, 27 chihội được tự quản, và tất cả các chi hội đều tự cung tự cấp như hồi 1945 Nhưng

sự phát triển ấy dần dần đi xuống, bởi vì trong khi cao trào nhân dân các tỉnhthành nối tiếp nhau nổi dậy giành chính quyền làm nên cách mạng tháng tám

1945, thì tại nhiều tỉnh thành các mục sư tung tin đồn rằng được Chúa hiển thịcho biết ngày 30 tháng 09 năm 1945 (sau họ sửa thành ngày 01 tháng 10 năm1945) sẽ là ngày tận thế, trái đất sẽ nổ tung, bầu trời tối đen mù mịt, đàn lũ quỷ

dữ nổi lên quấy phá trần gian, nghe tin đồn ấy hang ngàn tín đồ đã bán nhà cửa

Trang 22

tài, tài sản, chạy núp vào nơi an toàn, kín đáo chờ Chúa xuống đón lên ThiênĐàng Về sau thì họ đã rời xa đức tin, và bỏ đạo hàng loạt cụ thể Hội trưởng LêVăn Thái đã khăng khăng không chịu lập “Tin Lành cứu quốc hội” (trong khi đó,đang có Phật giáo cứu quốc hội, công giáo cứu quốc hội…), để rồi chạy vào cácthành thị hợp tác chặt chẽ với cao ỷ Pháp, tiếp đó là Mỹ-Diệm và các tổ chức TinLành từ Mĩ qua Hơn nữa từ 1948-1954, nhiều nhà thờ cũng như tín đồ phải bỏ

đi và đóng cửa số chi hội phải đóng cửa ở Nam hạt là 38, Trung hạt là 17

Đến thời kì từ 1948-1954: với sự giúp đỡ của Hội truyền giáo thời kì nàythì Hội thánh Việt Nam dần dần được khôi phục lại và tiếp tục phát triển cácmục sư truyền đạo trở lại Hội thánh chăn dắt bầy chiên trong điều kiện khó khăncủa đất nước có nhiều người tin Chúa và thêm vào Hội thánh ở cả ba hạt, hiều

cơ sở và nhà thờ được khôi phục, số tín đồ giảm còn 9,739 vào năm 1947 đã tănglên 13,824 vào năm 1954 trong đó, đáng chú ý nhất là năm 1950, Đại Hội ĐồngTổng liên hội tái nhóm họp tại Đà Nẵng từ ngày 5-9 tháng 3, sau một thời giangián đoạn Hội đồng đã quyết định tên gọi chính thức của hội thánh là “Hộithánh Tin Lành Việt Nam” thay cho tên gọi cũ “Hội Tin Lành Việt Nam” Nhưvậy, danh hiệu của hội thánh được thay đổi như sau: 1927 Hội Tin Lành ĐôngPháp, 1936 Hội Tin Lành Việt Nam Đông Pháp, 1945 hội Tin Lành Việt Nam,

1950 Hội thánh Tin Lành Việt Nam (100 năm hình thành và phát triển của Hộithánh Tin Lành Việt Nam, trang 60)

Bên cạnh đó, sự phát triển còn thể hiện ở công tác truyền giáo Năm 1942thành lập “Bào ngoại bố đạo đoàn”, đến năm 1949 đổi tên thành “ Đoàn truyềngiáo Việt Nam” do mục sư Phạm Xuân Tín làm trưởng đoàn, và mục sư PhanVăn Năng làm phó đoàn, thời gian này nhiều người truyền đạo tốt nghiệp trườngKinh thánh được cử lên Tây Nguyên Đến 1951, địa hạt Thượng du được thànhlập do mục sư Hasol làm chủ nhiệm Đến 1954, có khoảng 3000 tín hữu, 71 chi

Trang 23

hội và 91 điểm nhóm, 117 mục sư truyền đạo, và 21 giáo sĩ Việt Nam (100 nămHội thánh Tin Lành Việt Nam, trang 62)

Hơn nữa, công tác truyền giáo cũng bắt đầu truyền qua làn song điện, thông quađài Viễn Đông, Manila, Philippin Hội thánh cũng tiếp tục xuất bản các tạp chí

“Duốc thiên”, “ Hừng đông”, cùng với truyền đạo đơn qua các bài học của Chúanhật, bài học Kinh thánh

Tóm lại, trong giai đoạn này tuy gặp nhiều khó khăn, cũng như hoàn cảnhlịch sử rối ren, nhưng đao Tin Lành cũng có sự phát triển, thể hiện ở sự tăng lêncác nhà thờ, công tác truyền giáo cũng được chú trọng Qua đó, nó định hình cho

sự phát triển sau này

Hội Thánh Tin Lành ở Việt Nam cũng bị phân ra thành hai tổ chức(HôiThánh Tin Lành Việt Nam Miền Bắc và Hội Thánh Tin Lành Việt Nam MiềnNam), hoạt động độc lập cho đến hiện nay

Trang 24

Đầu năm 1955 tin đồ Tin Lành ở Miền Bắc chỉ gần 1000 người ở 20 chihội và gần 20 mục sư truyền đạo.

Ngày 12/4/1955 tiến hành Đại Hội Đồng Bắc kỳ với khoảng 200 đại biểu.Trụ sở của giáo Hội đặt tại nhà thờ số 2 Ngõ Trặm, Hội Thán Tin Lành MiềnBắc cũng là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam hoạt động theo hướng

tiến bộ “kính chúa và yêu nước”.

Đến năm 1958 Hội Thánh Miền Bắc đã có được tư cách pháp nhân thôngqua Đại Hội Đồng lần thứ 8 họp tại Hà Nội (13-15/3/1963),được nhà nướchướng dẫn, Bản điều Lệ được sử dụng cho đến tháng 11/2004

Nhìn chung giai đoạn này Hội Thánh Miền Bắc không có bước phát triểncho lám, các hoat động bị chậm lại nguyên nhân chủ yếu là do các tin đồ và chứcsắc di cư vào Nam Còn đối với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam(miền Nam), tỏ rỏhơn hẳn và vai trò chủ đạo của Hội được phát huy tích cực

Năm 1965.nhiều nhóm của chứng nhân Đức Giê-hô-va và Mê-tốt, HiệnXuống,… ào ạt vào miền Nam

Năm 1960 Trường Kinh Thánh từ Đà Nẵng dời vào Nha Trang và đổi tênthành Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang, Trường chuyên đào tạo con emcác tin đồ và là nòi tụ họp của các mục sư đó là địa điểm thuận lợi cho Hội thánhMiền Nam phát triển

Năm 1961 Chuản Y Viện Tin Lành Nha Trang, Buôn Mê Thuật, Plei Kulần lượt thành lập Đồng thời các hạt các chi Hội Tin lành nảy nở rầm rộ nhất là

Trang 25

ở Tây Nguyên; Thánh Kinh Thần Học ở Nha Trang, Cao Đẳng Thần Học ở SàiGòn, Thánh kinh tiểu học đường,Thánh kinh ban đêm ở các thành thị.

Bên cạnh đó Tổng Liên Hội tổ chức thành 10 uy ban(Giáo dục, tuyên giáothiếu nhi, cứu tế học bổng, và lập nhiều hội đoàn, Tổng đoàn thành niên Tinlành, Đoàn thành niên Thượng,

Đoàn sinh viên, Hội cơ đốc thanh niên,….cho thấy sự phong phú và dadạng trong lối tổ chức, hoạt động của Hội thánh Tin lành miền Nam

Không chỉ ở đó các lĩnh vực sách, báo chí ào ạt trên mặt trận thông tin cổđộng, phối hợp với việc mở rộng khắp mọi nời việc truyền giảng, kẽ cả binh línhchính quyền Sài Gòn

Năm 1962 Mục sư Mĩ Richart Taylor và Ms Phan Duy Bình mang tiền bạc

và sách báo đến các vùng Rạch Giá, Hà Tiên, Châu Đốc, Long Xuyên trongvòng 3 năm họ đã thu hút được 300 người Khơ-Mê theo Tin lành

