1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) giáo dục pháp luật cho sinh viên tại các trường cao đẳng nghề từ thực tiễn tỉnh đăk lăk

79 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Pháp Luật Cho Sinh Viên Tại Các Trường Cao Đẳng Nghề Từ Thực Tiễn Tỉnh Đăk Lăk
Tác giả Huỳnh Ngọc Hoài Phương
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Công Giao
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và hành chính
Thể loại thesis
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đăk Lăk
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 90,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung GDPL được đưa vào chương trình của các trường Caođẳng dạy nghề theo cách thức thống nhất, ở mức độ cao hơn mức độ cơ bản nângcao hơn với các cấp học phổ thông, nhằm giúp sinh vi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NGỌC HOÀI PHƯƠNG

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐĂK LĂK

ĐĂK LĂK - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NGỌC HOÀI PHƯƠNG

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐĂK LĂK

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính

Mã số: 8380102

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Công Giao

ĐĂK LĂK - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôidưới sự định hướng, giúp đỡ của thầy hướng dẫn Các số liệu, kết quả in trong luậnvăn là khách quan, trung thực

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệLuận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Huỳnh Ngọc Hoài Phương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1.Đối tượng nghiên cứu: 4

4.2.Phạm vi nghiên cứu: 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 7

1.1.Khái niệm, đặc điểm của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề 7

1.1.2.Khái niệm giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề 9

1.1.3.Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề 9 1.2.Mục đích của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề 1.2.1.Mụcđíchcủagiáodụcphápluậtnóichung

10 10 1.2.2.Mục đích của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề nói riêng 11

1.3.Vai trò của giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề 13

Trang 5

1.4 Chủ thể giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề .16

1.5 Nội dung giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề .17

1.6 Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề 20 1.7 Các yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề .23

Tiểu kết Chương 1 .25

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ Ở TỈNH ĐĂK LĂK 26

2.1 Khái quát về hệ thống các trường Cao đẳng nghề tại tỉnh Đăk Lăk .26

2.2 Thực trạng giáo dục pháp luật ở các trường Cao đẳng nghề tại tỉnh Đăk Lăk trong 5 năm gần đây 28

2.2.1 Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên theo chương trình chính khóa .28

2.2.3 Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân .47

Tiểu kết chương 2 .50

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ Ở TỈNH 51

ĐĂK LĂK HIỆN NAY .51

3.2 Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng nghề từ thực tiển tỉnh Đăk Lăk .56

3.2.1 Đối với nội dung, chương trình giáo dục pháp luật .56

3.2.2 Nâng cao vị trí, vai trò, chất lượng giáo dục pháp luật ở các trường Cao đẳng nghề Đăk Lăk .59

3.2.3 Đối với hình thức và phương pháp giảng dạy pháp luật .61

3.2.5 Xây dựng đội ngũ giảng dạy, cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật có trình độ, năng lực 64

Kết luận chương 3 .65

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá tầm quan trọng của môn học pháp luật .28 Bảng 2.2 Chương trình môn học dành cho hệ cao đẳng 2018 .30 Bảng 2.3: Thống kê quy mô đào tạo HSSV từ năm 2011-2016 .36

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục pháp luật trong các nhà trường, đặc biệt trong các trường cao đẳngnghề góp phần đào tạo nhân lực, hình thành một cách vững chắc những thế hệ côngnhân đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai Do đó, Đảng và Chínhphủ đã ra những nghị quyết, chỉ thị trong đó đã khẳng định rằng để xây dựng vànâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân cần đưa việc giáo dục pháp luật vào cáctrường học, các cấp học, từ phổ thông đến đại học, trung học chuyên nghiệp cùngtoàn thể nhân dân Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V, khẳng định “các cấp

uỷ Đảng, các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể phải thường xuyên giải thích phápluật trong các tầng lớp nhân dân, đưa việc giáo dục pháp luật vào các trường học,các cấp học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng pháp luật” [6]

Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII nhấn mạnh: “coi trọng côngtác giáo dục tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa việc dạy pháp luật vào hệ thốngcác trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học) của cácđoàn thể nhân dân” [7]

Trong thực tế trong những năm qua, các cơ quan chức năng nhà nước ở cấptrung ương đã phối hợp với các địa phương từng bước triển khai việc đưa giáo dụcpháp luật vào các trường học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới chươngtrình, mục tiêu giáo dục ở các hệ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạynghề Trong chương trình chính khóa, giáo dục pháp luật trong nhà trường đượcthực hiện thông qua việc dạy và học các môn học pháp luật hoặc lồng ghép, tích hợpvào các môn học có liên quan Bên cạnh đó, giáo dục pháp luật cho sinh viên đượcnhà trường thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lênlớp Điều này đã góp phần thực hiện mục tiêu của môn học Pháp luật là giáo dụctoàn diện cho sinh viên, nâng cao ý thức pháp luật, xây dựng tình cảm, niềm tin, ýthức công dân của sinh viên, sinh viên trong các trường học, tạo lập thói quen ứng

xử phù hợp và theo chuẩn mực pháp luật

Mặc dù vậy, ở nhiều địa phương và cơ sở đào tạo, trong đó có tỉnh Đăk Lăk,hoạt động giáo dục pháp luật còn mang nặng tính hình thức Tình trạng này do

Trang 9

nhiều nguyên nhân, trong đó đầu tiên là do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, vị trí,tầm quan trọng của công tác giáo dục pháp luật, sau đó là do chương trình nội dunggiáo dục pháp luật còn thiếu hợp lý, hình thức và phương thức giáo dục còn chậmđổi mới, đội ngũ nhà giáo và cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật còn thiếu vàyếu Ở mỗi địa phương, các nguyên nhân này thể hiện dưới những khía cạnh, hìnhthức và mức độ khác nhau, vì vậy cần nghiên cứu thực trạng giáo dục pháp luật gắnvới điều kiện, hoàn cảnh đặc thù của mỗi tỉnh.

Trong bối cảnh đó, học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật chosinh viên tại các trường cao đẳng nghề từ thực tiễn Tỉnh Đăk Lăk” để thực hiện luậnvăn thạc sĩ luật học, nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận từ đó sửa đổi hệ thốngpháp luật để tăng cường hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường caođẳng nghề Tỉnh Đăk Lăk nói riêng, ở nước ta nói chung

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục phápluật trong các trường Cao đẳng, đại học nói riêng, đã được nhiều tác giả nghiên cứu,trong đó tiêu biểu có thể kể đến hai công trình sau:

- Hoàn thiện chương trình giáo dục pháp luật trong các trường Cao đẳng kỹthuật ở Việt Nam hiện nay, - luận văn thạc sĩ Luật học của Vũ Thị Hồng Vân, 2006.Công trình này đã nêu lên những vấn đề về lý luận và thực tiễn về chương trình giáo dụcpháp luật trong các trường Cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giảipháp nhằm hoàn thiện chương trình giáo dục pháp luật trong các trường Cao đẳng kỹthuật

- Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật ở Việt Nam - luận án tiến sĩ Luật học của Phan Hồng Dương, 2014 Công trình này phân tích một cách toàn diện thực trạng giáo dục pháp luật trong các trường đại học không chuyên luật của Việt Nam, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, phân tích nguyên nhân và đề ra nhiều giải pháp có giá trị khoa học, thực tiễn cao để thúc đẩy hoạt động này ở các trường đại học, cao đẳng không chuyên luật

Bên cạnh hai công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài đã kể ở trên, còn có một loạt công trình nghiên cứu khác đề cập đến những vấn đề lý luận, thực tiễn về

Trang 10

giáo dục pháp luật nói chung, tiêu biểu như của Trần Ngọc Đường, Dương ThịThanh Mai (1995), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;Nguyễn Đình Đặng Lục (2004), Giáo dục pháp luật trong nhà trường, Nxb Giáodục, Hà Nội; Nguyễn Huy Bằng (chủ biên) (2009), Công tác giáo dục pháp luậttrong nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội; Doãn Thị Chín (2016), Tăngcường phổ biến giáo dục pháp luật cho sinh viên, Tạp chí Lý luận Chính trị, (4),tr40-44; Phạm Kim Dung (2006), Giáo dục pháp luật trong nhà trường – Những vấn

đề đặt ra hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, tr 71-75; 18 Bùi Văn Dũng –Đặng Minh Tiến (2014), Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho sinh viên caođẳng dạy nghề hiện nay, Tạp chí Giáo dục (337), tr37-39; Trần Văn Hoà (2015),Vai trò giáo dục pháp luật đối với sự phát triển nhân cách học viên trong nhà trườngquân đội, Tạp chí Giáo dục, (350), tr19-20; Nguyễn Khắc Hùng (2011), Phươngpháp giáo dục pháp luật và giáo dục kỹ năng sống trong trường học, Nxb Đại họcThái Nguyên; Đặng Thị Thu Huyền (chủ nhiệm) (2011), Giải pháp nâng cao chấtlượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục, Đề tài khoa họccấp Bộ - Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội…

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp một lượng tri thức toàndiện về rất nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về giáo dục pháp luật ở Việt Nam Đây lànhững nguồn tư liệu tham khảo quý báu cho học viên trong việc thực hiện đề tàiluận văn này Dù vậy, chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách trực tiếp đến giáodục pháp luật trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk nói chung, và cho sinh viên cao đẳng nghề

ở tỉnh Đăk Lăk nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận khoahọc nhằm tăng cường hoạt động GDPL cho sinh viên tại các trường cao đẳng nghềtrên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, đáp ứng những yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay

3 2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đặt ra, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Trang 11

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về GDPL cho sinh viên tại các trường Cao đẳng nghề từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk, trong đó làm rõ khái niệm, các yếu tố cấu thành, vaitrò, những đặc thù và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động GDPL cho sinh viên cao đẳng học nghề Phân tích khuôn khổ chính sách, pháp luật hiện hành về GDPL cho sinh viên cao đẳng học nghề và đánh giá tính phù hợp của nó trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.

- Phân tích thực trạng hoạt động GDPL cho sinh viên trường Cao đẳng nghề ởtỉnh Đăk Lăk trong thời gian qua, đánh giá những kết quả và chỉ ra những tồn tại, hạnchế, đồng thời xác định những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế của hoạtđộng này

- Nhận diện những yêu cầu đang đặt ra đối với hoạt động GDPL cho sinh viênCao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk hiện nay Đề xuất các quan điểm, giải pháp tăng cườngGDPL cho sinh viên cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk nói riêng và ở nước ta nói chungtrong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình giáo dục pháp luật cho sinhviên tại các trường Cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk hiện nay

4.2.Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giáodục pháp luật, không mở rộng sang các hoạt động giáo dục khác cho sinh viên tạicác trường Cao đẳng nghề

Về không gian, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giáo dục pháp luật tại các trường Cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk, không mở rộng sang các cơ sở giáo dục khác trong tỉnh, cũng như không mở rộng sang các trườngcao đẳng nghề của những địa phương khác

Về thời gian, luận văn chỉ khảo sát, đánh giá hoạt động GDPL cho sinh

viên cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk trong khoảng 05 năm gần đây

Trang 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin để làm cơ sở phân tích các vấn đề đặt ra

Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu Cụ thể:

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện có vàcác tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và khuôn khổ pháp luật hiện hànhcủa nước ta về giáo dục pháp luật cho sinh viên tại các trường Cao đẳng nghề (ở ChươngI)

- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu, báo cáochuyên môn và phương pháp quan sát thực tế hoạt động của các trường Cao đẳng nghề

để đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật tại các trường Cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăktrong 5 năm gần đây (ở Chương II)

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan điểm, giảipháp nhằm đổi mới tổ chức, tăng cường giáo dục pháp luật tại các trường Cao đẳng nghề

ở tỉnh Đăk Lăk nói riêng và ở nước ta nói chung trong thời gian tới (ở Chương III)

- Làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động giáo dụcpháp luật của sinh viên, xuất phát từ thực tiễn hoạt động này tại các trường Cao đẳngnghề ở tỉnh Đăk Lăk

- Đánh giá khách quan về thực trạng giáo dục pháp luật cho sinh viên tại cáctrường cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk, thông qua đó đề xuất các quan điểm, giải pháptăng cường hoạt động này ở cấp độ địa phương

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn

Với những đóng góp mới về mặt khoa học như trên, ý nghĩa lý luận của luậnvăn thể hiện ở hai (2) khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, cho phép khẳng định cơ sở khoa học và thực tiễn của hoạt động

GDPL cho sinh viên Cao đẳng nghề từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk

Thứ hai, cho phép đánh giá rõ ràng, xác thực hơn về đặc thù của hoạt động

GDPL cho sinh viên học nghề so với GDPL cho các đối tượng khác, từ đó xác định

Trang 13

những phương hướng, giải pháp phù hợp cho việc tăng cường hoạt động GDPL chosinh viên Cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk trong thời gian tới.

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn thể hiện ở việc kết quả nghiên cứu có thể sửdụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, ban ngành ở tