Bài văn mẫu phân tích văn bản Bếp lửa full tất cả các khổ. Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với bao vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu; từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà; cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về bà.
Trang 1I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Bằng Việt là bút danh của Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941 tại Huế, nhưng quê gốc ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 1960 và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ
- Tác phẩm chính: Hương cây - Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ – 1968), Những gương mặt, những khoảng trời (1973), đất sau mưa (thơ – 1977), Khoảng cách giữa lời (thơ – 1983) Cát sáng (thơ 1986), Bếp lửa - Khoảng trời (thơ tuyển 1988)
- Thơ Bằng Việt, cảm xúc tinh tế, có giọng điệu tâm tĩnh trầm lắng, giàu suy tư, triết luận
2 Tác phẩm
a Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ « Bếp lửa » được sáng tác năm 1963 khi tác giả 19 tuổi đang là sinh viên ngành luật tại Liên Xô cũ Tác phẩm viết theo thể thơ tự do và được đưa vào tập thơ
“Hương cây - Bếp lửa”, tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ Bằng sự kết hợp hài hòa giữa biểu cảm với tự sự, miêu tả và nghị luận, bài thơ đã xây dựng hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà và là điểm tựa khơi gợi mọi cảm xúc và suy nghĩ về tình bà cháu
b Nội dung: Qua hồi tưởng, suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương đất nước
c Nghệ thuật: Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu
3 Các ý chính ( Có thể chia thành nhiều cách khác nhau )
Phần 1: Giới thiệu bà và bếp lửa
Phần 2: Kí ức năm nạn đói
Phần 3: Kí ức 8 năm cháu bên bà
Phần 4: Kí ức năm giặc đốt làng
Phần 5: Suy nghĩ về bà và bếp lửa
+ Cảm nhận về bà và bếp lửa
+ Bà người thắp lửa, giữ lửa, truyền lửa
Phần 6: Nỗi nhớ của người cháu
Hoặc chia 4 phần
+ Phần 1: Khổ đầu: hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng về bà
+ Phần 2: Từ “lên bốn tuổi” đến “niềm tin dai dẳng”: những kỉ niệm tuổi thơ và hình ảnh người bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa trong hồi tưởng của cháu
+ Phần 3: Từ “lận đận đời bà đến “thiêng liêng bếp lửa”: suy ngẫm về bà và cuộc đời bà
+ Phần 4: (4 dòng cuối): Hình ảnh bà và bếp lửa sống mãi trong tâm hồn cháu
- Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với bao vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu; từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà; cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về bà
II Cảm nhận
1 Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa – nơi bắt đầu nỗi nhớ
Khi nhớ về quê hương, người ta thường nhớ về những kỉ niệm gắn liền trong quá khứ như dòng sông, bến đò, cây đa… Đối với Bằng Việt, sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa - một hình ảnh rất đỗi quen thuộc, bình dị ở mỗi làng quê Việt Nam:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!
* Dòng hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa Để rồi, từ hình ảnh bếp lửa ấy, dòng kỉ niệm về bà thức dậy và được tái hiện:
Trang 2“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”
Trước hết, đó là hình ảnh bếp lửa tả thực, nhỏ bé, gần gũi, quen thuộc trong mỗi gia đình tự bao giờ
- Ba tiếng “một bếp lửa” láy đi láy lại trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điêụ sâu lắng + Gợi bóng dáng của người bà, người mẹ tần tảo, thức khuya dậy sớm chăm sóc cho chồng, cho con + Diễn tả dòng cảm xúc dâng tràn ùa về kí ức
=> Hình ảnh “bếp lửa” đã khơi dậy trong lòng người cháu bao cảm xúc để những dòng hồi tưởng, kí
ức đó ùa về khiến người cháu không khỏi xúc động
- Bếp lửa được nhóm lên vào buổi sáng sớm, rung rinh, mờ tỏ Hình ảnh ấy gợi cái ấm áp giữa “chờn vờn sương sớm”, gợi cái thân thương với biết bao “ấp iu nồng đượm”
- Từ láy “chờn vờn”:
+ Miêu tả bếp lửa với ngọn lửa bốc cao, bập bùng, tỏa sáng, ẩn hiện giữa màn sương sớm
+ Bếp lửa ấy mờ tỏa, chờn vờn trong kí ức về những năm tháng tuổi thơ được sống bên bà của nhà thơ
Hình ảnh ẩn dụ “ấp iu nồng đượm”:
+ Gợi đến bàn tay cần mẫn, khéo léo, chính xác của người nhóm lửa
+ Gợi tấm lòng chi chút của người nhóm lửa