Năm 1967chương trình truyền đạo sâu rộng tại nhà thờ đường Trần CaoVân(Sài Gòn), mục tiêu là tất cả cho nhưng người được cứu Ms(mục sư) PhanXuân Tín đã ví von rằng khi ông dự Hội nghì truyền giáo Tây Beclin(Đức), nghe

MsBillygra ham nói “Người nước Mĩ nào biết uống Cocacola , thì người Mĩ nào

cung phải nghe Tin lành”,ông cũng có suy nghĩ với Hội Thánh Nam rằng

“Người Việt Nam nào cũng biết ăn nước mắm thì người Việt Nam nào cũng phải

được nghe Tin lành”

Tính trong 20 năm (1955-1974), số chi Hội Tin Lành CMA từ 106 lên

487, số người đã Bắp-tem(làm lễ rửa tội) từ 13.950 lên 69.813, số tin đồ nóichung từ 12.000 lên 147.516 người

Cho thấy giai đoạn này cả hai Hội Thánh có như bước đi lên khá rỏ nết,trong đó Hội thánh miền Nam có bươc phát triển hơn hẳn so với Hội thánh miềnBắc Ở miền Nam có được sự phát triển như vậy một phần do chính sách, hoạtđộng tích cực của các nhà truyền đạo, mặt khắc do Mĩ muốn lơi dụng lôi kéo

Trang 26

người dân đặc biệt là các dân tôc thiểu số và nông dân thành thị về mặt chínhtrị,đã thể hiện tính phức tạp của xã hội Viêt Nam bây giờ.

Nhưng không chỉ dựng lại ở đó sang giai đoạn thứ tư sẽ thấy rỏ quá trìnhphát triển của các Hội Thánh như thế náo?

2.3.4 Giai đoạn 1975 - 2001

Vào thời điểm này tình hình ở Việt Nam diễn ra hết sức ắc liệt và gần kềvới ngày chiến thắng của quân dân miền Bắc Biết trước được vận mệnh và sốphận chính quyền Mĩ – Ngụy, hang triệu người dân đã bỏ nước ra đi bằng mọiphương tiện, phi cơ, tàu bè, xe… hay vượt biên qua các nước lân cận bằngđường bộ tìm đường đến nước thứ 3(Mĩ)

Trong dó có khoảng 40 mục sư, truyền giáo và khoảng 1600 tín đồ, môt

số người thì ở lại nhưng cũng bị bắt vào các trại cải tạo trong cac trại tâp trung.Sau môt thời gian lưu lạc ở nước ngoài, dần cuộc sống của họ đã ổn định, các tín

đồ người Việt Nam ở các nước khác nhau đã thành lập hàng trằm Hội thánh ởkhắp châu lục như châu Mĩ, châu Âu, Á,…

Ngày 30/4/1975 đất nước được giải phóng và hoàn toàn thống nhất, Đảng

và Nhà nước bắt đầu công cuộc xây dựng đất nước Giai đoạn này các HộiThánh ở Việt Nam vẫn tồn tại trong điều kiện hết sưc khó khăn, nhưng dần từngbước được củng cố và phát triển Không khác gì giai đoàn trước hai Hội thánhvẫn hoạt động biệt lập với nhau

Hội Thánh Tin Lành Viêt Nam (Miên Nam)

Bắt đầu từ năm 1975 trở về sau Hội thánh Tin Lành(mN) phải đối mặt vớimuôn vặn khó khăn về nhân lực, nhiều nhà thờ và các cơ sở bệnh viện, trườnghọc bị mất mát Thánh Kinh Thần Học Viện cũng bị đóng cửa suốt 27 năm(1976-2003) khiến nguồn nhân lực cho sự lãnh đạo của Hội thánh bị gián đoạn

Dưới chế độ bao cấp các tín đồ, Ms Tin Lành sống trong cảnh túng quẫn,

để duy trì Hội thánh họ phải làm mọi việc để duy trì hội

Trang 27

Từ ngày 13-15/6/1975 Hội Đồng Tổng Liên Hội(HĐTLH) lần thứ 41 tổchức tại Sài Gòn, một năm sau từ ngày 13-15/6/1976 HĐTLH lần thứ 42 đã bầu

Ms Ông Văn Huyền làm Hội thánh Tin Lành Việt Nam(1976-1999) và Ms ÔngVăn Miêng giữ chứ phó Hội trưởng, từ đó suốt 25 năm sau mới được tổ chức lạilần nữa

Năm 1986 đất nước thực hiện công cuộc đổi mới chế độ bao cấp dần bịxóa bỏ thay vào đó là một chế độ mới hoàn toàn Các Hội thánh được Nhà nướcquan tâm và hoạt động rộng hơn, đã tạo ra một không khí mới cho Hội thánhmiền Nam biểu hiện là;

Từ năm (1992-1994) các cuốn Kinh thánh và cuốn Thánh Ca được cấpphếp vào nước, một phần đã cung ứng được cho nhu cầu cấp bách của Hội thánh

Năm (1994-2000) Ms Lê Cao Quý đước sự cho phếp của Nước Nhà đãtiến hành in 85.000 cuốn Kinh thánh Tân ước, 65.000 Tân ước, 50.000 sách TinLành, 120.000 chuyện tích Kinh thánh và 25.000 quyển thánh Ca,……Cũngtrong giai đoạn này hàng trăm ngôi nhà thờ củ kỹ được tu sửa và xây dựng mới,các cuộc truyển giảng cũng thoáng hơn Hội còn tích cực viện trợ tù thiện

Đó là sự nổ lực không mẹt mỏi của Hội thánh miền Nam đang từng bướckhởi sắc, dần lấy lại vị thế phát triển như những giai đoạn trước Có được thànhcông bươc đầu như vậy ngoài khả năng bên trong còn có sự tác đông của các yếu

tố bên ngoài(sự giúp đỡ của các tổ chức Hội ngoài nước) Vì vậy tuy hoạt độngtrong hoàn cảnh khó khăn nhưng Hội thánh Tin Lành Việt Nam(mN) vẫn có sựphát triển nhất định

Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc)

Cũng nằm trong một quốc gia, nhưng Hội thánh Tin Lành Việt Nam miềnBắc(HTTLVNmB), có những điều kiện thuận lợi hơn thực chất hướng đi nướcbước lại không mấy khả quan và chậm lại so với Hội thánh mN Mặc dù có tư

Trang 28

cách pháp nhân từ năm 1963, có điều lệ riêng, chỉ đạo điều hành song tổ chứcHội vẫn không mấy phát triển.

Năm 1975 số tín đồ có khoảng 5000, với 14 nhà thờ và 14 Ms và giảng sư.Hội thánh không có một trường học nào đào tạo người hầu chúa

Từ năm (1988-1993) khóa dậy thần học đươc mở khóa thứ hai với 15 học viên,trong đó 10 khóa sinh chính thức 5 khóa sinh dự thính, dưới sự điều hành của MsBùi Hoàng Thư phó Hội trưởng, kiềm Tổng thư ký Hội thánh Miền Bắc và hai

Ms Nguyễn Hậu Nhường, Phạm Xuân Thiều được mời từ miền Nam ra giảnghuấn Nhưng mấy năm gần đây Tổng Hội Miền Bắc bắt đầu gửi môt số ít sinhviên vào học tại Thần Hoc Viện ở miền Nam

Giai đoạn này Hội thánh Miền Bắc dương như không có bước tiến đang

kể, nhưng nhưng gì Hội thánh làm được là vẫn tiếp tuc giữ được những điều kiệntốt cho sự vươn lên của hội giai đọan sau

2.3.5 Giai đoạn 2001 đến nay:

Trong giai đoạn này, hòa nhịp với không khí tưng bừng đất nước đang quátrình hội nhập, ngày càng sâu rộng đó là một môi trường cũng là yếu tố tích cựcchứng kiến sự phát triển của các Hội thánh ở Việt Nam

