1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài kh phát triển du lịch năm 2023

67 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Du Lịch Trên Địa Bàn Huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Du Lịch
Thể loại Đề Tài Khảo Sát
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 96,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói”, du lịch ra đời và nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế. Nó trở thành một ngành có thế mạnh đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Phát triển du lịch không chỉ tận dụng triệt để tài nguyên, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân mà quan trọng hơn, du lịch đã trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Ngành du lịch đang thực sự trở thành “con gà đẻ trứng vàng” của nền kinh tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch thế giới, trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đang từng bước phát triển và khẳng định được vị trí xếp hạng trong khu vực và trên thế giới. Du lịch đã mang lại nguồn thu không nhỏ cho nền kinh tế Việt Nam, ngoài ra còn góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước xinh đẹp và con người Việt Nam thân thiện đến với bạn bè trên thế giới. Bắc Hà là huyện vùng cao thuộc Đông Bắc Lào Cai với nhiều cảnh sắc độc đáo được thiên nhiên ban tặng như các dãy núi hùng vĩ, sông suối và hang động….Vùng đất này còn là nơi hội tụ sắc màu văn hoá các dân tộc những đặc sản riêng của Tây Bắc, có sức hấp dẫn đặc biệt, để lại ấn tượng sâu sắc đối với khách thập phương khi đến du lịch Bắc Hà. Bên cạnh đó, Bắc Hà là điểm nhấn của 05 tuyến du lịch gắn kết các địa phương lân cận trong và ngoài tỉnh như Bảo Yên, Si Ma Cai (Lào Cai), Xín Mần (tỉnh Hà Giang), đặc biệt Bắc Hà đã được UBND tỉnh công nhận là khu du lịch cấp tỉnh tại Quyết định số 06QĐUBND, ngày 03012020. Mặc dù tiềm năng phát triển du lịch của Bắc Hà là khá lớn, nhưng trong những năm qua, việc phát triển du lịch của địa phương nhìn chung vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, còn mang tính tự phát. Sản phẩm du lịch chưa thực sự hấp dẫn, không có sự khác biệt rõ rệt so với các địa phương khác do vậy tính cạnh tranh thấp. Chất lượng dịch vụ chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Số lượng khách biết đến và được trải nghiệm còn hạn chế, số ngày khách lưu trú còn ngắn, chủ yếu tập trung vào các ngày cuối tuần. Hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch chưa cao. Công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều hạn chế về nguồn lực, sự phối hợp và tính chuyên nghiệp, hiệu quả chưa cao. Nguồn nhân lực du lịch còn thiếu và yếu…Do đó, muốn du lịch huyện Bắc Hà đi vào quỹ đạo chung của sự phát triển, đưa Bắc Hà trở thành khu du lịch đặc sắc của tỉnh và khu vực Tây Bắc theo tinh thần Nghị quyết số 11NQTU, ngày 2782021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cần phải khai thác triệt để tài nguyên và thế mạnh trong vùng để tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc hấp dẫn. Từ những lý do trên, nhóm tác giả chọn đề tài “Phát triển du lịch trên địa bàn huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai” nhằm góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, phát triển du lịch một cách bền vững ở huyện Bắc Hà trong thời gian tới, tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có của địa phương. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng phát triển du lich tại huyện Bắc Hà. Đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch tại địa phương đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Phát triển du lịch trên địa bàn huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Thời gian: Từ năm 2015 đến hết năm 2022. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Nhóm nghiên cứu sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp luận biện chứng duy vật, phương pháp logic lịch sử; phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, phương pháp hệ thống để giải quyết những vấn đề thuộc nội dung của đề tài, phương pháp khai thác dữ liệu thứ cấp từ các Nghị quyết, báo cáo thống kê của tỉnh Lào Cai, huyện Bắc Hà. 5. Đóng góp của đề tài 5.1. Đóng góp về lý luận Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về du lịch và phát triển du lịch. 5.2. Đóng góp về thực tiễn Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu trong nghiên cứu khoa học, phục vụ giảng dạy, học tập tại trường Chính trị; làm tài liệu tham khảo cho huyện Bắc Hà và một số cơ quan, đơn vị chuyên môn có liên quan trong phát triển du lịch tại địa phương. 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở bài, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói”, du lịch ra đời và

nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế Nó trở thành một ngành có thế mạnh đặcbiệt, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Phát triển du lịchkhông chỉ tận dụng triệt để tài nguyên, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân

mà quan trọng hơn, du lịch đã trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế,

xã hội Ngành du lịch đang thực sự trở thành “con gà đẻ trứng vàng” của nền

kinh tế

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch thế giới, trong những nămgần đây, du lịch Việt Nam đang từng bước phát triển và khẳng định được vị tríxếp hạng trong khu vực và trên thế giới Du lịch đã mang lại nguồn thu khôngnhỏ cho nền kinh tế Việt Nam, ngoài ra còn góp phần giới thiệu, quảng bá hìnhảnh đất nước xinh đẹp và con người Việt Nam thân thiện đến với bạn bè trênthế giới

Bắc Hà là huyện vùng cao thuộc Đông Bắc Lào Cai với nhiều cảnh sắc

độc đáo được thiên nhiên ban tặng như các dãy núi hùng vĩ, sông suối và hangđộng….Vùng đất này còn là nơi hội tụ sắc màu văn hoá các dân tộc - những đặc

sản riêng của Tây Bắc, có sức hấp dẫn đặc biệt, để lại ấn tượng sâu sắc đối với khách thập phương khi đến du lịch Bắc Hà Bên cạnh đó, Bắc Hà là điểm nhấn

của 05 tuyến du lịch1 gắn kết các địa phương lân cận trong và ngoài tỉnh như

Bảo Yên, Si Ma Cai (Lào Cai), Xín Mần (tỉnh Hà Giang), đặc biệt Bắc Hà đã

được UBND tỉnh công nhận là khu du lịch cấp tỉnh tại Quyết định số UBND, ngày 03/01/2020

06/QĐ-Mặc dù tiềm năng phát triển du lịch của Bắc Hà là khá lớn, nhưng trongnhững năm qua, việc phát triển du lịch của địa phương nhìn chung vẫn chưathực sự tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, còn mang tính tự phát Sản phẩm

1 (1)Tuyến Lào Cai - Bắc Hà - Lùng Phình - Tả Van Chư- Hoàng Thu Phố - Cốc Ly - Lào Cai; (2) Tuyến Lào Cai - Bắc Hà- Lùng Phình - Tả Van Chư - Bản Phố - Nậm Mòn - Cốc Ly - Lào Cai; (3) Tuyến Lào Cai - Bắc Hà - Nậm Khánh - Bản Liền - Hà Giang và ngược lại; (4) Tuyến Lào Cai - Bắc

Hà - Lùng Phình - Lùng Cải - Sín Mần (Hà Giang) và ngược lại; (5) Tuyến Lào Cai - Bắc Hà - Bản Phố - Na Hối - Thải Giàng Phố - Lào Cai)

Trang 2

du lịch chưa thực sự hấp dẫn, không có sự khác biệt rõ rệt so với các địaphương khác do vậy tính cạnh tranh thấp Chất lượng dịch vụ chưa thực sự đápứng yêu cầu Số lượng khách biết đến và được trải nghiệm còn hạn chế, sốngày khách lưu trú còn ngắn, chủ yếu tập trung vào các ngày cuối tuần Hiệulực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch chưa cao Công tác xúc tiến quảng

bá du lịch còn nhiều hạn chế về nguồn lực, sự phối hợp và tính chuyên nghiệp,hiệu quả chưa cao Nguồn nhân lực du lịch còn thiếu và yếu…Do đó, muốn dulịch huyện Bắc Hà đi vào quỹ đạo chung của sự phát triển, đưa Bắc Hà trởthành khu du lịch đặc sắc của tỉnh và khu vực Tây Bắc theo tinh thần Nghịquyết số 11-NQ/TU, ngày 27/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai vềphát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cần phảikhai thác triệt để tài nguyên và thế mạnh trong vùng để tạo ra những sản phẩm

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng phát triển du lich tại huyện Bắc

Hà Đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch tại địa phương đến năm 2025,định hướng đến năm 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phát triển du lịch trên địa bàn huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Thời gian: Từ năm 2015 đến hết năm 2022

Trang 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận quan điểm, chính sách của Đảng

và Nhà nước về phát triển du lịch

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp luậnbiện chứng duy vật, phương pháp logic - lịch sử; phương pháp thống kê, phântích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, phương pháp hệ thống để giải quyếtnhững vấn đề thuộc nội dung của đề tài, phương pháp khai thác dữ liệu thứ cấp

từ các Nghị quyết, báo cáo thống kê của tỉnh Lào Cai, huyện Bắc Hà

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở bài, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch là một trong những ngành kinh tế trọng điểm được đặc biệt quantâm, nó có vai trò ngày càng lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của đấtnước Thuật ngữ “du lịch” xuất hiện từ rất lâu và có nhiều tiếp cận, định nghĩakhác nhau về du lịch

Trang 4

Theo Machaud - nhà địa lý học người Pháp, khái niệm du lịch được hiểu:

Là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ, phục vụ cho việc đi lại và ngủlại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường xuyên với lý do giải trí, kinh doanh, sứckhỏe, hội họp, thể thao và tôn giáo

Theo I.I Pirogionic, du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thờigian rỗi, liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trúthường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nângcao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giátrị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa

Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization) cho rằng, du lịchbao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mụcđích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khácnữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môitrường sống định cư; nhưng loại trừ các du khách mà có mục đích chính làkiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trườngsống khác hẳn nơi định cư

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên haikhía cạnh: Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cựccủa con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lamthắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này, dulịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch Thứ hai, du lịch là mộtngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết vềthiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăngthêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộcmình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; cóthể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, dulịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế

Tại Khoản 1, Điều 3, Luật Du lịch năm 2017 đã nêu rõ: “Du lịch là cáchoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường

Trang 5

xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu thămquan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợpvới mục đích hợp pháp khác”.

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thànhphần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa

có đặc điểm của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm của ngành văn hóa-xã hội Vìvậy, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương cần xây dựng chiến lược pháttriển du lịch phù hợp

1.1.2 Kinh tế du lịch

Kinh tế du lịch là loại hình kinh tế đặc thù riêng biệt và được coi là ngànhcông nghiệp không khói Hiện nay, nhiều quốc gia coi du lịch như là một ngànhcông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả, tiềm năng, lợi thế du lịch để vừa manglại thu nhập vừa quảng bá hình ảnh của quê hương, đất nước Như vậy, có thểcoi kinh tế du lịch là một ngành hay lĩnh vực kinh tế hoạt động trong lĩnh vực dulịch, thông qua các tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào điều kiện tựnhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, của từng vùng, từng địa phương đểphục vụ khách du lịch trong và ngoài nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội

Đảng và Nhà nước ta khẳng định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợpquan trọng, góp phần vào nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế -

xã hội; coi du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối pháttriển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước

Trong quá trình hội nhập kinh tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế vàthực hiện đường lối đối ngoại của quốc gia

1.1.3 Khách du lịch

Theo Luật Du lịch của Việt Nam năm 2017: Khách du lịch là người đi

du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề

để nhận thu nhập ở nơi đến Trong đó có khách du lịch quốc tế và khách dulịch nội địa

Trang 6

Khách du lịch quốc tế (International tourist): Là người nước ngoài, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam,người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Là công dân Việt Nam và ngườinước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

1.1.4 Sản phẩm du lịch

Theo Từ điển du lịch Tiếng Đức, Nhà xuất bản Berlin 1984: Sản phẩm dulịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác cáctiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, mộtkinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng

Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) cho rằng: Sản phẩm du lịch là sựtổng hợp của 3 nhóm nhân tố cấu thành bao gồm Hệ thống dịch vụ, quản lý điềuhành; Tài nguyên du lịch; Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật Sảnphẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứngcho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất

kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó

Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và

vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách, bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiệnnghi phục vụ khách du lịch

Các sản phẩm du lịch bao gồm: Sản phẩm du lịch biển, sản phẩm du lịchsinh thái, du lịch nông nghiệp, du lịch văn hoá, du lịch tâm linh…

Các dịch vụ được sử dụng trong sản phẩm du lịch là: Dịch vụ vận chuyển,dịch vụ lưu trú, dịch vụ giải trí, dịch vụ mua sắm…

1.2 Vai trò của du lịch

Du lịch là một dạng hoạt động quan trọng của con người và nó có nhữngtác động nhất định, thể hiện rất rõ ở các vùng đến du lịch, nơi du khách tươngtác với môi trường, kinh tế, văn hóa và xã hội địa phương

1.2.1 Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế

Du lịch có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế một cách

đa dạng, tác động đến GDP, vốn đầu tư, công nghệ hiện đại, kim ngạch xuất

Trang 7

khẩu, ngân sách nhà nước và văn hoá đất nước Sự tác động này theo hướng cảtích cực và tiêu cực.

Một mặt, du lịch là chìa khoá thúc đẩy tăng trưởng GDP; tăng năng suấtlao động, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế; khuyến khích và thu hút vốn đầu

tư nước ngoài; tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương và quốc gia; thúcđẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, góp phần phát triển vùng Kinh tế

du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài,

mở rộng thị trường nội địa và quốc tế Du lịch còn là hình thức góp phần quảng

bá hình ảnh đất nước với các quốc gia trên thế giới, tạo điều kiện giao lưu họchỏi kinh nghiệm, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, có cơ hội mở rộng liênkết với các tuyến du lịch thế giới

Mặt khác, nếu phát triển du lịch thụ động quá tải dẫn đến việc làm mấtthăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, gây lạm phát; dễ tạo ra sự phụ thuộc củanền kinh tế vào ngành dịch vụ du lịch nếu tỷ trọng của ngành du lịch trong GDPlớn, tạo nên sự canh tranh với các ngành kinh tế khác về đất đai, điện, nước…

1.2.2 Vai trò của du lịch đối với văn hóa - xã hội

Du lịch diễn ra trong môi trường nhân văn nên nó ảnh hưởng đến nhiềukhía cạnh xã hội của nơi đến cả tích cực lẫn tiêu cực Ở khía cạnh tích cực, trướchết du lịch góp phần giải quyết việc làm Các ngành dịch vụ liên quan đến dulịch đều cần một lượng lớn lao động, qua đó tạo ra nguồn thu nhập cho ngườilao động, hạn chế sự di cư đến các tỉnh, thành khác, góp phần giải quyết các vấn

đề xã hội Sự phát triển du lịch nội địa cũng là phương thức nâng cao đời sốngvật chất và tinh thần của người dân, giúp họ giao lưu, tiếp cận với cuộc sốnghiện đại, cải thiện chất lượng cuộc sống Những vùng nghèo, vùng phi côngnghiệp hóa có thể được tái sinh nhờ du lịch Cùng với đó, du lịch là phương tiệntuyên truyền, quảng cáo cho nước chủ nhà về thành tựu kinh tế, chính trị, conngười, phong tục tập quán, các danh lam thắng cảnh, các di tích văn hoá lịch sử,các làng nghề truyền thống, , làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về xã hội củangười dân địa phương thông qua khách du lịch đến từ địa phương khác và từnước ngoài Du lịch còn làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị, mối quan hệ hiểu

Trang 8

biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và giữa các quốc gia với nhau, qua đó

cổ vũ hòa bình thế giới, thúc đẩy sự thịnh vượng và ổn định xã hội

Tuy nhiên, du lịch cũng có những tác động tiêu cực đến văn hóa xã hộinhư tạo ra sự mất cân đối và mất ổn định trong việc sử dụng lao động của một sốngành do tính thời vụ trong hoạt động du lịch, làm suy giảm việc làm trong một

số ngành nghề truyền thống; gây quá tải về hạ tầng cơ sở, thay đổi lối sốngtruyền thống của cư dân; gia tăng một số tệ nạn xã hội và các tác hại sâu xa khácđến đời sống tinh thần của một dân tộc do kinh doanh các hình thức du lịchkhông lành mạnh…

1.2.3 Vai trò của du lịch đối với môi trường

Môi trường được công nhận là nguồn tài nguyên quan trọng đối với dulịch bởi môi trường không chỉ là yếu tố hấp dẫn du khách mà còn là ngữ cảnh

để các hoạt động du lịch có thể diễn ra Du lịch diễn ra trong môi trường nên

nó luôn có những tác động đến ngữ cảnh đã sản sinh và nuôi dưỡng nó. Du lịchhoạt động theo hướng phục hồi, bảo tồn và bảo vệ môi trường cũng như việckhôi phục, tôn tạo các kho tàng lịch sử Ngành du lịch phát triển sẽ có tác độngnâng cao ý thức của người dân, chính quyền về bảo vệ môi trường, phongcảnh, động vật hoang dã; bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên thiênnhiên, biến chúng trở thành sản phẩm của ngành kinh tế du lịch, nâng cao giátrị tài nguyên; khai thác được nhiều hơn các nguồn lực, kinh phí để bảo vệ môitrường bao gồm kinh phí đóng góp trực tiếp từ khách du lịch (thông qua việcthu phí bảo vệ môi trường), kinh phí đóng góp của các đơn vị kinh doanh dulịch (thông qua việc nộp vào Ngân sách nhà nước), kinh phí của các tổ chứcquốc tế tài trợ cho việc bảo tồn các di sản văn hóa và thiên nhiên Qua đó,nâng cao chất lượng môi trường

Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch không bền vững, không chú trọng đếnyếu tố môi trường làm cho tài nguyên bị khai thác không kiểm soát để đáp ứngnhu cầu của du khách, làm giảm diện tích rừng, phá vỡ hệ sinh thái, phá hủyhoặc làm xáo trộn môi trường sống của động vật hoang dã Nhiều khu du lịchcòn tạo nên những cảnh quan xấu xí do khai thác thiên nhiên thiếu tính tổng thể,

Trang 9

quy hoạch, làm thay đổi cấu trúc môi trường Một trong những vấn đề đángquan tâm khác là tình trạng ô nhiễm môi trường do các hoạt động du lịch nhưtạo ra rác thải, làm ô nhiễm nguồn nước, không khí và những bãi biển; gây ra tắcnghẽn giao thông, ô nhiễm tiếng ồn….

Như vậy, tác động đến kinh tế, xã hội và môi trường là nét đặc trưng của

du lịch và nó luôn tồn tại hai mặt tích cực và tiêu cực Vấn đề đặt ra cho các địaphương, cộng đồng đó là gia tăng những tác động tích cực và giảm thiểu tối đanhững tác động tiêu cực để phát triển du lịch thực sự đúng hướng, bền vững

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch

1.3.1 Tài nguyên du lịch

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về tài nguyên du lịch.Theo khoản 4 Điều 3 Luật Du lịch 2017, tài nguyên du lịch là cảnh quan thiênnhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm

du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Các loại tàinguyên du lịch gồm: Tài nguyên du lịch tự nhiên như cảnh quan thiên nhiên, cácyếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiênkhác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch Tài nguyên du lịch văn hóa như

di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóatruyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trìnhlao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch

Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển

du lịch Đây là là điều kiện, yếu tố đầu vào quan trọng của hoạt động du lịch,đồng thời cũng là yếu tố tác động đến phát triển bền vững của du lịch Tàinguyên du lịch sẽ ảnh hưởng tới mục đích chuyến đi của du khách Thực tế,khi đi du lịch, du khách sẽ xem xét địa điểm du lịch nào có tài nguyên du lịchphong phú đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của bản thân để lên kế hoạch thực hiệnchuyến đi

Tài nguyên du lịch cũng là cơ sở để phát triển các loại hình du lịch mới.Với sự đa dạng và phong phú của tài nguyên du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ

du lịch có thể phát triển nhiều loại hình du lịch mới như đối với tài nguyên du

Trang 10

lịch về nhân văn vật thể có thể phát triển loại hình du lịch chuyên đề, tài nguyên

du lịch thiên nhiên có thể phát triển hình thức du lịch tham quan, ngắm cảnh,…

1.3.2 Kết cấu hạ tầng - kỹ thuật

Việc phát triển du lịch không thể không gắn liền với việc đầu tư xâydựng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở, cơ sở vật chất kỹ thuật Đây làmột yếu tố rất quan trọng quyết định đến việc phát triển hay không phát triểncủa một điểm du lịch Yếu tố này có mối quan hệ qua lại khăng khít vớinguồn tài nguyên, giúp cho việc khai thác hết những tiềm năng mà bản thân

nó vốn có

Để phát triển du lịch, nhất thiết phải đầu tư xây dựng hệ thống đườnggiao thông Cần đảm bảo phát triển hệ thống giao thông đường bộ để thuận tiệncho việc đi lại, phát triển hệ thống giao thông đường thủy để phục vụ các hoạtđộng du lịch gắn với sông nước, hệ thống đường hàng không được đầu tư để đónkhách quốc tế tới các khu du lịch Xây dựng nhiều đường xá, tuyến đường mới,không chỉ có các tuyến đường quốc lộ mà cả những tuyến đường vào tận cácbản làng để đưa du lịch đến với mọi vùng đất, mọi địa hình Các cơ sở lưu trúkhông chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của du khách mà còn đáp ứng cao nhucầu của khách Hệ thống điện, nước phải đảm bảo ổn định cho mọi sinh hoạt.Đồng thời phải xây dựng một số điểm vui chơi giải trí có quy mô phù hợp đểthu hút và lưu giữ khách Phương tiện vận chuyển khách phải đầu tư nhữngloại xe có chất lượng cao để phục vụ cho du lịch Cơ sở vật chất, hạ tầng kĩthuật tốt sẽ dẫn đến mức độ di chuyển của du khách được nhiều hơn và làmtăng chi phí lợi nhuận cho địa phương và các chi phí khác

1.3.2 Nguồn nhân lực du lịch (Phần này, e gộp ý thức của người dân trong phát triển du lịch, vì cộng đồng dân cư là một yếu tố của nguồn nhân lực du lịch)

Nguồn nhân lực du lịch là khái niệm chỉ lực lượng lao động tham gia vàoquá trình phát triển du lịch, gồm cả nhân lực trực tiếp và nhân lực gián tiếp.Trong đó, nhân lực trực tiếp là những người làm việc trong các cơ quan quản

lý nhà nước về du lịch; các đơn vị sự nghiệp du lịch; các doanh nghiệp, cơ sở

Trang 11

kinh doanh dịch vụ du lịch Còn nhân lực gián tiếp là bộ phận nhân lực làmviệc trong các ngành, các quá trình liên quan đến hoạt động du lịch như vănhóa, hải quan, giao thông, xuất nhập cảnh, nông nghiệp, công nghiệp, thươngmại, dịch vụ công cộng, môi trường, bưu chính viễn thông, cộng đồng dâncư Điều đó cho thấy, nhân lực du lịch có độ bao phủ tương đối rộng và chấtlượng của nó không chỉ tác động và đóng vai trò quyết định đối với sự pháttriển du lịch, mà còn góp phần không nhỏ vào sự phát triển các ngành, cáclĩnh vực khác có liên quan

Trong ngành du lịch, phần lớn lao động tiếp xúc trực tiếp với khách hàng

và họ tham gia thực hiện các công việc nhằm đạt được những mục tiêu của đơn

vị Chất lượng dịch vụ được cung cấp cho khách hàng không chỉ phụ thuộc vàotrình độ, kỹ năng tay nghề của người lao động mà còn phụ thuộc vào thái độ làmviệc của họ Hiện nay, thế giới đã và đang chuyển mạnh sang kinh tế tri thức,hàm lượng tri thức trong các sản phẩm du lịch cũng dần chiếm tỷ trọng cao.Trước đây, các loại hình du lịch truyền thống, gắn với tham quan, nghỉ dưỡng,vui chơi, giải trí (nghỉ dưỡng biển, nghỉ dưỡng sinh thái thuần túy, ) là cơ bản.Ngày nay, nhiều sản phẩm du lịch mới đang hình thành, phát triển nhằm đápứng nhu cầu ngày càng cao của mọi đối tượng du khách Trong đó phải kể đến

xu hướng du lịch phiêu lưu, du lịch trải nghiệm, du lịch thông minh, du lịch sángtạo, công tác kết hợp nghỉ ngơi, du lịch chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Bêncạnh đó, xu thế “số hóa” sẽ làm thay đổi sâu sắc phương thức quản lý, kinhdoanh và tiêu dùng du lịch Điều này đòi hỏi các địa phương, các điểm đến cầnphải xây dựng được những sản phẩm và các chương trình du lịch mới lạ, độcđáo, kết hợp cả các giá trị tự nhiên, giá trị nhân văn và gắn liền với tính tiện nghihiện đại Đồng thời, để không bị tụt hậu và đáp ứng nhu cầu phát triển, ngành

Du lịch cần có lực lượng nhân lực có tri thức phong phú và toàn diện hơn cả vềkiến thức, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, ngoại ngữ,

Cộng đồng dân cư là một yếu tố quan trọng trong nguồn nhân lực du lịch.Với đặc thù là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành và xã hội hóa cao,hoạt động phát triển du lịch cần phải gắn liền với sự tham gia của cộng đồng dân

Trang 12

cư địa phương - nơi có tài nguyên du lịch Sự tham gia này đem lại nhiều lợi íchkhông chỉ cho riêng cộng đồng mà còn cho sự phát triển bền vững chung của dulịch, đặc biệt là loại hình du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch văn hóa…Thực tế cho thấy, cộng đồng dân cư địa phương chủ động tham gia, phối hợpvới hoạt động du lịch tại địa phương đảm bảo thu được những kết quả tốt nhất.

Vì cư dân địa phương là người hiểu rõ bản thân cộng đồng, những giá trị về tàinguyên và là lời cam kết tin cậy nhất về chất lượng dịch vụ… dành cho khách

du lịch Do đó, chỉ khi người dân thực sự ý thức được vai trò của mình, được tạođiều kiện để tham gia các hoạt động du lịch, hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạtđộng du lịch; họ mới thực sự trở thành chủ nhân của những nguồn tài nguyên dulịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, bản sắc văn hóa địa phương, giữ gìn

an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường

1.3.4 Chính sách phát triển du lịch

Có thể nói, chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành cônghay thất bại trong việc phát triển du lịch Nói cách khác, chính sách là yếu tố ảnhhưởng mạnh mẽ đến phát triển du lịch Đường lối chính sách đúng đắn, thíchhợp luôn là điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển, mang lại hiệu quả cao và bềnvững Cơ chế chính sách phát triển du lịch có ảnh hưởng đến tất cả các hoạtđộng du lịch từ khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch đến đào tạo nguồn nhân lực,đầu tư, quy hoạch du lịch, các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch…

Nhận thức vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nhiềunước đã xác định “phát triển du lịch là quốc sách”, hoặc “đưa ngành du lịch trởthành ngành kinh tế mũi nhọn” Việc xây dựng các cơ chế, chính sách, luậtpháp, thực hiện cơ chế quản lý gọn nhẹ, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt độngkinh doanh du lịch, thúc đẩy du lịch phát triển là điều kiện mang tính quyết định

Đó là việc xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng chokhách du lịch quốc tế vào ra; cho việc đầu tư, liên doanh, liên kết các cơ sở vậtchất kỹ thuật phục vụ du lịch; việc phát triển các loại hình dịch vụ đáp ứng nhucầu của khách du lịch, việc phát triển cơ sở hạ tầng cho hoạt động du lịch pháttriển Nhiều nước xây dựng cơ chế miễn thị thực cho khách du lịch nước ngoài

Trang 13

nhằm thu hút nhiều khách hoặc có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư nướcngoài đầu tư vào lĩnh vực khách sạn và du lịch Xây dựng Luật Du lịch, LuậtKhách sạn, Luật Hướng dẫn viên du lịch, Luật Đại lý du lịch để tạo một môitrường pháp lý cho hoạt động du lịch phát triển Chính sách phát triển du lịch làchìa khóa dẫn đến thành công trong việc phát triển du lịch Chính sách phát triển

du lịch thường được quy định bởi Tổ chức du lịch thế giới đối với các nướcthành viên và chính sách của cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó.Tuy nhiên, tại từng địa phương căn cứ vào khả năng thực tế mỗi vùng để đưa rachính sách phù hợp

1.3.5 Công tác quy hoạch du lịch

Quy hoạch là một công cụ để quản lý Nhà nước về du lịch; đồng thời, nógiữ vai trò quan trọng như la bàn định hướng cho du lịch phát triển Cũng nhưquy hoạch kinh tế-xã hội nói chung, quy hoạch phát triển du lịch cũng được nhìnnhận là động lực thúc đẩy tăng trưởng Thực tế đặt ra yêu cầu quy hoạch vàquản lý du lịch phải nằm trong tổng thể và phù hợp với quy hoạch phát triểnkinh tế - xã hội địa phương; đồng thời, phát triển du lịch phải gắn chặt với đảmbảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn địa bàn.Theo đó, một quy hoạch sátthực tế và có chất lượng cao, sẽ là căn cứ cho việc xây dựng hệ thống hạ tầng kỹthuật, thu hút các nguồn lực đầu tư và xây dựng sản phẩm du lịch

Thông qua công tác quy hoạch du lịch, giúp xác định vị trí, vai trò và lợithế của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng và địaphương; phân tích, đánh giá tiềm năng, hiện trạng tài nguyên và môi trường dulịch, thị trường du lịch, khả năng thu hút đầu tư, nguồn lực phát triển du lịch.Đồng thời, xác định quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch; dự báo các chỉ tiêu

và luận chứng các phương án phát triển du lịch Qua đó, định hướng tổ chứckhông gian du lịch, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, sản phẩm du lịch,thị trường du lịch; xác định danh mục các khu vực, các dự án ưu tiên đầu tư, vốnđầu tư; đề xuất chính sách, giải pháp quản lý, phát triển du lịch theo quy hoạch

1.3.6 Công tác truyền thông, quảng bá du lịch

Trang 14

Công tác truyền thông, quảng bá là cầu nối, là mắt xích không thể tách rờitrong phát triển du lịch Thực tế cho thấy đây là phương thức kết nối các điểm

du lịch đến với du khách một cách nhanh nhất Truyền thông, quảng bá du lịch

có thể thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động và sự kiện,qua hệ thống Internet…Qua đó, không chỉ giúp thu hút du khách tiềm năng màcòn góp phần tăng cơ hội để du khách quay trở lại điểm đến, giúp kích thích nhucầu chi tiêu của khách hàng; không chỉ góp phần nâng tầm giá trị điểm đến màcòn giúp cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác như dịch vụ ăn uống, giaothông, nông nghiệp…

1.3.7 Xu thế hội nhập khu vực, quốc tế

Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh Sựphát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất trên thế giới tiếp tục thúc đẩy xuhướng toàn cầu hoá kinh tế, tạo nên một xu thế tất yếu là các quốc gia phải thựchiện chiến lược kinh tế mở, phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, hội nhập ngàycàng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Thông qua quá trình hội nhập, có nhiều

cơ hội để mở rộng thị trường khách du lịch, khai thác thêm nguồn vốn, thành tựu

từ khoa học - công nghệ để đẩy mạnh việc đa dạng hoá các sản phẩm du lịch,nâng cao sức cạnh tranh các dịch vụ trong khu vực và thế giới

1.4 Chủ trương, chính sách của tỉnh Lào Cai, huyện Bắc Hà về phát triển du lịch

1.4.1 Chủ trương, chính sách của tỉnh Lào Cai về phát triển du lịch

Với vai trò to lớn của ngành du lịch đối với các lĩnh vực đời sống kinh tế,

xã hội và nhằm khai thác những tiềm năng, thế mạnh nổi trội của tỉnh, trongnhững năm qua, thực hiện và vận dụng sáng tạo các chỉ thị, nghị quyết, chiếnlược quốc gia về phát triển du lịch, tỉnh Lào Cai đã ban hành nhiều nghị quyết,

đề án, chương trình hành động để xây dựng Lào Cai trở thành một trong nhữngđiểm đến du lịch quan trọng của khu vực Trung du miền núi Bắc Bộ và cả nước

Trong giai đoạn 2016 - 2020, Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Đề án số 03

về “Phát triển du lịch Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020”; Chương trình hành động

số 148-CTr/TU ngày 28/7/2017 về thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ

Trang 15

Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; đã xác lậphướng đi đúng đắn, hiệu quả trong phát triển ngành du lịch Lào Cai; thực hiệncông tác quản lý, phát triển du lịch có hiệu quả và thống nhất trong toàn tỉnh; tạo

cơ sở khoa học và pháp lý cho việc quản lý, lập quy hoạch và kế hoạch pháttriển du lịch các địa phương trong tỉnh

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đãxác định phát triển du lịch, dịch vụ là 1 trong 2 lĩnh vực đột phá, mang tínhchiến lược Cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI

đề ra, Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Đề án số 03-ĐA/TU, ngày 11/12/2020 vềphát triển văn hóa, du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020 - 2025; đặc biệt ngày27/8/2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU vềphát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Nghịquyết xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, du lịch Lào Cai là ngành kinh

tế mũi nhọn đột phá, tạo tiền đề đến năm 2050 trở thành ngành kinh tế chủ đạoquan trọng, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, có hệ thống hạ tầng và dịch

vụ du lịch đồng bộ, hiện đại, giàu bản sắc văn hoá, trở thành trung tâm du lịchnghỉ dưỡng, sinh thái, cạnh tranh được với các trung tâm du lịch lớn trong nước

và khu vực, đáp ứng các tiêu chuẩn du lịch quốc gia và quốc tế…

Nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về du lịchtrên địa bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển về du lịch, ngày 8/12/2021, HĐNDtỉnh đã ban hành Nghị quyết số 38/NQ-HĐND thành lập Sở Du lịch Lào Caitrên cơ sở tách ra từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cùng với đó, nhiều vănbản liên quan đến du lịch cũng được ra đời như Nghị quyết số 06/2021/NQ-HĐND ngày 09/4/2021 của HĐND tỉnh Lào Cai quy định một số chính sách hỗtrợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021 - 2025; Quyếtđịnh số 2626/QĐ-UBND ngày 04/11/2022 của UBND tỉnh Lào Cai về ban hànhKhung chiến lược phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đếnnăm 2050; Kế hoạch số 368/KH-UBND ngày 20/10/2021 của UBND tỉnh LàoCai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai…

Hệ thống những văn bản trên thể hiện nhất quán chủ trương, sự quyết tâm của

Trang 16

cấp ủy, chính quyền tỉnh Lào Cai đồng thời là cơ sở pháp lý để quán triệt vàtriển khai thực hiện mục tiêu phát triển du lịch Lào Cai trở thành một trongnhững điểm đến du lịch hấp dẫn nhất của vùng Tây Bắc, là một trong nhữngtrọng điểm du lịch của Việt Nam và Đông Nam Á

Đối với huyện Bắc Hà, TU,HĐND,UBND tỉnh luôn giành sự quan tâm lớnđến phát triển kinh tế xã hội huyện Bắc Hà nói chung và phát triển du lịch Bắc

Hà nói riêng UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành quyết định số 5294/QĐ-UBNDngày 27/11/2017 về việc Quy hoạch phát triển du lịch huyện Bắc Hà đến năm

2020, tầm nhìn 2030 Một trong những mục tiêu được Nghị quyết số 11-NQ/TU,ngày 27/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai nêu rõ là hoàn thiện pháttriển không gian du lịch theo các vùng trọng điểm, trong đó Bắc Hà được địnhhướng phát triển trở thành khu du lịch đặc sắc của tỉnh và khu vực Tây Bắc Đề

án số 03ĐA/TU về phát triển văn hóa, du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020

-2025, đã xác định duy trì 10 mô hình du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn Asean tạithị xã Sa Pa và huyện Bắc Hà; đầu tư nâng cấp các điểm du lịch cộng đồng đangkhai thác tại thị xã Sa Pa và các huyện Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, BảoYên… Tại Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 29/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Quy hoạch tỉnh Lào Cai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm

2050, đã xác định phát triển Bắc Hà trở thành Khu du lịch đặc sắc hướng tới trởthành khu du lịch quốc gia Đây là những điều kiện rất thuận lợi về cơ chế, chínhsách để du lịch Bắc Hà vươn lên, có những bước chuyển mạnh mẽ

1.4.2 Chủ trương, chính sách của huyện Bắc Hà về phát triển du lịch

Bám sát chủ chương, chính sách chung của tỉnh, huyện Bắc Hà đã cụ thểhóa định hướng phát triển du lịch phù hợp với từng giai đoạn, xác định mục tiêu,cách thức thực hiện ở mỗi giai đoạn

Trong giai đoạn 2015 - 2022, để phát triển du lịch, huyện Bắc Hà đã banhành Đề án số 06 “Phát triển du lịch gắn với bản sắc văn hóa giai đoạn 2016 -2020”; Đề án số 11 “Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống giaiđoạn 2016 - 2020” Quan điểm chung của hai Đề án này là đẩy mạnh xây dựng cácsản phẩm du lịch, nhất là các sản phẩm du lịch đặc trưng như: Đua ngựa truyền

Trang 17

thống, chợ đêm, du lịch cộng đồng…, nhằm tập trung khai thác có hiệu quả cáctiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch Bắc Hà trở thành ngành kinh tế mũi nhọn,góp phần vào tăng trưởng kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyệntheo hướng tăng dần tỷ trọng du lịch và dịch vụ.

Giai đoạn 2020 - 2025, Đề án số 05-ĐA/HU ngày 31/12/2020 của Huyện ủyBắc Hà về phát triển văn hoá, du lịch huyện Bắc Hà, giai đoạn 2021 - 2025 đãxác định mục tiêu “Từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch,

cơ sở hạ tầng chất lượng cao, nhân lực về văn hóa, du lịch chuyên nghiệp Tăngcường xúc tiến, quảng bá về điểm đến, thị trường khách và sản phẩm du lịch đápứng tiêu chuẩn du lịch bền vững; Nhận diện rõ về thương hiệu du lịch Bắc Hàgắn liền với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống độc đáo cácdân tộc, đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách du lịch đồng thờiđáp ứng tiêu chuẩn du lịch cộng đồng ASEAN Phấn đấu đến năm 2025 có trên10%, đến năm 2030 có trên 30% số hộ tại các xã trong vùng quy hoạch du lịchtham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng” Sau khi Nghị quyết

số 11-NQ/TU của Tỉnh ủy Lào Cai được ra đời, Huyện ủy Bắc Hà đã ban hànhChương trình hành động số 63-CTr/HU, ngày 14/10/2021 về thực hiện Nghịquyết số 11-NQ/TU ngày 27/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển

du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm làm rõ hơnbước đi, nhiệm vụ, giải pháp đưa Bắc Hà trở thành khu du lịch đặc sắc của tỉnh

và khu vực Tây Bắc Nghị quyết số 11-NQ/HU ngày 31/12/2020 về phát triểntiểu thủ công nghiệp và khôi phục, phát huy các làng nghề truyền, ngành nghềtruyền thống huyện Bắc Hà giai đoạn 2021 - 2025 để tạo ra các sản phẩm đặctrưng mang đậm bản sắc dân tộc, phục vụ sự phát triển của du lịch… Nhữngmục tiêu, quan điểm trên của huyện đã được đưa vào Nghị quyết, kế hoạch củacấp ủy Đảng, chính quyền cấp cơ sở để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện,phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân góp phầnphát triển du lịch Bắc Hà nhanh, mạnh, bền vững

Trang 18

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU

LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC HÀ 2.1 Điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội tác động đến phát triển du lịch trên địa bàn huyện Bắc Hà

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Bắc Hà là huyện được điều chỉnh địa giới hành chính và tái lập năm 2000trên cơ sở chia tách huyện Bắc Hà (cũ) thành 2 huyện: Bắc Hà (mới) và Si MaCai Về hành chính, Bắc Hà có 20 xã và 01 thị trấn, chia thành 3 vùng với địahình, chế độ thời tiết khí hậu khác nhau Vùng thượng huyện có độ cao trên1.500m so với mực nước biển, gồm các xã: Tả Củ Tỷ, Bản Già, Lùng Phình,Lùng Cải, Tả Văn Chư, Lầu Thí Ngải Vùng trung huyện có độ cao từ 900 -1200m, gồm các xã: Bản Phố, Tà Chải, Na Hối, Nậm Khánh, Bản Liền, HoàngThu Phố, Thải Giàng Phố và thị trấn Bắc Hà Vùng hạ huyện có độ cao dưới600m, gồm các xã: Bản Cái, Cốc Lầu, Nậm Lúc, Bảo Nhai, Nậm Mòn, NậmĐét, Cốc Ly

Về không gian địa lý, Bắc Hà nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lào Cai,

cách thành phố Lào Cai khoảng 66Km, nơi đang có những tiềm năng phát triểnmạnh kinh tế mậu biên trong giao lưu với Vân Nam - Trung Quốc và sự pháttriển của Khu kinh tế của khẩu - khu kinh tế đặc biệt của Việt Nam và TrungQuốc Bắc Hà nằm trên tọa độ từ 22019’ đến 22024’ vĩ độ Bắc, 10409’ đến104028’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp huyện Si Ma Cai và huyện MườngKhương, phía Đông giáp huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang, phía Tây giáp huyệnBảo Thắng, phía Nam giáp huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Với vị trí địa lý trên,Bắc Hà có những điều kiện địa lý khá thuận lợi để phát triển kinh tế theo hướngkhai thác các tiềm năng lợi thế so sánh và hội nhập vào nền kinh tế thế giới,trước hết là Trung Quốc

Trang 19

Là huyện có vị trí địa lý đặc thù với những điều kiện khí hậu thuận lợi vàđược chia tách từ huyện có quy mô lớn, Bắc Hà trước khi chia tách có vai tròkhá quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh đối vớitỉnh Lào Cai và khu vực phía Bắc của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ Vềkinh tế, Bắc Hà là cầu nối giữa Lào Cai với Hà Giang và Yên Bái, giữ chứcnăng trung chuyển và giao lưu hàng hóa giữa các địa phương tạo điều kiện chocác huyện khai thác các tiềm năng, lợi thế, nhất là các lợi thế về nông nghiệp

và lâm nghiệp

Sau khi chia tách trong điều kiện mới, Bắc Hà lại có vai trò, vị trí kháquan trọng đối với tỉnh Lào Cai và huyện Si Ma Cai trong phát triển kinh tế xãhội và an ninh quốc phòng Về kinh tế, sự chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau giữa 2 huyệnBắc Hà (mới) và huyện Si Ma Cai trong những năm qua đã tạo những điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển của 2 huyện Hiện tại, Bắc Hà là một trong các cầunối giữa Si Ma Cai với thành phố Lào Cai và các tỉnh Trung du miền núi phíaBắc như Yên Bái, Phú Thọ Sự phát triển của hệ thống hạ tầng trên địa bàn Bắc

Hà là điều kiện thuận lợi cho hệ thống hạ tầng của Si Ma Cai gắn kết với hệthống hạ tầng chung của Tỉnh Sự phát triển của kinh tế trước hết là nông lâmnghiệp và du lịch tạo thành vành đai xanh, tuyến du lịch cho cả 2 huyện Sựcộng hưởng trong phát triển kinh tế xã hội được thể hiện rất rõ

Về thời tiết, khí hậu, Bắc Hà chia thành 3 tiểu vùng khí hậu đặc trưng, cụ thể:

Vùng thượng huyện: Có độ cao từ 1500m đến 1800m so với mực nướcbiển, có nhiệt độ bình quân năm 18,7oC Vùng này có khí hậu mang nhiều tính

ôn đới, mát mẻ về mùa hè, khô lạnh về mùa đông, rất thích hợp cho trồng cây ănquả địa phương như mận Tam Hoa, mận Hậu, đào, lê

Vùng trung huyện: Có độ cao từ 900m đến 1200m so với mực nướcbiển Vùng này có khí hậu ôn hoà, mùa hè mát mẻ, mùa đông lạnh khô hanh,với nhiệt độ bình quân từ 25OC -28OC Khí hậu ở đây thuận lợi cho phát triển

du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, và phát triển vùng cây ăn quả và cây nôngnghiệp chè tuyết san

Trang 20

Vùng hạ huyện: Độ cao dưới 900m so với mực nước biển, có nhiệt độbình quân 28OC - 32OC, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới, có nhiều sôngsuối lớn, thuận lợi cho phát triển du lịch, cây công nghiệp, ăn quả, thuỷ sản, thuỷđiện

Như vậy, Bắc Hà có điều kiện khí hậu đa dạng, điều hoà là yếu tố thuậnlợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng các cây trồng vật nuôi như các cây

ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới như nhãn vải, xoài, chuối, dứa, đào, mận, táo,lê ; các cây công nghiệp như chè, mía, và chăn nuôi nhiều loại gia súc giacầm và thuỷ sản Tuy nhiên, Bắc Hà cũng bị ảnh hưởng thời tiết khắc nghiệtnhư: nhiệt độ có độ chênh lệch ngày đêm và các tháng trong năm khá cao; sươngmuối, mưa đá kèm với dòng chảy mạnh của sông Chảy vào mưa lũ, làm gia tăngcác hoạt động xâm thực bào mòn, ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất nôngnghiệp, du lịch và sinh hoạt của nhân dân

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Bắc Hà là huyện có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xã hội, điều kiện thờitiết khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 180c, độ ẩm trung bình 80% phùhợp phát triển du lịch nghỉ dưỡng; là cao nguyên có nhiều danh thắng đẹp, nhiều

di tích lịch sử được xếp hạng, nhiều phong tục lễ hội truyền thống giữ được bảnsắc lợi thế cho phát triển du lịch Vùng cao Bắc Hà có khí hậu ôn đới thuận lợiphát triển cây ăn quả, rau, hoa cao cấp, cây dược liệu quý hiếm, thủy sản nướclạnh, phát triển chăn nuôi đại gia súc; Diện tích đất chưa sử dụng lớn có khảnăng phát triển lâm nghiệp Hệ thống sông suối đa dạng, độ dốc lớn có tiềmnăng phát triển thuỷ điện Đồng bào các dân tộc có nhiều nghề thủ công truyềnthống độc đáo tạo sản phẩm hàng hoá và thu hút khách du lịch lợi thế phát triểncông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Bắc Hà có vị trí trung tâm, cầu nối giữa cáchuyện Sín Mần tỉnh Hà Giang, huyện Si Ma Cai với thành phố Lào Cai và cáctỉnh miền xuôi…có lợi thế về vị trí địa lý, phát triển đô thị

Bên cạnh lợi thế phát triển kinh tế xã hội, Bắc Hà cũng có không ít khókhăn: Địa hình phức tạp, phân cách mạnh, có độ dốc lớn, giao thông đi lại khókhăn Là huyện có tới 39,77% dân số nông nghiệp nông thôn nhưng chỉ có 18%

Trang 21

diện tích đất tự nhiên là đất nông nghiệp, chủ yếu là đất đồi và đất ruộng bậcthang một vụ, bình quân đất nông nghiệp trên một người dân rất thấp Tập quán,thói quen canh tác còn lạc hậu Tỷ lệ lao động nông nhiệp nông thôn cao, phầnlớn chưa qua đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực thấp, trình độ dân trí khôngđồng đều.

Trong những năm gần đây, huyện Bắc Hà nâng tầm vị thế, phát triển toàndiện theo hướng nhanh và bền vững Huyện Bắc Hà chủ trương xác định nông -lâm nghiệp, nông thôn giữ vai trò trọng tâm, xuyên suốt; du lịch - dịch vụ là mũinhọn; công nghiệp - xây dựng là quan trọng; xây dựng Đảng là then chốt Pháttriển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường và bảotồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Củng cố quốc phòng, giữ vững anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại tạo điều kiệnthúc đẩy kinh tế phát triển Không ngừng củng cố và nâng cao chất lượng côngtác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Mặt khác đây cũng là giai đoạn Bắc Hànhận được sự đầu tư lớn của Trung ương, tỉnh qua nhiều nguồn, nhiều kênh khácnhau, nên sau 10 năm tổ chức thực hiện, đến hết năm 2020, các mục tiêu đưaBắc Hà phát triển đã từng bước trở thành hiện thực, với những chuyển biến sâusắc, dễ nhận thấy trên mọi phương diện

Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, bình quân đạt 12,46%/năm,

cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tích cực Thu nhập bình quân đầu ngườiđạt 36 triệu đồng, gấp hơn 2 lần so với năm 2015 Cơ cấu kinh tế chuyển dịchđúng hướng tích cực; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ39,5% năm 2015 xuống còn 32,77%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ24,69% lên 26,89%; dịch vụ tăng từ 35,81% lên 40,34%

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển, khai thác có hiệu quả tiềnnăng thế mạnh của huyện, đặc biệt là thủy điện Du lịch từng bước đưa Bắc Hàtrở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của du khách, sản phẩm du lịchngày càng đa dạng, phong phú Từ năm 2010 trở lại đây, xây dựng nông thônmới trở thành mục tiêu trực tiếp, quan trọng của cấp ủy, chính quyền huyện và

cơ sở Sau 11 năm xây dựng nông thôn mới, Bắc Hà đã có 8 xã hoàn thành nông

Trang 22

thôn mới, diện mạo từ đô thị đến các xã nông thôn vùng cao đã thay đổi rấtnhiều theo hướng văn minh hiện đại, đến nay, có 08 xã đạt chuẩn nông thônmới.

Xây dựng cơ bản tăng trưởng đều qua các năm, hệ thống trụ sở làm việccủa cấp huyện, xã, trường học, cơ sở y tế, chợ… được xây dựng ngày càngkhang trang, hiện đại, đẹp đẽ hơn Giao thông mở rộng, tạo sự kết nối khá thuậntiện từ trung tâm huyện đến xã, thôn bản, theo đó kinh tế dịch vụ phát triển, sựgiao lưu, trao đổi cả vật chất và tinh thần diễn ra thuận lợi hơn, làm cho trình độvăn minh của người dân tăng lên nhanh hơn, nhất là đối với đồng bào vùng sâu,vùng xa

Văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, lĩnh vực giáo dục hoànthành các mục tiêu phổ cập tiểu học- chống mù chữ; phổ cập Trung học cơ sở,phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, trường học đạt chuẩn quốc gia Y tếđáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhândân Công tác an sinh xã hội được đảm bảo; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình

quân 8,4%/năm (thuộc nhóm các huyện có tỷ lệ giảm nghèo cao của tỉnh) Hoạt

động văn hóa, thông tin, thể thao không ngừng tiến bộ, nhất là mở rộng diện phủsóng Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, điện thoại di động,Intenet… đến hầu hết các địa bàn trong huyện

Quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững, bảo đảm ổn định để pháttriển Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả quantrọng, Đảng bộ không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; Đảng bộhuyện liên tục đạt trong sạch vững mạnh Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dânhuyện, xã trưởng thành về nhiều mặt trong quyết định, quản lý, điều hành cáchoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên địa bàn Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, thực sựtrở thành nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của các tầng lớpnhân dân, tạo ra sự đồng thuận xã hội, chung sức thực hiện thắng lợi các mụctiêu, nhiệm vụ do cấp ủy huyện, cơ sở đề ra, làm chuyển biến mạnh mẽ thực tiễncuộc sống theo thời gian

Trang 23

2.2 Kết quả các yếu tố tác động đến phát triển du lịch huyện Bắc Hà 2.2.1 Tài nguyên du lịch huyện Bắc Hà

2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Địa hình, Bắc Hà có địa hình núi cao, bị chia cắt mạnh, chênh lệch về độ

cao rất lớn, độ cao trung bình từ 1.000 - 1.500 m so với mực nước biển (nơi có

độ cao tuyệt đối cao nhất là 1.800 m, thấp nhất 116 m) Địa thế có dạng hìnhchóp, đỉnh là khu Lùng Phình, dốc dần ra sông Chảy, theo hướng Bắc Nam.Chính vì vậy, do địa hình, độ dốc lớn, địa thế núi non hiểm trở của Bắc Hà cùngvới hệ thống sông, suối trên địa bàn tạo điều kiện lớn để mở rộng quy mô pháttriển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (đặc biệt là thuỷ điện) vàphát triển du lịch, tạo nên bước phát triển đột biến trong sự phát triển côngnghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện

Tuy nhiên, vì độ dốc lớn nên các sông suối thường hay hạn hán vào mùakhô, lũ lụt vào mùa mưa

Thời tiết, khí hậu, Bắc Hà có 3 tiểu vùng đặc trưng: Vùng thượng huyện, có

độ cao từ 1500 đến 1800m so với mực nước biển, có nhiệt độ bình quân năm18,70C Vùng này có khí hậu mang nhiều tính ôn đới, mát mẻ về mùa hè, khôlạnh về mùa đông, rất thích hợp cho trồng cây ăn quả địa phương như mận TamHoa, mận Hậu, đào, lê phục vụ cho phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn;Vùng trung huyện, có độ cao từ 900 m đến 1200 m so với mực nước biển Vùngnày có khí hậu ôn hoà, mùa hè mát mẻ, mùa đông lạnh khô hanh, với nhiệt độbình quân từ 250C - 280C Khí hậu ở đây thuận lợi cho phát triển du lịch sinhthái, nghỉ dưỡng, và phát triển vùng cây ăn quả và cây nông nghiệp chè santuyết; Vùng hạ huyện, độ cao dưới 900 m so với mực nước biển, có nhiệt độbình quân 280C - 320C, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới, có nhiều sôngsuối lớn, thuận lợi cho phát triển du lịch thể thao mạo hiểm, sông nước, câycông nghiệp, ăn quả, thuỷ sản, thuỷ điện

Địa hình, khá phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh, có

những đỉnh núi cao, những vùng triền núi thấp, tạo nên những cảnh quan núi

Trang 24

rừng hùng vĩ và hấp dẫn như vách đá, hang động, thác nước có giá trị khai tháccác hoạt động du lịch như động Thiên long (công nhận là di sản danh thắng cấpquốc gia), núi Cô Tiên Tà Chải, hang Tiên xã Bảo Nhai, núi Ba Mẹ Con ở thịtrấn Bắc Hà, rừng già Bản Liền, rừng nguyên sinh xã Tả Van Chư, rừng gỗnghiến Cốc Ly, rừng chè cổ thụ xã Hoàng Thu Phố, rừng Sa Mu và ruộng bậcthang ở xã Lùng Phình, xã Tả Củ Tỷ, Thác Sông Lẫm xã Tả Củ Tỷ, điểm ngắmcảnh thôn Ngải Thầu xã Na Hối phù hợp với cách hoạt động du lịch sinh thái,mạo hiểm, khám khá.

Thủy văn và tài nguyên nước: Bắc Hà có sông Chảy là sông chính chảy

qua, 2 mặt phía Tây và phía Nam, có chiều dài khoảng 70km Ngoài ra còn cócác hệ thống khe suối nhỏ: Ngòi Đô, Thèn Phùng, Nậm Phàng, Nậm Lúc đều đổ

ra sông Chảy Sông Chảy bắt nguồn từ đỉnh Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc) và lầnlượt chảy qua các địa danh Lào Cai, Yên Bái rồi hợp lưu với Sông Lô ở ĐoanHùng (Phú Thọ) Với chiều dài 319km, nhưng đoạn chảy qua Si Ma Cai - Bắc

Hà (Lào Cai) là đẹp nhất vì vậy đã và đang được khai thác thành sản phẩm dulịch sông nước độc đáo Thuỷ điện Bắc Hà được xây dựng trên sông Chảy với

hồ chứa có bề mặt rộng 656 ha khi vận hành bổ sung vào lưới điện quốc gia gần

400 triệu kwh/năm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hộicủa khu vực, mở ra hướng phát triển mới (giao thông, sử dụng điện, nuôi trồngthuỷ cầm thuỷ sản, du lịch ) đến các vùng sâu , vùng xa của Lào Cai Vẻ đẹpđầy hấp dẫn của vùng sông nước lòng hồ là nguồn tài nguyên vô tận cho nhữnghoạt động du lịch khám phá thể thao mạo hiểm sông nước, du lịch nghỉ dưỡng.Bên cạnh đó, nguồn lợi thủy sản phong phú ở vùng hồ Cốc Ly mở ra hướng đimới cho phát triển du lịch ẩm thực dọc thung lũng sông Chảy

2.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Bắc Hà có 19 di tích, 01 di sản phi vật thể của nhân loại, 4 di sản phi vậtthể Quốc gia, 4 di tích cấp quốc gia và 01 di tích cấp tỉnh trong đó di tích kiếntrúc Dinh thự cổ Hoàng A Tưởng được kết hợp của 2 nền kiến trúc Á, Âu màchỉ có ở Bắc Hà Trên vùng đất này có 14 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗinhóm dân tộc đều sở hữu những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo và

Trang 25

vẫn được bảo tồn trong cộng đồng Đây là những điều kiện rất thuận lợi để pháttriển các loại hình du lịch sinh thái cộng đồng và du lịch văn hóa tại huyện BắcHà.

Về giá trị văn hóa vật thể, Bắc Hà có hệ thống các di tích lịch sử gắn vớinhiều giai đoạn lịch sử khác nhau trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữnước Dinh thự Hoàng A Tưởng được xây dựng được xây dựng từ năm 1914 vàhoàn thành vào năm 1921 với tổng diện tích toàn khu nhà lên tới 4000m2 Ditích này đã được Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch công nhận di tích cấp Quốcgia; Đền Trung Đô nằm lọt trong vùng thung lũng nơi hợp lưu của 2 dòng suốiNậm Thin (hay còn gọi là Nậm thiên) lũng suối Nậm Khòn ở phía Bắc và phíađông với sông Chảy nằm ở phía Tây của đền Di tích này đã được Bộ Văn hoá -Thể thao & Du lịch công nhận di tích cấpQuốc gia Đền Bắc Hà thị trấn Bắc Hàthờ tướng Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên cùng con cháu xây dựng vào thập kỷ 30của thế kỷ thứ XVI để bảo vệ căn cứ sông Chảy - hậu cứ chống Nhà Mạc bảo vệbiên cương Di tích này đã được Bộ Văn hoá - Thể thao& Du lịch công nhận ditích cấp Quốc gia

Về các giá trị văn hóa phi vật thể, với đặc điểm là nơi chung sống của 14dân tộc anh em, các làng bản dân tộc vẫn bảo lưu được những kiến trúc truyềnthống và vẫn duy trì sinh hoạt truyền thống vì vậy các mỗi làng bản đều cónhững nét hấp dẫn riêng như: người Mông thôn Tả Van Chư xã Tả Van Chư;người Tày thôn Trung đô xã Bảo Nhai; Người Phù lá thôn Tà Chải 1,2 xã LùngPhình… Bắc Hà là quê hương của những lễ hội văn hóa đặc sắc như: Hội chơinúi mùa xuân (Gầu tào hoặc Say Sán) của dân tộc Mông; Lễ tết "Nhảy" củangười Dao đỏ; hội Lồng Tồng, hội Xòe của người Tày; Hội đua ngựa của cácdân tộc, Bắc Hà còn nổi tiếng với những phiên chợ vùng cao độc đáo Bứctranh sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các dân tộc Bắc Hà đã tạo nên nét độcđáo, hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước Chợ phiên Bắc Hà đãtừng được bình chọn là một trong 10 chợ phiên độc đáo nhất Đông Nam Á vàkhu vực Châu Á

Có thể khẳng định, trong những năm qua, Bắc Hà phần nào cũng đã khai

Trang 26

thác được các tiềm năng và lợi thế trong phát triển du lịch, góp phần vào sự pháttriển chung của huyện Số lượng khách du lịch qua các năm đều tăng nhanh,trong năm 2021 do dịch bệnh Covid-19 kéo dài, lượng khách du lịch đến Bắc Hàkhoảng 150.000 lượt khách, giảm 52% so với năm 2020 (trong đó khách nướcngoài chiếm khoảng 89 lượt khách) Doanh thu từ dịch vụ du lịch trong năm

2021 đạt khoảng 150 tỷ đồng Sau đại dịch Covid, lượng khách du lịch đến vớiBắc Hà đã tăng vọt, đến thời điểm hiện tại năm 2022, số lượng khách du lịchđến với Bắc Hà ước tính khoảng 410.000 lượt khách, trong đó có 2.053 khách

du lịch quốc tế

Ngày 02/01/2019, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định số UBND, công nhận Bắc Hà là khu du lịch cấp tỉnh, đây là những cơ sở quantrọng để huyện Bắc Hà quyết tâm xây dựng thành khu du lịch đặc sắc cấp tỉnh

06/QĐ-và khu vực Tuy nhiên, du lịch Bắc Hà còn nhiều hạn chế 06/QĐ-và bất cập như: hoạtđộng du lịch còn chủ yếu dựa vào tự nhiên; kết quả chưa tương xứng với tiềmnăng và lợi thế của huyện, phát triển nhưng vẫn thiếu tính bền vững; thiếu sựđầu tư trọng điểm và đồng bộ, số lượng dự án đã triển khai và đi vào hoạt độngcòn ít, hiệu quả chưa cao, một số tiêu chí chưa đạt tiêu chuẩn khu lịch cấp tỉnhnhư: Chưa có nội quy, hệ thống biển chỉ dẫn thuyết minh khu du lịch, còn thiếu

hệ thống nhà vệ sinh công cộng cộng tại một số điểm du lịch vào thời kỳ caođiểm

Cùng nhìn lại, những tiềm năng, lợi thế kể trên không phải huyện nào trongtỉnh cũng có được, Bắc Hà cần khai thác, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế củađịa phương cho phát triển, trong đó du lịch là đột phá; tập trung phát triển cácsản phẩm du lịch đặc sắc và thường xuyên tổ chức các lễ hội có tính đặc trưngcủa huyện, gắn với thương hiệu cao nguyên trắng Bắc Hà:

Xây dựng không gian văn hóa đặc trưng hoặc Trung tâm diễn giải (lựa

chọn làng nghề, nhóm dân tộc đặc trưng như: Dân tộc, Mông, Dao, Tày,Nùng, ) Xây dựng các điểm du lịch cộng đồng gắn với đặc trưng văn hóa dântộc trên địa bàn theo hướng: đặc sắc, bền vững, nâng cao nhận thức trong cộngđồng dân cư; đảm bảo lợi ích của cộng đồng, người dân bản địa góp phần giảm

Trang 27

nghèo bền vững Có phương án bảo tồn và phát huy các không gian văn hoátruyền thống các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng tại các địa bàn cótài nguyên du lịch: xã Bản Liền, Hoàng Thu Phố, Tà Chải, Bản Phố, Tả VanChư,

Sản phẩm du lịch lưu trú nghỉ dưỡng cao cấp, thu hút các dự án đầu tư lớn

về du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái nông nghiệp, du lịch cộng đồng, chămsóc sức khỏe, thể thao mạo hiểm

Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà - Chuỗi sự kiện thường niên 4 mùa: Xây

dựng Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà thành sản phẩm du lịch đặc sắc, theochủ đề 4 mùa, bao gồm nhiều hoạt động chính và phụ trợ như: chương trìnhnghệ thuật gắn với sân khấu thực cảnh; ngày hội văn hóa truyền thống các dântộc; không gian ẩm thực (mâm cơm Bắc Hà, cốm, thắng cố, chợ phiên…),chương trình tham quan trải nghiệm, nâng tầm lễ hội Mận tam hoa cùng các chếphẩm từ mận, … gắn liền với giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà, các khu, điểm

du lịch và các sản phẩm du lịch đặc sắc đang xây dựng Đặc biệt xây dựng chiếnlược tạo điểm nhấn cho sản phẩm du lịch gắn với thương hiệu Cao nguyên trắng

là “cung đường hoa trắng (hoa mận, hoa lê) Thực hiện truyền thông quảng bárộng rãi Festival trên các nền tảng ứng dựng công nghệ thông tin

Sản phẩm du lịch Chợ phiên Bắc Hà: “Chủ nhật - trên cao nguyên” Đối

mới hình thức tổ chức hoạt động chợ Văn hoá Bắc Hà trở thành sản phẩm dulịch Chợ phiên đặc sắc khu vực và thế giới trở thành địa điểm không thể thiếutrong hành trình đi du lịch Lào Cai của khách du lịch (là top chợ phiên hàng đầu

thế giới), theo chủ đề “Nghiêng say Chợ đêm; Nghiêng say Chợphiên “ Chủ nhật - trên cao nguyên”, bao gồm nhiều hoạt động chính và phụ trợ như:

chương trình trình diễn nghệ thuật dân gian truyền thống, gắn với sân khấu thựccảnh; ngày hội văn hóa truyền thống các dân tộc; không gian ẩm thực (mâmcơm Bắc Hà, cốm, thắng cố, chợ phiên…), quy hoạch, sắp xếp bố trí không giancủa Chợ Bắc Hà thực sự tạo ấn tượng về văn hoá, phong tục tập quán của đồng

bào các dân tộc nhằm thu hút hấp dẫn khách du lịch; Sản phẩm du lịch về đêm

“Ký ức đêm trắng Bắc Hà”, khảo sát, tư vấn xây dựng kịch bản cho không gian

Trang 28

và bối cảnh của sản phẩm du lịch đặc sắc “Ký ức đêm trắng Bắc Hà” diễn ra vàochiều, tối thứ 5,6,7 hàng tuần Hỗ trợ quảng bá, truyền thông cho “Ký ức đêmtrắng Bắc Hà” thành sản phẩm du lịch mang thương hiệu riêng nhằm phát triểnkinh tế đêm, kéo dài thời gian lưu trú, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dukhách tham quan.

Giải đua truyền thống “Vó ngựa cao nguyên trắng” : Nâng tầm quy mô sự

kiện Giải đua truyền thống “Vó ngựa cao nguyên trắng” trở thành sự kiện quy

mô cấp khu vực, được đưa vào thành sự kiện thường niên của Du lịch Việt Nam

Cụm du lịch cộng đồng đặc sắc mang thương hiệu riêng của Bắc Hà: Xây

dựng đề cương chi tiết, định hướng phát triển sản phẩm theo tiêu chí vừa quản

lý, vừa khai thác dựa trên việc đào tạo, tập huấn nhân lực địa phương gắn vớixây dựng và khai thác sản phẩm, mô hình du lịch bản làng, từ đó tạo đượcnguồn thu để tiếp tục duy trì và nhân bản thêm nhiều chuỗi hoạt động du lịchbản làng tương tự

Sản phẩm du lịch nghệ thuật đặc sắc Cao nguyên huyền thoại gắn với Dinh thự kiến trúc nghệ thuật Hoàng A Tưởng: Xây dựng sản phẩm nghệ du lịch nghệ

thuật đặc sắc "Cao nguyên huyền thoại" gắn với "Huyền thoại dinh thự kiến trúcnghệ thuật nhà Hoàng A Tưởng" thành chương trình giới thiệu về du lịch Bắc

Hà thông qua nghệ thuật nhằm biểu đạt lịch sử vùng đất, con người thân thiện,mến khách, tài năng, công trình kiến trúc, phong tục - tập quán, văn hóa truyềnthống đặc sắc “ Pêz Mongz”v.v… nhằm sử dụng thành chương trình đặc biệtchào đón đại biểu và du khách khi đến Bắc Hà, đồng thời biểu diễn thườngxuyên về đêm tại dinh Hoàng A Tưởng Tổ chức trưng bày tại di tích kiến trúcHoàng A Tưởng; Trình phê duyệt đề cương và dự án trưng bày; Tổ chức cáchoạt động trưng bày, diễn giải và hoạt động du lịch theo tư vấn của chuyên giaPháp; trình diễn nghề thủ công truyền thống, văn nghệ dân gian, chuỗi sự kiệnbốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, ngày hội Văn hóa và các sự kiện theo chủ đề.Kết nối toàn bộ sản phẩm du lịch đặc sắcthành không gian trưng bày chuyên đề,thông tin tư vấn và phát triển sản phẩm này trong Nhà du lịch Bắc Hà (Mô hìnhtượng sáp)

Trang 29

Phát triển sản phẩm du lịch kết nối Bắc Hà với Xín Mần - Hà Giang và Mường Khương, Si Ma Cai (Lào Cai), nhằm mở rộng không gian du lịch vùng

Đông Bắc gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, nông nghiệp Triển khai kếhoạch 254/KH-UBND ngày 28/9/2020 về Phát triển sản phẩm du lịch trên địabàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Tư vấn hỗ trợxây dựng mô hình nhà du lịch vệ tinh tại các địa điểm du lịch trọng tâm; Khảosát và xây dựng sản phẩm du lịch nông nghiệp, sinh thái, văn hóa cộng đồng kếtnối Mường Khương - Bắc Hà - Si Ma Cai và Bắc Hà - Xín Mần nhằm mở rộngkhông gian du lịch theo chỉ đạo của tỉnh

Sản phẩm du lịch thể thao tổng hợp với thương hiệu Bac H’Adventure: Tổ

chức sản phẩm du lịch thể thao mới theo tư vấn của các chuyên gia của vùngNouvelle Aquitaine - CH Pháp; Xây dựng và tổ chức sản phẩm du lịch trảinghiệm các loại hình thể thao mạo hiểm ngoài trời thu hút nhiều đối tượng dukhách như: Chèo thuyền kayak, tour trượt thác canyoning, đu dây… Giải du lịchthể thao tại Bắc Hà (sản phẩm du lịch thể thao các môn phối hợp đạp xe địa hình

- chạy bộ - chèo thuyền v.v…); Xuất bản mới và phát hành Cẩm nang/Sổ tay Dulịch Thể thao Lào Cai (Leo núi, đạp xe, chạy bộ đường trường - Marathon)

Phát triển sản phẩm du lịch nông nghiệp gắn với thương hiệu Trà hữu cơ Bắc Hà, Trà cổ Hoàng Thu Phố, Trà Shan Bản Liền: Tổ chức mô hình giới thiệu

sản phẩm trà hữu cơ Bắc Hà gắn với phát triển du lịch cộng đồng hình thành cácvùng trà hữu cơ với các thương hiệu Trà cổ Hoàng Thu Phố “Hương vị Núitiên”; Trà Shan Bản Liền “Hương vị ngàn năm”; Hình thành tại trung tâm xãBản liền và tại Thành phố Lào Cai các khu trưng bày giới thiệu sản để kết nốitiêu thụ sản phẩm và giới thiệu các sản phẩm Trà hữu cơ của Bắc Hà Hìnhthành các mô hình, điểm du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng tại các xã BảnLiền, Tả Củ tỷ, Hoàng Thu Phố, Tả Van Chư, Cốc Ly và Trung Đô, …

Để khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế sẵn có, xác định du lịch, dịch

vụ là ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới Bắc Hà cần: tiếp tục tập trunglãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 27/8/2021của Ban Thường vụ về phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn

Trang 30

đến năm 2050 và đã đạt được nhiều kết quả tích cực Để triển khai thực hiệnnghiêm túc và có hiệu quả Nghị quyết số 11- NQ/TU, căn cứ vào tình hình thựctiễn của huyện, thực hiện tốt Chương trình hành động số 63-CTr/HU, ngày14/10/2021 về thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 27/8/2021 của BanThường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìnđến năm 2050 trên địa bàn huyện Bắc Hà; Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nướcđối với hoạt động du lịch và đặc biệt quan tâm đến vấn đề chuyển đổi số, đưanhững thành tựu của khoa học- công nghệ gắn với phát triển du lịch; Xây dựngquy hoạch tổng thể về phát triển du lịch; Nâng cao chất lượng hoạt động tuyêntruyền, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là nhận thức củatừng người dân trong phát triển du lịch; Làm tốt công tác bảo tồn, phát huy các

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với phát triển du lịch, tạo ra nhiều sảnphẩm du lịch đặc sắc; Thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoàinước và hoàn thiện kết cấu hạ tầng phát triển du lịch; Xây dựng và phát triển cácsản phẩm du lịch độc đáo, mang những nét riêng có của cao nguyên trắng BắcHà; Phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi ngày càng caocủa du khách, hướng đến tính chuyên nghiệp; Đẩy mạnh việc xúc tiến và quảng

bá du lịch để du khách trong và ngoài nước biết đến Bắc Hà và coi đây là mộttrong điểm đến trong hành trình du lịch của mình

2.2.2 Nguồn nhân lực du lịch Bắc Hà

Kết quả khảo sát về lao động và việc làm trong lĩnh vực du lịch được thựchiện bởi tổ chức GREAT năm 2021 tại các công ty lữ hành, khu điểm du lịch và

cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong đó có huyện Bắc Hà đã chỉ ra một

số vấn đề về nguồn nhân lực theo độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo và dân tộcthiểu số Nguồn nhân lực của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực lữ hành, khuđiểm du lịch khá đa dạng về chuyên môn và được đào tạo theo các lĩnh vực khácnhau Đặc biệt tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số (DTTS) tham gia vào hoạt động dulịch khá nhiều chiếm 24,6% chủ yếu ở độ tuổi từ 22 đến 49

Theo vị trí công việc nói chung, cán bộ quản lý chiếm 12,66%, bán hàng/marketing chiếm 6,33%, điều hành và hướng dẫn du lịch chiếm 10,13%, còn lại

Trang 31

70,89% là các vị trí khác Tuy nhiên đối với DTTS thì các vị trí khác chiếm tới85,53%, các vị trí đòi hỏi chuyên môn chiếm tỷ lệ ít hơn Vị trí quản lý từ độtuổi 35 trở lên là chủ yếu Theo trình độ đào tạo, trên 52% là lao động phổthông, đối với DTTS thì tỷ lệ này lên tới hơn 79% Trong mẫu điều tra không có

ai đạt trình độ Tiến sĩ, 0,47% có trình độ thạc sĩ chủ yếu ở độ tuổi trên 35 Đạihọc và cao đẳng khoảng 31,01%, trung cấp và sơ cấp khoảng 16% Bên cạnh đó,tỷ trọng được đào tạo chuyên môn du lịch ở các vị trí khác nhau có sự khác nhauđáng kể Với nhân viên điều hành hướng dẫn du lịch, có tới 54,69% được đàotạo theo đúng chuyên ngành du lịch, kể cả người DTTS Nhân viên bánhàng/Marketing chỉ có 31,25% được đào tạo theo chuyên ngành du lịch, nhưngkhông có ai thuộc nhóm DTTS Thấp nhất là cán bộ quản lý, chỉ có 26,88%được đào tạo theo chuyên ngành du lịch, nhưng người DTTS chỉ đạt tỷ lệ14,29%

Nhìn chung, nhân lực du lịch tại Bắc Hà luôn trong tình trạng thiếu và chưaqua đào tạo trong đó có nhân lực lập kế hoạch, nhân lực quản lý, tổ chức vànhân lực thực hiện Theo báo cáo của huyện, nhân lực hoạt động trong các cơ sởkinh doanh du lịch trên địa bàn chủ yếu chưa qua đào tạo, chưa có chuyên môn,

kỹ năng; nguồn nhân lực thiếu và yếu quản lý, điều hành, chưa đáp ứng đượctiềm năng phát triển và nhu cầu của du khách trong và ngoài nước Bên cạnh đó,tại các mô hình du lịch cộng đồng (DLCĐ) trên địa bàn, hầu hết các hộ dân chưathật sự am hiểu về quy trình tổ chức, đón tiếp; kiến thức về du lịch, kỹ năngnghề, giao tiếp ngoại ngữ còn hạn chế Qua khảo sát sơ bộ cũng cho thấy, độingũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước vềlĩnh vực du lịch tại các phòng, trung tâm văn hóa – thông tin của huyện cònthiếu, phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực công tác, chưa đúng chuyên môn đào tạo

về du lịch, thiếu kinh nghiệm thực tiễn…

Với mô hình DLCĐ tại nhiều thôn, bản của huyện hiện nay, đa phần đềuxuất phát từ một gia đình thành công trong thôn, bản Sau đó, khi du khách đếnnhiều hơn kéo theo nhiều hộ gia đình khác cùng làm du lịch Ban đầu, tất cả việc

ăn, nghỉ của khách đều do các thành viên trong một gia đình đảm nhiệm/ phục

Trang 32

vụ Khi khách đông, gia đình gọi thêm một số người thân trong họ, trong làngđến trợ giúp và nhận tiền công theo ngày, khoảng 100.000 – 150.000 đồng/ngày/người Đây là điển hình của mô hình sử dụng lao động gia đình, chưa qua đàotạo trong làm DLCĐ ở Bắc Hà hiện nay

Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tậphuấn chuyên môn, nghiệp vụ cho người dân trực tiếp tham gia hoạt động DLCĐ,đặc biệt là các kỹ năng đón tiếp khách, nghiệp vụ phục vụ du lịch… Tuy nhiên,

do kiến thức nhiều mà thời gian tập huấn quá ngắn (thường chỉ diễn ra trong mộthoặc hai ngày mỗi đợt) nên các lớp tập huấn chỉ thiên về hình thức, chưa đem lạihiệu quả cao Bên cạnh đó, các kỹ năng về xây dựng kế hoạch, định hướng pháttriển, ý thức phát triển du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường… hầu như chưađược đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu

2.2.3 Cơ sở hạ tầng

Trong những năm qua UBND tỉnh chỉ đạo đã lồng ghép nhiều nguồn vốn

để đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, thúcđẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như du lịch nói riêng trên địa bànhuyện Bắc Hà, bước đầu có những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020

Tổng kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020, huyện Bắc Hà được phân

bổ 1.057,406 tỷ đồng Trong đó: Vốn ngân sách Trung ương giao: 459,703 tỷ

đồng, gồm: Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: 175.633 tỷđồng; Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững (bao gồm vốn nghị quyết 30a

và chương trình 135) 284.070 tỷ đồng Vốn do ngân sách tỉnh: 463,227 tỷ đồng,gồm: Nguồn ngân sách tập trung 234,531 tỷ đồng Nguồn sự nghiệp ngân sáchtỉnh 228,696 tỷ đồng Nguồn vốn ngân sách cấp huyện quản lý: 134.476 tỷ đồng

Giải ngân vốn đầu tư công trung hạn 2016-2020: Ước giải ngân kế hoạch

trung hạn giai đoạn 2016-2020 đến hết năm 2021 đạt 1.057,343 tỷ đồng, đạt100% so với tổng kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020

Kết quả đầu tư cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Một số kết quả đầu tư hạ tầng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội:

Trang 33

Đến hết năm 2020: Cơ bản các thôn bản trên địa bàn huyện có điện lưới quốcgia; Cứng hóa 100% đường đến trung tâm các thôn, bản; 100% thôn bản có nhàvăn hóa phục vụ sinh hoạt cộng đồng; Hoàn thành việc khảo sát, triển khai cácthủ tục đầu tư, bảo đảm 100% các địa phương không còn phòng học tạm…

Hệ thống kết cấu hạ tầng được UBND huyện đầu tư đồng bộ, một số côngtrình lớn được đưa vào khai thác sử dụng đang phát huy hiệu quả, góp phần thúcđẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, cụ thể: Đường vànhđai 2 (đoạn đường tỉnh 153 đi UBND xã Na Hối - Na Kim xã Tà Chải) huyệnBắc Hà, Nâng cấp chợ văn hóa Bắc Hà; Trường Mầm non thị trấn, Hạ tầng kỹthuật Cây Xăng - Tả Hồ, Trụ sở hợp khối các cơ quan, Kè chống sạt lở đườngPạc Kha

Ngoài ra, huyện đang hoàn thiện thủ tục đầu tư một số dự án lớn, quantrọng để đầu tư trong giai đoạn 2021-2025: Cải tạo công viên hồ Na Cồ, Nângcấp đường nội thị thị trấn, Trụ sở hành chính huyện, Đường Tả Củ Tỷ, huyệnBắc Hà đi UBND xã Bản Ngò, huyện Sín Mần, tỉnh Hà Giang

Kết quả phát triển du lịch của huyện Bắc Hà.

Du lịch Bắc Hà đã có những chuyển biến mạnh mẽ, lượng khách đến Bắc

Hà hàng năm tăng bình quân trên 12%; năm 2020, do dịch Covid lượng kháchđến thăm quan Bắc Hà giảm, đón gần 330.000 lượt khách, doanh thu từ dịch vụ

du lịch đạt 300 tỷ đồng

Tổ chức chợ đêm vào tối thứ 7 hàng tuần với các tiết mục văn nghệ truyềnthống địa phương nhằm thu hút khách lưu trú tại Bắc Hà (bình quân 2.500khách/tối)

Hiện nay có 77 cơ sở lưu trú trên địa bàn huyện, gồm: 8 khách sạn 1-2 sao,

24 nhà nghỉ, 45 cơ sở kinh doanh dịch vụ Homestay Các Homestay tập trung ởmột số xã Tả Van Chư, Na Hối, Bản Phố, Tà Chải, Bảo Nhai, Thải Giàng Phố, Đây là loại hình lưu trú bắt đầu phổ biến do yêu cầu của khách đến thăm và nghỉlại thôn, bản

Sản phẩm du lịch đã được chú ý xây dựng nhằm thu hút du khách đến vớiđịa phương, đẩy mạnh triển khai xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng như: Đua

Ngày đăng: 12/12/2023, 08:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w