- Các chữ “ấp iu”, “nồng đượm”, “chờn vờn” rất hình tượng, gợi tả; Ấp iu: là một sáng tạo từ mới mẻ -> đó là sự kết hợp và biến thế của hai từ “ấp ủ” và “nâng niu” Bếp lửa ấm áp “nồng đượm” ấy còn mang tình thương chở che, ôm ấp, “ấp iu” của lòng bà
* Một cách tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã đánh thức dòng cảm xúc hồi tưởng của cháu về bà, ngưòi nhóm lửa, người nhóm bếp mỗi sớm mai - một hình ảnh xuyên suốt bài thơ, lúc nào cũng chập chờn lay động “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
- Hình ảnh ẩn dụ “ Nắng mưa” chỉ những gian lao vất vả của cuộc đời bà Và đây là lần thứ hai nhà thơ nhắc tới hình ảnh “nắng mưa” Cuộc đời bà đã trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, nạn đói năm 1945 đất nước có chiến tranh, mối lo giặc tàn phá, bà cùng cháu sống trong sự côi cút, quạnh hiu Cuộc đời bà đầy gian truân, vất vả nhiều lận đận, trải qua nhiều “nắng mưa” tưởng như không bao giờ dứt “Biết mấy nắng mưa”, chỉ 4 chữ đã gợi ra hình ảnh của bà với bao lo toan, vất vả, lặng lẽ,
âm thầm Người cháu hiếu thảo cũng đôi lần nhắc lại: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa” - nỗi vất
vả nhọc nhằn của bà trở thành nỗi ám ảnh day dứt khôn nguôi trong lòng cháu suốt đời.=> Bộc lộ sự thấu hiểu đến tận cùng của sự vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà
- Chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, diễn tả cảm xúc đến rất tự nhiên và lan tỏa, thấm sâu tâm hồn người cháu Cả bài thơ có hai chữ “thương”, Bằng Việt đã dành trọn để “thương bà” (Cháu thương bà biết mấy nắng mưa, Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc)
Ý kết khổ 1: Khổ thơ đầu kết thúc trong cảm xúc của người cháu Cảm xúc ấy bật ra bằng một chữ
“thương”, nó lan toả trong câu thơ và thấm sâu vào lòng người đọc Hình ảnh người bà hiện lên trong tâm trí tác giả rất nhẹ nhàng, sâu lắng, mỗi lúc một rõ ràng và trở thành hình ảnh trung tâm trong các khổ thơ tiếp theo
2 Những kỉ niệm tuổi thơ bên bà và bếp lửa
a Những kỉ niệm hồi lên 4 tuổi
Theo dòng hồi tưởng ấy, Bằng Việt trở về với những năm tháng tuổi thơ gian khổ thiếu thốn, nhọc nhằn ám đầy mùi khói:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
- Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói khủng khiếp năm 1945: “cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) Bởi vậy, gây ấn tượng mạnh mẽ với cháu là cái đói, cái nghèo Cái đói dai dẳng và mòn mỏi khắp chốn thôn quê
- Thành ngữ “đói mòn đói mỏi”:
+ Cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệt sức
+ Miêu tả một hiện thực đau thương trong lịch sử: Năm 1945, do chính sách cai trị hà khắc của phát xít Nhật và thực dân Pháp đã khiến hơn hai triệu đồng bào ta chết đói
Trang 3+ Câu thơ trĩu xuống, khiến lòng người như nao nao, nghẹn ngào khi nghĩ về kí ức tuổi thơ ấy.
- Hình ảnh “Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” phần nào diễn tả hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của người cha phải bươn chải kiếm sống đủ nghề
- Hình ảnh “đói mòn đói mỏi” và “khô rạc ngựa gầy” là những hình ảnh đậm chất hiện thực, đặc tả được sự xơ xác, tiều tụy của những con người trong cuộc mưu sinh và gợi những xúc cảm thật sâu sắc
và đậm nét của người trong cuộc
- Song ấn tượng và khó quên hơn cả lại là mùi khói bếp Trong những năm đói khổ ấy, cháu cùng bà nhóm lửa:
“Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
- Ấn tượng nhất là mùi khói bếp: “Khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” Hai câu thơ có giá trị biểu cảm cao Nhà thơ đã lựa chọn được một chi tiết sát thực để vừa miêu tả được chân thực cuộc sống tuổi thơ, vừa diễn tả được những xúc động bâng khuâng, da diết.HÌnh ảnh tả thực : khói nhiều cay, khét vì củi ướt vì sương nhiều và lạnh và vừa là hình ảnh tượng trưng: sự xúc động- nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ mà cồn cào một nỗi nhớ thương bà
- Khói bếp của bà chẳng làm no lòng cháu nhưng đã lưu giữ một kỉ niệm sống mãi không nguôi: mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay” “Còn cay” là còn nguyên nỗi xúc động
- Tác giả nhắc đi nhắc lại từ: “mùi khói”, “khói hun” gợi một sự ám ảnh về một thời gian khó đã đi qua
-Cảm xúc quá khứ hoà lẫn hiện tại và chắc hẳn cảm xúc quá khứ phải sâu sắc lắm mới có thể trỗi dậy mạnh mẽ thế Cho dù năm tháng trôi qua nhưng kí ức ấy trở thành một vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai Qua đó, nhà thơ khẳng định, tuổi thơ dẫu thiếu thốn vật chất nhưng không bao giờ thiếu thốn nghĩa tình
=>Những hình ảnh, những kỉ niệm bên bà, bên bếp lửa đã cho thấy một tuổi thơ gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn và đầy ám ảnh của tác giả Để rồi khi đã đi xa, ông không khỏi xúc động mỗi khi nghĩ về
bà và những kỉ niệm bên bà
b Những kỉ niệm hồi lên tám tuổi:
Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
*Từ mùi khói bếp, nhân vật trữ tình lại nhớ về tiếng chim tu hú trong suốt tám năm ròng của tuổi thơ -những kỉ niệm đầy ắp âm thanh, ánh sáng và -những tình cảm sâu sắc xung quanh cái bếp lửa quê hương được nhắc tới trong đoạn thơ thứ ba
- Gợi khoảng thời gian tám năm ròng cháu được sự yêu thương, che chở, bao bọc của bà
- Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương
- Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà
* Đó là những năm tháng hồn nhiên, trong sáng và vô tư qua hình ảnh tâm tình với chim tu hú:
“Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Tu hú kêu bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”
Trang 4- Thật là hồn nhiên, trong sáng và xúc động làm sao khi nhà thơ tâm tình với chim tu hú Tiếng chim
tu hú – âm thanh quen thuộc của đồng quê mỗi độ hè về, để báo hiệu mùa lúa chin vàng đồng, vải chín đỏ cành
- Tiếng chim tu hú như giục giã, như khắc khoải điều gì tha thiết lắm, khiến lòng người trỗi dạy những hoài niệm nhớ mong !” Nhà thơ đang kể chuyện về bà mà như tách hẳn ra để trò chuyện trực tiếp với bà: “bà còn nhớ không bà…?”… Còn gì hơn với những chi tiết tự sự xúc động như thế? Giọng thơ thủ thỉ như giọng kể của một câu chuyện cổ tích Đưa âm thanh đồng nội ấy vào trong thơ, thi sĩ Bằng Việt quả có một tâm hồn gắn bó sâu nặng với quê hương, xứ sở
-Tiếng tu hú gợi nhớ, gợi thương:
+ Về tám năm kháng chiến chống Pháp “mẹ cùng cha công tác bận không về” bà vừa là cha, vừa là mẹ
+ Về những năm tháng tuổi thơ, về một thời cháu cùng bà nhóm lửa, được sống trong tình yêu thương, đùm bọc, cưu mang trọn vẹn của bà:
“Cháu ở cùng bà, bà kể cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”
Sống trong những năm dài chiến tranh, thế nhưng bà vẫn vững lòng trước mọi tai hoạ, thử thách
Các từ ngữ như “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ
Chữ”bà” và chữ “cháu” được điệp lại 4 lần gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương Được sống trong tình thương là hạnh phúc Người cháu trong bài thơ “bếp lửa” tuy phải sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiều thiếu thốn khó khăn, nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà
Từng việc, từng việc, nhỏ nhẹ, âm thầm Các câu thơ ngắn, liệt kê diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng yêu thương, chăm chút, tỉ mỉ, ân cần mà bà đã dành cho cháu, nuôi cháu lớn khôn, soi sáng trí tuệ và tâm hồn của cháu
=> Bà vừa là bà, vừa là sự kết hợp cao quý giữa tình cha, nghĩa mẹ, ơn thầy
* Tình yêu sự kính trọng bà của người cháu được thể hiện thật chân thành, sâu sắc qua câu thơ:
“Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”
- Sống trong tình yêu thương, chở che của bà, cháu ơn bà biết bao, nên những dòng thơ cứ bật ra thật
tự nhiên mà cảm động: “thương bà khó nhọc”
- Chỉ một mình chữ “thương” thôi cũng đã đủ gói ghém tất thảy tình yêu thương, sự kính trọng và niềm biết ơn sâu nặng mà người cháu dành cho bà của mình Đối với cháu, bà và tình yêu thương sâu lắng của bà dành cho cháu sẽ luôn là một chỗ dựa tinh thần vững chắc, là điểm tựa của tâm hồn cháu mỗi khi cháu gặp thất bại, khó khăn Đến tận bây giờ, dù đang du học nơi xứ người, đang đứng dưới trời tiết giá lạnh, cháu vẫn cảm nhận được cái ấm áp của tình yêu thương, của sự vỗ về, chăm sóc của
bà Càng nghĩ về bà, cháu lại càng thương bà hơn Thương bà ở một mình dưới túp lều tranh xiêu vẹo, thương bà mỗi ngày một mình nhóm lửa, lòng luôn cầu mong đứa cháu được bình an
=>Từ tình yêu thương sâu sắc của mình dành cho bà, tác giả quay sang khẽ trách con chim tu hú, ẩn sau lời trách cứ nhẹ nhàng ấy là bao nỗi nhớ thương Bây giờ là thương bà cô đơn, quạnh vắng
- Hình ảnh con chim tu hú xuất hiện ở cuối khổ thơ với câu hỏi tu từ là một sự sáng tạo độc đáo của Bằng Việt nhằm diễn tả nỗi lòng da diết của mình khi nhớ về tuổi thơ, về bà:
“Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