Ngày 16/3/2000 theo nghị định số 15_QĐ/TGCP Ban tôn giáo chính phủcấp tư cach pháp nhân cho Hội thánh miền Nam đã trực tiếp công nhận Hộithánh này hoạt động ở Việt Nam

Từ ngày 7-9/02/2001 Đại Hội Đồng Tổng Liên Hôi lần thứ 43 tại nhà thờTin Lành Sài Gòn một bản Hiến chương của Hội đươc thông qua, với hệ thống

tổ chức gồm; Tổng Liên Hội, chi Hội,bỏ hệ thống Địa hạt thay vào đó mỗi tỉnh

có một

Ban đại diện và Ms Pham Xuân Thiều đắc cử Hội trưởng Tuy nhiên hai

năm sau ông qua đời nên Ms Dương Thanh phó Hội trưởng giữ chức quyền Hộitrưởng với nhiệm kỳ 4 năm(2001-2005)

Trang 29

Năm 2003 Chính phủ cho phếp HTTLVNmN mở lại Thánh Thần HọcViện, sử dụng cơ sở tạm thời tại HTTL chi Hội Sài Gòn Thời điểm này một sốchương trình truyền giảng lớn được cho phếp tổ chức tại nhà thi đấu Vân Đônquân 4, trương đua Phú Thọ, sân vận động Tao Đan,… đã thu hút đươc rất nhiềutín đồ tham gia.

Từ năm 2005 đến nay đã trãi qua hai kỳ ĐHĐTLH lần thứ 3 và thứ4(44,45), Ms Thái Phước Trương liên tục giữ chức vụ Hội trưởng

Hiện nay Thân Học Viện đang đươc xay dựng tại quận 2 TP.Hồ Chí Minh

và bắt đầu khóa học năm(2010-2011) Viện thần học đã chuyển về giảng dậy tạiđây

Ở miền Bắc từ ngày 23-25/2/2009 Đại Hội Đồng lần thứ 33HTTLVNmB họp tại nhà thờ Tin Lành Hoành Nhi (Nam Định) với 250 đại biểu

về tham dự, đã bầu Ms Nguyễn Hữu Mặc làm Hội trưởng Ms Phùng QuangHuyền làm phó

Với những điều kiên hoàn toàn mới này các Hội thánh đã phát huy hếtnăng luc thật sự của mình, Tin Lành đã thật sự trở thành một bộ phận không thểtách rời các hoạt đông xã hội của nươc ta, cang ngày tầm ảnh hưởng của nó độivới người dân càng thêm sau hơn Chứng minh được sư tồn tai của Hội là điềucần thiết, nhưng bên cạnh đó nó cũng thể hiện mặt phản tích cực khi các thế lưcbên ngoài muốn lợi dụng Hội để chống Nhà nước ta, chính vì vậy ma chúng tacân phải quan tâm hơn về vấn đề này

Đồng thời cũng trong giai đoạn này bủng lên hai khu vực trong điểm TinLành hoạt động rất phát triển Thứ nhất khu vực Tây Bắc ở đây đông đảo ngườiH’Mông và Dao tin theo đạo, cho đến năm 2009 tại Đại Hội Đồng Miền Bắctrong số 250 đại biểu có 130 đại biểu của dân tộc H’Mông và Dao Thư hai đó làkhu vực ở Tây Nguyên, Tin Lành bắt đầu du nhập vào thế kỷ XX , mấy năm gầnđây với khoảng 400.000 người theo đạo Tin Lành tín đồ đông nhất là các dân tôc

Trang 30

như; MNông, JaRai, Ede,……và nhiều dân tôc khác thuộc nhiều tổ chức và hệphái sinh hoạt tại gần 2000 điểm nhóm theo buôn Như vậy ở Việt Nam có 4 khuvực mà đạo Tin Lành phát triên mạnh, luôn có sự liên kết nhưng vẫn chư thốngnhất về mặt tổ chức hội.

