1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ ĐA DẠNG VỀ TỔ CHỨC, HỆ PHÁI CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

195 135 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của luận án Luận án nghiên cứu, làm rõ hiện trạng đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay; luận giải nguyên nhân, những vấn đề đặt ra, dự b

Trang 1

BÙI LỆ QUYÊN

SỰ ĐA DẠNG VỀ TỔ CHỨC, HỆ PHÁI

CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BÙI LỆ QUYÊN

SỰ ĐA DẠNG VỀ TỔ CHỨC, HỆ PHÁI

CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC

Mã số: 9229009

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS NGUYỄN THANH XUÂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận

án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Bùi Lệ Quyên

Trang 4

Trang

Chương 2: ĐẠO TIN LÀNH VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ

ĐA DẠNG VỀ TỔ CHỨC, HỆ PHÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 34

2.2 Quá trình du nhập, phát triển của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam 52 2.3 Những yếu tố tác động đến sự đa dạng tổ chức, hệ phái của đạo Tin

Chương 3: THỰC TRẠNG SỰ ĐA DẠNG VỀ TỔ CHỨC, HỆ PHÁI CỦA

ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 72 3.1 Sự đa dạng về thời gian, nguồn gốc du nhập của các tổ chức, hệ phái

3.2 Sự đa dạng về loại hình của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam 83 3.3 Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ

Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CÔNG TÁC

ĐỐI VỚI SỰ ĐA DẠNG VỀ TỔ CHỨC, HỆ PHÁI CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở

4.1 Những vấn đề đặt ra từ sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam 121 4.2 Xu hướng đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam 131 4.3 Một số giải pháp, kiến nghị về công tác đối với Tin lành 134

Trang 5

Biểu đồ 3.1 Số lượng tổ chức, hệ phái và tín đồ các tỉnh Đồng bằng sông Hồng tính

đến 3/2015 và 4/2019 93 Biểu đồ 3.2 Số lượng tổ chức, hệ phái và tín đồ các tỉnh miền núi phía Bắc tính đến

3/2015 và 4/2019 94 Biểu đồ 3.3 Số lượng tổ chức, hệ phái và tín đồ các tỉnh miền Trung tính đến

3/2015 và 4/2019 94 Biểu đồ 3.4 Số lượng tổ chức, hệ phái và tín đồ các tỉnh Tây Nguyên, Bình Phước

tính đến 3/2015 và 4/2019 95 Biểu đồ 3.5 Số lượng tổ chức, hệ phái và tín đồ các tỉnh Đông Nam Bộ tính đến

3/2015 và 4/2019 95 Biểu đồ 3.6 Số lượng tổ chức, hệ phái và tín đồ các tỉnh Tây Nam Bộ tính đến

3/2015 và 4/2019 96

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 1911 đã đặt dấu mốc cho công cuộc truyền giáo Tin lành của các giáo

sỹ Bắc Mỹ vào Việt Nam Có thể nhận định, so với các tôn giáo có nguồn gốc từ nước ngoài, Tin lành du nhập vào Việt Nam muộn hơn Gần 65 năm, từ năm 1911 đến năm 1975, đạo Tin lành ở Việt Nam có khoảng gần 180 ngàn tín đồ với gần mười tổ chức, hệ phái, trong đó chủ yếu là Hội thánh Tin lành Việt Nam (Hội Truyền giáo The Christian and Missionary Alliance - CMA do mục sư A B Simpson sáng lập truyền vào), có mặt chủ yếu ở các tỉnh phía Nam

Từ năm 1975, do nhiều nguyên nhân, việc nhận thức và giải quyết vấn đề tôn giáo theo quan điểm cũ; hướng tới hạn chế, thu hẹp tôn giáo, đặc biệt sau khi một

bộ phận tín đồ đạo Tin lành ở Tây Nguyên bị FULRO lợi dụng đã khiến đạo Tin lành ở phía Nam không được nhìn nhận hợp pháp về tổ chức Trong khi đó ở miền Bắc, đạo Tin lành hoạt động cầm chừng; số lượng tín đồ, mục sư ít ỏi

Tuy nhiên những năm gần đây, đạo Tin lành không những không thu hẹp mà còn tồn tại, phát triển với sự gia tăng nhanh về số lượng tín đồ và mở rộng phạm vi hoạt động ở Việt Nam, đặc biệt ngày càng nhiều tổ chức, hệ phái và nhóm Tin lành xuất hiện Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2015 cả nước có trên dưới 100 tổ chức, hệ phái và nhóm Tin lành khác nhau hoạt động trên địa bàn các địa phương trong cả nước Sự đa dạng về tổ chức, hệ phái được coi là “căn tính” của đạo Tin lành, nhưng tốc độ gia tăng nhanh các tổ chức, hệ phái của Tin lành ở Việt Nam là điều bất thường cần quan tâm

Sự phát triển đột biến của đạo Tin lành về số lượng tín đồ, số lượng tổ chức,

hệ phái và mở rộng phạm vi hoạt động đã biến đạo Tin lành ở Việt Nam trở thành vấn đề “vừa mới, vừa lớn, vừa khó”, vừa mang tính thời sự (tính cập nhật, nóng lên hàng ngày liên quan đến vấn đề Tin lành), vừa mang tính thời đại (liên quan đến thời kỷ đổi mới mở cửa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa), thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, chính trị, quản lý và của các cấp, các ngành, từ trung ương đến địa phương

Trang 7

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 04 tháng 02

năm 2005 Về một số công tác đối với đạo Tin lành, với sự nỗ lực của các ngành ở

trung ương và các địa phương, tình hình đạo Tin lành ở Việt Nam chuyển biến tích cực, hoạt động đi theo xu hướng ổn định và tuân thủ pháp luật, những mặt tiêu cực trong quá trình truyền đạo, theo đạo giảm đi và triệt tiêu dần, những mặt tích cực được bộc lộ và phát huy Tuy nhiên, tình hình đạo Tin lành ở Việt Nam vẫn còn nổi lên nhiều vấn đề cần quan tâm, trong đó có việc nhiều tổ chức Tin lành mới hình thành, mới truyền vào chưa được đăng ký và công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức, vẫn hoạt động “ngoài vòng pháp luật” Điều này gây ảnh xấu đến xã hội, dư luận ở Việt Nam và cả trên bình diện quốc tế

Đến nay nhiều nghiên cứu về đạo Tin lành ở Việt Nam, về chính sách tôn giáo đối với đạo Tin lành của Đảng và Nhà nước đã đạt được những kết quả quan trọng, nhiều công trình được công bố và xã hội hóa Tuy nhiên, nghiên cứu một vấn đề cụ thể về sự đa dạng của tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam hiện nay, phục vụ cho việc nhận diện đầy đủ về đạo Tin lành, từ đó có cơ sở để thực hiện tốt chính sách đối với đạo Tin lành, chưa được các nhà nghiên cứu và quản lý quan tâm đúng mức

Đặt vấn đề như vậy, đề tài nghiên cứu “Sự đa dạng về tổ chức, hệ phái của

đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay” để nhận thức, ứng xử với sự đa dạng về các tổ

chức, hệ phái Tin lành trong điều kiện mới Đây là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách và

có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu của luận án

Luận án nghiên cứu, làm rõ hiện trạng đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay; luận giải nguyên nhân, những vấn đề đặt

ra, dự báo xu hướng; từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để góp phần thực hiện tốt công tác quản lý của Nhà nước đối với Tin lành trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Để thực hiện mục tiêu đã nêu trên, luận án sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Trang 8

Một là, phân tích những đặc trưng của Tin lành về tôn giáo và xã hội, làm rõ

quá trình du nhập, phát triển của Tin lành ở Việt Nam và các yếu tố tác động đến sự

đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam;

Hai là, phân tích hiện trạng sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt

Nam hiện nay;

Ba là, xác định một số xu hướng đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt

Nam, một số vấn đề đặt ra và những giải pháp, kiến nghị về công tác đối với các tổ chức, hệ phái Tin lành

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái của Tin lành ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các tổ chức, hệ phái

của Tin lành ở Việt Nam, tuy nhiên tập trung ở địa bàn các thành phố lớn (thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng), một số tỉnh đồng bằng và miền núi phía Bắc (Lào Cai, Lai Châu, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hải Dương), một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên (Đắc Nông, Đắc Lắc, Lâm Đồng)

Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các tổ chức, hệ phái

Tin lành hoạt động tính từ năm 1975 đến nay, tập trung ở giai đoạn 2005 (thời điểm

ra đời Chỉ thị 01 Về một số công tác đối với đạo Tin lành) đến năm 2019

Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu những nhóm nhân

tố tác động đến sự đa dạng tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam hiện nay; hiện trạng đa dạng; những vấn đề đặt ra từ sự đa dạng, xu hướng biểu hiện tính đa dạng

tổ chức, hệ phái Tin lành trong tương lai và đưa ra những đề xuất, kiến nghị

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là: quan điểm lịch sử cụ thể và toàn diện

Trang 9

trong xem xét các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo; quan điểm về nguồn gốc hiện thực của tôn giáo; quan điểm tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quan điểm đoàn kết đồng bào có đạo, đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc

Bên cạnh đó, luận án còn được thực hiện trên cơ sở đường lối, chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về công tác đối với đạo Tin lành, đặc biệt là: quan điểm về vấn đề theo đạo, truyền đạo tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; chủ trương công nhận tư cách pháp nhân đối với các tổ chức, hệ phái đủ điều kiện theo quy định của pháp luật

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trước hết, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chung dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp luận này xem xét các tổ chức, hệ phái Tin lành Việt Nam với trạng thái vận động, phát triển đa dạng riêng nhưng có mối quan hệ tác động qua lại nhất định theo chiều dọc, chiều ngang, quốc gia - quốc tế trên tinh thần đồng đức tin Kitô

Trên cơ sở đó, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:

Một là, phương pháp phân tích và tổng thuật tài liệu thứ cấp: Luận án thu

thập, phân tích, tổng thuật các tài liệu đã có Đây đồng thời cũng là một nhiệm vụ quan trọng của luận án, giúp tác giả luận án kế thừa chọn lọc thành tựu nghiên cứu

từ các học giả đi trước, tìm ra khoảng trống và bổ sung thêm những luận cứ, luận chứng cá nhân thu thập được

Hai là, phương pháp tiếp cận khảo sát: Tác giả luận án tập trung vào 3

phương pháp điển hình trong tiếp cận khảo sát là tiếp cận nội quan, tiếp cận lịch sử

và lôgic, tiếp cận cá biệt và so sánh, hệ thống cấu trúc Cụ thể là, luận án bày tỏ quan điểm, nhận định cá nhân bằng phương pháp tiếp cận nội quan; thu thập thông tin, xử lý số liệu về các tổ chức, hệ phái Tin lành Việt Nam theo thời gian, dòng sự kiện bằng phương pháp tiếp cận lịch sử và lôgic; đánh giá sự đa dạng các tổ chức,

hệ phái Tin lành Việt Nam trong mối tương quan với nhau và với một số tổ chức, hệ phái Tin lành nước ngoài (cụ thể là Mỹ) cũng như Phật giáo là một tôn giáo khác bằng phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh, hệ thống và cấu trúc

Trang 10

Ba là, phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Nhằm có cái nhìn toàn diện, đa

chiều và đạt mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận án sử dụng phương pháp xin ý kiến chuyên gia là những nhà nghiên cứu khoa học chuyên sâu Phương pháp này được

hỗ trợ thêm bằng phương pháp phỏng vấn sâu trong quá trình tác giả đi điền dã, quan sát, phỏng vấn, ghi chép từ thực tiễn Tác giả luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu đối với các đối tượng gồm nhà quản lý công tác Tin lành của Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ, đại diện chính quyền địa phương ở địa bàn có Tin lành (ví dụ công an, chủ tịch xã, ), mục sư Tin lành, tín đồ Tin lành Bên cạnh đó, tác giả cũng lồng ghép các phương pháp khác như quan sát tham dự, phân tích tình huống, diễn dịch, quy nạp,

5 Đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, luận án là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống, cập

nhật về tính đa dạng tổ chức, hệ phái Tin lành Việt Nam

Thứ hai, luận án làm rõ diện mạo sự đa dạng tổ chức, hệ phái Tin lành Việt

Nam dưới các góc độ thời gian, nguồn gốc ra đời, xu hướng thần học, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, tín đồ, cơ sở pháp lý

Thứ ba, luận án nhận định một số vấn đề thực tiễn đặt ra từ sự đa dạng tổ

chức, hệ phái Tin lành Việt Nam và những dự báo xu hướng, kiến nghị giải pháp phù hợp, khả thi cho công tác tôn giáo của nhà nước từ sự đa dạng ấy

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Ở một mức độ nhất định, luận án đóng góp một số luận cứ khoa học trong nghiên cứu lý luận về đa dạng tổ chức, hệ phái Tin lành, về các tổ chức, hệ phái Tin lành

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trước hết, kết quả nghiên cứu bước đầu của luận án thiết thực hỗ trợ nhiệm

vụ giảng dạy đại học của tác giả về Lý luận tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam Luận án còn có thể trở thành một tài liệu tham khảo trong nghiên cứu tổng quan hoặc chuyên sâu về Tin lành cũng như từng tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam Ở góc độ khác, việc luận án nhận định những vấn đề đặt ra hiện nay và dự

Trang 11

báo những biểu hiện đa dạng tổ chức, hệ phái Tin lành trong tương lai góp phần nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo của nhà nước đối với đạo Tin lành nói chung, từng tổ chức, hệ phái Tin lành nói riêng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Lời cam đoan, mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu khoa học, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương,

12 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Những nghiên cứu về các tổ chức, hệ phái Tin lành trên thế giới và Việt Nam

Một số nghiên cứu từ tác giả nước ngoài

Năm 1999, Mười tôn giáo lớn trên thế giới do Hoàng Tâm Xuyên chủ biên

được xuất bản [158] Tính đến năm 2016, tác phẩm đã 5 lần được tái bản ở Việt Nam Trong đó, nhóm các tác giả xem đa dạng tổ chức, hệ phái như là một tất yếu lịch sử của đạo Tin lành thế giới

Ngoài việc khái quát về mười tôn giáo lớn hiện nay trên thế giới như đạo Cơ đốc, đạo Phật, đạo Hồi,… công trình còn phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa tôn giáo với phát triển xã hội, tôn giáo với tiến bộ văn hóa, sự cố gắng đối thoại giữa

“những người khác nhau về tông phái và hình thái ý thức”,… Công trình bao gồm

13 chương, trong đó, phần “Phái hệ và thể chế tổ chức” (thuộc chương XII “Đạo Cơ đốc”) đưa ra nhận định về đạo Tin lành nói chung và Tin lành Trung Quốc nói riêng trong thế so sánh với hai phái khác được tách ra từ Cơ đốc giáo là Công giáo và Chính thống giáo

Hoàng Tâm Xuyên và các học giả Trung Quốc gọi các tổ chức, hệ phái là các “tông phái” Làm rõ sự đa dạng về tổ chức, hệ phái như là tính tất yếu lịch sử của đạo Tin lành, nhóm tác giả nhận xét thêm “trong Tin lành thì tông phái xuất hiện nhiều như cây rừng, chẳng ai quản được ai Gần đây tuy có đề xướng cuộc vận động giáo hội phổ thế, nhưng về tổ chức cũng chưa thể hợp nhất thực sự” [158, tr.508] Các học giả chỉ rõ, xu hướng ngày càng đa dạng các tổ chức, hệ phái được xem như là “một trong những đặc điểm nổi bật nhất của tư tưởng thần học Cơ đốc đương đại” [158, tr.520] Quan điểm này được họ bình chú bởi hàng loại minh chứng như: hiện nay phần lớn các tông phái Tin lành chỉ thừa nhận lễ Bắp - têm và Tiệc thánh là Thánh lễ do đích thân chúa Giê su định ra nhưng cũng có tông phái không thừa nhận, không ít tông phái không còn ăn bánh thánh trong dịp lễ ngày Chủ

Trang 13

nhật,… ngày càng nhiều tông phái nỗ lực xây dựng tổ chức “mang tính Đường hội

để tiện việc quản lý tập thể đối với giáo hội” [158, tr.520], nhiều loại tông phái cùng tồn tại, thúc đẩy nhau phát triển như Tông Vệ Lý, Tông Tín nghĩa, Hội Cứu nghệ, Hội Cứu thế quân, Hội Ngũ Tuần tiết,…

Năm 2006, Jean Baubérot xuất bản Lịch sử đạo Tin lành [78], qua đó tiếp tục

khẳng định tính tất yếu lịch sử trong tính đa dạng của Tin lành thế giới Cuốn sách phân tích những đặc trưng của đạo Tin lành (tập trung trong chương 1); quá trình hình thành, phát triển đạo Tin lành với những nhân vật thần học Tin lành tiêu biểu,

sự kiện điển hình, tại các vùng lãnh thổ thể hiện rõ nhất dấu ấn của Tin lành như Đức, Thụy Sĩ, Anh, Pháp, Mỹ,… (tập trung trong chương II, III); những cơ hội phát triển, khó khăn, thách thức và các vấn đề mới phát sinh đối với Tin lành hiện nay (tập trung trong chương IV, V, VI)

Nghiên cứu một cách khái quát các niên điểm phát triển của Tin lành trong lịch sử nhân loại, tác giả khẳng định cùng những dạng mới về tổ chức chính trị dân chủ tư sản, Tin lành góp phần tạo nên sự tiếp hợp “mang tính lịch sử” đối với tổ chức tư bản (tức là nhà nước tư bản) Từ đó, tác giả đồng quan điểm với Max Weber khi cho rằng những người Tin lành “đã tham dự làm xuất hiện một xã hội phương Tây hiện đại” [78, tr.179] và “đã đóng góp vào sự hình thành của chủ nghĩa

tư bản”[78, tr.96] Trong đó “tính đa giáo phái” của Tin lành được xem như là một

“sự bùng nổ uy quyền tôn giáo” tất yếu[78, tr.65], phù hợp với “tính hợp lý đặc thù của xã hội công nghiệp”[78, tr.179]

Mặc dù công trình không trực tiếp nghiên cứu sự đa dạng tổ chức, hệ phái của Tin lành, song những nhận định của tác giả đã khẳng định một đời sống Tin lành sống động, phong phú từ khi mới ra đời đến nay với nhiều tác phẩm thần học,

xu hướng thần học, tổ chức giáo hội, các cuộc đấu tranh,… Trong phần kết luận, tác giả bày tỏ quan điểm rằng “tính đa giáo phái” đã là “một tất yếu lịch sử” của Tin lành, tiếp tục có khả năng vẫn là xu hướng phát triển của Tin lành trong tương lai Bởi lẽ, hiện nay, Tin lành đang phải “đối diện” với “cái thế giới hiện đại mà chính

nó đã góp phần tạo nên” [78, tr.151] Tin lành buộc phải lựa chọn hoặc “các giáo phái chống đối lẫn nhau” hoặc tìm cách cùng chung sống với nhau, tức là “con

Trang 14

đường duy trì tính thống nhất bằng chủ nghĩa đa nguyên nội bộ, sự đa dạng về các

tổ chức, hệ phái”[78, tr.185]

Năm 2008, Max Weber trong Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản [89] chỉ rõ hơn rằng sự đa dạng về tổ chức, hệ phái cũng đã gây nên không ít xung

đột và diễn biến phức tạp cho Tin lành nói riêng, đời sống xã hội nói chung

Công trình gồm hai phần, phần 1 “Vấn đề” gồm 3 chương tập trung phân tích các khía cạnh chung của tôn giáo, “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản, các mục tiêu nghiên cứu; phần 2 “Quan niệm đạo đức về nghề nghiệp trong đạo Tin lành khổ hạnh” gồm 3 chương tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Tin lành đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong tinh thần tính duy lý về kinh tế, giá trị cá nhân, kỷ luật trong kinh doanh, lao động,…

Ở phần “Các giáo phái Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản”, các hệ phái (sekte - tác giả trích nguyên văn theo sách dịch) được coi là “một nhóm tôn giáo nhỏ”, là “các hội đoàn gồm những thành viên có đủ tư cách về tôn giáo” khác với các giáo hội (kirche) được “quan niệm như là một tổ chức nhắm đến sự cứu rỗi” Tin lành không có giáo hội thống nhất Sự tồn tại của hệ phái và giáo hội là nguyên tắc có tính cơ cấu tất yếu của Tin lành và đã gây nên sự xung đột bên trong, bên ngoài Điều này đã được kiểm chứng qua lịch sử phát triển của Tin lành thế giới từ nhiều thế kỷ trước đến nay, từ thời kỳ Zwingli đến Kuyper

và Stocker [89, tr.369-352]

Năm 2016, nghiên cứu sinh người Malaisia Annette Wong Ai Khim đã thực

hiện luận án A few significant protestant christian denominations officially recognized by the VietNam government in the approach through socio- history from

2007 to present (Một số hệ phái đạo Tin lành mới được chính phủ Việt Nam công

nhận theo cách tiếp cận lịch sử và xã hội từ năm 2007 đến nay) [1]

Luận án bao gồm 3 chương: giới thiệu về đạo Tin lành và hai quan điểm về hai tôn giáo chính/triết lý và đạo Tin lành ở Việt Nam (chương 1), lịch sử phát triển của đạo Tin lành ở Việt Nam từ khi hình thành đến hiện tại (chương 2) và những thách thức của các hệ phái Tin lành nổi bật được chính phủ Việt Nam công nhận đang phải đối mặt hiện nay (chương 3)

Trang 15

Bên cạnh việc chỉ ra những “khó khăn trong việc hiểu rõ sự khác nhau về thần giáo và đức tin cũng như sự riêng biệt của các hình thức tôn giáo giữa các hệ phái” [1, tr.4] và việc tài liệu nghiên cứu gắn với sự phát triển các hệ phái ở Việt Nam được lưu giữ bị thiếu hụt, tác giả đã nhận thấy, ngày nay Tin lành Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển nhanh chóng trở thành cộng đồng tôn giáo nổi bật với sự đa dạng về hệ phái Với cách tiếp cận lịch sử và xã hội, tác giả giải thích ngắn gọn những hiểu biết cơ bản về pháp lý và thần học của các hội thánh đạo Tin lành được công nhận ở Việt Nam (tác giả lựa chọn giới hạn nghiên cứu gồm Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc và miền Nam, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Hội thánh Mennonite Việt Nam, Tổng hội Báp tít Việt Nam Ân điển Nam phương) đồng thời đưa ra những cách lí giải của mình về những lí do tại sao các hội thánh được và chưa được công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức

Một số nghiên cứu từ tác giả trong nước

Năm 2002, tác giả Nguyễn Thanh Xuân xuất bản Đạo Tin lành trên thế giới

và ở Việt Nam [155] Đây là ấn phẩm đầu tiên ở Việt Nam viết chuyên về đạo Tin

lành nêu bật sự đa dạng về tổ chức, hệ phái, coi đó là một đặc điểm của đạo Tin lành Tác giả nói rõ thêm, tính đa dạng này cũng được thể hiện rõ nét ở Việt Nam, qua việc có nhiều tổ chức, hệ phái cùng tồn tại, có mối liên hệ qua lại với nhau, cả trong nước và quốc tế Tác giả đã dành mục “Một số hệ phái Tin lành” để khái quát hóa mối quan hệ quốc tế giữa một số hệ phái Tin lành thế giới với các hệ phái Tin lành ở Việt Nam như Tin lành trưởng lão, Tin lành Báp tít, Tin lành Mennonite, Tin lành Giám lý, Tin lành Thanh giáo và Giáo hội Công nghị, Tin lành Quây cơ, Tin lành Lutheran, Tin lành Cải cách, Giáo hội Thống nhất, Tin lành Môn đệ Đấng Christ, Tin lành Ngũ tuần, Những nhà khoa học Kitô giáo, Cơ đốc Phục lâm, Cứu thế quân, Nazarene, Tân sứ đồ, Giáo hội Quốc tế bốn phương, Chứng nhân Jehovah (Giê hô va), Mormon (Mặc Môn) và Hội Liên hiệp Phúc âm và Truyền giáo (trong

đó đáng chú ý là lượng tín đồ của Hội Liên hiệp Phúc âm và Truyền giáo trên toàn thế giới chiếm tỉ lệ lớn nhất tại Việt Nam) [155, tr.287]

Năm 2011, Tọa đàm bàn tròn Đạo Tin lành ở Việt Nam giai đoạn 1976-2011 (The Protestantism in VietNam from 1976 to 2011) [134] đã có nhiều tham luận

Trang 16

xoay quanh 2 nhóm vấn đề chính: những vấn đề Tin lành chung nhất và những trường hợp Tin lành cụ thể như ở Đà Nẵng, Thái Nguyên,…

Trong số các trao đổi, đáng chú ý là Mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức Tin lành của tác giả Nguyễn Hồng Dương, Về thành phần tổ chức,

hệ phái trong đạo Tin lành tại Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Xuân Hùng, Mấy vấn đề thần học Tin lành ở Việt Nam hiện nay của tác giả Đỗ Quang Hưng,…

Tác giả Nguyễn Hồng Dương trong bài viết “Mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức Tin lành” cùng chung nhận định với nhiều nhà nghiên

cứu ở điểm “Tin lành ngay từ khi ra đời đã phân liệt thành các hệ phái” [134, tr.29]

và hiện tại, việc thống kê chính xác con số là tương đối khó khăn bởi nhiều tổ chức,

hệ phái vẫn tiếp tục ra đời Chính tính đa dạng về tổ chức, hệ phái cùng tính đặc thù

về lịch sử truyền giáo phát triển đạo Tin lành ở Việt Nam đã trở thành “hai đặc điểm quan trọng quy định vấn đề quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức Tin lành ở Việt Nam” [134, tr.28] Nguyên tắc tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, đặc biệt là việc công nhận tổ chức của đạo Tin lành đã và đang được triển khai ở Việt Nam chính là những nguyên nhân căn bản giúp cải thiện mối quan

hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức, hệ phái Tin lành

Tác giả Nguyễn Xuân Hùng trong bài viết “Về thành phần tổ chức, hệ phái trong đạo Tin lành tại Việt Nam hiện nay” bên cạnh nhận định: “khác biệt với nhiều

tôn giáo khác, tính đa nguyên, đa dạng của đạo Tin lành có ngay từ buổi ban đầu khi tôn giáo này ra đời” [134, tr.79] đã đi sâu làm rõ một số vấn đề thuật ngữ và khái niệm như “giáo phái, hệ phái, giáo hội” Trong khi thuật ngữ “giáo hội” không gây nhiều tranh luận thì “giáo phái, hệ phái” lại tạo nên nhiều tranh luận, điển hình nhất là 2 trường phái tranh luận “lịch sử - nguồn gốc” và “xã hội học” Song tác giả nhận định dẫu là trường phái nào, cũng không thể phủ nhận một thực tế là giai đoạn hiện nay, thế giới bùng phát phong trào của nhiều nhóm phái Tin lành tự do “với quy mô nhỏ, lúc hợp lúc tan với số lượng lên tới vài nghìn người” [134, tr.83]

Tác giả Đỗ Quang Hưng trong bài viết “Mấy vấn đề thần học Tin lành ở Việt Nam hiện nay” chỉ ra rằng, các vấn đề chính trị - xã hội, hội nhập văn hóa, hệ phái

đã và đang trở thành những vấn đề thần học Tin lành cơ bản ở Việt Nam hiện nay

Trang 17

Thực tế truyền giáo và đời sống thuộc linh của tín đồ chịu sự chi phối của những giáo lí căn bản, song “dần dần, “đời sống thần học” của các mục sư, truyền đạo, tín hữu cũng có sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng sát hợp hơn với đời sống thường nhật” [134, tr.122] Trong số các đặc điểm thần học, tác giả nhận xét: “di sản xa của Tin lành Phúc âm Pháp sẽ tiếp nối với những di sản gần (trước năm 1975) của Hội CMA, trở nên một đặc điểm thần học quan trọng nhất của cộng đồng Tin lành Việt Nam hôm nay” [134, tr.118]

Năm 2014, tác giả Vũ Thị Thu Hà với luận án Hoạt động truyền giáo của đạo Tin lành tại Việt Nam và Trung Quốc (từ khởi đầu đến đổi mới - cải cách mở cửa) tiếp tục cùng tuyến quan điểm này Luận án phân tích hoạt động truyền giáo

của đạo Tin lành từ khi tôn giáo này du nhập vào Việt Nam (từ năm 1911 đến đổi mới năm 1986, tập trung trong chương 2) và vào Trung Quốc (từ năm 1807 đến cải cách mở cửa năm 1979, tập trung trong chương 3)

Ở mục 1.4 của chương 1, luận án nhận định “Hiện nay, sự phát triển đa

nguyên đa hệ phái của đạo Tin lành đã hình thành nên một cục diện vô cùng phức tạp, thần học Tin lành cũng tỏ ra vô cùng phong phú và đa dạng”[38, tr.24] Tác giả luận án Vũ Thị Thu Hà đánh giá thêm, các tổ chức, hệ phái Tin lành luôn luôn vận động theo xu hướng khi thì sáp nhập, khi thì phân hóa chứ không tồn tại bất biến nguyên thể Trong số đó, có 6 tổ chức, hệ phái lớn có ảnh hưởng sâu sắc đến các tổ chức, hệ phái khác gồm Luther, Calvin, Anh giáo, Công lí, Báp tít, Giám lý Ngoài

ra, hiện nay xuất hiện hàng trăm tổ chức, hệ phái Tin lành phân bố ở trên hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ ở khắp nơi trên thế giới với những đặc điểm, phương pháp truyền giáo khác nhau

1.1.2 Những nghiên cứu về đa dạng, nhân tố tác động và hiện trạng sự

đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam

Một là lý thuyết đa dạng, những nhân tố tác động đến sự đa dạng về tổ chức,

hệ phái Tin lành ở Việt Nam hiện nay

Một số nghiên cứu từ tác giả nước ngoài

Năm 2006, Diana L Eck viết “From Diversity To Pluralism” (Từ đa dạng

đến đa nguyên) [160], xuất bản trên Columbia University Press (Báo Đại học

Trang 18

Columbia) (số hiệu 1-800-944-8648), đăng tải trên link báo điện tử: https://static1.squarespace.com/static/5464ade0e4b055bfb204446e/t/566f654a5a5668192a192286/1450141002478/From+Diversity+to+Pluralism.pdf

Tác giả bài báo so sánh hai thuật ngữ “đa nguyên” (pluralism) và “đa dạng” (diversity) và khẳng định đôi khi trong đời sống được sử dụng như thể chúng là từ đồng nghĩa, nhưng sự đa dạng đơn giản chỉ là số nhiều, là các dạng biểu hiện Đa nguyên là sự tham gia tạo ra một xã hội chung từ tất cả số nhiều đó Tác giả ví dụ, trên cùng một con đường ở Silver Spring, Maryland có nhà thờ Công giáo Việt Nam, chùa Phật giáo Campuchia, nhà thờ Chính thống Ukraine, Trung tâm Cộng đồng Hồi giáo, nhà thờ Disciples of Christ và đền thờ Mangal Mandir Hindu đều nằm trong cùng một khu phố Đây chắc chắn là sự đa dạng, nhưng không có bất kỳ sự tham gia hay mối quan hệ nào với nhau, nó có thể không phải là một ví dụ của đa nguyên

Đa nguyên chỉ là một trong những phản ứng có thể có đối với sự đa dạng này Một số người có thể cảm thấy bị đe dọa bởi sự đa dạng, hoặc thậm chí là thù địch với nó Xuyên suốt lịch sử nước Mỹ đã có những nhóm bày tỏ định kiến và không khoan dung đối với những người mới đến của các tôn giáo và văn hóa khác Những người khác có thể mong đến ngày khi tất cả những khác biệt này mờ dần và nền văn hóa chủ yếu là Kitô giáo Rõ ràng chủ nghĩa đa nguyên sẽ thu hút những người thuộc các tôn giáo và văn hóa khác nhau trong việc tạo ra một xã hội chung - không phải là một thứ có sẵn, mà là một thành tựu

Năm 2007, trên Tuần báo ICFAI Journal of History and Culture (Tuần báo Lịch

sử và Văn hóa) số 1, trang 25-43, tiến sĩ V.S.Harrison, Department of Philosophy, University of Glasgow Glasgow, Scotland, UK (Khoa Triết học, trường đại học

Glasgow Glasgow, Scotland, Anh) viết bài “Theorising Religious Diversity in a Multicultural World” (Lý thuyết hóa đa dạng tôn giáo trong thế giới đa văn hóa) [162],

đăng tải trên link báo điện tử: https://www.resea rchgate.net/publication/38415694_T heorising_religious_diversity_in_a_multicultural_world

Bài viết này xem xét một loạt các phản ứng đối với các vấn đề tôn giáo và triết học được nảy sinh từ “đa nguyên tôn giáo” (religious pluralism) Bên cạnh các câu hỏi cụ thể được đặt ra từ đa nguyên tôn giáo là sự khác nhau giữa các truyền

Trang 19

thống của từng tôn giáo như thế nào, thì vấn đề chung hơn mà tất cả các trí thức tôn giáo phải đối mặt là làm thế nào để cung cấp một lý thuyết thuyết phục về mối quan

hệ giữa các tôn giáo khác nhau trên thế giới Bài viết đánh giá ngắn gọn chủ nghĩa

“độc thần tôn giáo” (exclusivism) và chủ nghĩa “bao gồm” (inclusivism), trước khi tập trung vào các lý thuyết về đa nguyên tôn giáo Sau khi làm rõ sự khác biệt giữa

đa nguyên tôn giáo và chủ nghĩa “tương đối” (relativism) về tôn giáo, và so sánh, đánh giá các hình thức đa nguyên khác nhau, bài viết kết luận rằng mức độ thuyết phục của bất kỳ lý thuyết cụ thể nào về sự đa dạng tôn giáo sẽ phụ thuộc vào việc người ta thấy những giáo lý căn bản của tôn giáo thuyết phục như thế nào Điều này ngụ ý rằng ưu tiên thực sự của các học giả khi nói đến các lý thuyết đối lập với đa nguyên tôn giáo là cố gắng hướng tới một sự hiểu biết chung về bản chất của tôn giáo

Năm 2015, Dale Tuggy viết “Theories of Religious Diversity” (Các lý thuyết về đa dạng tôn giáo) [160] xuất bản trên tạp chí của State University of

New York at Fredonia (Hệ thống Đại học Bang New York ở Fredonia), đăng tải trên link báo điện tử: https://www.iep.utm.edu/reli-div/#H1 Đây là bài báo khoa học được trích dẫn rất nhiều trong nghiên cứu về đa dạng, đa nguyên tôn giáo trên thế giới tính đến nay

Cũng cùng tuyến quan điểm với V.S.Harrison ở bài viết nêu trên, tác giả Dale Tuggy nói về đa dạng tôn giáo trên các quan điểm “đa nguyên” (pluralism),

“độc thần” (exclusivism) và “bao gồm” (inclusivism) Đa dạng tôn giáo được xem

là những sự khác biệt đáng kể trong niềm tin và thực hành tôn giáo Điều này luôn được công nhận bởi những người bên ngoài các cộng đồng nhỏ và cô lập nhất Nhưng gần đây, sự phổ biến của thông tin do du lịch, các sách báo xuất bản và di

cư đã buộc những người suy nghĩ thấu đáo phải nhìn nhận sâu sắc hơn về đa dạng tôn giáo Các cách tiếp cận “đa nguyên” về đa dạng tôn giáo cho rằng, bất cứ tôn giáo nào cũng có giá trị, ý nghĩa như các tôn giáo khác trong giới hạn nào đó Ngược lại, các cách tiếp cận “độc thần” cho rằng chỉ có một tôn giáo là có giá trị độc nhất Cuối cùng, những người theo lý thuyết “bao gồm” cố gắng đứng trung lập bằng cách đồng ý với chủ nghĩa “độc thần” là chỉ một tôn giáo có giá trị nhất,

Trang 20

trong khi vẫn đồng ý với chủ nghĩa “đa nguyên” là các tôn giáo khác cũng có giá trị to lớn

Năm 2008, Lưu Bành xuất bản Tôn giáo Mỹ đương đại - nằm trong bộ sách Nước Mỹ đương đại tùng thư [23] Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về

tôn giáo Mỹ gồm 3 nội dung chính: quan hệ của người dân Mỹ với tôn giáo (tập trung trong chương 1), quá trình hình thành, phát triển của các tôn giáo Mỹ (tập trung trong chương 2, 3, 4, 5, 6), quan hệ của tôn giáo Mỹ với chính trị và xã hội (tập trung trong chương 7, 8)

Tin lành được được nghiên cứu tổng hợp tập trung trong chương 3, được nhìn nhận là một nhân tố chủ đạo, sôi động và quan trọng nhất trong tôn giáo của nước Mỹ, góp phần làm nên tính đa nguyên với mức độ đa nguyên hóa ngày càng gia tăng trong tôn giáo Mỹ Đây là một đặc điểm nổi bật của tôn giáo Mỹ đương đại Mỹ cũng như một số nước khác trên thế giới, chiến tranh và di cư là nhân tố tác động tới tính đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành

Tác giả nhận định các tổ chức, hệ phái Tin lành đều phân tán, hoạt động độc lập, có xu hướng già hóa về kết cấu tuổi tác đối với các tổ chức, hệ phái chủ lưu, truyền thống Số này bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ năm

1864, bởi các cuộc di cư, bởi các hệ văn hóa của các cộng đồng người khác nhau, Trong quá trình phát triển, một số tổ chức, hệ phái tỏ ra thích ứng với dòng văn hóa chủ lưu, số khác lại trở nên cực đoan Đến khi nào các tổ chức, hệ phái cực đoan thay đổi địa vị, được xã hội thừa nhận thì hàng loạt tổ chức, hệ phái khác lại ra đời [23, tr.270] Sự tác động qua lại giữa tôn giáo và xã hội, giữa các giáo phái diễn ra liên tục và xuyên suốt trong lịch sử tôn giáo của nước Mỹ

Năm 2011, Nguyễn Hồng Dương và P Hofman đã xuất bản Đa dạng tôn giáo: So sánh Pháp - Việt Nam Đây là công trình tập hợp các bài viết tham dự Hội

thảo của Dự án: “Tính hiện đại của tôn giáo và “đổi mới” - Sự chuyển bước của Phật giáo và Ki tô giáo ở Việt Nam” Trong đó, liên quan trực tiếp tới Luận án có

bài viết Một số vấn đề về cộng đồng Tin lành tại Việt Nam của Nguyễn Xuân Hùng, Đời sống tôn giáo Việt Nam những thách thức đầu tiên của xu thế đa dạng hóa (pluralism) của Đỗ Quang Hưng và một số bài viết của các tác giả khác

Trang 21

Tác giả Nguyễn Xuân Hùng trong bài viết Một số vấn đề về cộng đồng Tin lành tại Việt Nam [61] nhận định, trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây “hoạt

động truyền giáo Tin lành được gia tăng và hệ quả là bức tranh về thành phần giáo phái Tin lành tại Việt Nam đã có sự thay đổi theo hướng đa dạng và phức tạp hơn” [61, tr.204] Tác giả cho rằng tính đa tổ chức, hệ phái của Tin lành Việt Nam là điều tất yếu, tương tự quá trình phát triển ở các quốc gia khác, tuy nhiên đặc trưng và những yếu tố tác động lại có những “dị biệt cần lưu ý”, điển hình nhất là sự phân tách thành các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam chủ yếu do mục đích trần thế, thay vì các vấn đề thần học như nhiều nước khác trên thế giới [theo 61, tr.206] Tính

đa dạng này được tác giả nhận định như là “những nét chấm phá rõ nhất” trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay

Tác giả Đỗ Quang Hưng trong bài viết Đời sống tôn giáo Việt Nam những thách thức đầu tiên của xu thế đa dạng hóa (pluralism) đánh giá việc xuất hiện, du

nhập gần đây của các tổ chức, hệ phái Tin lành từ nước ngoài vào Việt Nam là điều

“không dễ bóc tách, nhận diện” [61, tr.228] Đó là các hệ phái có từ trước, hiệp thông với nhau trong “Hiệp hội Thông công Tin lành Việt Nam” VEF và “Hiệp hội Thông công Liên hữu Tin lành Việt Nam” CFV, các hệ phái có từ trước năm 1975 nay được phục hồi trở lại,… Điều này được xem là một trong những dấu hiệu biến đổi của “hệ thống tôn giáo”, khiến hệ thống này “thực sự phong phú” Tuy nhiên, tác giả bài viết đặt vấn đề “phản ứng của bản sắc văn hóa với xu trào đa nguyên tôn giáo hiện nay ở Việt Nam là thế nào?” [61, tr.235] Cuối cùng, tác giả bài viết gợi

mở những suy nghĩ về thách đố pháp lý trước việc công nhận tư cách pháp nhân cho các tổ chức tôn giáo nói chung, Tin lành nói riêng

Năm 2012, ở Mỹ, sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành được nhà nghiên

cứu Catherine L Albanese mô tả trong Các tôn giáo và tín ngưỡng ở Mỹ như

“những màu sắc khác nhau” [27, tr.410] của phong trào Cải cách, được biểu hiện thành “làn sóng giáo phái hóa”[27, tr.441] mạnh mẽ trong đời sống xã hội Trước

sự tác động mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện nay, đặc biệt là các “đế chế truyền hình tôn giáo”, các tổ chức, hệ phái Tin lành sẽ “ngày càng nhân rộng trong xã hội hiện đại, không có dấu hiệu nào cho thấy sẽ kết thúc”[27, tr.418]

Trang 22

Các tôn giáo và tín ngưỡng ở Mỹ của Catherine L Albanese nhắc đến Tin

lành tập trung trong chương 4, 5 phần A (phần 1), chương 11 phần B (phần 1) và chương kết phần 2 với sự đa dạng về tổ chức, hệ phái và chủ nghĩa cá nhân được xem là đặc trưng cơ bản nổi bật [27, tr.400] Phần 1 của công trình nghiên cứu lịch

sử tôn giáo Mỹ này nhấn mạnh chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo ở Mỹ bắt đầu từ sự đa dạng trong tín ngưỡng tôn giáo của người da đỏ, như là “một phương tiện duy trì bản sắc và thúc đẩy hoạt động chính trị” của họ [27, tr.35] Phần 2 của cuốn sách bàn luận về khả năng có thể hợp nhất sự đa dạng của tôn giáo Mỹ hay không khi sự

đa dạng ấy đã nâng lên “thành chủ nghĩa hệ phái và trở thành một cơ cấu xã hội thế tục, hỗ trợ đắc lực cho cam kết siêu phàm” của nhiều người, thuộc nhiều thành phần

xã hội [27, tr.443]

Một số nghiên cứu từ tác giả Việt Nam

Năm, tác giả Nguyễn Thanh Xuân xuất bản Một số tôn giáo ở Việt Nam (lưu

hành nội bộ) [156], sau đó năm 2005 chính thức phát hành rộng rãi Đây là ấn phẩm đầu tiên về tôn giáo, về Tin lành ở Việt Nam Từ khi mới được tác giả biên soạn

cho đến nay, công trình nghiên cứu này đã trải qua hàng chục lần tái bản với trọng

tâm là giới thiệu lịch sử ra đời, phát triển và đặc trưng của Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo Trong đó, Tin lành được tiếp cận đa chiều từ góc độ lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội để luận giải và làm rõ một số vấn

đề như tại sao Tin lành nảy sinh từ châu Âu nhưng hiện nay lại phát triển cực thịnh

ở nước Mỹ; tại sao mặc dù có nhiều tổ chức và hệ phái song Tin lành đều dựa trên những nguyên tắc chính (đặc biệt là đề cao lí trí trong đức tin và đề cao dân chủ)

Trong phần Tin lành ở Việt Nam, tác giả làm rõ sự đa dạng của các tổ chức,

hệ phái Tin lành qua việc trình bày theo dòng lịch sử từ thời kỳ đầu truyền giáo đến

sự hình thành tổ chức Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Tin lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số

tổ chức, hệ phái Tin lành khác Ở cuối cùng của phần này, tác giả chú dẫn thêm một

số Nghị định, Quyết định công nhận, Giấy chứng nhận của Ban tôn giáo Chính phủ cấp đăng ký hoạt động cho một số tổ chức, hệ phái Tin lành ở nước ta Tác giả nhận định việc được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, được đăng kí hoạt động đã

Trang 23

có tác động mạnh mẽ tới hoạt động của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam theo chiều hướng tích cực

Năm 2002, tiếp tục hướng nghiên cứu trên, công trình Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và Việt Nam của tác giả Nguyễn Thanh Xuân [154] gồm 4

chương, 10 phụ lục đã trình bày chi tiết về lịch sử ra đời, phát triển của Tin lành (tập trung trong chương I); giáo lý, luật lệ lễ nghi, tổ chức giáo hội Tin lành, sự tương đồng và khác biệt giữa Tin lành và Công giáo (tập trung trong chương II) Đặc biệt, chương III và IV ngoài việc thống kê một số lượng lớn các tổ chức, hệ phái Tin lành tiêu biểu trên thế giới (27 tổ chức, hệ phái) và Việt Nam (Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và 10 tổ chức, hệ phái khác còn khảo tả những điểm mốc sự kiện gắn liền với lịch sử quá trình phát triển của các tổ chức, hệ phái

Trong công trình, tác giả Nguyễn Thanh Xuân nhận định nhiều tổ chức, hệ phái là “đặc trưng cơ bản của Tin lành thế giới” và từng tổ chức, hệ phái có mối quan hệ dọc trong tổ chức, hệ phái cũng như quan hệ theo chiều ngang giữa các tổ chức, hệ phái với nhau “trên thềm đồng đạo”[154, tr.471], tác giả đồng thời luận giải các nguyên nhân, các hệ quả lịch sử - xã hội, văn hóa - tôn giáo từ sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành Tác giả khẳng định có nhiều nguyên nhân dẫn tới

sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành như sự “tiếp thu vay mượn của nhau”

[154, tr.100], sự “tự do giải thích Kinh thánh” [154, tr.132], thậm chí là “đôi khi vì

những lí do không đâu” [154, tr.195],… Tác giả nhấn mạnh, có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự đa dạng về các tổ chức, hệ phái nhưng dù là lí do gì đi chăng nữa, để nhìn nhận đúng đắn, khách quan và toàn diện về các tổ chức, hệ phái Tin lành, giới nghiên cứu phải “dựa theo những tiêu chí nhất định” [154, tr.23] một cách khoa học và tiếp cận từ góc độ tồn tại khách quan của các tổ chức, hệ phái ấy

Năm 2016, luận án tiến sĩ Tác động của đạo Tin lành đến an ninh xã hội ở Tây Nguyên thời kỳ đổi mới của Nguyễn Thị Ngà [93] tập trung phân tích quá trình du nhập

của đạo Tin lành vào Tây Nguyên và những tác động của tôn giáo này đến an ninh xã hội của Tây Nguyên (tập trung trong chương 3, 4) Mặc dù chỉ luận giải tác động của Tin lành đến một môi trường xã hội cụ thể, song tác giả Nguyễn Thị Ngà cũng khẳng

Trang 24

định ngay từ khi mới ra đời, đạo Tin lành đã tồn tại nhiều tổ chức, hệ phái chống đối và phủ định lẫn nhau Đồng thời, tác giả đưa ra một số nhận xét mang tính khái quát liên quan đến nguyên nhân tồn tại đa dạng tổ chức, hệ phái của đạo Tin lành như xuất phát

từ quan niệm dân chủ tư sản trong tổ chức, sự tự do giải thích Kinh thánh, tình thế

khách quan thuận lợi như đói nghèo, chiến tranh [93, tr.153],…

Năm 2017, tác giả Nguyễn Khắc Đức với Đạo Tin lành trong vùng dân tộc Mông, Dao ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam [33] đã nghiên cứu sự du nhập,

phát triển của đạo Tin lành trong dân tộc Mông và dân tộc Dao ở khu vực miền núi phía Bắc từ năm 1987 đến 2004 (tập trung trong chương 1) và từ khi có chỉ thị số 01/2005/ CT - TTg đến nay (tập trung trong chương 2)

Mục III chương 2 khẳng định cuốn sách chỉ đề cập tới những tổ chức, hệ phái Tin lành có ảnh hưởng mạnh và số tín đồ đông đảo nhất ở khu vực miền núi phía Bắc Trong số đó, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) được tác giả đánh giá là “hệ phái tích cực” và đạt hiệu quả cao nhất trong truyền đạo ở khu vực này

Bằng những số liệu, minh chứng, tác giả đã cho thấy sự phát triển đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phát triển này như sự nghèo đói về đời sống vật chất, sự nghèo nàn về đời sống tinh thần, sự khôn khéo của các đoàn truyền giáo và cả sự hạn chế của hệ thống chính trị cơ

sở (được phân tích trong mục V chương 1) Tác giả khẳng định, nhận định về Tin lành không phải điều dễ dàng đối với các nhà nghiên cứu, song khó hơn cả là “tìm đúng nguyên nhân, đánh giá đúng ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội miền núi phía Bắc” [33, tr.75] Bên cạnh đó, tác giả cũng dự báo trong tương lai, ở khu vực miền núi phía Bắc, đạo Tin lành sẽ tiếp tục gia tăng các tổ chức, hệ phái nhưng hoạt động thế nào còn phụ thuộc vào công tác quản lý của hệ thống chính trị cơ sở

Hai là hiện trạng sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam hiện nay

Năm 2014, quan điểm các tổ chức, hệ phái Tin lành mới liên tục xuất hiện

như một kiểu “tái cấu trúc bên trong” được tác giả Đỗ Quang Hưng nhận định trong

Chính sách tôn giáo và Nhà nước pháp quyền [77]

Trong công trình nghiên cứu lịch sử công tác lí luận về tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta này, Tin lành được nhận diện là một tôn giáo đa dạng về tổ chức, hệ

Trang 25

phái song có sự khác biệt ở mỗi tồn tại xã hội khác nhau và bởi vậy, không dễ dàng

để bóc tách hay nhận diện một cách thật đầy đủ Nhiều tổ chức, hệ phái Tin lành được du nhập từ xã hội Âu Mỹ vào Việt Nam, nhiều tổ chức, hệ phái được hình thành mới hoặc tách ra từ các tổ chức, hệ phái cũ trong nước, và “gần như tất cả các hệ phái Tin lành mà Nhà nước công nhận hiện nay đều có cơ sở chi hội đan xen nhau” [70, tr.123]

Tác giả khẳng định trong khoảng 3 thập niên gần đây, từ địa vị một tôn giáo nhỏ bé, Tin lành đã liên tục được “tái cấu trúc từ bên trong”, ngày càng trở thành một tôn giáo có tính thời sự, cấp bách nhất Bởi vậy, liên tiếp qua các giai đoạn lịch

sử, Nhà nước đã có những chính sách kịp thời đáp ứng những diễn biến phức tạp của vấn đề Tin lành Từ những số liệu thực tế về sự gia tăng nhanh chóng của các điểm nhóm, tín đồ, cơ sở thờ tự, thay vì xóa bỏ, hạn chế, chính phủ Việt Nam đã

có những thay đổi căn bản về nhận thức trong giải quyết vấn đề Tin lành Qua công trình, tác giả phân tích khá kĩ các văn bản pháp luật, các nghiên cứu liên quan Từ

đó, tác giả khẳng định, vấn đề Tin lành chỉ có thể được giải quyết khi chính quyền không khuyến khích phát triển nhưng cũng không cấm đạo và phải hợp pháp hóa để công tác quản lý có hiệu quả

Năm 2015, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam của tác giả Nguyễn

Thanh Xuân [157] đã cung cấp thêm những số liệu, luận điểm mang tính khái quát

về diện mạo sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam Công trình được xuất bản kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ và ngày truyền thống ngành quản lý nhà nước về tôn giáo, gồm 2 phần: phần 1 giới thiệu khái quát về tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, phần 2 nêu những căn cứ lý luận, căn

cứ thực tiễn cho việc xây dựng chính sách tôn giáo và việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Bên cạnh nhiều tổ chức, hệ phái có đường hướng rõ ràng, hoạt động bình

thường, ổn định, một số tổ chức, hệ phái Tin lành hiện nay vẫn còn thái độ cứng

nhắc, bảo thủ, đi theo khuynh hướng độc tôn chủ nghĩa, phủ nhận văn hóa bản địa nơi Tin lành đi qua [157, tr.13] Nhận định này được tác giả thẳng thắn đề cập tới cùng với những đánh giá, nhận xét mới về tổ chức, hệ phái Tin lành so với những

Trang 26

công trình nghiên cứu liên quan đến Tin lành của tác giả trước đó Dẫu vậy, tác giả vẫn nhìn nhận Tin lành giống như các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác, đã và sẽ tiếp tục trở thành “nguồn lực cho sự phát triển” [157, tr.420] Giai đoạn hiện nay, các tín đồ Tin lành chân chính đã tích cực ủng hộ chính sách đổi mới tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, bày tỏ thái độ không đồng tình trước những tà giáo trái với niềm tin chính thống [theo 157, tr.408]

Năm 2016, đề tài khoa học cấp Bộ Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức Tin lành chưa được công nhận ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp của tác giả Thiều Thị Hương [69] đã nghiên cứu các tổ chức Tin lành chưa

được công nhận ở Việt Nam Tính đến năm thực hiện nghiên cứu, đề tài thống kê,

có 11 tổ chức được Nhà nước công nhận, cấp đăng kí sinh hoạt trên tổng số khoảng

80 tổ chức, nhóm, hệ phái Tin lành hiện có ở Việt Nam

Đề tài khẳng định, theo những số liệu thống kê chưa đầy đủ, trong hơn

500 năm tồn tại, có khoảng 300 tổ chức, hệ phái Tin lành khác nhau tồn tại trên thế giới Đạo Tin lành “là một tôn giáo đa giáo phái (…) các giáo phái của đạo Tin lành vẫn tiếp tục xuất hiện và tan vỡ” [69, tr.97] Ở Việt Nam, đề tài nhận định các tổ chức, hệ phái chưa được Nhà nước công nhận “khá đa dạng về nguồn gốc, quy mô, cơ cấu tổ chức Tất cả đều không có cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo chức sắc nên còn được gọi là “Tin lành tư gia” Phần lớn các tổ chức Tin lành tư gia nhờ dựa vào nguồn kinh phí nước ngoài để hoạt động” [69, tr.4] Vì vậy, tình hình đạo Tin lành có thể trở nên bất ổn đến từ nhóm tổ chức, hệ phái Tin lành chưa được công nhận này, nếu Nhà nước không “hoàn thiện môi trường pháp lý

và chỉ đạo thực hiện trên thực tế” [69, tr.98]

1.1.3 Những nghiên cứu về các vấn đề đặt ra, phương hướng, giải pháp trong công tác quản lý của Nhà nước đối với sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam hiện nay

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đặt ra vấn đề phải đặc biệt quan tâm tới tính pháp lí cho việc tồn tại của các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam hiện nay

Năm 2001, đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước Đạo Tin lành Việt Nam - thực trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay cho công tác quản

Trang 27

lý lãnh đạo, quản lý của tác giả Hoàng Minh Đô [32] đã tìm hiểu bức tranh toàn

cảnh về thực trạng Tin lành Việt Nam, làm rõ mối quan hệ giữa Tin lành với chính trị và đời sống tâm linh đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp cho công tác lãnh đạo quản lý Nhà nước đối với Tin lành

Đề tài nhận định “Trên phương diện quốc tế, Tin lành là một tôn giáo đa giáo phái Còn ở Việt Nam, tính chất đa giáo phái ấy có xu hướng phát triển khá đặc thù (…) cùng với quá trình hội nhập mở cửa, đặc biệt sau khi hiệp ước thương mại Việt

Mỹ được Thượng Viện Mỹ thông qua xu hướng nói trên sẽ diễn ra với một quy mô rộng hơn, sâu sắc và phức tạp hơn” [32, tr.126] Trong phần đề xuất đối với công tác lãnh đạo quản lý của Nhà nước, đề tài khẳng định “trên phương diện quản lý Nhà nước đối với đạo Tin lành trong cả nước cần phải phân biệt các dạng hoạt động khác nhau ( ) của đạo Tin lành để đưa vào quản lý” [32, tr.150] đồng thời thực hiện các giải pháp cơ bản, lâu dài, trên mọi phương diện của đời sống xã hội

Năm 2005, tác giả Đỗ Quang Hưng ở Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - Lý luận và thực tiễn [71] đã dành mục 4 chương 14 thuộc phần 4 để nói về

chính sách của Đảng và Nhà nước ta với các Hội thánh Tin lành với nhận định “Về mặt tổ chức, tôn giáo này không bao giờ là một thực thể thống nhất” [71, tr.474],

“đa nguyên về tổ chức và nặng về tính cá thể trong đức tin” [71, tr.485] và “phức tạp, phong phú với nhiều hệ phái mà phần lớn có nguồn gốc từ Âu - Mỹ” [71, tr.483] Đến nay, một số tổ chức, hệ phái đã được công nhận tư cách pháp nhân và được chính phủ ta ứng xử không phân biệt đối xử với các tôn giáo khác

Cuốn sách gồm 4 phần, 15 chương phân tích các quan điểm mác xít về tôn giáo (tập trung trong phần 1, 2) và sự vận dụng, kế thừa, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau cách mạng dân chủ nhân dân đến nay (tập trung trong phần 3, 4) Trong đó, tác giả nhiều lần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tính pháp lí trong vấn đề đạo Tin lành bởi đây được xem là một tôn giáo có tính quốc tế sâu sắc, đa nguyên, nhạy cảm Trong số đó, những chính sách bước đầu của Đảng và Nhà nước

đã có hiệu quả phải kể từ việc cho đăng kí để hoạt động hợp pháp đến việc công nhận tư cách pháp nhân một số tổ chức, hệ phái; đưa sinh hoạt tôn giáo của các nhà thờ Tin lành vào vị thế hợp pháp hơn, mặt khác kiên quyết đấu tranh với các lực

Trang 28

lượng thù địch lợi dụng Tin lành như một chiêu bài chính trị, đi ngược lại lợi ích của dân tộc

Năm 2017, tác giả Nguyễn Xuân Hùng với luận án luận án tiến sĩ Sử học

Quá trình truyền giáo của đạo Tin lành tại Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1975

[68] đã phân tích 2 giai đoạn lịch sử gắn với quá trình truyền giáo của đạo Tin lành vào Việt Nam là thời kỳ 1911 - 1954 (tập trung trong chương 2), 1955 - 1975 (tập trung trong chương 3) và những tác động của việc truyền giáo Tin lành đối với chính trị, xã hội và văn hóa Việt Nam (tập trung trong chương 4) Trong mục 1.4, chương 1, tác giả Nguyễn Xuân Hùng nhận định “Tính phức tạp, đa dạng của thế giới Tin lành là vấn đề khó khăn về nhận thức ngay cả đối với các nhà lãnh đạo giáo hội, sử gia Tin lành” [68, tr.29] Đây cũng chính là một trong những lí do khiến tác giả cho rằng hiện nay, việc nghiên cứu về đạo Tin lành nói chung, những vấn đề cụ thể liên quan đến Tin lành nói riêng còn có sự tìm hiểu chưa thấu đáo và do đó cần phải tiếp tục được đầu tư, nghiên cứu mang tính tổng hợp nhiều hơn

Ngoài các công trình (sách) đã xuất bản nêu trên, còn các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đăng các Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Công tác tôn giáo, Kỷ yếu hội thảo Khoa học trong nước và quốc tế,… của các nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hùng, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Quang Hưng, Vương Duy Quang, Mã Phúc Thanh Tươi, Hoàng Minh Đô, Đoàn Triệu Long, Nguyễn Khắc Đức, Thiều Thị Hương, Nguyễn Quỳnh Trâm, Nguyễn Đăng Bản,… của các chức sắc Tin lành đăng ở các chuyên san Thánh Kinh nguyệt san,… như các tác giả Phạm Xuân Tín, Lê Hoàng Phu, Lê Văn Thiện, Kiều Toản, Trương Văn Tốt, Phạm Văn Năm, Mã Phúc Thanh Tươi, Đỗ Hữu Nghiêm,…

1.1.4 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu

1.1.4.1 Giá trị của những công trình đã nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận của luận án

Một là, các công trình nghiên cứu đã cung cấp nhiều luận cứ có giá trị để

luận án tiếp tục kế thừa, nghiên cứu Trong số đó có thể kể tới những luận cứ như:

- Không có một giáo hội chung thống nhất như giáo hội Công giáo, Tin lành lại hình thành nên nhiều giáo hội độc lập, nhiều tổ chức giáo hội đi theo cơ chế dân chủ bằng hình thức bầu cử [theo 156, tr.121]

Trang 29

- Tính đa dạng của tổ chức, hệ phái nằm trong sự phát triển, vận động của chính Tin lành và nỗ lực từ phía những nhà truyền giáo Đồng thời tính đa dạng này còn chịu tác động từ các cuộc chiến tranh, các phong trào giải phóng dân tộc, các vấn đề kinh tế mà trước hết là nghèo đói, những thành tựu khoa học công nghệ và nhiều nguyên nhân khác

- Kể cả cùng một hệ phái, theo cùng một xu hướng thần học nhưng các tín hữu Tin lành vẫn giữ độc lập về tổ chức, thậm chí ngay trong một quốc gia hay khu vực[theo 156, tr.128]

- Ở Việt Nam, từ sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, các tổ chức, hệ phái Tin lành ngày càng tăng lên, đa dạng về xu hướng thần học, thành phần tín đồ, cơ cấu tổ chức, phương thức, phạm vi hoạt động, mối liên hệ trong nước và quốc tế,…

Hai là, các công trình nghiên cứu đã bước đầu mô tả lịch sử hình thành,

phát triển, khái quát thực trạng những tổ chức, hệ phái trong nước và quốc tế để luận án có thể kế thừa trong đánh giá hiện trạng sự đa dạng tổ chức, hệ phái ở Việt Nam hiện nay

Ba là, các công trình nghiên cứu đã bước đầu đưa ra một số nhận định về

nguyên nhân hình thành, phát triển, xu hướng phát triển của Tin lành ở Việt Nam, giúp luận án có thêm các góc tiếp cận trong luận giải những tác động, hệ quả và dự báo xu hướng sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam trong tương lai

Bốn là, các công trình đã tổng kết những chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước trong công tác quản lý đối với đạo Tin lành làm căn cứ lý luận quan trọng giúp luận án đề xuất những giải pháp thiết thực đảm bảo phù hợp với tính đa dạng về tổ chức, hệ phái của tôn giáo này trong giai đoạn hiện nay

1.1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án

Mặc dù tất cả các công trình nghiên cứu đều nhắc đến tính đa dạng tổ chức,

hệ phái như một đặc trưng của đạo Tin lành, tuy nhiên theo khảo sát của tác giả luận

án, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái của đạo Tin lành ở Việt Nam cùng các mối quan hệ theo chiều dọc trong từng

tổ chức, hệ phái và theo chiều ngang giữa các tổ chức, hệ phái với nhau

Từ những nhận định, luận cứ có giá trị được gợi mở, kế thừa từ các công trình đi trước, tác giả luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề sau:

Trang 30

Vấn đề thứ nhất: Bản thân đạo Tin lành đã đa dạng từ trong quá trình phát

sinh, phát triển, được thừa nhận như một đặc trưng “di truyền” của Tin lành thế giới Vấn đề đặt ra là bản chất sự đa dạng ấy chỉ đơn thuần do chính phát triển nội tại của thực thể tôn giáo này hay còn bị tác động, chi phối bởi nhiều nguyên nhân khác? Có hay không có những nguyên nhân chủ quan và những nguyên nhân khách quan tác động? Trong bối cảnh hiện nay, xu thế toàn cầu hóa, thế tục hóa, tái cấu trúc,… có ảnh hưởng như thế nào đến sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành? Như vậy, luận án cần luận chứng rõ hơn, phân tích và hệ thống hóa các nhóm nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến sự ra đời của nhiều tổ chức, hệ phái

Vấn đề thứ hai: Sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành là vấn đề mang tính

quốc tế, không riêng có ở Việt Nam nhưng hiện nay, khi xem xét nghiên cứu, liệu

có cần xét đến tính đặc thù ở mỗi quốc gia hay không? Mặt khác, sự đa dạng này chỉ được thống kê qua sự gia tăng cơ học về số lượng các tổ chức, hệ phái hay còn

có những đặc điểm, biểu hiện khác? Sự đa dạng này được cộng đồng thừa nhận hay phản ứng, mức độ thừa nhận hay phản ứng đến đâu và tại sao? Điều này đặt ra vấn

đề gì cho nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cũng như dự báo xu hướng và đề xuất các giải pháp đồng bộ, khả thi cho công tác quản lý nhà nước?

Vấn đề thứ ba: Luận án cần làm sáng tỏ ảnh hưởng của sự đa dạng về tổ

chức, hệ phái của đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay đối với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng đạo Tin lành, đối với xã hội cũng như với công tác quản lý của Nhà nước, những vấn đề đặt ra và các kiến nghị Điều này rất quan trọng trong môi trường pháp lý mới ở Việt Nam - Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực thực thi năm 2018 và việc Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi 1: Phải chăng sự đa dạng các tổ chức, hệ phái Tin lành là do

chính đặc điểm riêng đặc trưng của Tin lành từ khi hình thành (đặc điểm vốn được xem là mang tính di truyền) chứ không phải do tác động của yếu tố chính sách, con người, thời đại (điển hình như xu thế toàn cầu hóa)?

Trang 31

- Câu hỏi 2: Hiện trạng sự đa dạng hiện nay của các tổ chức, hệ phái Tin

lành ở Việt Nam như thế nào? Có phải sự đa dạng các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam chỉ đơn thuần là sự gia tăng cơ học về số lượng qua các năm và không đặt

ra bất cứ vấn đề nào khác?

- Câu hỏi 3: Sự đa dạng các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam tương

đồng và khác biệt như thế nào so với trường hợp Tin lành ở một số quốc gia khác như Mỹ - trung tâm sự phát triển Tin lành hiện nay?

- Câu hỏi 4: Các tổ chức, hệ phái Tin lành có xu hướng đa dạng như thế

nào trong tương lai, đặt ra những vấn đề gì đối với chính tôn giáo này và chủ trương chính sách của Nhà nước Việt Nam?

1.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết 1: Sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam vừa

là đặc điểm đặc trưng của tôn giáo này từ khi mới hình thành vừa là kết quả tất yếu của quá trình toàn cầu hóa, mà trước hết là toàn cầu hóa về văn hóa Đồng thời, sự đa dạng này còn chịu tác động từ chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

- Giả thuyết 2: Không chỉ đa dạng về số lượng (qua số liệu gia tăng cơ học)

qua các năm, tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam còn đa dạng trên nhiều phương diện như: thời gian hình thành, phạm vi hoạt động, xu hướng thần học, cách thức hoạt động, địa vị pháp lý như việc được / chưa được công nhận tư cách pháp nhân

- Giả thuyết 3: Nếu tất cả các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam và thế

giới được các Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân thì tính đa dạng sẽ giảm dần

và đi đến ổn định

1.2.3 Lý thuyết nghiên cứu

- Lý thuyết: Cấu trúc - chức năng

Lý thuyết cấu trúc chức năng hay còn được gọi là “thuyết chức năng” Đây

là một trong những lý thuyết điển hình gắn liền với tên tuổi của những nhà xã hội học như Durkheim, E.Tylor, B.Malinowski, Robert K Merton,… Lý thuyết này nhấn mạnh đến tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể

mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chính

Trang 32

chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững Áp dụng trong nghiên cứu tôn giáo, khung lý thuyết giúp các nhà nghiên cứu nhìn nhận tôn giáo như một hệ thống phức tạp, mỗi bộ phận cấu thành nên hệ thống tôn giáo đều có những chức năng nhất định, tương tác lẫn nhau nhằm thúc đẩy tính liên kết và ổn định

Mặt khác, lý thuyết cũng chỉ ra rằng bên cạnh những hạt nhân mang chức năng tốt, có tác dụng đối với cấu trúc, còn có những bộ phận “phản chức năng”, gây cản trở ở các mức độ khác nhau đến sự vận động, phát triển của các bộ phận khác cũng như toàn thể hệ thống, đưa đến những hành động “lệch chuẩn xã hội” Việc xác định hành động “lệch chuẩn xã hội” được dựa trên cơ sở những mục tiêu và phương tiện được xã hội đồng thuận, ủng hộ, chấp nhận hay phản đối Điều này được thể hiện rất rõ nét qua quan điểm của Robert K Merton Áp dụng trong nghiên cứu tôn giáo, nội dung này giúp nhà nghiên cứu có đánh giá đa chiều trong tiếp cận những hạn chế, còn tồn tại ở những tổ chức, hệ phái truyền đạo trái pháp luật, những biểu hiện tiêu cực đối với đời sống xã hội, văn hóa của một bộ phận mục sư, tín đồ

Lý thuyết này được luận án sử dụng ở tất cả các chương 2, 3, và 4 Luận án

sử dụng lý thuyết này ở chương 2 và 3 để phân tích các tổ chức, hệ phái Tin lành mặc dù nhiều, đa dạng, song không vì thế mà nằm ngoài hệ thống, ngược lại, luôn

là những bộ phận trong một cấu trúc tôn giáo Tin lành bền vững Mỗi tổ chức, hệ phái Tin lành có một quá trình vận động, phát triển riêng Bản thân mỗi tổ chức, hệ phái cũng là một tiểu cấu trúc, với những chức năng riêng, góp phần tạo nên chỉnh thể Tin lành đa dạng nhưng vẫn mang những đặc trưng chung Bên cạnh những tổ chức, hệ phái Tin lành tích cực tham gia xây dựng đời sống xã hội địa phương, đảm bảo đời sống tôn giáo ổn định, vẫn còn một bộ phận mục sư hoặc tín đồ có hành vi

“lệch chuẩn xã hội”, truyền đạo trái pháp luật, gây mất trật tự trị an, mất đoàn kết nội bộ,… Từ đó, lý thuyết giúp luận án xác định những giải pháp cần thực hiện trong chương 4 để đảm bảo các tổ chức, hệ phái hoạt động đúng pháp luật, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân

- Lý thuyết: Thực thể tôn giáo

Khái niệm “thực thể tôn giáo” được sử dụng rộng rãi trong giới khoa học, bắt đầu từ các nước phương Tây sau những năm 2000 gắn với tên tuổi của các nhà

Trang 33

nghiên cứu tôn giáo trung lập như Dominique Borne, Jean Paul Willaim, René Rémond Lý thuyết “thực thể tôn giáo” coi tôn giáo như một hiện tượng đặc thù của

xã hội loài người, một tất yếu khách quan của mọi kết cấu xã hội bao gồm yếu tố niềm tin, thực hành nghi lễ trong cộng đồng và bao trùm là các giá trị chung, các cảm thức tôn giáo, các mối quan hệ tác động qua lại Cũng theo lý thuyết này, các hiện tượng tôn giáo có mối quan hệ tương tác, chịu sự tác động và tác động trở lại đối với các hiện tượng xã hội khác

Lý thuyết “thực thể tôn giáo” xuất hiện đã bổ sung, hoàn chỉnh cho hướng tiếp cận chính trị - xã hội của Mác - vốn đã rất phổ biến ở Việt Nam - khi coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội, là sản phẩm của con người, phản ánh chính những sợ hãi, bất an của con người đối với tự nhiên và xã hội Ngoài ra, lý thuyết này cũng giúp làm rõ hơn bản chất hiện thực phong phú, sống động và tính khách quan của đời sống tôn giáo trước những quan điểm thuần túy, đơn giản chia tôn giáo thành một cấu trúc gồm giáo lý, giáo luật, lễ nghi, cơ sở thờ tự, chức sắc và tín đồ

“Thực thể tôn giáo” trở thành căn cứ lý luận cho luận án trong việc tiếp cận tính đa dạng các tổ chức, hệ phái như là một thuộc tính khách quan của thực thể Tin lành Lý thuyết giúp tác giả có cơ sở đưa ra và đánh giá các nhân tố tác động đến sự

đa dạng của tổ chức, hệ phái Tin lành ở phần 3, chương 2 Đặc biệt, áp dụng khung

lý thuyết này giúp tác giả luận án có cơ sở để nhóm, phân loại hiện trạng sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành trong chương 3 trên cơ sở 3 tiêu chí niềm tin (xu hướng thần học), thực hành (phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức) và cộng đồng (tín đồ, phạm vi hoạt động) cũng như ảnh hưởng, tác động đến đời sống xã hội (địa

vị pháp lý, mối quan hệ trong nước, quốc tế)

- Lý thuyết: Sử học tôn giáo và tôn giáo học so sánh

Lý thuyết sử học tôn giáo nhận thức về bản thân tôn giáo xuất phát từ lịch

sử phát triển mà tôn giáo đã trải qua, hay nói cách khác là phân tích tôn giáo từ điểm nhìn lịch sử

Luận án sử dụng lý thuyết sử học tôn giáo để soi chiếu những sự kiện lịch

sử diễn ra tác động đến sự hình thành, phát triển và quá trình hoạt động của các tổ

