1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương Luật Quốc tế

80 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Luật Quốc Tế
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Thể loại đề cương
Năm xuất bản 2023
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG LUẬT QUỐC TẾ (Học viện Hành chính Quốc gia Khóa 21) Thi ngày: 18122023 15h30 DẠNG ĐỀ THI VÀ CÁCH LÀM BÀI I. Trắc nghiệm (1 câu 5 ý 5 điểm) Cơ sở pháp lý: Giải thích: Kết luận: Đúng hoặc sai II. Lý thuyết (1 câu 5 điểm) Khái niệm Cơ sở pháp lý: Quốc tế và Việt Nam Phân tích những ý chính Ví dụ (cập nhập tính thời sự) Liên hệ: chọn 1 trong 3 cách sau: + C1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước + C2. So sánh độ tương thích của PLVN và PLQT + C3. Đánh giá ưu và nhược điểm của việc áp dụng vấn đề đó tại VN III. Tài liệu mang đi thi: Giáo trình Luật Quốc tế; Hiến pháp 2013; Luật Biển VN 2012; Luật Biên giới 2003. Hiến chương LHQ; Luật Quốc tịch VN 2008; Luật Điều ước quốc tế 2016 Ngoài ra các Công ước QT thì nên tổng hợp lại thành 1 file nhé (tránh cồng kềnh). Câu 1. Tóm tắt nội dung cơ bản của 7 nguyên tắc Luật quốc tế Định nghĩa: Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung(Jus cogens) đối với mọi chủ thể luật quốc tế. Đặc điểm: Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế mang 4 đặc điểm cơ bản sau: Tính mệnh lệnh bắt buộc chung. Chuẩn mực để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế. Có quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Ghi nhận rộng rãi trong văn kiện quốc tế. Các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế: 1. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Cơ sở pháp lý: + Khoản 1, điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc 1945 + Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24101970. Nội dung của nguyên tắc: Bao gồm 5 nội dung chính + Tôn trọng về quốc thể; + Tham gia giải quyết các vấn đề; + Tham gia các tổ chức quốc tế; + Xây dựng văn bản pháp luật; + Hướng các quyền ưu đãi, miễn trừ; Ngoại lệ của nguyên tắc: + Quyền phủ quyết; + Quyền tự hạn chế chủ quyền; + Quyền bị hạn chế chủ quyền VD minh họa: Khi phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên, bao gồm Việt Nam, đã tự nguyện chấp nhận sự bất bình đẳng giữa 05 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an và các quốc gia thành viên còn lại. Anh, Mỹ, Pháp, Nga và Trung Quốc luôn có mặt trong Hội đồng Bảo an; trong khi 09 ủy viên không thường trực sẽ được bầu theo nhiệm kỳ 02 năm và thậm chí không được đảm nhận vị trí ủy viên hai nhiệm kỳ liên tục. Năm ủy viên thường trực còn có quyền phủ quyết (veto) tất cả các dự thảo quyết định của Hội đồng Bảo an. Sự bất bình đẳng thể hiện rất rõ nét, nhưng là sự bất bình đẳng dựa trên sự đồng ý tự nguyện của 188 quốc gia còn lại. Các quốc gia hoàn toàn có thể không phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc, hoặc tự tạo ra một tổ chức bình đẳng hơn (ví dụ như ASEAN). Tại Hội đồng Bảo an, các quốc gia đã tự mình từ bỏ vị thế bình đẳng pháp lý của mình. 2. Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực Cơ sở pháp lý: + Khoản 4, điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc 1945; + Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24101970; + Một số văn bản quốc tế; Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc 1974 về định nghĩa xâm lược; Định ước của Hội nghị Henxinki năm 1975 về an ninh và hợp tác của các nước châu Âu; Tuyên bố năm 1987 về việc Nâng cao hiệu quả của nguyên tắc khước từ đe dọa dùng sức mạnh hoặc đe dùng sức mạnh trong quan hệ quốc tế và một số văn kiện của phong trào không liên kết, tổ chức ASEAN... Nội dung của nguyên tắc: Gồm 5 nội dung: + Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác; + Cấm hành vi trấn áp bằng vũ lực; + Không cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ nước mình để xâm chiếm quốc gia thứ ba; + Không tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội dung hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác; + Không tổ chức các băng nhóm vũ trang, lực lượng vũ trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào lãnh thổ quốc gia khác; Ngoại lệ của nguyên tắc: + Quyền tự vệ chính đáng (Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc 1945 ). + Sử dụng vũ lực theo quyết định của Hội đồng bảo an(Điều 39 và các điều từ 42 đến 47 Hiến chương Liên hợp quốc) VD minh họa: Triều Tiên đe dọa sử dụng vũ lực Hôm 1362009, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên dọa sẽ sử dụng vũ lực nếu Mỹ cố tình cô lập họ sau khi Hội đồng bảo an áp đặt lệnh trừng phạt mở rộng với quốc gia này từ sau khi vụ thử hạt nhân lần thứ hai từ tháng 5. Theo lời phát ngôn viên ngoại giao của nước này, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tuyên bố sẽ bắt đầu chương trình làm giàu Uranium và vũ khí hóa plitonium tại nhà máy vũ khí hạt nhân của họ. Nghị quyết của Hội đồng bảo an cho phép các quốc gia thành viên có quyền kiểm tra hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy, đường bộ và hàng không của Triều Tiên, yêu cầu họ tịch thu và phá hủy bất cứ hàng hóa nào vận chuyển vi phạm nghị quyết của Hội đồng bảo an. Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đã khiến cho tình hình căng thẳng leo thang trong vài tháng qua khi họ tiến hành một loạt các vụ thử tên lửa, tái khởi động nhà máy sản xuất plotinium cấp độ vũ khí và thực hiện vụ thử hạt nhân lần hai. Hai nhà ngoại giao cấp cao tham gia đàm phán về nghị quyết trừng phạt của Liên hợp quốc phát biểu rằng, Trung Quốc không bao giờ nói rõ thực sự họ có ý định thực hiện nghị quyết trừng phạt mới hay không. Đại sứ Trung Quốc, Zhang Yesui phát biểu nghị quyết này cho thấy sự phản đối gay gắt của cộng đồng quốc tế đối với tham vọng hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời ông cũng thúc giục các nước thận trọng khi kiểm tra hàng hóa của Triều Tiên và ông nhấn mạnh “dù trong hoàn cảnh nào cũng không nên đe dọa sử dụng vũ lực”. 3. Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế Cơ sở pháp lý: + Khoản 3, điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc 1945 Nội dung: Theo điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc 1945 các bên tranh chấp quốc tế giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp: + đàm phán(phương pháp tốt nhất) + điều tra; + trung gian; + hòa giải; + trọng tài; + tòa án; + thông qua các cơ quan hay tổ chức quốc tế khu vực; + bằng các biện pháp khác; Ngoại lệ của nguyên tắc: + Đây là một nguyên tắc không tồn tại bất kỳ ngoại lệ nào. + Hội đồng bảo an Liên hợp quốc luôn phải tôn trọng biện pháp giải quyết hòa bình mà các bên lựa chọn. => Trong trường hợp các bên tự lựa chọn mà vẫn không giải quyết triệt để vấn đề, hội đồng bảo an có quyền kiến nghị các bên áp dụng các biện pháp khác nhằm nhanh chóng chấm dứt những mối đe dọa. Vd minh họa: Giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan Vịnh Thái Lan là một bờ biển nửa kín, giới hạn bởi bờ biển của bốn quốc gia Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia. Ngày 1851973, Thái Lan đơn phương vạch ranh giới ngoài cửa thềm lục địa Thái Lan trong Vịnh và công bố các tọa độ của con đường. Việt Nam và Thái Lan đã quy định phạm vi thềm lục địa của mình và hình thành nên vùng chồng lấn khoảng 6000km2 giữa hai nước. Vùng biển chồng lấn là vùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Sau nhiều năm đàm phán, thương lượng, tháng 81997, hai nước này đã ký hiệp định vạch đường biên giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai bên theo một đường dài 137km. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trọng Vịnh Thái Lan ký ngày 98 và chấm dứt tranh cãi về việc giải thích và áp dụng luật biển trong phân định vùng chồng lấn có liên quan giữa hai nước. 4. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác Cơ sở pháp lý: + Khoản 7, điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc 1945; + Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24101970; + Một số văn bản quốc tế: Tuyên bố của Liên hợp quốc về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa năm 1960; Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị các nước Á Phi năm 1955 tại Băngđung; Điều ước cuối cùng của Hội nghị Henxinki về An ninh hợp tác châu Âu năm 1975; Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, Hiệp định Pari,... Nội dung: + Cấm can thiệp, đe dọa vũ trang chống lại chủ quyền của quốc gia; + Cấm dùng mọi biện pháp để buộc quốc gia phụ thuộc vào mình; + Cấm dùng mọi biện pháp để lật đổ chính quyền của quốc gia khác; + Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở quốc gia khác; + Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia. Ngoại lệ của nguyên tắc: + Tiến hành biện pháp cưỡng chế trong trường hợp có đe dọa hòa bình hoặc hành động xâm lược (Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc 1945). + Can thiệp có sự đồng ý của quốc gia sở tại. Vd minh họa: Cuộc khủng hoảng chính trị tại Syria bắt đầu từ tháng 32011 và bùng nổ tháng 82011. Cho đến nay cuộc khủng hoảng chính trị này vẫn chưa hoàn toàn kết thúc. Cuộc khủng hoảng chính trị này đã gây những thiệt hại, tổn thất nặng nề cho người dân nước này. Liên hợp quốc đã ra lệnh ngừng bắn ngay lập tức để cho phép viện trợ nhân đạo vào Syria nhưng tình hình vẫn không khả quan. Trước tình hình đó, cộng đồng quốc tế đã có nhiều quan điểm trái chiều nhau. Ngày 16022012, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết do Liên đoàn Arab(AL) đề xuất về chấm dứt bạo lực và xung đột ở Syria với 137 nước ủng hộ, 12 nước phản đối và 17 nước bỏ phiếu trắng, yêu cầu chính phủ Syria thực hiện 5 yêu cầu: chấm dứt các hoạt động bạo lực; trả lại tự do cho những người thuộc phe đối lập bị bắt giữ; lực lượng quân sự phải rút ra khỏi những khu dân cư; đảm bảo tự do cho các cuộc tuần hành hòa bình; đảm bảo tự do đi lại cho các phải đoàn của AL và truyền thông thế giới. Trong đó, Nga cùng với Iran và Trung Quốc giữ quan điểm rằng: liên hợp quốc không được can thiệp vào công việc nội bộ của Syria. 5. Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác Cơ sở pháp lý: + Khoản 3, điều 4 Hiến chương Liên hợp quốc 1945; + Điều 55, điều 56 Hiến chương Liên hợp quốc 1945; + Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24101970; Nội dung: + Hợp tác quốc tế để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; + Hợp tác tôn trọng quyền con người và quyền tự do của các quốc gia; + Tiến hành quan hệ quốc tế theo nguyên tắc bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ; + Thực hiện hành động theo quy định của Hiến chương; + Hợp tác để cùng phát triển. Ngoại lệ của nguyên tắc: Vd minh họa: Trong khuôn khổ EU, trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện, các quốc gia đã đạt được mức độ hợp tác cao nhất trong hầu hết các lĩnh vực. Nhắc đến EU, người ta thường nhắc đến một liên minh thống nhất, giữa các quốc gia thành viên của nó gần như không tồn tại đường biên giới quốc gia. 6. Nguyên tắc dân tộc tự quyết Cơ sở pháp lý: + Khoản 2, Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc 1945; + Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24101970; + Một số văn bản quốc tế: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960; Hai công ước về các quyền dân sự chính trị, quyền kinh tếxã hộivăn hóa năm 1966; Nội dung: + Được thành lập hoặc cùng dân tộc khác thành lập quốc gia độc lập trên cơ sở tự nguyện; + Tự giải quyết các vấn đề của quốc gia; Ngoại lệ của nguyên tắc: Nguyên tắc này không thừa nhận bất kỳ ngoại lệ nào. 7. Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda) Cơ sở pháp lý: + Khoản 2, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc 1945; + Công ước viên 1969 về Luật quốc tế + Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24101970; Nội dung: + Quốc gia thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế của mình. + Tuân thủ điều ước quốc tế. + Không cho phép quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét điều ước quốc tế. Ngoại lệ của nguyên tắc: + Quốc gia không phải thực hiện điều ước quốc tế nếu các bên vi phạm luật pháp quốc gia. + Nội dung điều ước quốc tế trái với Hiến chương thì không phải thực hiện điều ước. Vd minh họa: Việt Nam và Trung Quốc có kí kết một Điều ước về việc xác lập ranh giới lãnh hải giữa hai quốc gia. Giả sử Trung Quốc có sự thay đổi chế độ từ XHCN sang TBCN cũng không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ thực hiện Điều ước ký giữa hai quốc gia. Câu 2. Thực tiễn bảo lưu của Việt Nam Theo tổng hợp, Việt Nam đưa ra bảo lưu lần đầu tiên là vào năm 1957 (lúc đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) với các Công ước Geneva về luật nhân đạo quốc tế năm 1949. Bảng tổng hợp dưới đây được xếp theo năm Việt Nam đưa ra bảo lưu. Năm Điều ước quốc tế 2016 Công ước quốc tế về Trấn áp hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005 UNTS:1 “1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không xem Công ước này là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ thực hiện việc dẫn độ phù hợp với quy định pháp luật trong nước trên cơ sở các điều ước về dẫn độ và nguyên tắc có đi có lại. 2. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi khoản 1 của Điều 23 Công ước này.” Ghi chú: Điều 23(1) về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc Toà ICJ. 2015 Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG) năm 1980 (xem Điều 1, Quyết định số 25882015QĐCTN ngày 24112015): “Điều 1. Gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đã được thông qua vào ngày 1141980 tại Viên, Áo và bảo lưu quy định về hình thức của hợp đồng nêu tại Điều 11, Điều 29 và phần II của Công ước, phù hợp với quy định tại Điều 12 và Điều 96 của Công ước.” Trong Thông báo của Bộ Ngoại giao ngày 05.02.2016 về việc Công ước có hiệu lực với Việt Nam, nội dung trên được cụ thể hoá như sau: “Khi phê chuẩn Công ước nói trên, … Việt Nam đã đưa ra Tuyên bố theo quy định tại Điều 12 và Điều 96 của Công ước: ‘Bất kỳ quy định nào của Điều 11, Điều 29 hoặc Phần II của Công ước này cho phép hợp đồng mua bán, việc thay đổi hoặc đình chỉ hợp đồng theo sự thoả thuận của các bên hoặc đơn chào hàng hoặc chấp nhận đơn chào hàng hay bất kỳ sự thể hiện ý chí nào của các bên được lập và không phải dưới hình thức viết tay mà dưới bất kỳ hình thức nào sẽ không được áp dụng khi dù chỉ một trong số các bên có trụ sở thương mại đặt ở Việt Nam.” Ghi chú: Điều 96 của Công ước này cho phép một quốc gia thành viên đưa ra tuyên bố lựa chọn không áp dụng các Điều 11, 29 và Phần II. 2014 Công ước Liên hợp quốc về Chống tra tấn (xem Điều 2, Nghị quyết số 832014QH13 ngày 28112014): “Điều 2 Bảo lưu quy định tại Điều 20 và khoản 1 Điều 30 của Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người. Không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 của Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại.” Ghi chú: Khi gửi công hàm thông báo cho LHQ, Việt Nam đã điều chỉnh câu chữ của Nghị quyết để chính xác hơn. Theo đó, thay vì bảo lưu khoản 1, Điều 30, được viết lại thành “phù hợp với khoản 2, Điều 30 Việt Nam không xem bị ràng buộc bởi khoản 1, Điều 30.” Khoản 2, Điều 30 cho phép lựa chọn chịu ràng buộc hoặc không đối với khoản 1 của Điều này, do đó, đối với khoản 1, Điều 30, đây là tuyên bố lựa chọn chứ không phải tuyên bố bảo lưu. Quốc gia phản đối (01): Ba Lan phản đối bảo lưu của Việt Nam đối với Điều 8(2) do trái với mục đích và đối tượng của Công ước. Công ước về Luật điều chỉnh việc sử dụng không vì mục đích giao thông các dòng chảy quốc tế năm 1997 UNTS:2 “Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo lưu quyền được chọn biện pháp giải quyết tranh chấp phù hợp không phụ thuộc vào quyết định của bên liên quan khác.” Quốc gia phản đối (0): Không Công ước quốc tế chống hành vi bắt giữ con tin năm 1979 UNTS:3 “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi quy định tại khoản 1, Điều 16 của Công ước này.” Ghi chú: Điều 16(1) về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc Toà ICJ. Công ước quốc tế về Trấn áp hành vi đánh bom khủng bố năm 1997 UNTS:4 “Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi quy định tại khoản 1 Điều 20 của Công ước này.” Kèm theo là tuyên bố: “1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố rằng các quy định của Công ước quốc tế về Trấn áp hành vi đánh bom khủng bố không thể tự thực hiện được (nonselfexecuting) ở Việt Nam. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ thực hiện đúng các quy định của Công ước thông qua các cơ chế song phương và đa phương các quy định cụ thể trong nội luật của mình và trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại. 2. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo Điều 9 của Công ước này, tuyên bố nước này sẽ không xem Công ước này là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ thực hiện việc dẫn độ phù hợp với quy định pháp luật trong nước trên cơ sở các điều ước về dẫn độ và nguyên tắc có đi có lại.” Công ước về Giao thông đường bộ năm 1968 UNTS:5 “Phù hợp với Điều 54, khoản 1 của Công ước, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không chịu ràng buộc bởi Điều 52 của Công ước.” Ghi chú: Điều 52 quy định giải quyết tranh chấp bằng Toà ICJ nếu không thể tự giải quyết với nhau. Điều 54(1) cho phép quốc gia thành viên đưa ra tuyên bố loại trừ Điều 52. Công ước về Biển báo và tín hiệu đường bộ năm 1968 UNTS:6 “Phù hợp với Điều 46, khoản 1 của Công ước, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không chịu ràng buộc bởi Điều 44 của Công ước.” Ghi chú: Điều 44 quy định giải quyết tranh chấp bằng Toà ICJ nếu không thể tự giải quyết với nhau. Điều 46(1) cho phép quốc gia thành viên đưa ra tuyên bố loại trừ Điều 44. 2011 Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 (Quyết định số 25502011QĐCTN ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Chủ tịch nước). UNTS: Việt Nam bảo lưu Điều 15(2)7 về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc Toà ICJ. Quốc gia phản đối (0): Không Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 (Công ước Palermo) (Quyết định số 25492011QĐCTN ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Chủ tịch nước). UNTS: Việt Nam bảo lưu Điều 35(2) và tuyên bố rằng: (1) việc thực hiện quy định của Công ước phải phù hợp với các nguyên tắc của Hiến pháp và luật pháp thực chất của Việt Nam trên cơ sở thỏa thuận với các nước khác và nguyên tắc có đi có lại, (2) phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, Việt Nam không chịu ràng buộc bởi các quy định liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định tại Điều 10 của Công ước, và (3) phù hợp với Điều 16, Công ước này không phải là cơ sở pháp lý trực tiếp cho dẫn độ.8 Quốc gia phản đối (0): Không 2009 Công ước Liên hợp quốc về chống tham những năm 2003 (xem Điều 1, Quyết định số 950QĐCTN ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chủ tịch nước). Việt Nam bảo lưu Điều 66(2) và có tuyên bố kèm theo: “ Phù hợp với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc bởi các quy định về hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng) và quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân (Điều 26 của Công ước trên). – Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước trên; việc thực hiện các quy định của Công ước trên sẽ theo nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật thực định của Việt Nam, trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương với nước khác và nguyên tắc có đi có lại. – Căn cứ Điều 44 của Công ước trên, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ; Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện dẫn độ theo quy định của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ và nguyên tắc có đi có lại.” Quốc gia phản đối (0): Không 2007 Công ước về Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hoá năm 2005 UNTS:9 “Bằng việc phê chuẩn Công ước, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với khoản 4 Điều 25 của Công ước, tuyên bố nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi quy định tại khoản 3 Điều 25 của Công ước.” Ghi chú: Điều 25(3) quy định giải quyết tranh chấp bằng hoà giải. Điều 25(4) cho phép quốc gia thành viên đưa ra tuyên bố loại trừ Điều 25(3). 2006 Công ước quốc tế về Bảo vệ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng năm 1961 UNTS:10 “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với Điều 16(1) của Công ước này, tuyên bố rằng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi quy định tại Điều 12 và điểm (d) Điều 12 của Công ước này.” Ghi chú: Điều 16 là quy định riêng về Bảo lưu, chỉ cho phép quốc gia thành viên bảo lưu một số điều khoản. 2004 Công ước Berne về Bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1979 (xem Điều 2, Quyết định số 3322004QĐCTN ngày 0762004 của Chủ tịch nước). “Điều 2. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: bảo lưu các quy định tại Điều 33 của Công ước Berne và áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của Phụ lục Công ước.” Ghi chú: Ghi chú: Thực chất đây không phải là hành vi bảo lưu mà Việt Nam đang thực hiện quy định ở Điều 33(2) của Công ước này cho phép đưa ra tuyên bố lựa chọn không chịu ràng buộc bởi Điều 33(1) về giải quyết tranh chấp. 2002 Công ước về Trấn áp tài trợ khủng bố năm 1999 UNTS:11 – Việt Nam bảo lưu Điều 24(1), và tuyên bố quy định của Công ước này sẽ không áp dụng với các tội trong các điều ước dưới đây mà Việt Nam không là thành viên: Công ước về Bảo vệ vật lý nguyên liệu hạt nhân năm 1980. – Ngày 14022014 Việt Nam gửi công hàm cho TTK Liên hợp quốc theo Điều 2(2)(a) liên quan đến tuyên bố của Việt Nam khi gia nhập rằng Công ước sẽ không áp dụng đối với các điều ước sau: “từ ngày 8 tháng 2 năm 2014, tuyên bố của Việt Nam theo Điều 2.2(a) của Công ước về Trấn áp tài trợ khủng bố năm 1999 sẽ dừng có hiệu lực đối với các Công ước: Công ước quốc tế chống bắt giữ con tin năm 1979, và Công ước quốc tế về Trấn áp đánh bom khủng bố năm 1997.” Quốc gia phản đối (0): Không Công ước về Ngăn chặn và trừng phạt tội ác chống lại những người được quốc tế bảo vệ, bao gồm nhân viên ngoại giao năm 1973 UNTS:12 “Bằng việc gia nhập vào Công ước này, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra bảo lưu đối với khoản 1 Điều 13 của Công ước.” Ghi chú: Điều 13(1) về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc Toà ICJ. 2001 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 UNTS:13 “Gia nhập vào Công ước này, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra bảo lưu đối với điều 66 của Công ước này.” Quốc gia phản đối (03): Đức do điều 66 là một phần thiết yếu của Công ước và việc bảo lưu của Việt Nam gây nghi ngờ đối với cam kết đầy đủ của Việt Nam đối với mục đích và đối tượng của Công ước; Hà Lan phản đối và loại bỏ các quy định ở Phần V của Công ước trong quan hệ điều ước với Việt Nam; Anh phản đối bảo lưu và không chấp nhận Công ước có hiệu lực trong quan hệ giữa Anh và Việt Nam. Nghị định thư tuỳ chọn của Công ước về Quyền của trẻ em trong vấn đề mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm đồi trị trẻ em năm 2000 UNTS:14 “… nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra bảo lưu với điều 5(1), (2), (3) và (4) của Nghị định thư này.” Ghi chú: Các điều khoản trên liên quan đến dẫn độ (extradition). Ngày 23062009, Việt Nam rút bảo lưu trên. 1997 Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961, được sửa đỗi theo Nghị định thư ngày 25 tháng 3 năm 1972 sửa đổi Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 năm 1975 UNTS:15 “Chính phủ Việt Nam tuyên bố bảo lưu điều 36, khoản 2 điểm b về Dẫn độ (extradition) và điều 48 khoản 2 về giải quyết tranh chấp của Công ước đơn nhất về các chất ma tuý năm 1961.” Công ước về các chất hướng thần năm 1971 UNTS:16 “Chính phủ Việt Nam tuyên bố bảo lưu đối với điều 22, khoản 2 điểm b về Dẫn độ và điều 31, khoản 2 về giải quyết tranh chấp của Công ước về các chất hướng thần năm 1971.” Công ước Liên hợp quốc chống mua bán trái phép ma tuý và các chất hướng thần năm 1988 UNTS:17 “Chính phủ Việt Nam tuyên bố bảo lưu đối với Điều 6 về Dẫn độ, điều 32, khoản 2 và 3 về giải quyết tranh chấp của Công ước Liên hợp quốc chống mua bán trái phép ma tuý và các chất hướng thần năm 1988.” 1995 Công ước về Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài năm 1958 UNTS:18 “1. Công ước chỉ áp dụng đối với việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ quốc gia là thành viên của Công ước này. Đối với quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, Công ước được áp dụng tại Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại. 2. Sẽ chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại. 3. Mọi việc giải thích Công ước trước toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.” Quốc gia phản đối (0): Không 1992 Công ước Viên về Quan hệ lãnh sự năm 1963 (Quyết định số 610NQHĐNN8 ngày 20 tháng 6 năm 1992): “Về khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 58 của Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ không cho các cơ quan lãnh sự do viên chức lãnh sự danh dự đứng đầu được sử dụng giao thông ngoại giao, giao thông lãnh sự, va ly ngoại giao, va ly lãnh sự và điện mật mã cũng như sẽ không cho các Chính phủ, các cơ quan đại diện ngoại giao, các cơ quan lãnh sự khác được sử dụng giao thông ngoại giao, giao thông lãnh sự, va ly ngoại giao, va ly lãnh sự và điện mật mã để liên lạc với các cơ quan lãnh sự do viên chức lãnh sự danh dự đứng đầu, trừ khi được Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho phép trong từng trường hợp một.” 1988 Công ước về Quyền ưu đãi và miễn trừ của Liên hợp quốc năm 1946 UNTS:19 “1. Những bất đồng về giải thích hoặc áp dụng Công ước chỉ được đưa ra giải quyết tại Toà án quốc tế khi có sự thoả thuận của tất cả các bên hữu quan. 2. Ý kiến tư vấn về pháp lý của Toà án quốc tế nêu trong tiết 30, điều 8 của Công ước này, chỉ có giá trị tư vấn, chứ không có giá trị quyết định, trừ phi được các bên hữu quan thoả thuận.” Quốc gia phản đối (01): Anh 1985 Công ước quốc tế về viễn thông năm 1982 (Xem Quyết định số 691NQHĐNN7 ngày 21 tháng 12 năm 1985 của Hội đồng Nhà nước): “Phê chuẩn Công ước quốc tế về viễn thông được thông qua tại Đại hội toàn quyền của Liên minh viễn thông quốc tế (UIT) họp tại Nairobi (Kênya) năm 1982, mà Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký với lời tuyên bố bảo lưu ghi số 48 trong Nghị định thư cuối cùng kèm theo Công ước.” 1984 Công ước về Tổ chức Hàng hải Quốc tế năm 1948 UNTS:20 “Trong khi chấp nhận Công ước về Tổ chức Hàng hải quốc tế, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố ủng hộ mục đích của Tổ chức như được nêu trong Điều 1 của Công ước. Tuy nhiên, xuất phát từ chủ quyền quốc gia, chính sách đối ngoại hoà bình, hữu nghị, hợp tác của mình, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ xem xét mọi kiến nghị như được nêu trong Điều 1(1) của Công ước và mọi khuyến nghị bổ sung có liên quan.” 1983 Công ước về việc không áp dụng thời hiệu đối với tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người năm 1968 UNTS:21 “Gia nhập Công ước này, Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam thấy cần thiết phải tuyên bố rằng theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia thì Công ước này phải để ngỏ cho tất cả các nước tham gia, mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử hay hạn chế nào.” 1982 Công ước về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 UNTS:22 Việt Nam tuyên bố “rằng các quy định của điều 48, khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, và điều 26, khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, theo đó khiến cho một số các quốc gia bị tước bỏ cơ hội trở thành thành viên của các Công ước, có tính chất phân biệt đối xử. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho rằng các Công ước, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, nên được mở cho mọi quốc gia được gia nhập mà không có bất kỳ phân biệt hay hạn chế nào.” Quốc gia phản đối (0): Không Công ước về Loại trừ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW) UNTS:23 “Khi thực thi Công ước này, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi quy định tại khoản 1 điều 29.” Quốc gia phản đối (0): Không Công ước quốc tế về Loại trừ tất cả hình thức phân biệt chủng tộc năm 1966 UNTS:24 “1. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố rằng những quy định của khoản 1 điều 17 và khoản 1 điều 18 của Công ước mang tính chất phân biệt đối xử, vì theo những quy định đó, một số nước sẽ không có khả năng trở thành thành viên của Công ước này, và cho rằng theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền các quốc gia thì Công ước phải để ngõ cho tất cả các nước gia nhập mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử hay hạn chế nào. 2. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi những qui định của điều 22 của Công ước, và cho rằng mọi tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng Công ước muốn được đưa ra Toà án quốc tế thì cần phải có sự thoả thuận của tất cả các bên trong cuộc tranh chấp.” Ghi chú: Năm 1984 Việt Nam có phản đối việc cái gọi là chính phủ Dân chủ Kampuchea phê chuẩn Công ước này. 1981 Công ước về Ngăn chặn và trừng phạt tội ác diệt chủng năm 1948 UNTS:25 Văn kiện nộp ngày 9 tháng 6 năm 1981 “1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc của điều IX quy định thẩm quyền tài phán của Toà án quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp về giài thích, áp dụng hoặc thực hiện công ước này khi có một trong các bên tranh chấp yêu cầu, và cho rằng Toà án quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nói trong điều IX này, khi các bên tranh chấp, trừ bọn tội phạm, đều tán thành trao quyền xét xử cho Toà án. 2. Nước Công hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chấp nhận điều XII và cho rằng tất cả các quy định của công ước này đều phải được áp dụng đối với cả các lãnh thổ chưa giành được quyền tự trị, trong đó gồm cả các lãnh thổ đặt dưới chế độ quản thác. 3. Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thấy điều XI có tính chất phân biệt đối xử, tước bỏ quyền của một số nước gia nhập công ước, và cho rằng công ước này phải được mở cho tất cả các quốc gia đều có quyền được gia nhập.” Quốc gia phản đối (02): Hà Lan phản đối bảo lưu Điều IX của Việt Nam do trái với mục đích và đối tượng của Công ước, và Hà Lan không xem Việt Nam là thành viên của Công ước; Anh. Chính phủ Cộng hoà dân chủ Kampuchea có tuyên bố phủ nhận giá trị pháp lý của việc Việt Nam gia nhập công ước. 1980 Nghị định thư về Cấm sử dụng các chất làm ngạt, khí độc hay các khí khác, và các phương tiện vũ khí sinh học năm 1925 ICRC:26 “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ chịu ràng buộc bởi Nghị định thư nói trên chỉ trong quan hệ với các quốc gia đã ký và phê chuẩn hoặc gia nhập. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ không chịu ràng buộc bởi Nghị định thư nói trên trong quan hệ với các quốc gia thù địch mà lực lượng vũ trang của các nước đó hoặc đồng minh của họ không tôn trọng các quy định của Công ước.” Ghi chú: Đây là một bảo lưu đặc biệt khi (i) có ý định loại trừ hoàn toàn tất cả các điều khoản trong quan hệ với các quốc gia khác với (ii) điều kiện là quốc gia đó là quốc gia thù địch và có quân đội của mình hay đồng minh không tuân thủ quy định của Nghị định thư. Đây có phải là một bảo lưu hay không còn cần xem xét thêm. Tính chất trả đũa có đi có lại trong tuyên bố này (không chịu ràng buộc đối với nước đã vi phạm Nghị định thư) có thể cần xem xét trong quan hệ với Điều 60 Công ước Viên năm 1969 về đình chỉ thi hành, huỷ bỏ điều ước quốc tế khi có vi phạm. 19571973 Các Công ước Geneva năm 1949 ICRC:27 Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1957) và Chính phủ lâm thời cách mạng Miền Nam Việt Nam (1973) gia nhập và đưa ra các bảo lưu: – Điều 10, Công ước Geneva về cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh trong lực lượng vũ trang trên chiến trường – Điều 10, Công ước Geneva về cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và người bị đắm tàu trong lực lượng vũ trang trên biển – Điều 4, 10, 12 và 85, Công ước Geneva về đối xử với tù binh chiến tranh – Điều 11 và 45, Công ước Geneva về Bảo vệ thường dân trong chiến tranh Câu 3. Quốc tịch Sinh ra trong một gia đình công nhân ở miền Bắc Hy Lạp, năm 1943 khi mới 16 tuổi, Kostas Sarantidis bị bắt đi lính để đưa sang Đức phục vụ cho các lực lượng phát xít. Đến Nam Tư, ông trốn thoát, sống trên những chuyến tàu lửa ngược xuôi dọc biên giới Nam Tư Hy Lạp. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, ông Kostas không thể trở về Hy Lạp vì không còn giấy tờ tùy thân. Sau đó, ông bị tham gia đội quân lê dương của Pháp và được điều tới Đông Dương để tham gia cuộc chiến chống phát xít và giải giáp quân Nhật. Tuy nhiên, ngay khi tới Nam Bộ và Sài Gòn năm 1946, ông Kostas Sarantidis đã chứng kiến những cảnh tượng tố cáo tội ác và sự đàn áp của chủ nghĩa thực dân với nhân dân bản địa. Tháng 6.1946, Kostas Nguyễn Văn Lập trốn khỏi đội quân lê dương Pháp tới vùng tự do ở tỉnh Bình Thuận và tham gia lực lượng Việt Minh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó, trở thành người bạn, người đồng chí, đồng đội của Nhân dân Việt Nam, mọi người gọi ông là đồng chí với cái tên Việt Nam rất thân thương, gần gũi: Kostas Nguyễn Văn Lập. Trong cuốn sách Chiến sĩ quốc tế, Bộ đội Cụ Hồ Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành, Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập đã trực tiếp ghi lại những hồi ký, sự kiện quan trọng, giải thích lý do vì sao ông theo Việt Minh. Đó là những trang nhật ký rất sinh động, không chỉ đơn thuần ghi sự việc xảy ra trong ngày mà còn là những trang tả cảnh, những thay đổi khi chứng kiến về sự tàn bạo của quân xâm lược Pháp. Đó còn là những suy nghĩ dằn vặt của người thanh niên nước ngoài trẻ tuổi để rồi cuối cùng, chàng trai Hy Lạp đã dứt khoát chọn con đường theo chính nghĩa, đứng vào hàng ngũ cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập của Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông Kostas Nguyễn Văn Lập được giao nhiệm vụ làm công tác địch vận trên chiến trường Quảng Nam Đà Nẵng, ông đã lập công xuất sắc khi cảm hóa được 40 lính lê dương buông súng trở về với gia đình. Trong chiến đấu, ông Kostas luôn gan dạ, dũng cảm, lập nhiều chiến công… Cấp bậc cao nhất của ông Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập là Đại tá. Năm 1949, ông Nguyễn Văn Lập vinh dự được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Sau Hiệp định Geneva, năm 1954, ông Nguyễn Văn Lập tập kết ra Bắc và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Năm 1958, ông lập gia đình với một cô gái Hà Nội và hai người có với nhau bốn người con, một trai ba gái, tất cả đều lấy tên Việt Nam. Năm 1965, ông Nguyễn Văn Lập cùng gia đình xin phép trở về Hy Lạp sau khi biết tin người mẹ già đang sống tại quê nhà. Dù không còn ở Việt Nam nhưng ông Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập luôn nỗ lực không ngừng để hỗ trợ Việt Nam và góp sức thúc đẩy quan hệ Việt Nam Hy Lạp. Ông từng có nhiều năm tận tụy làm công tác ngoại giao nhân dân và tâm huyết xây dựng cộng đồng người Việt tại Hy Lạp như một Đại sứ tự nguyện và được bà con Việt Kiều đánh giá là công dân Hy Lạp nhưng trái tim luôn hướng về Việt Nam. Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập đã có một quãng đời trẻ trung, sôi nổi, cống hiến hết mình cho cách mạng Việt Nam. Ngay cả sau này, khi đã trở về Hy Lạp sinh sống, trái tim ông vẫn luôn hướng về nước Việt. Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập từng nhiều lần chia sẻ, ông coi Việt Nam là máu thịt của mình. Ông Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập được Đảng và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Hữu nghị, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Đặc biệt, năm 2010, ông được Nhà nước ta công nhận quốc tịch Việt Nam. Năm 2013, ông vinh dự được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông là người nước ngoài đầu tiên đến thời điểm hiện nay được phong tặng danh hiệu cao quý này. Câu 4. Bảo hộ công dân Ngày 283, trong khuôn khổ buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã cung cấp một số thông tin liên quan đến công tác bảo hộ công dân Đoàn Thị Hương. Trả lời câu hỏi của phóng viên về nhận định của Bộ Ngoại giao đối với khả năng Đoàn Thị Hương được tha bổng tại phiên xử ngày 14 sắp tới, cũng như việc Bộ Ngoại giao sẽ tiến hành bảo hộ công dân như thế nào, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh: Cho đến nay chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều biện pháp bảo hộ công dân đối với công dân Đoàn Thị Hương. Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo hộ ngoại giao, lãnh sự, pháp lý ở cấp độ cao nhất để đảm bảo công dân Đoàn Thị Hương được xét xử công bằng, khách quan và được trả tự do, bà Lê Thị Thu Hằng khẳng định. Liên quan đến thông tin về tình trạng sức khỏe của công dân Đoàn Thị Hương trước phiên tòa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết, Bộ Ngoại giao Việt Nam, các cơ quan chức năng của Bộ Ngoai giao Việt Nam thường xuyên giữ liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia. Theo bà Lê Thị Thu Hằng, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia đã 3 lần thăm lãnh sự đối với công dân Đoàn Thị Hương kể từ ngày 132019 để động viên, thăm hỏi sức khỏe và giúp Hương có thể ổn định tâm lý cho phiên tòa sắp tới. Bà cũng thông tin thêm rằng, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia cũng đang làm các thủ tục cần thiết để có thể thăm lãnh sự Đoàn Thị Hương một lần nữa trước phiên tòa ngày 14. Đối với câu hỏi của phóng viên đề cập việc liệu phiên tòa xét xử Đoàn Thị Hương sắp tới có đại diện cấp cao nào của Việt Nam tham dự hay không, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã có những chia sẻ cụ thể. Như tôi từng nói, trong suốt hơn 20 phiên tòa xét xử công dân Đoàn Thị Hương đều có sự có mặt của đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia và sự có mặt của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Malaysia, bà nói. Từ đó, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tái khẳng định, để tiếp tục các nỗ lực bảo đảm cho Đoàn Thị Hương được xét xử công bằng, khách quan và được trả tự do, phía Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo vệ công dân, lãnh sự, ngoại giao, pháp lý ở cấp độ cao nhất. Câu 5. Các bước ký Điều ước quốc tế (Công ước viên 1969) Đàm phán, soạn thảo – Thông qua – Xác thực – Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc Điều ước quốc tế là một thỏa thuận pháp lý được ký kết giữa các quốc gia với nhau thông qua người đại diện hợp pháp của các quốc gia ký kết. Thông thường, một điều ước quốc tế được hình thành thông qua 04 bước cơ bản sau: Đàm phán, soạn thảo – Thông qua văn bản điều ước – Xác thực văn bản điều ước – Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc đối với điều ước. Trong một số trường hợp, có thể phát sinh bước thứ năm liên quan đến bảo lưu điều ước quốc tế. Mặc dù bảo lưu là một vấn đề thường được xem xét riêng nhưng vẫn nên được xem là một trong các bước ký kết điều ước quốc tế. Có hai lý do vì sao bảo lưu là một bước trong ký kết điều ước quốc tế. Một là bảo lưu là hành vi pháp lý phát sinh cùng lúc với việc thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc đối với điều ước. Hai là chỉ bảo lưu quyết định phạm vi chịu ràng buộc thực sự của một điều ước đối với quốc gia đưa ra bảo lưu: Các điều khoản thực sự ràng buộc một quốc gia ký kết = (tất cả điều khoản của điều ước) – (các điều khoản bị bảo lưu). Bước 1: Đàm phán, soạn thảo Đây là bước đầu tiên để hình thành một điều ước quốc tế giữa các quốc gia. Đây cũng là bước chiếm nhiều công sức và thời gian nhất trong các bước. Công ước Viên không có quy định riêng về đàm phán, soạn thảo điều ước quốc tế. Các quốc gia được tự do quyết định mọi vấn đề liên quan đến đàm phán và soạn thảo. Trong trường hợp, đàm phán thành công dẫn đến ký kết một điều ước quốc tế, một số hành vi phát sinh trong giai đoạn đàm phán, soạn thảo có thể dẫn đến điều ước quốc tế bị vô hiệu, ví dụ như sai sót, gian dối, uy hiếp hay hối lộ người đại diện quốc gia.1 Bước 2: Thông qua văn bản điều ước Quá trình đàm phán, soạn thảo thành công sẽ đưa đến kết quả là một văn bản điều ước được người đại diện quốc gia của các bên đồng ý. Để chính thức kết thúc quá trình đàm phán, soạn thảo, các bên thường tiến hành bước thông qua văn bản điều ước quốc tế (Adoption of the text). Điều 9 Công ước Viên quy định hai trường hợp thông qua. Điều 9(1) quy định nguyên tắc rằng văn bản điều ước được thông qua khi có sự đồng ý của tất cả các quốc gia tham gia vào việc soạn thảo nên văn bản đó. Điều 9(2) quy định rằng trong trường hợp văn bản điều ước được đàm phán, soạn thảo tại một hội nghị quốc tế thì không cần thiết phải có sự đồng ý của tất cả các quốc gia tham gia hội nghị: “2. Văn bản điều ước được thông qua tại một hội nghị quốc tế khi có hai phần ba trong tổng số quốc gia có mặt và bỏ phiếu đồng ý, trừ khi, bằng cùng tỷ lệ đa số như thế, các quốc gia quyết định áp dụng quy định khác” Thông thường, các hội nghị quốc tế sẽ thông qua một bộ quy tắc thủ tục tại phiên họp đầu tiên trước khi tiến hành đàm phán, trong đó bao gồm cả quy tắc về bỏ phiếu thông qua. Ví dụ như tại Hội nghị Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1968 – 1969, Quy tắc thủ tục của Hội nghị có 12 quy tắc liên quan đến bỏ phiếu, gồm tỷ lệ cần thiết để thông qua quyết định, về cách thức bỏ phiếu,…2 Để thông qua văn bản Công ước, Hội nghị quy định cần phải có 23 đại diện các quốc gia tham gia và bỏ phiếu.3 Bước 3: Xác thực văn bản điều ước Điều 10 Công ước quy định hai cách thức xác thực văn bản điều ước. Văn bản được xác thực được xem là văn bản gốc – là căn cứ duy nhất xác định nội dung chính xác và thực sự của một điều ước quốc tế.4 Bên cạnh văn bản gốc được xác thực, một điều ước quốc tế có thể có nhiều bản sao, bản dịch khác nhau – nhưng các văn bản này đều không có bất kỳ giá trị pháp lý nào. Thông thường, các điều ước quốc tế thường được xác thực thành nhiều bản theo các ngôn ngữ khác nhau. Đối với điều ước quốc tế song phương, thông thường văn bản xác thực sẽ được xác lập theo ngôn ngữ của hai bên, và có giá trị pháp lý ngang nhau, hoặc có thể kèm theo ngôn ngữ thứ ba có giá trị ưu tiên sử dụng. Ví dụ: Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Campuchia năm 2005 quy định Hiệp ước được “Làm tại Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2005, thành hai bản gốc, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Pháp; cả ba văn bản đều có giá trị như nhau. Trong trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bản tiếng Pháp được lấy làm căn cứ.” Đối với các điều ước quốc tế do Liên hợp quốc bảo trợ, văn bản xác thực thường được làm thành 06 bản theo 06 ngôn ngữ chính thức của tổ chức này, cụ thể: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, từ năm 1973 thêm tiếng Ảrập.6 Văn bản điều ước được xác định là xác thực và cuối cùng (authentic and definitive) theo thủ tục được quy định trong chính văn bản điều ước đó hoặc theo thỏa thuận của các quốc gia tham gia soạn thảo văn bản. Ví dụ: Công ước Viên quy định tại Điều 85 về Văn bản xác thực rằng văn bản gốc của Công ước được làm thành năm bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc và tiếng Tây Ban Nha và được nộp lưu chiểu tại Tổng thư ký Liên hợp quốc. Trong trường hợp không có quy định trong văn bản hay không có thỏa thuận, văn bản sẽ được xác thực bằng việc ký, bao gồm cả ký ad referendum hoặc ký tắt bởi đại diện các quốc gia vào văn bản điều ước hoặc vào Nghị quyết cuối cùng của hội nghị có ghi nhận văn bản điều ước. Ở đây, chữ ký ad referendum chỉ có hiệu lực khi có xác nhận lại của quốc gia liên quan. Bước 4: Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc là bước quan trọng trọng nhất trong tất cả các bước ký kết điều ước quốc tế vì chỉ đến bước này, một quốc gia mới chính thức thể hiện ý chí chịu ràng buộc bởi một điều ước quốc tế. Một quốc gia tham gia đàm phán, soạn thảo, thông qua, xác thực văn bản điều ước, nhưng điều ước đó không thể và không bao giờ có thể ràng buộc quốc gia đó nếu không có sự đồng ý chịu ràng buộc của quốc gia liên quan. Vậy làm thế nào để một quốc gia thể hiện ý chí chịu ràng buộc đối với một điều ước quốc tế? Điều 11 đến Điều 15 quy định về những hành vi có thể được xem là hành vi thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc của một quốc gia. Điều 11 quy định nguyên tắc chung rằng: “Sự đồng ý chịu sự ràng buộc của một quốc gia đối với một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao đổi các văn kiện cấu thành điều ước phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận.” Điều 11 cho phép có nhiều các thức thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc. Cách thức nào được lựa chọn phụ thuộc vào quy định của chính điều ước quốc tế liên quan hoặc thỏa thuận giữa các quốc gia. Ví dụ như, Công ước Viên quy định Công ước cần được phê chuẩn, và các quốc gia có thể được gia nhập sau đó.8 Điều 12 – 15 quy định cụ thể về các hành vi nêu ở Điều 11 trên. Đây là các cách thức phổ biến được sử dụng trên thực tế: hành vi ký (signature, Điều 12), trao đổi văn kiện cấu thành điều ước (exchange of instruments constituting a treaty, Điều 13), phê chuẩn, phê duyệt hay chấp nhận (ratification, acceptance or approval, Điều 14), và gia nhập (accession, Điều 15). Trong số các cách thức trên, cần lưu ý đến hai cách thức khá đặt biệt: Trao đổi văn kiện cấu thành điều ước quốc tế và Gia nhập. Trao đổi văn kiện cấu thành điều ước quốc tế là một trong những cách thức thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc được sử dụng ngày càng phổ biến.9 Nội dung mà hai nước thống nhất với nhau qua các công hàm trao đổi công việc sẽ trở thành nội dung của điều ước quốc tế nếu các bên đồng ý như vậy. Ví dụ: Thỏa thuận về cấp thị thực giữa Việt Nam và Mỹ năm 2016 sử dụng hình thức này. Thỏa thuận có đoạn viết: “Nếu đề xuất này được Chính phủ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chấp thuận, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đề xuất rằng Công hàm này, cùng với công hàm khẳng định từ phía Đại sứ quán Hoa Kỳ, sẽ tạo thành thỏa thuận giữa hai Chính phủ.” Về gia nhập, một số điều ước quốc tế đặt ra các điều kiện để một quốc gia có thể gia nhập. Ví dụ như, Công ước chống diệt chủng năm 1951 quy định rằng các quốc gia không là thành viên của Liên hợp quốc chỉ có thể gia nhập Công ước này nếu có lời mời từ Đại hội đồng Liên hợp quốc.10 Hiệp ước về Nam cực năm 1959 quy định các quốc gia thành viên Liên hợp quốc có quyền gia nhập, các quốc gia khác chỉ có thể gia nhập nếu được các quốc gia thành viên mời.11 Một ví dụ gần đây hơn là Hiệp ước Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) quy định các quốc gia sẽ gia nhập theo thỏa thuận riêng được ký kết giữa các quốc gia thành viên và quốc gia có ý định gia nhập.12 Đối với các điều ước là văn kiện thành lập tổ chức quốc tế, vấn đề gia nhập điều ước và vấn đề gia nhập tổ chức quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Câu 6. Thẩm quyền ký Điều ước quốc tế (Công ước viên 1969) Trước khi bắt đầu các bước ký kết điều ước quốc tế, có hai vấn đề quan trọng được Công ước Viên năm 1969 quy định. Một là vấn đề quyền năng ký kết điều ước quốc tế (Capacity of a State to conclude treaties) ở Điều 6. Hai là vấn đề thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế của người đại diện quốc gia quy định ở Điều 7 về Ủy nhiệm thư (Full power). Một điểm cần lưu ý ở đây là từ “ký kết” được hiểu theo nghĩa rộng là việc xác lập một điều ước quốc tế (to conclude a treaty), tránh nhầm lẫn với từ “ký” có nghĩa là hành vi ký (to sign a treaty). 1. Quyền năng ký kết điều ước quốc tế của Quốc gia Trong định nghĩa về điều ước quốc tế quy định ở Điều 2(1)(a), điều ước quốc tế là thỏa thuận giữa các quốc gia (xem chi tiết định nghĩa Điều ước quốc tế ở post này). Như vậy, khẳng định đầu tiên là các quốc gia có quyền năng ký kết điều ước quốc tế – tức là có năng lực pháp lý để xác lập một điều ước quốc tế ràng buộc chính mình theo luật pháp quốc tế. Điều 6 Công ước quy định: “Mọi quốc gia đều có quyền năng ký kết các điều ước” Đây là điều khoản ngắn nhất trong toàn bộ Công ước, trong bản gốc tiếng Anh chỉ có 07 từ (“Every State possesses capacity to conclude treaties.”). Nội dung của điều này về cơ bản là đã rất rõ rang, không cần nhiều chú giải thêm. Có hai điểm cần chú ý đối với điều khoản này. Một điềm lưu ý là Công ước không có điều khoản nào để định nghĩa thuật ngữ “Quốc gia” được dung trong Điều 6. Ủy ban Luật pháp Quốc tế Liên hợp quốc (ILC) có thuyết minh rằng: thuật ngữ “Quốc gia” được sử dụng với nội hàm giống như trong Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, QUy chế của Tòa ICJ, và các Công ước Geneva về Luật Biển năm 1968 và Công ước Viên về Quan hệ Ngoại giao.1 Tuy nhiên, đây chỉ là cách ILC tránh khỏi phải sa đà vào việc tranh luận bất tận và không cần thiết về định nghĩa Quốc gia. Ủy ban đã khôn ngoan bỏ qua tiểu tiết để thống nhất được một bản dự thảo cơ bản hoàn thiện mà sau này được thông qua vào năm 1969. Do không có định nghĩa trong Công ước Viên, để xác định một thực thể có phải là một Quốc gia hay không và theo đó, có quyền năng ký kết điều ước quốc tế hay không, cần xem xét đến các quy định trong luật pháp quốc tế nói chung. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp (xem chi tiết ở post này). Thông thường, định nghĩa Quốc gia với 04 yếu tố trong Công ước Montevideo năm 1933 được viện dẫn. Một điểm thú vị khác về Điều 6 này là lịch sử dự thảo trong khuôn khổ ILC, và tại Hội nghị Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1968 – 1969. Các phiên b

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG LUẬT QUỐC TẾ

(Học viện Hành chính Quốc gia - Khóa 21)

- Kết luận: Đúng hoặc sai

II Lý thuyết (1 câu -5 điểm)

- Khái niệm

- Cơ sở pháp lý: Quốc tế và Việt Nam

- Phân tích những ý chính

- Ví dụ (cập nhập tính thời sự)

- Liên hệ: chọn 1 trong 3 cách sau:

+ C1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

+ C2 So sánh độ tương thích của PLVN và PLQT

+ C3 Đánh giá ưu và nhược điểm của việc áp dụng vấn đề đó tại VN

III Tài liệu mang đi thi:

- Giáo trình Luật Quốc tế;

- Luật Điều ước quốc tế 2016

- Ngoài ra các Công ước QT thì nên tổng hợp lại thành 1 file nhé (tránh cồng kềnh)

Câu 1 Tóm tắt nội dung cơ bản của 7 nguyên tắc Luật quốc tế

Trang 2

* Định nghĩa: Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những tư tưởng chính trị,

pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung(Jus cogens) đối với mọi chủ thể luật quốc tế

* Đặc điểm: Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế mang 4 đặc điểm cơ bản sau:

- Tính mệnh lệnh bắt buộc chung

- Chuẩn mực để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp

lý quốc tế

- Có quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất

- Ghi nhận rộng rãi trong văn kiện quốc tế

* Các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế:

1 Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 1, điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc 1945

+ Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970

- Nội dung của nguyên tắc: Bao gồm 5 nội dung chính

+ Tôn trọng về quốc thể;

+ Tham gia giải quyết các vấn đề;

+ Tham gia các tổ chức quốc tế;

+ Xây dựng văn bản pháp luật;

+ Hướng các quyền ưu đãi, miễn trừ;

- Ngoại lệ của nguyên tắc:

Trang 3

nhiệm kỳ 02 năm và thậm chí không được đảm nhận vị trí ủy viên hai nhiệm kỳ liên tục

Năm ủy viên thường trực còn có quyền phủ quyết (veto) tất cả các dự thảo quyết định của Hội đồng Bảo an Sự bất bình đẳng thể hiện rất rõ nét, nhưng là sự bất bình đẳng dựa trên sự đồng ý tự nguyện của 188 quốc gia còn lại Các quốc gia hoàn toàn có thể không phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc, hoặc tự tạo ra một tổ chức bình đẳng hơn (ví dụ như ASEAN) Tại Hội đồng Bảo an, các quốc gia đã tự mình từ bỏ vị thế bình đẳng pháp lý của mình

2 Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 4, điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc 1945;

+ Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970;

+ Một số văn bản quốc tế;

Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc 1974 về định nghĩa xâm lược;

Định ước của Hội nghị Henxinki năm 1975 về an ninh và hợp tác của các nước châu Âu;

Tuyên bố năm 1987 về việc Nâng cao hiệu quả của nguyên tắc khước từ đe dọa dùng sức mạnh hoặc đe dùng sức mạnh trong quan hệ quốc tế và một số văn kiện của phong trào không liên kết, tổ chức ASEAN

- Nội dung của nguyên tắc: Gồm 5 nội dung:

+ Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác;

- Ngoại lệ của nguyên tắc:

+ Quyền tự vệ chính đáng (Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc 1945 )

Trang 4

+ Sử dụng vũ lực theo quyết định của Hội đồng bảo an(Điều 39 và các điều từ 42 đến 47 Hiến chương Liên hợp quốc)

- VD minh họa: Triều Tiên đe dọa sử dụng vũ lực

Hôm 13/6/2009, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên dọa sẽ sử dụng vũ lực nếu

Mỹ cố tình cô lập họ sau khi Hội đồng bảo an áp đặt lệnh trừng phạt mở rộng với quốc gia này từ sau khi vụ thử hạt nhân lần thứ hai từ tháng 5 Theo lời phát ngôn viên ngoại giao của nước này, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tuyên bố sẽ bắt đầu chương trình làm giàu Uranium và vũ khí hóa plitonium tại nhà máy vũ khí hạt nhân của họ Nghị quyết của Hội đồng bảo an cho phép các quốc gia thành viên có quyền kiểm tra hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy, đường bộ và hàng không của Triều Tiên, yêu cầu họ tịch thu và phá hủy bất cứ hàng hóa nào vận chuyển vi phạm nghị quyết của Hội đồng bảo an Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đã khiến cho tình hình căng thẳng leo thang trong vài tháng qua khi họ tiến hành một loạt các vụ thử tên lửa, tái khởi động nhà máy sản xuất plotinium cấp độ vũ khí và thực hiện vụ thử hạt nhân lần hai

Hai nhà ngoại giao cấp cao tham gia đàm phán về nghị quyết trừng phạt của Liên hợp quốc phát biểu rằng, Trung Quốc không bao giờ nói rõ thực sự họ có ý định thực hiện nghị quyết trừng phạt mới hay không Đại sứ Trung Quốc, Zhang Yesui phát biểu nghị quyết này cho thấy sự phản đối gay gắt của cộng đồng quốc tế đối với tham vọng hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời ông cũng thúc giục các nước thận trọng khi kiểm tra hàng hóa của Triều Tiên và ông nhấn mạnh “dù trong hoàn cảnh nào cũng không nên

đe dọa sử dụng vũ lực”

3 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 3, điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc 1945

- Nội dung: Theo điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc 1945 các bên tranh chấp

quốc tế giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp:

+ đàm phán(phương pháp tốt nhất)

+ điều tra;

+ trung gian;

+ hòa giải;

Trang 5

+ trọng tài;

+ tòa án;

+ thông qua các cơ quan hay tổ chức quốc tế khu vực;

+ bằng các biện pháp khác;

- Ngoại lệ của nguyên tắc:

+ Đây là một nguyên tắc không tồn tại bất kỳ ngoại lệ nào

+ Hội đồng bảo an Liên hợp quốc luôn phải tôn trọng biện pháp giải quyết hòa bình mà các bên lựa chọn

=> Trong trường hợp các bên tự lựa chọn mà vẫn không giải quyết triệt để vấn đề, hội đồng bảo an có quyền kiến nghị các bên áp dụng các biện pháp khác nhằm nhanh chóng chấm dứt những mối đe dọa

- Vd minh họa: Giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan

Vịnh Thái Lan là một bờ biển nửa kín, giới hạn bởi bờ biển của bốn quốc gia Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia Ngày 18/5/1973, Thái Lan đơn phương vạch ranh giới ngoài cửa thềm lục địa Thái Lan trong Vịnh và công bố các tọa độ của con đường Việt Nam và Thái Lan đã quy định phạm vi thềm lục địa của mình và hình thành nên vùng chồng lấn khoảng 6000km2 giữa hai nước Vùng biển chồng lấn là vùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên Sau nhiều năm đàm phán, thương lượng, tháng 8/1997, hai nước này đã ký hiệp định vạch đường biên giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai bên theo một đường dài 137km Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trọng Vịnh Thái Lan ký ngày 9/8 và chấm dứt tranh cãi về việc giải thích và áp dụng luật biển trong phân định vùng chồng lấn có liên quan giữa hai nước

4 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 7, điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc 1945;

+ Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970;

+ Một số văn bản quốc tế:

Trang 6

Tuyên bố của Liên hợp quốc về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa năm 1960;

Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị các nước Á Phi năm 1955 tại Băng-đung; Điều ước cuối cùng của Hội nghị Henxinki về An ninh hợp tác châu Âu năm 1975; Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, Hiệp định Pari,

- Nội dung:

+ Cấm can thiệp, đe dọa vũ trang chống lại chủ quyền của quốc gia;

+ Cấm dùng mọi biện pháp để buộc quốc gia phụ thuộc vào mình;

+ Cấm dùng mọi biện pháp để lật đổ chính quyền của quốc gia khác;

+ Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở quốc gia khác;

+ Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia

- Ngoại lệ của nguyên tắc:

+ Tiến hành biện pháp cưỡng chế trong trường hợp có đe dọa hòa bình hoặc hành động xâm lược (Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc 1945)

+ Can thiệp có sự đồng ý của quốc gia sở tại

-Vd minh họa:

Cuộc khủng hoảng chính trị tại Syria bắt đầu từ tháng 3/2011 và bùng nổ tháng 8/2011 Cho đến nay cuộc khủng hoảng chính trị này vẫn chưa hoàn toàn kết thúc Cuộc khủng hoảng chính trị này đã gây những thiệt hại, tổn thất nặng nề cho người dân nước này Liên hợp quốc đã ra lệnh ngừng bắn ngay lập tức để cho phép viện trợ nhân đạo vào Syria nhưng tình hình vẫn không khả quan Trước tình hình đó, cộng đồng quốc tế

đã có nhiều quan điểm trái chiều nhau Ngày 16/02/2012, Đại hội đồng Liên hợp quốc

đã thông qua nghị quyết do Liên đoàn Arab(AL) đề xuất về chấm dứt bạo lực và xung đột ở Syria với 137 nước ủng hộ, 12 nước phản đối và 17 nước bỏ phiếu trắng, yêu cầu chính phủ Syria thực hiện 5 yêu cầu: chấm dứt các hoạt động bạo lực; trả lại tự do cho những người thuộc phe đối lập bị bắt giữ; lực lượng quân sự phải rút ra khỏi những khu dân cư; đảm bảo tự do cho các cuộc tuần hành hòa bình; đảm bảo tự do đi lại cho các phải đoàn của AL và truyền thông thế giới Trong đó, Nga cùng với Iran và Trung Quốc giữ quan điểm rằng: liên hợp quốc không được can thiệp vào công việc nội bộ của Syria

5 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác

- Cơ sở pháp lý:

Trang 7

+ Khoản 3, điều 4 Hiến chương Liên hợp quốc 1945;

+ Điều 55, điều 56 Hiến chương Liên hợp quốc 1945;

+ Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970;

- Nội dung:

+ Hợp tác quốc tế để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế;

+ Hợp tác tôn trọng quyền con người và quyền tự do của các quốc gia;

+ Tiến hành quan hệ quốc tế theo nguyên tắc bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ;

+ Thực hiện hành động theo quy định của Hiến chương;

6 Nguyên tắc dân tộc tự quyết

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 2, Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc 1945;

+ Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970;

+ Một số văn bản quốc tế:

Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960;

Hai công ước về các quyền dân sự chính trị, quyền kinh tế-xã hội-văn hóa năm 1966;

- Nội dung:

+ Được thành lập hoặc cùng dân tộc khác thành lập quốc gia độc lập trên cơ sở tự nguyện;

+ Tự giải quyết các vấn đề của quốc gia;

- Ngoại lệ của nguyên tắc: Nguyên tắc này không thừa nhận bất kỳ ngoại lệ nào

Trang 8

7 Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 2, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc 1945;

+ Công ước viên 1969 về Luật quốc tế

+ Nghị quyết 2625: Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970;

- Nội dung:

+ Quốc gia thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế của mình

+ Tuân thủ điều ước quốc tế

+ Không cho phép quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét điều ước quốc tế

- Ngoại lệ của nguyên tắc:

+ Quốc gia không phải thực hiện điều ước quốc tế nếu các bên vi phạm luật pháp quốc gia

+ Nội dung điều ước quốc tế trái với Hiến chương thì không phải thực hiện điều ước

-Vd minh họa:

Việt Nam và Trung Quốc có kí kết một Điều ước về việc xác lập ranh giới lãnh hải giữa hai quốc gia Giả sử Trung Quốc có sự thay đổi chế độ từ XHCN sang TBCN cũng không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ thực hiện Điều ước ký giữa hai quốc gia

Câu 2 Thực tiễn bảo lưu của Việt Nam

Theo tổng hợp, Việt Nam đưa ra bảo lưu lần đầu tiên là vào năm 1957 (lúc đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) với các Công ước Geneva về luật nhân đạo quốc tế năm 1949

Bảng tổng hợp dưới đây được xếp theo năm Việt Nam đưa ra bảo lưu

Trang 9

“Điều 1 Gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đã được thông qua vào ngày 11/4/1980 tại Viên, Áo và bảo lưu quy định về hình thức của hợp đồng nêu tại Điều

11, Điều 29 và phần II của Công ước, phù hợp với quy định tại Điều

12 và Điều 96 của Công ước.”

Trong Thông báo của Bộ Ngoại giao ngày 05.02.2016 về việc Công ước có hiệu lực với Việt Nam, nội dung trên được cụ thể hoá như sau: “Khi phê chuẩn Công ước nói trên, … Việt Nam đã đưa ra

Tuyên bố theo quy định tại Điều 12 và Điều 96 của Công ước: ‘Bất

kỳ quy định nào của Điều 11, Điều 29 hoặc Phần II của Công ước này cho phép hợp đồng mua bán, việc thay đổi hoặc đình chỉ hợp đồng theo sự thoả thuận của các bên hoặc đơn chào hàng hoặc chấp nhận đơn chào hàng hay bất kỳ sự thể hiện ý chí nào của các bên

Trang 10

được lập và không phải dưới hình thức viết tay mà dưới bất kỳ hình thức nào sẽ không được áp dụng khi dù chỉ một trong số các bên có trụ sở thương mại đặt ở Việt Nam.'”

Ghi chú: Điều 96 của Công ước này cho phép một quốc gia thành

viên đưa ra tuyên bố lựa chọn không áp dụng các Điều 11, 29 và Phần II

2014

Công ước Liên hợp quốc về Chống tra tấn (xem Điều 2, Nghị quyết số 83/2014/QH13 ngày 28/11/2014):

“Điều 2 Bảo lưu quy định tại Điều 20 và khoản 1 Điều 30 của Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người

Không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 của Công ước là cơ sở pháp

lý trực tiếp để dẫn độ Việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại.”

Ghi chú: Khi gửi công hàm thông báo cho LHQ, Việt Nam đã điều

chỉnh câu chữ của Nghị quyết để chính xác hơn Theo đó, thay vì bảo lưu khoản 1, Điều 30, được viết lại thành “phù hợp với khoản 2, Điều

30 Việt Nam không xem bị ràng buộc bởi khoản 1, Điều 30.” Khoản

2, Điều 30 cho phép lựa chọn chịu ràng buộc hoặc không đối với khoản 1 của Điều này, do đó, đối với khoản 1, Điều 30, đây là tuyên

bố lựa chọn chứ không phải tuyên bố bảo lưu

Quốc gia phản đối (01): Ba Lan phản đối bảo lưu của Việt Nam đối

với Điều 8(2) do trái với mục đích và đối tượng của Công ước

Trang 11

Công ước về Luật điều chỉnh việc sử dụng không vì mục đích giao thông các dòng chảy quốc tế năm 1997

UNTS: [2] “Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo lưu

quyền được chọn biện pháp giải quyết tranh chấp phù hợp không phụ thuộc vào quyết định của bên liên quan khác.”

Quốc gia phản đối (0): Không

Công ước quốc tế chống hành vi bắt giữ con tin năm 1979 UNTS: [3] “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu

ràng buộc bởi quy định tại khoản 1, Điều 16 của Công ước này.”

Ghi chú: Điều 16(1) về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc Toà

ICJ

Công ước quốc tế về Trấn áp hành vi đánh bom khủng bố năm 1997

UNTS: [4] “Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu

ràng buộc bởi quy định tại khoản 1 Điều 20 của Công ước này.” Kèm theo là tuyên bố:

“1 Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố rằng các quy định của Công ước quốc tế về Trấn áp hành vi đánh bom khủng

bố không thể tự thực hiện được (non-self-executing) ở Việt Nam Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ thực hiện đúng các quy định của Công ước thông qua các cơ chế song phương và đa phương các quy định cụ thể trong nội luật của mình và trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại

2 Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo Điều 9 của Công ước này, tuyên bố nước này sẽ không xem Công ước này là

cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ thực hiện việc dẫn độ phù hợp với quy định pháp luật

Trang 12

trong nước trên cơ sở các điều ước về dẫn độ và nguyên tắc có đi

Ghi chú: Điều 52 quy định giải quyết tranh chấp bằng Toà ICJ nếu

không thể tự giải quyết với nhau Điều 54(1) cho phép quốc gia thành viên đưa ra tuyên bố loại trừ Điều 52

Công ước về Biển báo và tín hiệu đường bộ năm 1968 UNTS: [6] “Phù hợp với Điều 46, khoản 1 của Công ước, nước Cộng

hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không chịu ràng buộc bởi Điều 44 của Công ước.”

Ghi chú: Điều 44 quy định giải quyết tranh chấp bằng Toà ICJ nếu

không thể tự giải quyết với nhau Điều 46(1) cho phép quốc gia thành viên đưa ra tuyên bố loại trừ Điều 44

2011

Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 (Quyết định số 2550/2011/QĐ-CTN ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Chủ tịch nước)

UNTS: Việt Nam bảo lưu Điều 15(2)[7] về giải quyết tranh chấp

bằng trọng tài hoặc Toà ICJ

Quốc gia phản đối (0): Không

Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm

2000 (Công ước Palermo) (Quyết định số 2549/2011/QĐ-CTN ngày

Trang 13

29 tháng 12 năm 2011 của Chủ tịch nước)

UNTS: Việt Nam bảo lưu Điều 35(2) và tuyên bố rằng: (1) việc thực

hiện quy định của Công ước phải phù hợp với các nguyên tắc của Hiến pháp và luật pháp thực chất của Việt Nam trên cơ sở thỏa thuận với các nước khác và nguyên tắc có đi có lại, (2) phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, Việt Nam không chịu ràng buộc bởi các quy định liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định tại Điều 10 của Công ước, và (3) phù hợp với Điều 16, Công ước này không phải là cơ sở pháp lý trực tiếp cho dẫn độ.[8]

Quốc gia phản đối (0): Không

2009

Công ước Liên hợp quốc về chống tham những năm 2003 (xem Điều 1, Quyết định số 950/QĐ-CTN ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chủ tịch nước)

Việt Nam bảo lưu Điều 66(2) và có tuyên bố kèm theo:

“- Phù hợp với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc bởi các quy định

về hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng) và quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân (Điều 26 của Công ước trên)

– Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước trên; việc thực hiện các quy định của Công ước trên sẽ theo nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật thực định của Việt Nam, trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác song phương hoặc

đa phương với nước khác và nguyên tắc có đi có lại

– Căn cứ Điều 44 của Công ước trên, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ; Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện dẫn độ theo

Trang 14

quy định của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ

và nguyên tắc có đi có lại.”

Quốc gia phản đối (0): Không

2007

Công ước về Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hoá năm 2005

UNTS: [9] “Bằng việc phê chuẩn Công ước, nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với khoản 4 Điều 25 của Công ước, tuyên bố nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi quy định tại khoản 3 Điều 25 của Công ước.”

Ghi chú: Điều 25(3) quy định giải quyết tranh chấp bằng hoà giải

Điều 25(4) cho phép quốc gia thành viên đưa ra tuyên bố loại trừ Điều 25(3)

Ghi chú: Điều 16 là quy định riêng về Bảo lưu, chỉ cho phép quốc

gia thành viên bảo lưu một số điều khoản

2004

Công ước Berne về Bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật năm

1979 (xem Điều 2, Quyết định số 332/2004/QĐ-CTN ngày

07/6/2004 của Chủ tịch nước)

“Điều 2 Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: bảo lưu các quy định tại Điều 33 của Công ước Berne và áp dụng chế độ ưu đãi

Trang 15

dành cho các nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của Phụ lục Công ước.”

Ghi chú: Ghi chú: Thực chất đây không phải là hành vi bảo lưu mà

Việt Nam đang thực hiện quy định ở Điều 33(2) của Công ước này cho phép đưa ra tuyên bố lựa chọn không chịu ràng buộc bởi Điều 33(1) về giải quyết tranh chấp

– Ngày 14/02/2014 Việt Nam gửi công hàm cho TTK Liên hợp

quốc theo Điều 2(2)(a) liên quan đến tuyên bố của Việt Nam khi gia nhập rằng Công ước sẽ không áp dụng đối với các điều ước sau: “từ ngày 8 tháng 2 năm 2014, tuyên bố của Việt Nam theo Điều 2.2(a) của Công ước về Trấn áp tài trợ khủng bố năm 1999 sẽ dừng có hiệu lực đối với các Công ước: Công ước quốc tế chống bắt giữ con tin năm 1979, và Công ước quốc tế về Trấn áp đánh bom khủng bố năm 1997.”

Quốc gia phản đối (0): Không

Công ước về Ngăn chặn và trừng phạt tội ác chống lại những người được quốc tế bảo vệ, bao gồm nhân viên ngoại giao năm 1973

UNTS: [12] “Bằng việc gia nhập vào Công ước này, nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra bảo lưu đối với khoản 1 Điều 13 của Công ước.”

Trang 16

Ghi chú: Điều 13(1) về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc Toà

Quốc gia phản đối (03): Đức do điều 66 là một phần thiết yếu của

Công ước và việc bảo lưu của Việt Nam gây nghi ngờ đối với cam kết đầy đủ của Việt Nam đối với mục đích và đối tượng của Công ước; Hà Lan phản đối và loại bỏ các quy định ở Phần V của Công ước trong quan hệ điều ước với Việt Nam; Anh phản đối bảo lưu và không chấp nhận Công ước có hiệu lực trong quan hệ giữa Anh và Việt Nam

Nghị định thư tuỳ chọn của Công ước về Quyền của trẻ em trong vấn đề mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm đồi trị trẻ em năm 2000

UNTS: [14] “… nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra

bảo lưu với điều 5(1), (2), (3) và (4) của Nghị định thư này.”

Ghi chú: Các điều khoản trên liên quan đến dẫn độ (extradition)

Ngày 23/06/2009, Việt Nam rút bảo lưu trên

1997

Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961, được sửa đỗi theo Nghị định thư ngày 25 tháng 3 năm 1972 sửa đổi Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 năm 1975

UNTS: [15] “Chính phủ Việt Nam tuyên bố bảo lưu điều 36, khoản

2 điểm b về Dẫn độ (extradition) và điều 48 khoản 2 về giải quyết tranh chấp của Công ước đơn nhất về các chất ma tuý năm 1961.”

Trang 17

Công ước về các chất hướng thần năm 1971 UNTS: [16] “Chính phủ Việt Nam tuyên bố bảo lưu đối với điều 22,

khoản 2 điểm b về Dẫn độ và điều 31, khoản 2 về giải quyết tranh chấp của Công ước về các chất hướng thần năm 1971.”

Công ước Liên hợp quốc chống mua bán trái phép ma tuý và các chất hướng thần năm 1988

UNTS: [17] “Chính phủ Việt Nam tuyên bố bảo lưu đối với Điều 6

về Dẫn độ, điều 32, khoản 2 và 3 về giải quyết tranh chấp của Công ước Liên hợp quốc chống mua bán trái phép ma tuý và các chất hướng thần năm 1988.”

2 Sẽ chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan

hệ pháp luật thương mại

3 Mọi việc giải thích Công ước trước toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.”

Quốc gia phản đối (0): Không

Trang 18

1992

Công ước Viên về Quan hệ lãnh sự năm 1963 (Quyết định số 610/NQ-HĐNN8 ngày 20 tháng 6 năm 1992):

“Về khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 58 của Công ước Viên 1963

về quan hệ lãnh sự, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ không cho các cơ quan lãnh sự do viên chức lãnh sự danh dự đứng đầu được sử dụng giao thông ngoại giao, giao thông lãnh sự, va ly ngoại giao, va ly lãnh sự và điện mật mã cũng như sẽ không cho các Chính phủ, các cơ quan đại diện ngoại giao, các cơ quan lãnh sự khác được sử dụng giao thông ngoại giao, giao thông lãnh sự, va ly ngoại giao, va ly lãnh sự và điện mật mã để liên lạc với các cơ quan lãnh

sự do viên chức lãnh sự danh dự đứng đầu, trừ khi được Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho phép trong từng trường hợp một.”

2 Ý kiến tư vấn về pháp lý của Toà án quốc tế nêu trong tiết 30, điều

8 của Công ước này, chỉ có giá trị tư vấn, chứ không có giá trị quyết định, trừ phi được các bên hữu quan thoả thuận.”

Quốc gia phản đối (01): Anh

1985

Công ước quốc tế về viễn thông năm 1982 (Xem Quyết định số 691-NQ/HĐNN7 ngày 21 tháng 12 năm 1985 của Hội đồng Nhà nước):

Trang 19

“Phê chuẩn Công ước quốc tế về viễn thông được thông qua tại Đại

hội toàn quyền của Liên minh viễn thông quốc tế (UIT) họp tại Nairobi (Kênya) năm 1982, mà Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký với lời tuyên bố bảo lưu ghi số 48 trong Nghị định thư cuối cùng kèm theo Công ước.”

1983

Công ước về việc không áp dụng thời hiệu đối với tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người năm 1968

UNTS: [21] “Gia nhập Công ước này, Chính phủ nước Cộng hoà Xã

hội chủ nghĩa Việt nam thấy cần thiết phải tuyên bố rằng theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia thì Công ước này phải để ngỏ cho tất cả các nước tham gia, mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử hay hạn chế nào.”

1982

Công ước về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966

UNTS: [22] Việt Nam tuyên bố “rằng các quy định của điều 48,

khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, và điều 26, khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội

và văn hoá, theo đó khiến cho một số các quốc gia bị tước bỏ cơ hội

Trang 20

trở thành thành viên của các Công ước, có tính chất phân biệt đối xử Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho rằng các Công ước, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, nên được mở cho mọi quốc gia được gia nhập mà không

có bất kỳ phân biệt hay hạn chế nào.”

Quốc gia phản đối (0): Không

Công ước về Loại trừ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW)

UNTS: [23] “Khi thực thi Công ước này, nước Cộng hoà Xã hội chủ

nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi quy định tại khoản 1 điều 29.”

Quốc gia phản đối (0): Không

Công ước quốc tế về Loại trừ tất cả hình thức phân biệt chủng tộc năm 1966

UNTS: [24]

“1 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố rằng những quy định của khoản 1 điều 17 và khoản 1 điều 18 của Công ước mang tính chất phân biệt đối xử, vì theo những quy định

đó, một số nước sẽ không có khả năng trở thành thành viên của Công ước này, và cho rằng theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền các quốc gia thì Công ước phải để ngõ cho tất cả các nước gia nhập mà không

có bất kỳ sự phân biệt đối xử hay hạn chế nào

2 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chịu ràng buộc bởi những qui định của điều 22 của Công ước, và cho rằng mọi tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng Công ước muốn được đưa ra Toà án quốc tế thì cần phải có sự thoả thuận của tất cả các bên trong cuộc tranh chấp.”

Trang 21

Ghi chú: Năm 1984 Việt Nam có phản đối việc cái gọi là chính phủ

Dân chủ Kampuchea phê chuẩn Công ước này

2 Nước Công hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chấp nhận điều XII và cho rằng tất cả các quy định của công ước này đều phải được

áp dụng đối với cả các lãnh thổ chưa giành được quyền tự trị, trong

đó gồm cả các lãnh thổ đặt dưới chế độ quản thác

3 Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thấy điều XI có tính chất phân biệt đối xử, tước bỏ quyền của một số nước gia nhập công ước, và cho rằng công ước này phải được mở cho tất cả các quốc gia đều có quyền được gia nhập.”

Quốc gia phản đối (02): Hà Lan phản đối bảo lưu Điều IX của Việt

Nam do trái với mục đích và đối tượng của Công ước, và Hà Lan không xem Việt Nam là thành viên của Công ước; Anh Chính phủ Cộng hoà dân chủ Kampuchea có tuyên bố phủ nhận giá trị pháp lý của việc Việt Nam gia nhập công ước

1980

Nghị định thư về Cấm sử dụng các chất làm ngạt, khí độc hay các khí khác, và các phương tiện vũ khí sinh học năm 1925 ICRC: [26]

Trang 22

“Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ chịu ràng buộc bởi Nghị định thư nói trên chỉ trong quan hệ với các quốc gia đã ký và phê chuẩn hoặc gia nhập

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ không chịu ràng buộc bởi Nghị định thư nói trên trong quan hệ với các quốc gia thù địch mà lực lượng vũ trang của các nước đó hoặc đồng minh của họ không tôn trọng các quy định của Công ước.”

Ghi chú: Đây là một bảo lưu đặc biệt khi (i) có ý định loại trừ hoàn

toàn tất cả các điều khoản trong quan hệ với các quốc gia khác với (ii) điều kiện là quốc gia đó là quốc gia thù địch và có quân đội của mình hay đồng minh không tuân thủ quy định của Nghị định thư Đây có phải là một bảo lưu hay không còn cần xem xét thêm Tính chất trả đũa có đi có lại trong tuyên bố này (không chịu ràng buộc đối với nước đã vi phạm Nghị định thư) có thể cần xem xét trong quan hệ với Điều 60 Công ước Viên năm 1969 về đình chỉ thi hành, huỷ bỏ điều ước quốc tế khi có vi phạm

1957/1973

Các Công ước Geneva năm 1949 ICRC: [27] Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1957) và Chính phủ lâm thời cách mạng Miền Nam Việt Nam (1973) gia nhập và đưa ra các bảo lưu:

– Điều 10, Công ước Geneva về cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh trong lực lượng vũ trang trên chiến trường

– Điều 10, Công ước Geneva về cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và người bị đắm tàu trong lực lượng vũ trang trên biển – Điều 4, 10, 12 và 85, Công ước Geneva về đối xử với tù binh chiến tranh

– Điều 11 và 45, Công ước Geneva về Bảo vệ thường dân trong chiến tranh

Câu 3 Quốc tịch

Trang 23

Sinh ra trong một gia đình công nhân ở miền Bắc Hy Lạp, năm 1943 khi mới 16 tuổi, Kostas Sarantidis bị bắt đi lính để đưa sang Đức phục vụ cho các lực lượng phát xít

Đến Nam Tư, ông trốn thoát, sống trên những chuyến tàu lửa ngược xuôi dọc biên giới Nam Tư - Hy Lạp

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, ông Kostas không thể trở về Hy Lạp vì không còn giấy tờ tùy thân Sau đó, ông bị tham gia đội quân lê dương của Pháp và được điều tới Đông Dương để tham gia cuộc chiến chống phát xít và giải giáp quân Nhật

Tuy nhiên, ngay khi tới Nam Bộ và Sài Gòn năm 1946, ông Kostas Sarantidis đã chứng kiến những cảnh tượng tố cáo tội ác và sự đàn áp của chủ nghĩa thực dân với nhân dân bản địa

Tháng 6.1946, Kostas Nguyễn Văn Lập trốn khỏi đội quân lê dương Pháp tới vùng

tự do ở tỉnh Bình Thuận và tham gia lực lượng Việt Minh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Từ đó, trở thành người bạn, người đồng chí, đồng đội của Nhân dân Việt Nam, mọi người gọi ông là đồng chí với cái tên Việt Nam rất thân thương, gần gũi: Kostas Nguyễn Văn Lập

Trong cuốn sách "Chiến sĩ quốc tế, Bộ đội Cụ Hồ Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập" do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành, Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập

đã trực tiếp ghi lại những hồi ký, sự kiện quan trọng, giải thích lý do vì sao ông theo Việt Minh

Đó là những trang nhật ký rất sinh động, không chỉ đơn thuần ghi sự việc xảy ra trong ngày mà còn là những trang tả cảnh, những thay đổi khi chứng kiến về sự tàn bạo của quân xâm lược Pháp

Đó còn là những suy nghĩ dằn vặt của người thanh niên nước ngoài trẻ tuổi để rồi cuối cùng, chàng trai Hy Lạp đã dứt khoát chọn con đường theo chính nghĩa, đứng vào hàng ngũ cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập của Việt Nam

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông Kostas Nguyễn Văn Lập được giao nhiệm vụ làm công tác địch vận trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, ông đã lập công xuất sắc khi cảm hóa được 40 lính lê dương buông súng trở về với gia đình Trong chiến đấu, ông Kostas luôn gan dạ, dũng cảm, lập nhiều chiến công…

Trang 24

Cấp bậc cao nhất của ông Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập là Đại tá Năm

1949, ông Nguyễn Văn Lập vinh dự được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam Sau Hiệp định Geneva, năm 1954, ông Nguyễn Văn Lập tập kết ra Bắc và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam

Năm 1958, ông lập gia đình với một cô gái Hà Nội và hai người có với nhau bốn người con, một trai ba gái, tất cả đều lấy tên Việt Nam

Năm 1965, ông Nguyễn Văn Lập cùng gia đình xin phép trở về Hy Lạp sau khi biết tin người mẹ già đang sống tại quê nhà

Dù không còn ở Việt Nam nhưng ông Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập luôn

nỗ lực không ngừng để hỗ trợ Việt Nam và góp sức thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hy Lạp

Ông từng có nhiều năm tận tụy làm công tác ngoại giao nhân dân và tâm huyết xây dựng cộng đồng người Việt tại Hy Lạp như một "Đại sứ tự nguyện" và được bà con Việt Kiều đánh giá là công dân Hy Lạp nhưng trái tim luôn hướng về Việt Nam

Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập đã có một quãng đời trẻ trung, sôi nổi, cống hiến hết mình cho cách mạng Việt Nam Ngay cả sau này, khi đã trở về Hy Lạp sinh sống, trái tim ông vẫn luôn hướng về nước Việt

Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập từng nhiều lần chia sẻ, ông coi Việt Nam là máu thịt của mình

Ông Kostas Sarantidis - Nguyễn Văn Lập được Đảng và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Hữu nghị, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì

Đặc biệt, năm 2010, ông được Nhà nước ta công nhận quốc tịch Việt Nam Năm

2013, ông vinh dự được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ông là người nước ngoài đầu tiên đến thời điểm hiện nay được phong tặng danh hiệu cao quý này

Câu 4 Bảo hộ công dân

Ngày 28-3, trong khuôn khổ buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã cung cấp một số thông tin liên quan đến công tác bảo hộ công dân Đoàn Thị Hương

Trang 25

Trả lời câu hỏi của phóng viên về nhận định của Bộ Ngoại giao đối với khả năng Đoàn Thị Hương được tha bổng tại phiên xử ngày 1-4 sắp tới, cũng như việc Bộ Ngoại giao sẽ tiến hành bảo hộ công dân như thế nào, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh: "Cho đến nay chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều biện pháp bảo hộ công dân đối với công dân Đoàn Thị Hương"

"Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo hộ ngoại giao, lãnh sự, pháp lý

ở cấp độ cao nhất để đảm bảo công dân Đoàn Thị Hương được xét xử công bằng, khách quan và được trả tự do", bà Lê Thị Thu Hằng khẳng định

Liên quan đến thông tin về tình trạng sức khỏe của công dân Đoàn Thị Hương trước phiên tòa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết, Bộ Ngoại giao Việt Nam, các cơ quan chức năng của Bộ Ngoai giao Việt Nam thường xuyên giữ liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia

Theo bà Lê Thị Thu Hằng, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia đã 3 lần thăm lãnh

sự đối với công dân Đoàn Thị Hương kể từ ngày 1-3-2019 để động viên, thăm hỏi sức khỏe và giúp Hương có thể ổn định tâm lý cho phiên tòa sắp tới

Bà cũng thông tin thêm rằng, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia cũng đang làm các thủ tục cần thiết để có thể thăm lãnh sự Đoàn Thị Hương một lần nữa trước phiên tòa ngày 1-4

Đối với câu hỏi của phóng viên đề cập việc liệu phiên tòa xét xử Đoàn Thị Hương sắp tới có đại diện cấp cao nào của Việt Nam tham dự hay không, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã có những chia sẻ cụ thể

"Như tôi từng nói, trong suốt hơn 20 phiên tòa xét xử công dân Đoàn Thị Hương đều có sự có mặt của đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia và sự có mặt của Đại

sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Malaysia", bà nói

Từ đó, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tái khẳng định, để tiếp tục các nỗ lực bảo đảm cho Đoàn Thị Hương được xét xử công bằng, khách quan và được trả tự do, phía Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo vệ công dân, lãnh

sự, ngoại giao, pháp lý ở cấp độ cao nhất

Câu 5 Các bước ký Điều ước quốc tế (Công ước viên 1969)

Đàm phán, soạn thảo – Thông qua – Xác thực – Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc

Trang 26

Điều ước quốc tế là một thỏa thuận pháp lý được ký kết giữa các quốc gia với nhau thông qua người đại diện hợp pháp của các quốc gia ký kết Thông thường, một điều ước quốc tế được hình thành thông qua 04 bước cơ bản sau: Đàm phán, soạn thảo – Thông qua văn bản điều ước – Xác thực văn bản điều ước – Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc đối với điều ước

Trong một số trường hợp, có thể phát sinh bước thứ năm liên quan đến bảo lưu điều ước quốc tế Mặc dù bảo lưu là một vấn đề thường được xem xét riêng nhưng vẫn nên được xem là một trong các bước ký kết điều ước quốc tế Có hai lý do vì sao bảo

lưu là một bước trong ký kết điều ước quốc tế Một là bảo lưu là hành vi pháp lý phát sinh cùng lúc với việc thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc đối với điều ước Hai là chỉ bảo lưu quyết định phạm vi chịu ràng buộc thực sự của một điều ước đối với quốc gia

đưa ra bảo lưu: Các điều khoản thực sự ràng buộc một quốc gia ký kết = (tất cả điều khoản của điều ước) – (các điều khoản bị bảo lưu)

Bước 1: Đàm phán, soạn thảo

Đây là bước đầu tiên để hình thành một điều ước quốc tế giữa các quốc gia Đây cũng là bước chiếm nhiều công sức và thời gian nhất trong các bước Công ước Viên không có quy định riêng về đàm phán, soạn thảo điều ước quốc tế Các quốc gia được

tự do quyết định mọi vấn đề liên quan đến đàm phán và soạn thảo Trong trường hợp, đàm phán thành công dẫn đến ký kết một điều ước quốc tế, một số hành vi phát sinh trong giai đoạn đàm phán, soạn thảo có thể dẫn đến điều ước quốc tế bị vô hiệu, ví dụ như sai sót, gian dối, uy hiếp hay hối lộ người đại diện quốc gia.[1]

Bước 2: Thông qua văn bản điều ước

Quá trình đàm phán, soạn thảo thành công sẽ đưa đến kết quả là một văn bản điều ước được người đại diện quốc gia của các bên đồng ý Để chính thức kết thúc quá trình đàm phán, soạn thảo, các bên thường tiến hành bước thông qua văn bản điều ước quốc

tế (Adoption of the text) Điều 9 Công ước Viên quy định hai trường hợp thông qua

Điều 9(1) quy định nguyên tắc rằng văn bản điều ước được thông qua khi có sự đồng ý

của tất cả các quốc gia tham gia vào việc soạn thảo nên văn bản đó Điều 9(2) quy định

rằng trong trường hợp văn bản điều ước được đàm phán, soạn thảo tại một hội nghị quốc tế thì không cần thiết phải có sự đồng ý của tất cả các quốc gia tham gia hội nghị:

Trang 27

“2 Văn bản điều ước được thông qua tại một hội nghị quốc tế khi có hai phần ba trong tổng số quốc gia có mặt và bỏ phiếu đồng ý, trừ khi, bằng cùng tỷ lệ đa số như thế, các quốc gia quyết định áp dụng quy định khác”

Thông thường, các hội nghị quốc tế sẽ thông qua một bộ quy tắc thủ tục tại phiên họp đầu tiên trước khi tiến hành đàm phán, trong đó bao gồm cả quy tắc về bỏ phiếu thông qua Ví dụ như tại Hội nghị Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1968 – 1969, Quy tắc thủ tục của Hội nghị có 12 quy tắc liên quan đến bỏ phiếu, gồm tỷ lệ cần thiết để thông qua quyết định, về cách thức bỏ phiếu,…[2] Để thông qua văn bản Công ước, Hội nghị quy định cần phải có 2/3 đại diện các quốc gia tham gia và bỏ phiếu.[3]

Bước 3: Xác thực văn bản điều ước

Điều 10 Công ước quy định hai cách thức xác thực văn bản điều ước Văn bản được xác thực được xem là văn bản gốc – là căn cứ duy nhất xác định nội dung chính xác và thực sự của một điều ước quốc tế.[4] Bên cạnh văn bản gốc được xác thực, một điều ước quốc tế có thể có nhiều bản sao, bản dịch khác nhau – nhưng các văn bản này đều không có bất kỳ giá trị pháp lý nào

Thông thường, các điều ước quốc tế thường được xác thực thành nhiều bản theo các ngôn ngữ khác nhau Đối với điều ước quốc tế song phương, thông thường văn bản xác thực sẽ được xác lập theo ngôn ngữ của hai bên, và có giá trị pháp lý ngang nhau, hoặc có thể kèm theo ngôn ngữ thứ ba có giá trị ưu tiên sử dụng

Ví dụ: Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam

và Campuchia năm 2005 quy định Hiệp ước được “Làm tại Hà Nội, ngày 10 tháng 10

năm 2005, thành hai bản gốc, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Pháp; cả

ba văn bản đều có giá trị như nhau Trong trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bản tiếng Pháp được lấy làm căn cứ.”

Đối với các điều ước quốc tế do Liên hợp quốc bảo trợ, văn bản xác thực thường được làm thành 06 bản theo 06 ngôn ngữ chính thức của tổ chức này, cụ thể: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, từ năm 1973 thêm tiếng Ả-rập.[6]

Văn bản điều ước được xác định là xác thực và cuối cùng (authentic and definitive)

theo thủ tục được quy định trong chính văn bản điều ước đó hoặc theo thỏa thuận của các quốc gia tham gia soạn thảo văn bản

Trang 28

Ví dụ: Công ước Viên quy định tại Điều 85 về Văn bản xác thực rằng văn bản gốc của Công ước được làm thành năm bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc và tiếng Tây Ban Nha và được nộp lưu chiểu tại Tổng thư ký Liên hợp quốc

Trong trường hợp không có quy định trong văn bản hay không có thỏa thuận, văn

bản sẽ được xác thực bằng việc ký, bao gồm cả ký ad referendum hoặc ký tắt bởi đại

diện các quốc gia vào văn bản điều ước hoặc vào Nghị quyết cuối cùng của hội nghị có

ghi nhận văn bản điều ước Ở đây, chữ ký ad referendum chỉ có hiệu lực khi có xác

nhận lại của quốc gia liên quan

Bước 4: Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc

Thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc là bước quan trọng trọng nhất trong tất cả các bước ký kết điều ước quốc tế vì chỉ đến bước này, một quốc gia mới chính thức thể hiện

ý chí chịu ràng buộc bởi một điều ước quốc tế Một quốc gia tham gia đàm phán, soạn thảo, thông qua, xác thực văn bản điều ước, nhưng điều ước đó không thể và không bao giờ có thể ràng buộc quốc gia đó nếu không có sự đồng ý chịu ràng buộc của quốc gia liên quan

Vậy làm thế nào để một quốc gia thể hiện ý chí chịu ràng buộc đối với một điều ước quốc tế? Điều 11 đến Điều 15 quy định về những hành vi có thể được xem là hành

vi thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc của một quốc gia Điều 11 quy định nguyên tắc chung rằng: “Sự đồng ý chịu sự ràng buộc của một quốc gia đối với một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao đổi các văn kiện cấu thành điều ước phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận.”

Điều 11 cho phép có nhiều các thức thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc Cách thức nào được lựa chọn phụ thuộc vào quy định của chính điều ước quốc tế liên quan hoặc thỏa thuận giữa các quốc gia Ví dụ như, Công ước Viên quy định Công ước cần được phê chuẩn, và các quốc gia có thể được gia nhập sau đó.[8]

Điều 12 – 15 quy định cụ thể về các hành vi nêu ở Điều 11 trên Đây là các cách

thức phổ biến được sử dụng trên thực tế: hành vi ký (signature, Điều 12), trao đổi văn kiện cấu thành điều ước (exchange of instruments constituting a treaty, Điều 13), phê chuẩn, phê duyệt hay chấp nhận (ratification, acceptance or approval, Điều 14), và gia nhập (accession, Điều 15)

Trang 29

Trong số các cách thức trên, cần lưu ý đến hai cách thức khá đặt biệt: Trao đổi văn

kiện cấu thành điều ước quốc tế và Gia nhập Trao đổi văn kiện cấu thành điều ước quốc tế là một trong những cách thức thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc được sử dụng

ngày càng phổ biến.[9] Nội dung mà hai nước thống nhất với nhau qua các công hàm trao đổi công việc sẽ trở thành nội dung của điều ước quốc tế nếu các bên đồng ý như vậy

Ví dụ: Thỏa thuận về cấp thị thực giữa Việt Nam và Mỹ năm 2016 sử dụng hình thức này Thỏa thuận có đoạn viết:

“Nếu đề xuất này được Chính phủ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chấp thuận, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đề xuất rằng Công hàm này, cùng với công hàm khẳng định từ phía Đại sứ quán Hoa Kỳ, sẽ tạo thành thỏa thuận giữa hai Chính phủ.”

Về gia nhập, một số điều ước quốc tế đặt ra các điều kiện để một quốc gia có thể gia nhập Ví dụ như, Công ước chống diệt chủng năm 1951 quy định rằng các quốc gia không là thành viên của Liên hợp quốc chỉ có thể gia nhập Công ước này nếu có lời mời từ Đại hội đồng Liên hợp quốc.[10] Hiệp ước về Nam cực năm 1959 quy định các quốc gia thành viên Liên hợp quốc có quyền gia nhập, các quốc gia khác chỉ có thể gia nhập nếu được các quốc gia thành viên mời.[11] Một ví dụ gần đây hơn là Hiệp ước Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) quy định các quốc gia

sẽ gia nhập theo thỏa thuận riêng được ký kết giữa các quốc gia thành viên và quốc gia

có ý định gia nhập.[12] Đối với các điều ước là văn kiện thành lập tổ chức quốc tế, vấn

đề gia nhập điều ước và vấn đề gia nhập tổ chức quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Câu 6 Thẩm quyền ký Điều ước quốc tế (Công ước viên 1969)

Trước khi bắt đầu các bước ký kết điều ước quốc tế, có hai vấn đề quan trọng được Công ước Viên năm 1969 quy định Một là vấn đề quyền năng ký kết điều ước quốc tế

(Capacity of a State to conclude treaties) ở Điều 6 Hai là vấn đề thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế của người đại diện quốc gia quy định ở Điều 7 về Ủy nhiệm thư (Full power) Một điểm cần lưu ý ở đây là từ “ký kết” được hiểu theo nghĩa rộng là việc xác lập một điều ước quốc tế (to conclude a treaty), tránh nhầm lẫn với từ “ký” có nghĩa là hành vi ký (to sign a treaty)

Trang 30

1 Quyền năng ký kết điều ước quốc tế của Quốc gia

Trong định nghĩa về điều ước quốc tế quy định ở Điều 2(1)(a), điều ước quốc tế

là thỏa thuận giữa các quốc gia (xem chi tiết định nghĩa Điều ước quốc tế ở post này) Như vậy, khẳng định đầu tiên là các quốc gia có quyền năng ký kết điều ước quốc

tế – tức là có năng lực pháp lý để xác lập một điều ước quốc tế ràng buộc chính mình theo luật pháp quốc tế Điều 6 Công ước quy định:

“Mọi quốc gia đều có quyền năng ký kết các điều ước”

Đây là điều khoản ngắn nhất trong toàn bộ Công ước, trong bản gốc tiếng Anh chỉ

có 07 từ (“Every State possesses capacity to conclude treaties.”) Nội dung của điều

này về cơ bản là đã rất rõ rang, không cần nhiều chú giải thêm Có hai điểm cần chú ý đối với điều khoản này

Một điềm lưu ý là Công ước không có điều khoản nào để định nghĩa thuật ngữ “Quốc gia” được dung trong Điều 6 Ủy ban Luật pháp Quốc tế Liên hợp quốc (ILC) có thuyết minh rằng: thuật ngữ “Quốc gia” được sử dụng với nội hàm giống như trong Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, QUy chế của Tòa ICJ, và các Công ước Geneva về Luật Biển năm 1968 và Công ước Viên về Quan hệ Ngoại giao.[1] Tuy nhiên, đây chỉ là cách ILC tránh khỏi phải sa đà vào việc tranh luận bất tận và không cần thiết về định nghĩa Quốc gia Ủy ban đã khôn ngoan bỏ qua tiểu tiết để thống nhất được một bản dự thảo cơ bản hoàn thiện mà sau này được thông qua vào năm 1969 Do không có định nghĩa trong Công ước Viên, để xác định một thực thể có phải là một Quốc gia hay không và theo đó, có quyền năng ký kết điều ước quốc tế hay không, cần xem xét đến các quy định trong luật pháp quốc tế nói chung Tuy nhiên, đây là một vấn

đề phức tạp (xem chi tiết ở post này) Thông thường, định nghĩa Quốc gia với 04 yếu

tố trong Công ước Montevideo năm 1933 được viện dẫn

Một điểm thú vị khác về Điều 6 này là lịch sử dự thảo trong khuôn khổ ILC, và tại Hội nghị Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1968 – 1969 Các phiên bản Điều 6 trước khi được thông qua năm 1969 dài hơn nhiều và quy định về nhiều chủ thể có quyền năng ký kết Ví dụ như năm 1959, dự thảo mà ILC thông qua ghi nhận quyền năng ký kết của cả Quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế, bao gồm tổ chức quốc

tế và các chủ thể đặc biệt như Vatican.[2] Dự thảo Điều 2 lúc đó quy định:

Trang 31

“[…] một thỏa thuận quốc tế (bất kể hình thức) là một thỏa thuận bằng văn bản

được điều chỉnh bởi luật quốc tế và ký kết giữa hai hay nhiều Quốc gia, hoặc giữa các chủ thể khác của luật quốc tế, có quyền năng xác lập điều ước.” [3]

Đến năm 1962, ILC cụ thể hóa hơn, theo đó, dự thảo với ba khoản ghi nhận:

“1 Quyền năng ký kết điều ước quốc tế theo luật quốc tế thuộc về các Quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế 2 Trong quốc gia liên bang, quyền năng của các bang thành viên trong liên bang phụ thuộc vào hiến pháp liên bang 3 Đối

với các tổ chức quốc tế, quyền năng phụ thuộc vào văn kiện thành lập tổ chức quốc tế

đó.”[4]

Đến năm 1965, ILC quyết định loại bỏ “các chủ thể khác của luật quốc tế” và “tổ chức quốc tế” ra khỏi phạm vi điều chỉnh của dự thảo Quyền năng của tổ chức quốc tế

sẽ được xem xét riêng Sau này hình thành nên Công ước Viên về Luật điều ước quốc

tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau năm 1986 Dự

thảo được thông qua và sau đó được trình ra Hội nghị Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1968 – 1969 như sau:

“1 Mọi Quốc gia đều có quyền năng ký kết điều ước quốc tế 2 Các bang của

quốc gia liên bang có thể có quyền năng ký kết điều ước nếu quyền năng đó được thừa

nhận theo hiến pháp liên bang và nằm trong giới hạn được đặt ra.”[5]

Trong Hội nghị Viên, một số nước đề xuất đưa Tổ chức quốc tế vào lại trong dự thảo, nhưng không được chấp nhận

Theo biên bản tóm tắt thảo luận tại Hội nghị,[6] khoản 2 liên quan đến các ban của quốc gia liên bang gây chia rẽ giữa các nước tham gia Hội nghị Một bên gồm các nước như Canada, Mỹ, Italy và Tanzania đề nghị loại bỏ khoản 2 này Một trong những

lý do chính là việc đề cập đến hiến pháp liên bang và vấn đề phân quyền giữa liên bang

và bang là vấn đề nội bộ của từng nước Việc đề cập đến vấn đề này trong Công ước sẽ

có nguy cơ mở ra khả năng một quốc gia khác hay một tòa án quốc tế có quyền giải thích hiến pháp của một quốc gia liên bang

Một nhóm các quốc gia khác bao gồm Liên Xô, Ukraine và Ba Lan, cho rằng lo ngại của các nước nêu trên là không có cơ sở vì các quốc gia khác không giải thích hiến pháp của quốc gia liên bang mà chỉ ghi nhận lại giải thích của chính quốc gia liên bang

về chính hiến pháp của mình Điều này ám chỉ rằng các quốc gia khi muốn ký kết điều

Trang 32

ước với một bang của quốc gia liên bang chỉ cần xác nhận lại vấn đề quyền năng với chính phủ liên bang của quốc gia đó Tuy nhiên, có thể như đoàn Ấn Độ phát biểu, vấn

đề quan hệ giữa liên bang và bang theo nội luật từng nước chưa được thảo luận thấu đáo ở ILC và Hội nghị cũng không có thời gian để tranh luận cặn kẽ,[7] cách tốt nhất

là xóa bỏ khoản (2) nêu trên Trong cuộc họp ngày 28 tháng 4 năm 1969, Hội nghị đã

bỏ phiếu xóa khoản (2) về quyền năng ký kết của các bang của quốc gia liên bang với

tỷ lệ 2/3 ủng hộ.[8] Do đó, cuối cùng Điều 6 chỉ ghi nhận Quốc gia có quyền năng ký kết điều ước quốc tế

2 Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế của người đại diện quốc gia

Mọi quốc gia đều có quyền năng ký kết điều ước quốc tế Nhưng, cái-được-gọi-là

Quốc gia chỉ là một trừu tượng pháp lý (a legal abstract): trên thực tế, Quốc gia không

thể tự mình ‘hành động’ mà chỉ có thể thực hiện một hành vi nào đó thông qua các quan chức và cá nhân có thẩm quyền đại diện.[9] Bản chất của quốc gia là một cộng đồng dân cư sống ổn định trên một vùng lãnh thổ xác định dưới sự quản lý của một nhà nước

Do đó, cần có quy định về đại diện Quốc gia – những người có quyền đại diện của cho một gia tiến hành ký kết một điều ước quốc tế ràng buộc với quốc gia đó Ví dụ như trong số gần 95 triệu người Việt Nam, ai trong số đó có thẩm quyền đại diện cho Việt Nam để ký kết điều ước quốc tế? Điều 7 của Công ước phục vụ cho mục đích này Điều 7 có hai khoản Khoản (1) xác định nguyên tắc chung, và khoản (2) xác định các ngoại lệ cho nguyên tắc chung nêu ở khoản (1)

Về nguyên tắc, khoản (1) quy định một người được xem là đại diện cho một quốc

gia để thông qua (adopt), xác thực văn bản điều ước (authenticate) hay thể hiện sự chấp nhận ràng buộc của một quốc gia đối với một điều ước quốc tế (express the consent to

be bound by a treaty) cần phải có ủy nhiệm thư phù hợp Hoặc, từ thực tiễn của quốc

gia đó hay các hoàn cảnh khác cho thấy quốc gia đó xem một người nhất định là đại diện quốc gia mà không cần ủy nhiệm thư

Khoản (2) quy định ba nhóm người không cần có ủy nhiệm thư do với chức năng nhà nước của họ, họ mặc nhiên được luật quốc tế công nhận là người đại diện quốc

gia Nhóm thứ nhất – thường được gọi là “Bộ ba lớn” (Big Three), bao gồm nguyên thủ

quốc gia, người đứng đầu chính phủ và bộ trường bộ ngoại giao Đặt vào hoàn cảnh của Việt Nam, ba vị trí này tương ứng Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng

Trang 33

Bộ Ngoại giao Nhóm thứ hai là người đứng đầu các phái bộ ngoại giao ở nước ngoài (ví dụ, đại sứ) Nhóm thứ ba là các đại diện quốc gia được nước đó cử đến tham dự các

hội nghị quốc tế, trưởng phái đoàn đại diện ở các tổ chức quốc tế hay các cơ quan trực thuộc tổ chức quốc tế

Mặc dù, cả ba nhóm người đều được mặc nhiên xem là đại diện quốc gia nhưng

thẩm quyền của từng nhóm có sự khác nhau Nhóm thứ nhất có toàn quyền quyết định

ký kết điều ước quốc tế Nhóm thứ hai và thứ ba chỉ có thẩm quyền mặc nhiên khi thông

qua văn bản điều ước giữa quốc gia sở tại và quốc gia cử đi, không có quyền thể hiện

sự đồng ý chịu ràng buộc Xem bảng dưới để dễ hiểu:

với một quốc gia (bao gồm tất cả 05 bước ký kết điều ước quốc tế: đàm phán, soạn thảo, thông qua, xác thực, thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc)

Nhóm 2 Người đứng đầu phái bộ ngoại

giao ở nước ngoài

Chỉ được thông qua văn bản điều ước

Trang 34

Điều 8 quy định một trường hợp đặc biệt khi một người tiến hành ký kết điều ước quốc tế nhưng người đó không thuộc bất kỳ trường hợp nào theo Điều 7 Hành vi ký kết không có thẩm quyền đó chỉ được xem là hợp pháp nếu quốc gia của người đó xác nhận lại sau đó

Một điểm lưu ý quan trọng cần nhắc đến là Điều 7 xác định người đại diện quốc gia từ góc độ luật quốc tế Thẩm quyền đại diện quốc gia của những người đó được xác

lập theo luật pháp quốc tế, không phải theo pháp luật quốc gia Ví dụ như trong Vụ Qatar v Bahrain, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã công nhận một biên bản cuộc họp

giữa ngoại trường hai nước với ngoại trường Arab Saudi là một điều ước quốc tế ràng buộc, dù Bahrain cho rằng theo pháp luật của nước ngày bộ trưởng ngoại giao không

có quyền ký kết loại điều ước quốc tế đó.[10] Tuy nhiên, không có nghĩa là luật pháp quốc gia không ảnh hưởng đến việc xác định người đại diện Luật pháp quốc gia xác định chức vụ, vị trí của các cá nhân trong chính quyền quốc gia đó, và dựa trên chức

vụ, vị trí đó, mà Điều 7 sẽ trao thẩm quyền đại diện với mức độ và phạm vi tương ứng

Câu 7 Nhật Bản rút khỏi Công ước về Đánh bắt cá voi (IWC)

Điều XI cho phép rút khỏi IWC – Giới thiệu về Công ước – Lệnh cấm đánh bắt cá voi vì mục đích thương mại năm 1986 và tiền lệ Iceland – Bất đồng giữa IWC và Nhật Bản – Vụ kiện đánh bắt cá voi tại Tòa ICJ

Theo thông báo ngày 14 tháng 01 năm 2019, Ủy ban Đánh bắt cá voi Quốc tế (International Whaling Commission – IWC) đã nhận được thông báo của Chính phủ Nhật bản về việc nước này sẽ rút khỏi Công ước về Đánh bắt cá voi năm 1946 trong năm 2019 Theo cập nhật từ Bộ Ngoại giao Mỹ – Mỹ là nước lưu chiểu của Công ước này – công hàm thông báo của Nhật Bản ghi ngày 26 tháng 12 năm 2018 và nêu rõ việc rút khỏi Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày 30 tháng 06 năm 2019

Điều XI Công ước

Điều XI của Công ước quy định rằng “Bất kỳ Chính phủ ký kết nào cũng có thể rút khỏi Công ước này vào ngày 30 tháng 06 của bất kỳ năm nào bằng việc gửi thông báo vào hoặc trước ngày 01 tháng 01 của cùng năm cho Chính phủ lưu chiểu.”

Như vậy, Công ước quy định một thủ tục đặc biệt một quốc gia rút khỏi Công ước, với hai mốc thời gian:

 Thông báo rút khỏi Công ước cần gửi đúng hoặc trước ngày 01 tháng 01; và

Trang 35

 Việc rút khỏi sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 30 tháng 06

Trong vụ việc này, Nhật Bản đã làm đúng thủ tục trên Công hàm được gửi cho Chính phủ Mỹ vào ngày 26 tháng 12 năm 2018 Việc rút khỏi sẽ có hiệu lực ngày 30 tháng 06 năm 2019 Cho đến thời điểm đó, Nhật Bản sẽ vẫn là thành viên và vẫn chịu ràng buộc bởi các nghĩa vụ của Công ước

Giới thiệu về Công ước

Công ước Quốc tế Điều chỉnh về Đánh bắt cá voi (International Convention for the Regulation of Whaling) được thông qua vào năm 1946 nhằm mục đích xác lập các quy định điều chỉnh việc đánh bắt cá voi của các quốc gia thành viên Theo lời nói đầu của Công ước, mục đích của Công ước không nhằm cấm đánh bắt cá voi mà nhằm bảo đảm việc đánh bắt cá voi được bền vững trước thực trạng đánh bắt quá mức Công ước nhằm đạt được cân bằng giữa duy trình đánh bắt cá voi và bảo tồn nguồn cá voi

Quyết định ký kết một công ước để quy định về việc bảo tồn tốt các nguồn cá voi

và do đó tạo khả năng phát triển trong trật tự ngành công nghiệp đánh bắt cá voi.”

Lệnh cấm đánh bắt cá voi thương mại năm 1986 và tiền lệ Iceland

Năm 1982, Ủy ban IWC đã thông qua sửa đổi Biểu biện pháp áp đặt quota đánh bắt cá voi thương mại về không (zero) Nói cách khác, mọi hoạt động đánh bắt cá voi thương mại sẽ bị cấm Sửa đồi có hiệu lực từ năm 1986, và vẫn tiếp tục có hiệu lực đến nay

Quyết định được IWC thông qua với tỷ lệ 25 phiếu thuận, 07 phiếu chống và 05 phiếu trắng Bảy nước phản đối bao gồm: Nhật Bản, Na Uy, Peru, Liên Xô, Brazil, Iceland và Hàn Quốc Peru và Brazil rút phản đối năm 1983 Dưới sức ép của Mỹ, năm

1988 Nhật Bản tuyên bố rút phản đối của mình, nhưng tuyên bố sẽ nghiên cứu đánh bắt

cá voi phi-thương mại vì mục đích nghiên cứu khoa học.[2] Phản đối của Na Uy tiếp tục có hiệu lực cho đến hiện nay

Một trường hợp đặc biệt là Iceland Không rõ vì lý do gì, Iceland không có phản đối lệnh cấm, và theo đó, nước này phải chịu ràng buộc bởi lệnh cấm Tuy nhiên, để tránh tiếp tục chịu ràng buộc bởi lệnh cấm, Iceland rút khỏi IWC vào năm 1992 Nước này tái gia nhập Công ước vào năm 2002 với một tuyên bố bảo lưu:

“Chính phủ Iceland sẽ không cấp phép đánh bắt thương mại cá voi trước năm

2006, và sau đó cũng không cấp phép trong giai đoạn đàm phán trong nội bộ IWC về

Trang 36

RMS [Revised Management Scheme] Tuy nhiên, cam kết này không áp dụng trong trường hợp lệnh cấm đánh bắt cá voi [năm 1986]…”[3]

Theo thông tin trên website của IWC, tuyên bố bảo lưu của Iceland không được tất cả thành viên IWC chấp nhận Tại cuộc họp đặc biệt năm 2002, đa số các quốc gia

đã bỏ phiếu chấp nhận Iceland là thành viên của IWC

Ví dụ của Iceland có thể là một tiền lệ mà Nhật Bản có khả năng áp dụng: Rút khỏi IWC và sau đó tái gia nhập với một bảo lưu Lựa chọn này sẽ cân bằng giữa nhu cầu đánh bắt cá voi của Nhật Bản, vừa bảo đảm việc đánh bắt này nằm trong phạm vi kiểm soát của cộng đồng quốc tế

Bất đồng giữa Nhật Bản và IWC

Việc Nhật Bản rút khỏi Công ước là kết quả của xung đột nhiều năm giữa nước này và đa số các quốc gia thành viên IWC Theo Keiko Hirata, mục đích và đối tượng của Công ước đã thay đổi theo thời gian, từ việc khai thác bền vững sang nhấn mạnh đến bảo tồn cá voi.[4] Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc mở rộng thành viên của IWC.[5] Ban đầu chỉ bao gồm những nước đánh bắt cá voi Tuy nhiên, nhiều quốc gia

có quan điểm chống việc đánh bắt cá voi hoặc không có hoạt động đánh bắt cá voi tham gia và bắt đầu chiếm đa số trong IWC, làm cho các quyết định của Uỷ ban IWC nghiêng

về hướng bảo tồn Sự thay đổi này làm mấy đi tính cân bằng giữa khai thác và bảo tồn trong Công ước mà đỉnh điểm là quyết định cấm đánh bắt cá voi thương mại năm 1982 Dưới sức ép của Mỹ, nhằm đổi lại thỏa thuận nghề cá với Mỹ,[6] Nhật Bản rút phản đối lệnh cấm vào năm 1988 Thay vào đó, Nhật Bản tiến hành các hoạt động đánh bắt cá voi phi-thương mai vì mục đích nghiên cứu khoa học Điều VII của Công ước cho phép hoạt động này:

“bất kỳ Chính phủ ký kết nào cũng có thể cấp phép cho công dân của mình giấy phép đặc biệt để công dân đó giết, thu hoạch và xử lý cá voi vì mục đích nghiên cứu khoa học với các điều kiện hạn chế về số lượng và các điều kiện khác mà Chín phủ ký kết nghĩ rằng phù hợp.”

Chương trình đánh bắt cá voi phi-thương mại này được thực hiện từ năm 1989 Nhật Bản cho rằng chương trình nhằm xây dựng hệ thống khoa học nhằm bảo tồn và quản lý các loài cá voi như minke, Bryde’s, sei và sperm whales.[7] Tuy nhiên, các quốc gia khác, các NGO, học giả, nhà báo và nhà khoa học cho rằng thực chất đây là

Trang 37

hoạt động đánh bắt cá thương mại vì thịt cá voi được bày bán tại các chợ của Nhật Bản.[8]

Vụ kiện đánh bắt cá voi

Năm 2010, Australia khởi kiện Nhật Bản ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cáo buộc nước này vi phạm Công ước khi tiến hành giai đoạn hai của Chương trình đánh bắt cá voi tại biển Nam Cực (Japanese Whale Research Program under Special Permit

in the Antarctic – JARPA II): Vụ kiện đánh bắt cá voi Trong phán quyết năm 2014, Tòa kết luận rằng:

Để đánh giá liệu JARPA II có là hoạt động nghiên cứu khoa học theo Điều VII hay không, Tòa dựa vào hai tiêu chí: (1) liệu chương trình có liên quan đến nghiên cứu khoa học?, và (2) việc giết, thu hoạch và xử lý cá voi có vì mục đích khoa học [9] Ở tiêu chí thứ (2), Tòa sẽ đánh giá xem liệu với việc sử dụng phương pháp giết lấy mẫu, thiết kế và thực hiện chương trình có hợp lý để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra.[10]

 Tòa kết luận rằng nhìn chung JARPA II có thể xem là hoạt động nghiên cứu khoa học, nhưng việc thiết kế và thực thi chương trình không hợp lý để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra.[11] Do đó, viêc cấp phép để giết, thu hoạch và xử lý các voi theo JARPA II không được xem là vì mục đích nghiên cứu khoa học theo Điều VII.[12] Tóm lại, chương trình JARPA II là hoạt động nghiên cứu khoa học, nhưng việc cấp phép giết

cá voi để thực hiện chương trình này thì không hợp lý để được xem là vì mục đích nghiên cứu khoa học của JARPA II

Câu 8 Khủng hoảng Kosovo và tác động đối với quan hệ quốc tế

Bom đạn lại một lần nữa dội xuống ngay châu Âu mà cách đây chục năm còn tràn đầy hy vọng vào một tương lai hoà giải, hoà bình Thực tế trong 10 năm qua chưa một ngày nào trên lục địa này im tiếng súng, Nguy cơ chiến tranh toàn diện giữa hai "phe" mất đi thì lập tức xuất hiện một loạt những nguy cơ bất ổn mới : Các cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ, nguy cơ "rò rỉ" hạt nhân, buôn lậu ma tuý quốc tế , v.v Nhưng cuộc chiến tranh

ở Nam Tư lần này vẫn là một sự kiện đặc biệt nghiêm trọng Lần đầu tiên NATO do Mỹ cầm đầu tấn công một nước có chủ quyền và có quan hệ thân thiện với Nga ngay trong khu vực ảnh hưởng truyền thống của nước này ở châu Âu Điều gì đã dẫn đến tình hình khủng hoảng Kosovo như ngày nay? Lý do thực sự nào thúc đẩy NATO tấn công một nước không

hề đe dọa an ninh của bất cứ thành viên nào của Liên minh quân sự này? Tác động của chiến tranh này đến tình hình thế giới, tới quan hệ giữa các nước lớn ra sao? Đó là những vấn đề mà bài báo này cố tìm cách lý giải phần nào, trong điều kiện cuộc chiến còn đang tiếp diễn

Trang 38

Nguyên nhân "khủng hoảng Kosovo"

Nói một khách quan thì trước khi phương Tây can thiệp vào Nam Tư, tình hình ở khu vực Balkan, đặc biệt là ở trên vùng đất Nam Tư cũ, cũng đã căng thẳng Nguyên nhân đầu tiên của những căng thẳng này là các mâu thuẫn sắc tộc,tôn giáo vốn đã tiềm tàng từ lâu đời nay gặp cơ hội bùng nổ

Người Nam Sla-vơ, trong đó có người Sec-bi đến bán đảo Balkan vào khoảng thế kỷ thứ bảy trước công nguyên Trên mảnh đất mà Đế chế Bi-dăn-ti-um cấp cho, người Sec-bi dần xây dựng và mở rộng đất đai và lập nên vương quốc Serbia Vương quốc này đã có thời cực thịnh vượng ( khoảng đầu thế kỷ XIV) và bao gồm cả Bosnia, Slovenia và Croatia Kosovo từng là trung tâm của vương quốc này Cũng chính tại Kosovo vào năm1389 Hoàng tử La-da, thủ lĩnh của Serbia đã ngã xuống trong trận chiến đấu chống đế quốc Ottoman để bảo vệ vương quốc Serbia Tuy cuộc chiến thất bại, nhưng từ đó Kosovo được coi như cái nôi lịch sử, nơi hội tụ tinh thần dân tộc Serbia Ottoman cai trị vùng đất của Serbia msng theo cả một sự xáo trộn dân số và tôn giáo Người An-ba-ni, đạo Hồi cùng theo đó mà thâm nhập vào đây Trong nhiều thế kỷ sau đó cả vùng đất Balkan bị chia sẻ, giành giật giữa đế quốc Ottoman và Triều Hã-bu-rơ, tiếp đó là đế quốc A'o-Hung Sự di dân, quá trình đấu tranh đòi độc lập dân tộc xen kẽ với các cuộc chiến tranh triền miên giữa liên minh của từng dân tộc với các đế quốc cai trị chống lại liên minh của dân tộc khác và

đế quốc khác là nguyên nhân tồn tại cùng một lúc hai quá trình trái ngược nhau : quá trình phân tách và quá trình đồng hoá dân tộc và tôn giáo Điều này giải thích cho hiện tượng đa dân tộc, đa tôn giáo và sự bố trí nhiều khi xen kẽ giữa các cộng đồng dân tộc và tôn giáo khác nhau, cũng như những mối hiềm khích giữa các cộng đồng ở Balkan

Đầu thế kỷ XIX, sau những cuộc nổi dậy của người Serbia, nhà nước Serbia ra đời

và liên tục mở rộng đất đai, đặc biệt thông qua các cuộc chiến tranh Balkan Kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất, với Hoà ước Versailles, Serbia đã trở thành Nam Tư và bao gồm

cả Kosovo, Vovoidin, Montenegro, Bosnia, Croatia và Slovenia và như vậy đạt được hai mục tiêu: thống nhất được tất cả người Serbi trong một quốc gia và lập được một liên minh bền vững của các dân tộc Nam Sla-vơ

Trong chiến tranh thế giới thứ hai đất nước Nam Tư bị phát xít Đức xâm chiếm và chia cắt (Kosovo lúc đầu bị đưa cho An-ba-ni sau đó bị Italia sát nhập), nhưng kết thúc chiến tranh, lãnh thổ nước này lại được thừa nhận như trong Hoà ước Versailles Dưới chính quyền của tổng thống Tito, Nam Tư là một nhà nước liên bang gồm sáu nước cộng hoà : Serbia, Slovenia, Croatia, Bosnia, Montenegro, Makedonia và hai khu tự trị : Kosovo

và Vovoidin Với chính sách dân tộc cân bằng và trong bối cảnh chiến tranh lạnh, cộng với tình hình kinh tế Nam Tư còn khả quan, các mâu thuẫn sắc tộc lắng xuống hoặc được giải quyết tương đối êm thấm

Bước vào những năm 80, kinh tế Nam Tư đi xuống, các căng thẳng trong xã hội tăng lên, trong đó đặc biệt có vấn đề mâu thuẫn dân tộc Tình hình này đã dẫn đến việc xoá bỏ quyền tự trị của hai tỉnh Vovoidin và Kosovo vào năm 1989 dưới chính quyền của ông Milosevic, đồng thời cũng dẫn đến việc bốn trong số sáu nước cộng hoà của Liên bang tách ra độc lập : Slovenia, Croatia (năm 1991), Bosnia, Makedonia (năm 1992)

Tại Kosovo nơi có 90% là người Albani theo đạo Hồi, 10% người Serbi theo đạo Cơ đốc chính thống, mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo lên cao kể từ khi một chính phủ bí mật của người Albani thành lập tồn tại song song cùng chính phủ liên bang ; và đặc biệt từ khi

"ngọn cờ đòi độc lập" của người Albani rơi vào tay của phái Quân đội giải phóng Kosovo chủ trương bạo lực và chính phủ trung ương tăng cường hành động để đối phó với phong trào này

Trang 39

Cho dù chính sách của ông Milôsêvíc đối với các dân tộc không phải người Serbi, theo phương Tây,có nhiều điểm không công bằng theo quan điểm phương Tây, có nhiều phân biệt đối xử không công bằng đã đẩy các mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo vốn có từ lâu đời lên cao điểm nhưng nếu như không có sự can thiệp từ bên ngoài có lẽ không có khủng hoảng bùng nổ và lan rộng như tình hình diễn ra mấy năm nay ở vùng đất Nam Tư cũ

Sự việc bắt đầu từ việc nước Đức, trên cơ sở quan hệ văn hoá truyền thống gần gũi với miền Tây Nam Tư cũ, và các tính toán khẳng định vai trò ảnh hưởng của mình ở Châu

Âu, đã mạnh mẽ ủng hộ Slovenia và Croatia tách ra độc lập - một hành động bất ngờ đối với chính các đồng minh Tây Âu của Đức Các nước Tây Âu lúc đầu cho rằng nên ủng hộ giải quyết các vấn đề dân tộc của Nam Tư theo tinh thần bảo toàn thống nhất liên bang, tránh một phản ứng lây lan đòi li khai của các cộng đồng sắc tộc khác nhau, tránh tình trạng

"Balkan hoá" Nhưng hành động đơn phương của Đức đặt họ vào tình thế "việc đã rồi"; hơn nữa các nước này cũng không muốn để Đức hoàn toàn chi phối chiều hướng phát triển

ở khu vực, Tây Âu đã quyết định ủng hộ lập trường của Đức và đứng ra làm người bảo trợ cho các tiến trình tách khỏi liên bang của Slovenia, Croatia, Bosnia Tuy nhiên ,do thực lực và tiếng nói còn hạn chế nên Tây Âu đã để tuột dần sang cho Mỹ vai trò chi phối các tiến trình này Sự can thiệp bên ngoài để thúc ép tiến trình phân tách của một dân tộc là chất xúc tác mạnh mẽ cho các cuộc bạo động và khuyến khích các dân tộc khác cũng đòi hỏi được tách ra độc lập tương tự Sự bùng nổ dây chuyền những đòi hỏi độc lập này đã gây ra một tình trạng căng thẳng leo thang khó kiểm soát nổi bên trong Nam tư, tạo thêm

cớ để bên ngoài lợi dụng can thiệp sâu hơn nữa

Tình hình bùng nổ ở Kosovo chính là diễn biến logic sau khi Slovenia, Croatia, rồi Bosnia giành được độc lập nhờ sự hỗ trợ can thiệp trực tiếp của nước ngoài Ngươì Albani

ở Kosovo rõ ràng cũng muốn theo gương các nước Cộng hoà cũ này của Nam Tư Cứ theo logic đó thì Kosovo chưa chắc là điểm dừng cuối cùng của cuộc khủng hoảng Nam Tư, bởi

vì tại Montenegro (một nước cộng hoà hiện còn nằm trong Liên bang Nam Tư ngày nay), hay ở Makedonia cũng có những cơ cấu và mâu thuẫn sắc tộc phức tạp tương tự như ở Kosovo và Nam Tư

Động cơ tấn công Nam Tư của các nước NATO

Mỹ và các nước Tây Âu đều nhất loạt tuyên bố tấn công Nam Tư để bảo vệ nhân quyền, chống thanh trừng sắc tộc Tuy nhiên, nếu nhìn vào thái độ và hành động không nhất quán của họ trong cùng một loại vấn đề "nhân quyền" đối với các đối tượng khác nhau (thí dụ họ không hề phản ứng trong vấn đề người Kurd ở Thổ Nhĩ Kỳ), có thể nói : nếu đây không chỉ là cái cớ thì cũng không hẳn là lý do chính

Đối với Mỹ, khủng hoảng Kosovo xảy ra đúng vào thời điểm Mỹ cho rằng thế và lực của mình đang rất mạnh và Mỹ đang muốn khẳng định vai trò siêu cường duy nhất, nắm quyền bá chủ thế giới Muốn vậy, nhất thiết và trước hết Mỹ phải nắm được vai trò chủ đạo ở Châu Âu, khu vực "có lợi ích sống còn" đối với Mỹ, nơi vừa tập trung những đồng minh chiến lược đồng thời là các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng lâu dài, vừa có những đối tượng vốn là kẻ thù trong quá khứ và nay cần chinh phục hoặc kìm chế như các nước Đông

Âu và Liên Xô cũ Con đường để Mỹ thực hiện nắm quyền chủ đạo ở châu Âu không còn

gì khác hơn là củng cố và mở rộng vai trò của NATO vốn do Mỹ chi phối ; và lý do đưa ra cũng không có gì thuyết phục hơn là để "bảo vệ an ninh châu Âu" và bảo vệ, phổ biến các

"giá trị phương Tây"

Củng cố NATO với Mỹ có nghĩa là tăng cường vai trò chi phối của Mỹ đối với các đồng minh Tây Âu, một đồng minh ngày càng ý thức xây dựng sức mạnh toàn diện để cạnh tranh với chính Mỹ - sự ra đời của đồng tiền chung Châu Âu mới đây chính là một biểu hiện điển hình của ý thức này Để đạt được mục tiêu này thông qua NATO, Mỹ nhất thiết

Trang 40

phải chứng minh được sự cần thiết và sức sống của NATO thời hậu chiến tranh lạnh Vài tháng gần đây Mỹ ra sức thuyết phục các đồng minh NATO tán thành "Khái niệm chiến lược mới" của liên minh này và sẽ đưa khái niệm này ra thông qua vào kỳ họp cấp cao NATO vào ngày 24 và 25/4/1999, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của tổ chức "Khái niệm chiến lược mới" của Mỹ nhằm biến NATO từ một tổ chức quân sự chính trị khu vực trở thành một tổ chức chính trị quốc tế, bao gồm hai nét chính : thứ nhất, chủ trương mở rộng phạm vi hoạt động của NATO ra ngoài khu vực các nước thành viên, trên toàn châu

Âu, thậm chí toàn cầu "toàn cầu hoá NATO", hay biến NATO thành "sen đầm quốc tế"; thứ hai, thay đổi nguyên tắc hoạt động từ phòng thủ đổi sang tiến công và trao cho tổ chức này một khả năng hoạt động hoàn toàn chủ động, độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ tổ chức hay thiết chế quốc tế nào khác kể cả Liên Hiệp Quốc

Cuộc tấn công của NATO vào Nam Tư lần này chính là cơ hội để thử nghiệm toàn diện "Khái niệm chiến lược mới" Tình hình căng thẳng ở Kosovo và Nam Tư hội tụ đủ các yếu tố giúp Mỹ thuyết phục đồng minh : ở đây có thể nêu vấn đề "bảo vệ các giá trị của phương Tây", vấn đề xử lý điểm yếu trong hệ thống an ninh châu Âu là Balkan và Nam

Âu

Củng cố NATO đồng thời cũng có nghĩa là mở rộng khu vực ảnh hưởng của NATO, cũng tức là mở rộng ảnh hưởng của Mỹ, sang phía Đông Các hành động trực tiếp can thiệp của tổ chức này vào tiến trình phân tách Nam Tư trước đây cũng như hôm nay đều nhằm bành trướng ảnh hưởng sang khu vực Balkan Sự kiện tấn công Nam Tư tiếp liền ngay sau việc Hungari, Ba Lan, Séc gia nhập NATO cũng là một cách biểu dương sức mạnh Đông tiến của NATO

Để nắm vai trò chủ đạo ở châu Âu cũng như trên thế giới, Mỹ không thể không tính đến nhân tố Nga Mặc dù giờ đây Nga không còn là kẻ thù của Mỹ như trước đây nữa, nhưng tình hình khủng hoảng toàn diện hiện giờ ở đất nước này, cũng như một viễn cảnh

về một đối thủ cạnh tranh tiềm tàng trong tương lai đã khiến Mỹ thi hành chính sách hai mặt với Nga : vừa lôi kéo Nga thông qua giúp đỡ, viện trợ và cho Nga tham gia hay có vai trò trong một số cơ cấu hợp tác châu Âu ; vừa kiềm chế bằng cách tước bỏ dần các ảnh hưởng của Nga ở lục địa này Mỹ dùng NATO đánh Nam Tư lần này chính là nhằm kiềm chế Nga Mỹ và Tây Âu đã chọn thời điểm Nga đang khó khăn nhất để đánh đồng minh Serbia của Nga, gạt ảnh hưởng của Nga khỏi khu vực Balkan Trên thực tế, Mỹ đã phủ nhận quyền vê-tô của Nga ở Hội Đồng Bảo an Liên hợp quốc bằng việc phớt lờ tổ chức này khi quyết định đánh Nam Tư Cuộc tấn công của NATO vào Nam Tư bất chấp sự phản đối của Nga cũng thực tế làm cho Hiệp định đôí tác chiến lược giữa Nga và NATO ký tháng 5 năm 1997 trở nên vô nghĩa

Cuộc tiến công Nam Tư cũng là cơ hội Mỹ thử nghiệm một số loại vũ khí mới, phương thức quân sự mới của "thời đại thông tin", và kiểm chứng chiến lược quân sự mới đối phó cùng một lúc với hai cuộc chiến tranh cấp vùng (Nam Tư và Irắc)

Đối với các nước Tây Âu trong NATO, rất hiếm khi họ tỏ ra sốt sắng đồng lòng theo

Mỹ trong việc tấn công quân sự một nước, đặc biệt lại là một nước nằm ngoài khu vực của Hiệp ước như lần này Điều này có thể lý giải như sau :

Trước hết cũng như Mỹ, các nước này muốn hạn chế ảnh hưởng của Nga ở Châu Âu, muốn áp đặt các giá trị chung phương Tây

Tiếp nữa, Tây Âu cũng thấy cần có vai trò, ảnh hưởng trong khu vực liên quan sát sườn đến lợi ích an ninh của chính mình và phải tiếp tục theo đuổi việc tìm giải pháp cho vấn đề Nam Tư mà chính họ là người khai mào Điều này lại càng có ý nghĩa trong thời điểm mà ở Liên minh Châu Âu đang nổi lên vấn đề xây dựng một chính sách đối ngoại và

an ninh chung cho các nước thành viên

Ngày đăng: 19/12/2023, 09:45

w