Bên cạnh HTTLVN(mN và mB) ở nước ta cũng phải kể đến hai tổ chứcHội thánh khác, Hội thánh Tư Gia và Hội thánh Hải ngoại tuy một số tổ chứccủa Hội này không được Nhà nước cho phép nhưng vẫn hoạt động song song vàcùng tồn tại

Hội Thánh Tư Gia

Ngoài hai Hội thánh kể trên ở nước ta còn có khoàng 50 hệ phái Tin

Lành khác được gọi là Hội thánh Tư gia hoạt động Bắc chí Nam như; Liên Hữu

Cơ Đốc ( mục sư Đinh Thiên Tứ ) Bát Tít Ân Điển, Bát Tít Nam Phương, NgũTuần Gam Lí, Trường Lão…Phân chia ra nhiều nhóm phái khác nhau,rất khó đểbiết số tín đồ.Một số Hội thánh tư gia được chính phủ cấp phép hoạt dộng nhưngmột số vẫn hoạt động thầm lặng

Hội Thánh Hải Ngoại

Sau năm 1975,nhiều mục sư truyền đạo cùng các tín hữu di tản ra khắp thếgiới và họ đã thành lập nhiều hội thánh Tin Lành người Việt Nam tại rất nhiềunước như tại Hoa kì, Canada, Pháp, Đức…và một số nước ở Châu Á, với nhiều

hệ phái khác nhau,nhiều nơi

thành lập được tổng hội hay giáo hạt và có ngân sách riêng, thành lập các trườngthần học nhằm phục vụ các hội thánh với mục đích mở rộng thêm hội

Tổng cộng ở hải ngoại có khoảng 517 Hội thánh với số tín hữu ước chừngkhoảng 50.000 người, có khoảng 600 mục sư, truyền đạo vừa quan nhiệm Hộithánh vừa ở trong các ban nghành va các mục vụ khác

Như vậy từ khi Tin Lành được truyền bá vào Việt Nam đến ngày nay, nó

đã trãi qua quãng đường 100 năm, và kiến qua nhiều giai đoạn có lúc thăng trầm

Trang 31

có lúc phát triển tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử nhất định Giai đoạnkhởi điểm bắt đầu từ năm 1911 và kéo dài đến nay đó là cả một quá trình đấutranh tồn tại, qua từng giai đoạn phát triển Hội thánh đã đặt được nhiều thành

công rực rở thể hiện; Hiện nay Hội thánh về mặt tổ chức gồm có ba cấp; Tổng liên hội, địa hạt và chi hội, tới năm 2000 Đại hội đồng các mục sư lần thứ 43 quyết định thay đổi về tổ chức, bỏ cấp địa hạt chỉ còn hai cấp hành chính là Tổng liên hội và chi hội, ở các tỉnh, thành phố được lập các Đại diện hoặc Ban đại diện.

Đến nay có khoảng 1 triệu tín hữu Khách Cách thuộc nhiều giáo phái khácnhau rải rắc trên toàn quốc, phần lớn tập trung tại miền Nam, trong số đó cónhiều người thuộc các dân tộc thiểu số tại Tây nguyên

Các hệ phái đang hoạt đông ở Việt Nam hiện nay thì Hội thánh Tin LànhViệt Nam(miền Nam) có số mục sư và tín hữu đông đảo nhất, hội thánh cókhoảng 115 muc sư và 350.00 tín hữu Kế tiếp là Hội thánh Cơ đốc Liên hữu với45.000 tín hữu, Hội thánh Cơ đốc Phúc lâm Việt Nam với 22.000 tin hữu, Hộithánh Cơ đốc truyền giáo Việt Nam với 15.000 tin hữu,… và nhiều tín hữu cònlại thuộc về hang chục các hội thánh, nhóm Tin Lành khác Đó là một thành tựurất lớn chứng tỏ sự hoạt động tích cực và không mệt mỏi của các hội thánh TinLành, mặt khác do sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện,mội trường thuận lợi cho sự vươn lên của các Hội thánh Tin Lành ở đất nước ta