Trang 34

chức, hệ phái Tin lành Lý thuyết trở thành cơ sở lý luận cho tác giả tổng quan tư liệu nghiên cứu, khái quát lịch sử nghiên cứu trong chương 1, phân tích lược sử quá trình du nhập, phát triển của các tổ chức, hệ phái Tin lành trong phần 2, chương 2 Lý thuyết với việc xem xét Tin lành trong nhiều chiều cạnh lịch sử, nhiều bối cảnh không gian, thời gian cũng là một căn cứ giúp tác giả chia nhóm phân loại và phân tích hiện trạng sự đa dạng tổ chức, hệ phái Tin lành theo thời gian hình thành, nguồn gốc trong phần 1, chương 3 Cuối cùng, áp dụng lý thuyết sử học tôn giáo, từ điểm nhìn lịch sử, sau năm 1975, nhất là sau năm 2005 đến nay, luận án nhìn nhận, đánh giá những vấn đề đặt ra hiện nay trước tình hình phát triển đa dạng các tổ chức, hệ phái Tin lành và dự báo xu hướng biểu hiện đa dạng trong tương lai ở chương 4

Lý thuyết tôn giáo học so sánh nhấn mạnh, so sánh theo chiều ngang giữa các tôn giáo trên cơ sở lấy lịch sử tôn giáo làm xuất phát điểm Lý thuyết giúp người nghiên cứu đi tìm hiểu các giá trị thông qua các hiện tượng tôn giáo, các sự thật lịch sử, so sánh, đối chiếu sự tương đồng/ khác biệt, giao thoa thậm chí là đối lập giữa các tôn giáo

Luận án sử dụng lý thuyết tôn giáo học so sánh để so sánh sự đa dạng của các tổ chức, hệ phái Tin lành từ khi mới xuất hiện đến nay và so sánh trường hợp Việt Nam với Mỹ trong cùng giai đoạn hiện nay Đồng thời, luận án cũng so sánh

sự đa dạng tổ chức, hệ phái của đạo Tin lành với trường hợp Phật giáo ở Việt Nam

Ở phạm vi hẹp, luận án cũng sử dụng lý thuyết tôn giáo học để so sánh, đối chiếu các tổ chức, hệ phái với nhau

1.3 NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tổ chức tôn giáo:

Theo Luật Tín ngưỡng tôn giáo, trong Chương 1, Những quy định chung, tổ chức tôn giáo được hiểu là “tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo” [theo Luật tín ngưỡng tôn giáo] Ví dụ tổ chức Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) của đạo Tin lành, tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam,

Trang 35

Giáo hội: Thuật ngữ “giáo hội” trong Luận án là từ viết tắt của “Tổ chức

giáo hội” Tổ chức giáo hội được hiểu theo hai nghĩa, hoặc là tổ chức tôn giáo, hoặc

là cơ cấu tổ chức bộ máy của tổ chức tôn giáo Cũng theo Luật Tín ngưỡng tôn giáo, trong Chương 1, Những quy định chung, tổ chức tôn giáo trực thuộc được hiểu là

“tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo” [theo Luật tín ngưỡng tôn giáo] Khi đặt trong tương quan với thuật ngữ “hệ phái”, “tổ chức” được tiếp cận với tư cách là tổ chức tôn giáo, tổ chức giáo hội Tổ chức này được đặc trưng bởi tính độc lập, được cụ thể hóa xu hướng

thần học bằng các phương thức hoạt động riêng, độc lập

Giáo hội và giáo phái không được hiểu giống nhau Theo cách tiếp cận lịch

sử và nguồn gốc xuất xứ, những thành viên trước kia cùng một giáo hội sau đó tách

ra, thành lập tổ chức mới, được gọi là “giáo phái” Theo cách tiếp cận xã hội học,

giáo hội có luật định, có hàng ngũ chức sắc, hệ tư tưởng, quản lí bằng giáo luật, trong khi giáo phái thường mang tính thỏa thuận giữa một nhóm người, cố kết nhau bằng những cam kết và không tuyệt đối về hệ tư tưởng [xem 134, tr.81]

Hệ phái: Hệ phái được đặc trưng bởi xu hướng thần học, sinh hoạt tôn giáo

thể hiện niềm tin Do tồn tại nhiều xu hướng thần học khác nhau, phương thức sinh hoạt tôn giáo khác nhau, Tin lành bao gồm rất nhiều hệ phái Một hệ phái Tin lành

có thể gồm nhiều tổ chức giáo hội nhưng cũng có thể chỉ có một tổ chức giáo hội Trên thế giới, Tin lành có một số hệ phái lớn như Lutheran, Báp tít, Trưởng lão,

Giám lý, Ngũ tuần, “Giới chức đạo Tin lành người Việt ngoài giáo phái còn dùng

từ hệ phái trong các văn bản của họ để chỉ các giáo phái Tin lành (…) Ngoài ra, còn một tên gọi vốn rất Việt được giới chức Tin lành sáng tạo ra là Hội thánh (…) mang

ý đề cao cộng đồng của mình, để phân biệt với các hội thế tục khác” [134, tr.79]

Trong Luận án, tác giả sử dụng thuật ngữ hệ phái

Tổ chức, hệ phái: Xét theo quy mô và tính chất, phải gọi là “hệ phái, tổ

chức” Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong nhiều trường hợp, thành thói quen, cụm từ này được gọi là “tổ chức, hệ phái” Đây là một cụm từ ghép để nói đến sự đa dạng về tổ chức, hệ phái Tin lành, cũng có khi để chỉ một tổ chức Tin lành nào đó Thuật ngữ này cũng được dùng với trường hợp một số tôn giáo khác như Phật giáo, Cao đài

Trang 36

Chi hội: Chi hội hay còn gọi là Hội thánh cơ sở Chi hội chính là tổ chức

giáo hội trực thuộc Thông thường, mỗi hệ phái có 2 cấp là Tổng hội (cấp Trung ương) và Chi hội (cấp cơ sở) Cấp chi hội ít thông công với các chi hội khác trong

khi Tổng hội có thể mời đại diện để thông công Chi hội có hai loại là chi hội tự lập

(tự lập về tài chính) và chi hội tự dưỡng (chưa tự lập về tài chính) Ngoài ra còn có Hội nhánh (chưa đủ điều kiện để thành lập chi hội) Ở những địa phương có đông

tín đồ, nhiều chi hội có thể thành lập Ban đại diện (không phải là một cấp hành

chính) thay mặt Tổng liên hội hướng dẫn hoạt động của chi hội và quan hệ với chính quyền

Điểm nhóm: Điểm nhóm là nơi tập hợp tín đồ Tin lành nhóm lễ, sinh hoạt

tại một địa điểm nào đó (nhà riêng, nhà thuê mượn, ) khi chưa đủ điều kiện thành lập chi hội Điểm nhóm thường ở quy mô nhỏ, trực thuộc một hệ phái Theo quản lý nhà nước, điểm nhóm không giới hạn số lượng tín đồ cụ thể Ở một số địa phương, điển hình như tỉnh Hải Dương, điểm nhóm còn được gọi là “cụm tín hữu”, “cụm tín hữu miền quê”,“chi hội tín hữu miền quê” và nằm rải rác ở các huyện trong tỉnh

Đa dạng tổ chức, hệ phái: “Đa dạng” (diversity) không phải là “đa

nguyên” (pluralism) “Đa nguyên” là thái độ, sự phản ứng của con người với tính đa dạng, trong khi “đa dạng” được hiểu là tính từ chỉ nhiều dạng biểu hiện khác nhau

Từ đó có thể hiểu đa dạng tổ chức, hệ phái là có nhiều dạng biểu hiện tổ chức, hệ phái khác nhau, nhiều loại hình tổ chức, hệ phái khác nhau

Tin lành: Thuật ngữ “Tin lành” trong Luận án là từ gọi tắt của “đạo Tin

lành” Đây là thuật ngữ dùng để chỉ một tôn giáo ra đời trong phong trào cải cách tôn giáo ở châu Âu thế kỷ XVI - một tôn giáo được tách ra từ Công giáo Đạo Tin lành có nhiều hệ phái, trong mỗi hệ phái lại có rất nhiều tổ chức Với những tín đồ Tin lành, Tin lành là “tin tức tốt lành”, chứ “không phải tin theo để làm lành” (theo

sổ cầm tay “Tin lành cho người Việt Nam”) Ban đầu, khi du nhập vào Việt Nam,

Tin lành được gọi là đạo Thệ phản, theo cách dịch từ mẫu tự La tinh của đạo này là Protestantism Về sau, đạo này mới được gọi là Tin lành, theo cách dịch từ chữ Evangelical, nghĩa là Kinh thánh Phúc âm (để phân biệt với cách dịch Kinh thánh

Phúc âm thành “Tin mừng” của những người theo Công giáo) Ngoài ra, trong thực

Trang 37

tiễn, Tin lành còn được gọi là Tin lành/hoặc tôn giáo của xã hội thời thượng, xã hội

văn minh, theo cách dịch từ chữ Reformation (cải cách) mà thế giới hiện đại ngày

nay hay dùng

Tin lành tư gia: Là tổ chức của những người “đi tìm kiếm tôn giáo nhưng

chẳng theo đạo nào đã thiết lập” [78, tr.69] Ở Việt Nam, Tin lành tư gia được hình

thành vào giữa những năm 1980 Theo những nhà quản lý, thuật ngữ Tin lành tư gia hay Hội thánh tư gia được hiểu theo 2 nghĩa, là điểm nhóm của những người sinh

hoạt tôn giáo tại gia đình hoặc tổ chức của những cộng đồng Tin lành chưa được Nhà nước công nhận về mặt tổ chức

Tin lành không hệ phái (phi hệ phái): Trước năm 1975, ở miền Nam Việt

Nam xuất hiện một số tổ chức Tin lành không hệ phái Tin lành không hệ phái được hiểu là tổ chức thực hiện chức năng kết nối các tổ chức, hệ phái Tin lành trong cùng một mục vụ chuyên biệt như dịch Thánh kinh, in Thánh kinh, tổ chức các hoạt động từ thiện xã hội, nhưng lại không có điều kiện hoạt động mục vụ trong chính giáo hội của họ Tin lành không hệ phái còn được hiểu là cộng đồng tín đồ cùng sinh hoạt tôn giáo nhưng không thuộc tổ chức Tin lành nào Có thể

kể đến các tổ chức như UBS (United Bible Societies) tức Thánh Kinh hội, SIL (Summer Institute of Linguistics) tức Hội ngôn ngữ học mùa hè, CCC (Campus Central City) tức Hội truyền giảng chúa Cơ đốc, Hiện nay, một số quốc gia, nhất là ở Mỹ, sự đa dạng về tổ chức, hệ phái đã dẫn đến việc hình thành các cộng đồng Tin lành độc lập, sống đạo, giữ đạo theo tin thần Tin lành nhưng không thuộc tổ chức, hệ phái nào

Thuộc linh: “Thuộc linh“ thường đi liền với chữ “đời sống” để chỉ đời sống

đức tin của các tín đồ Tin lành (ở Việt Nam gọi là “tín hữu Tin lành”, còn những người Tin lành thường nhận mình là “Cơ Đốc nhân”) vào Chúa Giê su Đối với những người tin theo Tin lành, sự tăng trưởng thuộc linh rất có ý nghĩa cho cuộc sống, góp phần ảnh hưởng, làm thay đổi bên trong đời sống của họ, gắn bó họ ngày càng nhiều hơn và chặt chẽ hơn với Chúa trời Bất cứ tín đồ Tin lành nào cũng có đời sống thuộc linh, họ coi đây là quyền năng được Chúa trời ban ơn, đúng như tinh

thần của Kinh thánh: “Bất cứ ai tiếp nhận Ngài, tức là tin danh Ngài, thì Ngài ban

Trang 38

cho họ quyền trở nên con của Đức Chúa Trời” và “Hãy tin Đức Chúa Giê su, thì ngươi và cả nhà đều được cứu rỗi” (Công vụ các sứ đồ 16:31) [79, Tân ước, tr.162]

Thông công: “Thông công” hay còn gọi là “Hiệp thông” là một thuật ngữ

chỉ mối quan hệ giữa các tín hữu trong cùng một tổ chức, hệ phái hoặc giữa tín đồ của các tổ chức, hệ phái khác nhau Thuật ngữ này cũng là để nói mối quan hệ giữa tín đồ với đấng tối cao Tín đồ Tin lành cho rằng: “Thông công nghĩa là kết tình bầu bạn từ anh chị em khắp nơi trên Thế Giới qua địa vị làm con cái Đức Chúa Trời, Thông công là bí quyết phá vỡ tất cả những hàng rào ngăn cách, xóa tan những mâu thuẫn hiểu lầm Sự thông công trong Đức Chúa Jesus Christ sẽ khiến cho người Truyền Giảng Tin Lành đem đến sự chữa lành những tổn thương, hàn gắn những sự

đổ vỡ từ trong Hội Thánh địa phương đến cộng đồng xã hội Bởi huyết vô tội của Đức Chúa Jesus Christ mà chúng ta được giao thông cùng nhau” [36, tr.27]

Hiệp một: “Hiệp một” được hiểu là tinh thần đoàn kết, hợp tác, là thái độ

nhất trí, đồng lòng giữa các tín đồ Nếu có tinh thần hiệp một, việc thông công sẽ trở nên hiệu quả hơn Sứ đồ Phao lô trong thư gửi người Phi-líp có đoạn nhắc nhở

về sự nhân từ, khiêm nhượng và tinh thần hiệp một như sau: “Vậy nếu trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn Chớ làm sự chi vì lòng cạnh tranh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình Mỗi một người trong anh

em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa” (Phi-líp 4) [79, Tân ước, tr.244]

Trang 39

2:1-Chương 2 ĐẠO TIN LÀNH VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐA DẠNG

VỀ TỔ CHỨC, HỆ PHÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 ĐẠO TIN LÀNH VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN

2.1.1 Đạo Tin lành - một tôn giáo cải cách ở châu Âu thế kỷ XVI

Những tín đồ Tin lành tin rằng truyền giảng Tin lành là động cơ đến từ Đức Chúa Giêsu và đã được bắt đầu từ thời kì các sứ đồ - những người đã được Chúa chiêu mộ như Anhrê, Simôn Pie rơ, Giacơ, Giăng, Ma-thi-ơ, Phi lip, Gia cơ, Giu đê,… Hệ thống giáo phụ là những người tiếp tục công việc giúp lan tỏa Hội thánh sau thời kỳ các sứ đồ, điển hình là Clement (ở La Mã), Ignatius, Papias, Polycarp, Justin Martyr, Irenaeus, Clement (ở Alexandria), Tetullian, Cprian, Origen (thời kì các giáo phụ) Tuy nhiên, Cơ đốc giáo vẫn là một tôn giáo bất hợp pháp cho đến năm 323 Constantine nắm trọn quyền trên đế quốc La Mã và chính thức trở thành tôn giáo duy nhất hợp pháp của đế quốc La Mã vào năm 392 khi hoàng đế Theodosius I cấm mọi việc cúng bái, tuyên bố mọi hình thức tôn giáo trái với Hội thánh là bất hợp pháp (thời kì phong trào Cơ đốc giáo) Sau đó, Hội thánh bắt đầu thu hút được nhiều người đàn ông và phụ nữ dâng đời sống của mình cho Đức Chúa trời qua lối sống khổ hạnh và đầy lòng tin kính nơi những tu viện (thời kì phong trào tu viện) Vào thế kỷ thứ XI, trước sự tấn công của Hồi giáo và sự sụp đổ của đế quốc La Mã, Đông và Tây Giáo hội bị chia rẽ, quyền lực Công giáo tập trung vào tay các giáo hoàng, Hội thánh gần như “bị tê liệt trên mặt trận thuộc linh” (thời kì Hội thánh phương Tây truyền giáo) “Những cuộc thám hiểm dũng cảm đã thúc đẩy châu Âu rời khỏi khuôn mẫu cổ hủ” như cuộc thám hiểm của Vasco da Gama đến

Ấn Độ vòng theo cực nam châu Phi năm 1397, Christopher Columbus về phía Tây

và tìm ra châu Mỹ năm 1492 (thời kì phong trào cải chánh) Wycliffe được xem là

“ngôi sao mai của thời kì cải chánh” cho tới khi Martin Luther “châm ngòi lửa đầu tiên cho công cuộc cải chánh” [theo 36, tr.88]

Cuối thời kỳ trung cổ ở châu Âu, việc buôn bán bùa xá tội của giới chức sắc trong giáo hội Công giáo đã trở nên khá phổ biến Việc phải trả tiền cho lễ rửa tội

Trang 40

được thay thế cho những sự trừng phạt trước đây khi giáo dân mắc tội Người ta cho rằng những đồng tiền được trả cho bùa xá tội được dùng vào mục đích xây dựng nhà thờ Trên thực tế, chúng được dùng để chi trả cho những món nợ của cá nhân những thành viên phụ trách giáo hội

Mùa xuân năm 1517, thầy tu Johamm Tesel thuộc dòng Dominic xứ Saxonia, Đức đã bắt đầu bán bùa xá tội cho giáo dân Sự việc này khiến một thầy tu khác thuộc dòng Augustin cũng ở xứ Saxonia - Martin Luther (1483-1546) - hết sức tức giận Ông cho rằng đây là “một sự bóc lột không giấu giếm” được dựa trên

“những mưu toan của những người nghèo khổ định cầu xin một ân phước vĩnh hằng” [142, tr.120]

Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Martin Luther đã treo lên cửa nhà thờ Wittenberg một danh mục gồm 95 luận đề bày tỏ sự phản ứng với giáo hội, Giáo hoàng cũng như việc buôn bán bùa xá tội, mở đầu cho cuộc khẩu chiến kéo dài, chống lại các thế lực lãnh đạo trong nhà thờ Công giáo Ông tuyên bố: “Sự tức giận của tôi chính là cơn tức giận của Thượng Đế Chính ngài đã sử dụng những kẻ thù của tôi để buộc tôi phải cao giọng hơn nữa Tôi cần phải nói, phải gào thét, hét vang

và viết cho đến khi nào họ chán ghét tôi mới thôi” [142, tr.119]

Nhờ sự xuất hiện của công cụ máy in sắp chữ, những luận đề rúng động dư luận bằng tiếng Latinh của Luther đã được dịch sang tiếng Đức và dần phổ biến toàn châu Âu Trong bối cảnh nền nông nghiệp Đức đang gặp khủng hoảng, sụt giảm giá nghiêm trọng, sự bất mãn của nông dân, chủ đất nhỏ với giới chức sắc giàu

có nhà thờ ngày càng gia tăng, sự xuất hiện những tư tưởng tôn giáo của Luther và sau này là thần học của John Calvin (1509-1564), Ulrich Zwingli (1484-1531) được

ví von giống như những hạt mầm gieo xuống đất, khởi đầu cho sự hình thành nên đạo Tinh lành Hàng thập kỷ sau đó, cả châu Âu liên tục sôi sục những cuộc đấu tranh tôn giáo giữa một bên là Công giáo và một bên là Tin lành Đạo Tin lành có ý nghĩa giống như một cuộc cải cách tôn giáo đã cắt chia châu Âu là vì vậy

Sau những cuộc tranh biện về thần học, thậm chí dẫn đến xung đột vũ trang,

đổ máu, Hòa ước Tôn giáo Augsburg năm 1555 được ký kết đã giảm nhẹ ảnh hưởng của Đức Giáo hoàng, chấp nhận sự phân hóa Tin lành khỏi Công giáo Đến lượt

Ngày đăng: 20/05/2020, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
99. Cao Sư Ninh (2000), “Từ góc độ xã hội xem xét sự phát triển của tôn giáo”, Nghiên cứu tôn giáo, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ góc độ xã hội xem xét sự phát triển của tôn giáo
Tác giả: Cao Sư Ninh
Nhà XB: Nghiên cứu tôn giáo
Năm: 2000
100. Olsen J.D (1956), Sử ký Hội Thánh, tập I - II - III, Nhà in Tin lành, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử ký Hội Thánh, tập I - II - III
Tác giả: Olsen J.D
Nhà XB: Nhà in Tin lành
Năm: 1956
101. Olsen J.D (1958), Thần Đạo Học, Nhà in Tin lành, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần Đạo Học
Tác giả: Olsen J.D
Năm: 1958
102. Parmelee A (1993), Lược sử Hội Thánh, Viện Thần học Việt Nam xuất bản, Graden Grove, California Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Hội Thánh
Tác giả: Parmelee A
Nhà XB: Viện Thần học Việt Nam xuất bản
Năm: 1993
103. Lê Hoàng Phu (1965), Lịch sử truyền giáo, tập I -II, Nhà in Tin lành, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền giáo, tập I -II
Tác giả: Lê Hoàng Phu
Nhà XB: Nhà in Tin lành
Năm: 1965
104. Lê Hoàng Phu (1965), Lịch sử truyền giáo, tập I -II, Nhà in Tin lành, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền giáo
Tác giả: Lê Hoàng Phu
Năm: 1965
105. Lê Hoàng Phu (1974), Lịch sử Hội Thánh Tin lành Việt Nam 1911-1965, Trung Tâm nghiên cứu Phúc Âm, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hội Thánh Tin lành Việt Nam 1911-1965
Tác giả: Lê Hoàng Phu
Năm: 1974
106. Lê Hoàng Phu (2010), Lịch sử hội thánh Tin lành Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử hội thánh Tin lành Việt Nam
Tác giả: Lê Hoàng Phu
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2010
107. Lê Hồng Phúc (2003), Tìm hiểu Giáo hội Báp Tít Nam Phương, Viện Thần học Báp Tít Việt Nam xuất bản, Dallas, Texas, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Giáo hội Báp Tít Nam Phương
Tác giả: Lê Hồng Phúc
Nhà XB: Viện Thần học Báp Tít Việt Nam
Năm: 2003
108. Trần Nghĩa Phương (2002), “Đảng Cộng sản Trung Quốc với vấn đề tôn giáo hiện nay”, Nghiên cứu tôn giáo, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Trung Quốc với vấn đề tôn giáo hiện nay
Tác giả: Trần Nghĩa Phương
Nhà XB: Nghiên cứu tôn giáo
Năm: 2002
110. Smith D.L (2004), Thần học hiện đại, Viện Thần Học Tin lành Việt Nam xuất bản, California, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần học hiện đại
Tác giả: Smith D.L
Nhà XB: Viện Thần Học Tin lành Việt Nam
Năm: 2004
111. Stebbins I.R. (2004), 41 năm hầu việc Chúa với Hội Thánh Tin lành Việt Nam 1920-1961 (Hồi ký), Spiritual Light Magazine, Ohio, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: 41 năm hầu việc Chúa với Hội Thánh Tin lành Việt Nam 1920-1961 (Hồi ký)
Tác giả: Stebbins I.R
Năm: 2004
112. Sabino Acquaviva, Enzo Pace (1998), Xã hội học tôn giáo, Lê Diên dịch, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học tôn giáo
Tác giả: Sabino Acquaviva, Enzo Pace
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1998
113. Simpson A. B (2008), Tin lành tứ diện, giáo lý thần học của giáo hội CMA, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin lành tứ diện, giáo lý thần học của giáo hội CMA
Tác giả: Simpson A. B
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2008
114. Đới Khang Sinh, Bành Diệu (1996), Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo ở Trung Quốc, NXB Nhân dân Giang Tây (bản Tiếng Trung), bản dịch của Trần Anh Đào, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo ở Trung Quốc
Tác giả: Đới Khang Sinh, Bành Diệu
Nhà XB: NXB Nhân dân Giang Tây
Năm: 1996
115. Nguyễn Đức Sự (Chủ biên) (1999), C.Mác và Ph. Ăngghen về vấn đề tôn giáo, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph. Ăngghen về vấn đề tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Đức Sự
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
116. Lê Văn Thái (1971), Bốn mươi sáu năm trong chức vụ - hồi ký, Cơ quan xuất bản Tin lành, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi sáu năm trong chức vụ - hồi ký
Tác giả: Lê Văn Thái
Nhà XB: Cơ quan xuất bản Tin lành
Năm: 1971
117. Lê Văn Thiện (2000), Hướng về Đại Hội Tin lành toàn quốc, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng về Đại Hội Tin lành toàn quốc
Tác giả: Lê Văn Thiện
Nhà XB: Tài liệu lưu hành nội bộ
Năm: 2000
118. Lê Văn Thiện (2001), “Phương hướng phát triển Hội Thánh”, Tạp chí Người Chăn Bầy, (9), tr.13-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng phát triển Hội Thánh
Tác giả: Lê Văn Thiện
Nhà XB: Tạp chí Người Chăn Bầy
Năm: 2001
119. Lê Văn Thiện (2010), Phúc Âm & Văn Hóa, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc Âm & Văn Hóa
Tác giả: Lê Văn Thiện
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w