+ Câu hỏi tu từ “Tu hú… xa” như một lời than thở thật tự nhiên, cảm động vô cùng chân thật, thể hiện nỗi nhớ thương da diết người bà của đứa cháu Những câu thơ giống như lời đối thoại tâm tình của và
bà trò chuyện trong tâm tưởng Tất cả như lời giãi bày, tâm sự của cháu dành cho bà Hình ảnh của bà, hình ảnh của bếp lửa và âm thanh của chim tu hú vang vọng trong một không gian mênh mông khiến bài thơ như phủ sắc bàng bạc của không gian hoài niệm, của tình bà cháu đẹp như trong truyện cổ tích
+ Tiếng chim tu hú gợi ra cả một không gian trống vắng, khơi sâu thêm cái cảm giác quạnh vắng, cô đơn Trên cái nền hoang tàn vì khói lửa chiến tranh, giữa cái âm thanh khắc khoải bồn chồn của tiếng chim tu hú, hai bà cháu nương tựa vào nhau để duy trì cuộc sống Thương con tu hú bơ vơ mới càng thêm thấm thía cái ơn được bà yêu thương, chắm chút, đùm bọc Gợi hình ảnh chú chim đang lạc lõng, bơ vơ, côi cút ngao ngán được ấp ủ, che chở
Trang 5+ Âm điệu tha thiết của câu thơ còn gợi ra tình cảnh vắng vẻ, côi cút, vời vợi nhớ thương của hai bà cháu
+ Đứa cháu được sống trong tình yêu thương, đùm bọc của bà đã chạnh lòng thương con tu hú Và thương con tu hú bao nhiêu, tác giả lại biết ơn những ngày được bà yêu thương, chăm chút bấy nhiêu
=> Trong khi hồi tưởng về quá khứ, người cháu luôn thể hiện nỗi nhớ thương vô hạn và lòng biết ơn
bà sâu nặng
Nhà thơ Anh Thơ cũng từng đồng điệu với những cảm xúc ấy:
“Con đi dài thương nhớ
Mười năm chưa về quê
Tu hú ơi tu hú
Kêu chi hoài vườn xanh?”
3 Những kỉ niệm thời bom đạn chiến tranh
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Trong những năm đất nước có chiến tranh, những khó khăn, ác liệt, biết bao nhiêu đau thương mất mát vẫn luôn in sâu trong tâm trí của người cháu Và có một kỉ niệm trong hồi ức mà người cháu chẳng bao giờ quên được dù đã lớn khôn Tuổi thơ của cháu còn lớn lên trong cảnh hoang tàn đau thương, tang tác, trong khói lửa chiến tranh Quê hương, xóm làng bị giặc tàn phá:
« Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh »
- Cuộc kháng chiến diễn ra ngày càng ác liệt, vì thế cuộc sống của hai bà cháu đã vất vả cơ cực lại càng khó khăn hơn Giặc càn quét, đốt làng, đốt xóm và gia sản cuối cùng của bà cháu bị lửa thiêu rụi
- Câu thơ với động từ “cháy” được lặp lại, từ ghép “tàn rụi” được tách ra khiến hiện thực thời chiến gợi sự tàn phá, hủy diệt khủng khiếp của chiến tranh, không chỉ lấp đầy câu thơ mà còn tràn ngập khắp không gian ký ức Trong từ láy “lầm lụi” hiện lên dáng hình của những con người chịu nhiều đau thương, mất mát, làm cả câu thơ như trĩu xuống
- Song càng trong hoàn cảnh gian khó cháu vẫn luôn có bà là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất
- Bà là người giàu tình yêu thương và đức hi sinh vì con cháu, vì đất nước bà nhận hết về mình phần gian khổ
- Trước hiện thực khó khăn, ác liệt ấy, bà vẫn mạnh mẽ, kiên cường không kêu ca, phàn nàn Điều đó được thể hiện qua lời dặn dò của bà đối với cháu:
“Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo ở nhà vẫn được bình yên!”
- Và nổi bật lên là hình ảnh người bà với một sức sống mãnh liệt và nghị lực bền bỉ Từ láy “đinh ninh” diễn tả một điều gì đó chắc chắn từ trong tâm khảm, một lời nói nhẹ nhàng mà vẫn mạnh mẽ, trái ngược hẳn với quang cảnh “lầm lụi” xung quanh
- Dẫu túp lều tranh đã bị đốt rụi, nơi nương thân của hai bà cháu không con, bà vẫn đứng vững, chống chọi với tất cả nghịch cảnh để dắt cháu vượt qua khó khăn Bà đã gồng mình, lặng lẽ gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là điểm tựa vững chắc cho tiền tuyến
- Chính từ sự “vững lòng” ấy mà người đọc cảm nhận được góc khuất trong tâm hồn bà, nơi ẩn giấu lòng yêu nước và tấm lòng hy sinh của người phụ nữ ấy
- Tác giả - và cũng là đứa cháu – đã thật tinh tế và nhạy cảm khi thể hiện được hạt ngọc ẩn kín trong tâm hồn người bà Bà không còn là của riêng Bằng Việt nữa mà đã hòa cùng vào biết bao người phụ
nữ Việt Nam khác, những con người cần mẫn, giàu đức hy sinh, là chỗ dựa tinh thần lớn lao cho tiền
Trang 6tuyến, góp một phần vô cùng quan trọng vào chiến thắng chung của nhân dân Mạnh mẽ là vậy nhưng trong hình ảnh bà vẫn có cái hồn giản dị, tự nhiên vốn có
- Lời bà dặn cháu thật nôm na nhưng vô cùng chân thực và cảm động – hậu phương có gian khổ, thiếu thốn, nhớ nhung, mất mát,… cách mấy vẫn phải giấu đi, nén lại trong lòng cho tiền tuyến được an lòng Bà không chỉ thương con thương cháu mà còn vô cùng ân cần, chu đáo, hiểu được tâm trạng của người con đang đi chiến đấu
- Trong suốt cả bài thơ, chỉ có ở ba câu thơ cuối khổ bốn người đọc mới được tiếp xúc trực tiếp với
bà Với cách nói bình dị, mộc mạc (“kể này, kể nọ”, “cứ bảo”…), bà hiện lên thật gần gũi, thân thương, khiến ta có cảm giác như được nghe tiếng nói của chính bà mình vậy Ngay cả cái cách bà gọi cháu là “mày” cũng thể hiện một sự thương yêu, trìu mến vô bờ, một cách gọi vô cùng dân dã
=>Những câu thơ không cầu kì, gọt giữa hay có nghệ thuật đặc biệt gì cả, chỉ giản dị đến chân thành như lời nói của bà Nhưng từ đó, tấm lòng người bà ấy hiện lên mênh mông như biển cả, lặng sóng thôi nhưng bát ngát tình thương con thương cháu và sâu thẳm với một nghị lực vô cùng bền vững
=> Bà là người phụ nữ có nghị lực sống mạnh mẽ, phi thường.Bà đã góp phần làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam vốn giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh
=> Qua dòng hồi tưởng của cháu về những ký ức và kỷ niệm đẹp bên bà, ta cảm nhận được nét đẹp đáng quý trong tâm hồn bà, bà là người chịu thương, chịu khó, tần tảo Vẻ đẹp của bà vừa mang vẻ đẹp truyền thống ngàn đời của người phụ nữ Việt Nam và lấp lánh ánh sáng vẻ đẹp của những người
bà, người mẹ trong những năm kháng chiến vẻ đẹp của thời đại Hồ Chí Minh
* Liên hệ mở rộng : Chiến tranh đã gây ra bao đau thương, mất mát, tàn phá khắp mọi nơi trên đất nước ta, cướp đi của con người tất cả mọi thứ Chính chiến tranh đã gây nên bi kịch của tình cha con trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng, khơi dậy những vần thơ vang tiếng căm thù của những nhà thơ cách mạng… Nhưng với Bằng Việt, cũng từ đó mà ông mới cảm nhận được vẻ đẹp trong góc khuất của tâm hồn bà
4 Những suy ngẫm về bà và bếp lửa
Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà nhận được sự yêu thương, đùm bọc của bà bên bếp lửa quê hương, người cháu trở về hiện tại để suy ngẫm về cuộc đời và lẽ sống của bà và cũng là để thương bà nhiều hơn, nhớ bà nhiều hơn Hình ảnh bà luôn gắn liền vời hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa Có thể nói bà là “người nhóm lửa”, lại cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn
ấm nóng và toả sáng trong mỗi gia đình
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
a Những suy ngẫm về bà và bếp lửa
-Trong bài thơ, trên dưới mười lần tác giả nhắc đến bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà, với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương Và đến đây, tác giả đã dành một khổ thơ để nói lên những suy ngẫm về bếp lửa:
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một bếp lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngon lửa chứa niềm tin dai dẳng ”
- Hình ảnh bếp lửa ở dòng thơ đầu là hình ảnh tả thực về sự vật hữu hình, cụ thể, gần gũi và gắn liền với những gian khổ của đời bà
-“Rồi sớm rồi chiều” ẩn chứa cả một dòng thời gian âm ỉ, dai dẳng mang theo cả cuộc đời bà, mang theo bao tâm tình của đứa cháu phương xa
- Từ hình ảnh “bếp lửa” hữu hình, tác giả đã liên tưởng đến “ngọn lửa” vô hình “lòng bà luôn ủ sẵn” với ý nghĩa trừu tượng và khái quát:
Trang 7+ Bếp lửa bà nhóm lên không chỉ bằng những nguyên liệu bên ngoài mà còn bằng chính ngọn lửa trong lòng bà – nó đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình yêu thương “luôn ủ sẵn” trong lòng bà, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt
+ Từ láy “dai dẳng” như càng tiếp thêm cho sự bền bỉ, lan tỏa của hình ảnh ấy
+Đến nỗi tới bây giờ “ngọn lửa chứa niềm tin ấy” vẫn còn cháy trong cháu, mang theo bao cảm xúc không thể nói hết được mà phải dùng đến một dấu chấm lửng, để lại bao suy ngẫm trong lòng độc giả + Ngọn lửa bền bỉ và bất diệt ngày ngày bà nhóm cũng chính là nhóm những kỉ niệm lòng, niêm tìn thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu
+Bà không để lại cho con cháu những giá trị vật chất thông thường mà là một điều quý giá hơn gấp bội : ngọn lửa của sự sống– ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp Khái quát lên, bà
là hiện thân cho vẻ đẹp thiêng liêng của người giữ lửa, truyền lửa
- Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian: “rồi sớm rồi chiều”, các động từ “nhen”,
“ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của những người phụ nữ Việt Nam
- Điệp ngữ - ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào
=> Lời thơ thủ thỉ, dịu êm mà sao tiếng lòng của thi sĩ như có sức mạnh thần kì làm người đọc thấy trong tim mình như có lửa bùng lên Thông qua những suy ngẫm về hình ảnh bếp lửa, tác giả đã khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp tần tảo, đức hi sinh, tính kiên trì, nhẫn nại, đầy yêu thương của bà là nguồn nhiên liệu vô tận làm bừng sáng lên ngọn lửa vĩnh cửu truyền cảm ấy nó lấp lánh như một thứ ánh sáng diệu kì Như thế, hình ảnh bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp
b Những suy ngẫm về bà và cuộc đời bà
Chuyển ý: Tám câu thơ tiếp theo là những suy nghĩ sâu sắc của nhà thơ, của đứa cháu về người bà kính yêu, về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta
* Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng Để rồi mỗi khi nhớ lại, người cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
- Chất biểu cảm trữ tình vẫn còn nhưng đã dòng suy tưởng đã nhuốm màu nghị luận
- Thời gian có thể trôi, mọi sự có thể biến đổi, song chỉ duy nhất một sự bất biến: Suốt cả một cuộc đời lận đận, vất vả, bà vẫn “giữ thói quen dậy sớm” để làm công việc nhóm lửa, ”
-Hình ảnh: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”
+ Câu thơ sử dụng từ láy gợi hình với hai thanh trắc “lận đận” phép đảo ngữ kết hợp với hình ảnh ẩn
dụ biết “biết mấy nắng mưa” đã diễn tả chân thực cảm xúc của cháu và hình ảnh khó khăn, vất vả, lam lũ, thêm sự hy sinh cần mẫn của bà
+Để chỉ những thăng trầm của cuộc sống càng tô đậm thêm sự hy sinh cần mẫn của bà Trải qua tất cả những khó khăn, thách thức ấy, hình ảnh bà vẫn chưa bao giờ tách rời với hình ảnh bếp lửa Quả thật cuộc đời bà đã đi cùng đất nước qua những năm tháng gian lao vất vả nhất nạn đói năm 1945, đi cùng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
-Cuộc đời của bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình Cảnh nghèo nên bà suốt đời vất vả Từ “lận đận” thể hiện tấm lòng đôn hậu và đức hi sinh của bà
- “Mấy chục năm rồi”, lời thơ kể mà như đếm, gợi lên cả một tuổi thanh xuân, cả một đời người thức khuya dậy sớm gắn liền với khói bếp cay nồng
- Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “mấy chục năm” đi liền với từ láy tượng hình “lận đận” và hình ảnh
ẩn dụ “nắng mưa” đã diễn tả một cách sâu sắc và trọn vẹn về cuộc đời đầy những lận đận, gian nan, vất vả của bà nhưng ta cũng cảm nhận được sự tần tảo, đức hy sinh vẫn nguyên vẹn như thuở nào
=> Tình thương yêu tác giả dành cho bà được thể hiện trong từng câu chữ Tình cảm ấy giản dị, chân thành mà sâu nặng thiết tha
Trang 8* Bà không chỉ nhóm lửa bằng đôi tay khẳng khiu, gầy guộc, mà còn bằng tất cả tấm lòng đôn hậu
“ấp iu nồng đượm” đối với cháu:
-Thời gian trôi đi “mấy chục năm rồi” hình ảnh người bà vẫn không có gì thay đổi Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Bà cần mẫn lo toan, chịu thương, chịu khó, thức khuya dậy sớm vì miếng cơm manh
áo của cháu và con trong gia đình Bà vẫn cần mẫn, dẻo dai, dịu dàng và khéo léo trong công việc nhóm lửa:
“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm”
-Đến đây ta lại bắt gặp sự trở lại của từ “ấp iu” Đây là cách sử dụng rất sáng tạo của nhà thơ “ấp iu”
là từ ghép tạo bởi hai từ ấp ủ và nâng niu gợi sự cẩn thận, kiên nhẫn, gợi bàn tay khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa- người bà
-Ngẫm về bà, người cháu còn thấy bà là người giàu lòng yêu thương, che chở nâng niu, bà là người nhóm lửa, giữ lửa và truyền lửa : “ Nhóm nhỏ…”
- Điệp ngữ “nhóm” được lặp đi, lặp lại 4 lần ở đầu mỗi câu thơ trong đoạn thơ, đan kết với những chi tiết tả thực, cùng với biện pháp liệt kê
+ Đã lan tỏa và khơi dậy biết bao yêu thương, biết bao rung cảm và xúc động trong lòng người đọc khẳng định công việc nhóm bếp luôn gắn liền với bà
+ Đồng thời gợi ra ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng bà, bà là người nhóm lên trong lòng cháu ngọn lửa của tình yêu thương, của đức hy sinh cao cả
+ Cùng có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp nhưng từ “nhóm” đứng đầu mỗi dòng mang đến nhiều ý nghĩa và liên tưởng khác nhau:
-Khi nhóm lên "lửa ấp iu nồng đượm", để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh buốt của sương sớm và bà
đã dạy cho cháu tình yêu thương những người ruột thịt
-“Nhóm bếp lửa”, “nhóm nồi xôi gạo” là hình ảnh tả thực công việc của bà Nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình yêu thương vô hạn của bà
-Nhóm tình quê "khoai sắn ngọt bùi", bà dạy cháu tình yêu thương xóm làng, yêu mảnh đất quê nghèo
-"Nhóm nồi xôi gạo mới mẻ chung vui", bà dạy cháu phải luôn mở lòng ra với mọi người xung quanh Lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới mùa gặt là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt, sẻ bùi
=>Và cũng từ đó, bà cũng nhắc nhở cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩa tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã cùng trải qua
Những năm tháng mà hai bà cháu sống trong sự đùm bọc, san sẻ cùng xóm làng với “nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”
Câu thơ như một lời răn dạy cháu hãy luôn sống chan hòa và biết nghĩ đến mọi người, đừng ích kỉ cho riêng mình Chính những bài học thầm lặng và gắn liền với cuộc sống ấy đã rọi vào tâm hồn người cháu và thắp sáng những ước mơ, khát vọng
- Các từ ngữ “ấp iu nồng đượm”, “yêu thương”, “ngọt bùi”, “chung vui” thể hiện sự tinh luyện của một ngòi bút nghệ thuật, đã diễn tả thật hay tình thương, niềm vui, sự no ấm, hạnh phúc mà bà đã mang lại cho con cháu
- “Nhóm niềm yêu thương”, “nhóm dậy cả những tâm tình” là hình ảnh ẩn dụ về công việc thiêng liêng và cao quý nhất của con người Bà đã khơi dậy tình cảm nồng ấm trong tâm hồn cháu và những người xung quanh niềm yêu thương, sự chia sẻ,tình làng nghĩa xóm, quê hương
“Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” ? + Khơi dậy những kỉ niệm tuổi thơ, bà là cội nguồn của niềm vui, của ngọt bùi nồng đượm, là khởi nguồn của những tâm tình tuổi nhỏ
=> Bà không chỉ thấu hiểu cháu mà còn là tấm gương cho cháu noi theo Ký ức tuổi thơ tuy không rõ ràng nhưng vẫn ghi dấu từng hình ảnh cụ thể “khoai sắn”, “xôi gạo” và tượng trưng “yêu thương”,
“tâm tình” đan xen, quấn quýt vào nhau giữa cuộc sống đời thường và giá trị tinh thần Bà thì nhóm lửa còn Bằng Việt thì nhóm lên biết bao hoài niệm, khơi dậy bao đợt sóng yêu thương trong lòng người đọc Hình ảnh người bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa, truyền niềm tin và sức sống cho người cháu Người bà ấy giản dị nhưng lại có một sức mạnh kì diệu Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà – người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh
Trang 9-Hình ảnh “bếp lửa” đơn sơ, giản dị mang ý nghĩa khái quát đã trở thành kỷ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài Người cháu yêu bà, nhờ hiểu bà
mà hiểu thêm dân tộc mình, nhân dân mình Hình ảnh bà luôn gắn bó với hình ảnh bếp lửa hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà- người phụ nữ Việt Nam muôn thuở với vẻ đẹp nhẫn lại đầy yêu thương Bếp lửa là tình bà ấm nóng, bếp lửa là tay bà chăm chút, bếp lửa gợi sự khó khăn gian khổ của đời bà Ngày ngày bà nhóm nên” bếp lửa” cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương, chi chút dành cho con cháu và cho mọi người Chính vì thế nhà thơ đã cảm nhận được hình ảnh bếp lửa giản dị, thân thương và kỳ diệu thiêng liêng Để rồi từ đó nhà thơ thốt lên trong bao nhung nhớ và trân trọng:
“ Ôi kì lạ và thiêng liêng Bếp Lửa”
+ Câu thơ với từ cảm thán “ôi” như chất chứa, dồn nén biết bao điều Kết hợp với hình ảnh ẩn dụ bếp lửa kì lạ và thiêng liêng khẳng định tấm lòng của bà ấm áp như bếp lửa, nhờ có bếp lửa mà cháu được nuôi dưỡng khôn lớn
Trong đó là sức mạnh “kì lạ” đã nhóm dậy cả một chân trời kỉ niệm, cả một tuổi thơ Trong đó là sự
“thiêng liêng” nhà thơ đã trân trọng gìn giữ trong tim nơi đất khách quê người Ngay cả dấu gạch ngang cũng là một dấu lặng đầy nghệ thuật, là sự im lặng rất lạ, rất riêng giữa các từ, chứa đựng bao cảm xúc không thể diễn tả hết Hãy lắng nghe sự im lặng đó để cảm nhận một lần nữa sự “kì lạ và thiêng liêng” kia, để thấu được tiếng lòng thi sĩ dội lại trong đó Dấu gạch ấy như khoảng lặng trong bản nhạc để làm nền cho hai tiếng “bếp lửa” ngân lên diễn tả bao tâm tình, bao sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với bà Đến đây, ta mới thực sự cảm nhận được toàn bộ vẻ đẹp của hình ảnh “bếp lửa” Hình ảnh ấy cùng chất trữ tình kết hợp với bình luận đã trở thành cái nền hoàn hảo để mở ra dòng suy ngẫm của cả tác giả lẫn độc giả về cuộc đời tần tảo và nghĩa tình của bà
Câu cảm thán, với giọng điệu trữ tình đã thể hiện sâu sắc hình ảnh của người cháu vượt lên trước hình ảnh người bà
Như vậy từ những ngọn lửa của bà cháu nhận ra niềm tin dai dẳng về ngày mai, cháu hiểu được linh hồn của cả dân tộc vất vả, gian lao và nghĩa tình
Đoạn thơ sáng tạo hình ảnh bếp lửa vừa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng
Đoạn thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả, biểu cảm, bình luận Giọng thơ và thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc và suy ngẫm
5 Nỗi nhớ bà và bếp lửa
* Nỗi nhớ bà và bếp lửa gợi lên một thực tại, người cháu năm xưa đã lớn khôn, trưởng thành, đã được chắp cánh bay xa, được làm quen với những chân trời rộng lớn:
“Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
- Dấu chấm xuất hiện ở giữa dòng thơ đầu tạo thành một sự ngắt nhịp dài giống như quá khứ đã trôi đi quá xa so với hiện tại (từ 4 tuổi, 8 tuổi đến trưởng thành); gợi sự biến đổi của không gian (từ căn bếp của bà đến những khoảng chân trời rộng lớn)
- Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay cao, bay xa đến những chân trời cao rộng có “khói trăm tàu”,” lửa trăm nhà”,”niềm vui trăm ngả”
- Điệp từ “có” kết hợp với thủ pháp liệt kê:
+ Cho thấy người cháu đã có những thay đổi lớn trong cuộc đời, đã tìm được bao niềm vui mới + Nhưng giữa “ngọn khói trăm tàu, Ngọn lửa trăm nhà” thì người cháu không thể quên được ngọn lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài
-Ở nước Nga xa xôi lạnh giá, bếp ga, bếp điện đã thay thế bếp củi nhem nhuốc khói, nhưng hình ảnh người bà và bếp lửa sớm mai vẫn đọng lại mãi trong tâm trí cháu Bút pháp liệt kê và phép lặp cấu trúc “có…trăm…” đã vẽ nên một chân trời bao la rộng lớn với biết bao điều vui tươi, mới mẻ Thế
Trang 10nhưng cuộc sống hiện đại ấy vẫn không thể làm cháu nguôi đi nỗi nhớ đau đáu, thường trực về bà, một nỗi nhớ tới mức “chẳng lúc nào quên nhắc nhở”
+ Hồ Cẩm Sa từng thốt lên những câu thơ đồng cảm với Bằng Việt :
“Cuộc đời tuy chất vật
Nhưng tâm hồn thảnh thơi
Bởi bóng bà luôn tỏa
Che đời cháu, bà ơi !”
+ Người bà nói riêng hay người phụ nữ trong gia đình nói riêng luôn gắn với những gì gần gũi, thân thiết nhất Họ giữ cho nhịp sống của tổ ấm được duy trì, là nơi bình yên cuối cùng để ta trở về sau những thăng trầm của cuộc đời Trong dáng hình bình khiêm nhường quá đỗi ấy ẩn giấu một trái tim lớn đầy lòng nhân ái, để họ trở thành hiện thân của gia đình, quê hương, đất nước
+ Nay ở nơi đất khách quê người, những câu thơ như hát ra từ ngọn lửa ấm nóng năm xưa của bà càng gợi nhắc để người đọc thấm thía điều đó Niềm kính yêu và trân trọng đối với bà đã trở thành sự gắn
bó với gia đình, tình yêu và nỗi nhớ quê hương, đất nước cũng như lòng biết ơn của Bằng Việt đối với cội nguồn che chở nơi ấy
Thế nhưng cuộc sống hiện đại ấy vẫn không thể làm cháu nguôi đi nỗi nhớ đau đáu, thường trực về
bà, một nỗi nhớ tới mức:
« Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này nhóm bếp lửa lên chưa ? »
Để mỗi ngày, mỗi giờ lòng ông đều vang lên một câu hỏi: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?” Bếp lửa đã trở thành tấm lòng, niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên hành trình dài rộng của cuộc đời có nghĩa là từ một bếp lửa đơn sơ, giản dị của bà nhiều bếp lửa khác đã được nhen lên,
sự sống cứ thế truyền đời, bất diệt Đến đây ta có thể khẳng định: bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa, truyền niềm tin Bếp lửa đã nâng cao để trở thành biểu tượng cho tình nghĩa gia đình, tình yêu quê hương, đất nước Câu hỏi tu từ và dấu chấm lửng khép lại bài thơ đã tạo ra một kết thúc
mở với nỗi nhớ khôn nguôi và niềm hoài vọng thiết tha, đau đáu
-Tuy thế, cháu vẫn khôn nguôi nhớ về bà và bếp lửa quê hương, nhớ về góc bếp, nơi nắng mưa hai bà cháu có nhau Mỗi ngày cháu đều tự hỏi “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó Bà và quê hương yêu dấu là điểm tựa, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cháu trên mỗi bước đường đời
=> Khổ thơ chứa đựng đạo lí thủy chung, cao đẹp bao đời của người Việt: “uống nước nhớ nguồn” Đạo lí ấy được nuôi dưỡng ở mỗi tâm hồn con người từ thuở ấu thơ, để rồi như chắp cánh để mỗi người bay cao, bay xa trên hành trình cuộc đời