Trong các kỳ Đại hội các hội thánh luôn tôn chỉ mục tiêu hoạt động theo

bản hiến chương năm 2001 đó là “Sống phúc âm, phụng sự Thiên chúa, phục vụ

Tổ quốc và Dân tộc hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng Hòa

Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chấp hành quy định của các cơ quan Nhà nước, giáo dục lòng yêu nước, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng pháp luật, đoàn kết

cùng toàn dân xây dựng Tổ quốc, bảo vệ hòa bình” Tin Lành thật sự trở thành

một phần không thể thiếu trong tín ngưỡng của người Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 3: CÁCH THỨC TỔ CHỨC, CÁC NGHI LỄ CƠ BẢN

VÀ GIÁO LÍ CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM

3.1 Cách thức tổ chức của Hội Thánh tin lành Việt Nam(Miền Nam)

Mãi đến năm 1920,đạo Tin Lành mới được phép tự do truyền giáo khắpViệt Nam.Do đó,đạo Tin Lành được phát triển tương đối thuận lợi và vì vậy gópphần trong việc tiến tới thành lập Hội Thánh Tin Lành

3.1.1 Cơ cấu tổ chức

Trong cơ cấu tổ chức của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam(Miền Nam) chỉ

có Chi Hội và Tổng Liên Hội là những tổ chức hành chính,bỏ đi cấp Địa hạtLiên hội.Ngoài ra,còn có Ban Đại Diện hoặc Ban Đại Diện các Tỉnh,Thành phố

3.1.1.1 Chi Hội

Chi Hội là tổ chức cơ sở của đạo Tin Lành, do một mục sư đứng đầu điềukhiển và có một Ban Trị Sự do các tín đồ được bầu rat ham gia quản lý Chi Hộiđó

Trang 33

Ban Chấp Sự

Ban Chấp Sự Chi Hội gồm các tín hữu chính thức, đủ điều kiện, được bầuchọn trong Hội Đồng thường niên của Chi Hội để hiệp với Quản Nhiệm lo điềuhành Chi Hội

Chấp Sự phải được phân nhiệm trong công tác phổ biến Tin Lành, thămviếng,chăm sóc tín hữu…Các Chấp Sự phải có tư cách xứng hiệp như KinhThánh đã dạy

Ban Trị Sự

Ban Trị Sự Chi Hội là thường trực của Ban Chấp Sự hiệp với Ưuản Nhiệmđiều hành Chi Hội về mặt hành chính, tài chính và các vấn đề sinh hoạt khác

Các Ban, Ngành khác trong Chi Hội

Để giúp Hội Thánh phát triển, mỗi Chi Hội có các Ban,Ngành như Truyềngiáo,Cơ đốc giáo dục,Trung tráng niên, Thanh thiếu niên, Phụ nữ, Thiếu nhi,Ytế, Xã hội… Các thành viên Ban Trị Sự có trách nhiệm đặc trách, hướng dẫncác Ban, Ngành trên để giúp Hội Thánh tăng trưởng

3.1.1.2 Tổng Liên Hội(TLH)

Tổng Liên Hội cùng do một Ban Trị Sự gồm Hội Trưởng, phó HộiTrưởng Thư ký và một số ủy viên lảnh đạo Ban Trị Sự cũng do Hội Đồng TLHbầu ra Các chức vụ Hội Trưởng, Chủ Nhiệm chỉ có Mục Sư mới được ứng cử

Ban Trị Sự TLH

Ban Trị Sự TLH là cấp lãnh đạo trung ương của Gíao Hội, do Đại HộiĐồng TLH Hội Thánh Tin Lành Việt Nam(Miền Nam) bầu chọn chiếu theo HiếnChương

Ban Trị Sự TLH có trách nhiệm hướng dẫn các Chi Hội thực hiện mục vụ

và lễ nghi hiệp với Kinh Thánh và tổ chức của Hội Thánh Tin Lành ViệtNam(Miền Nam)

Ngày đăng: 24/06/2014, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w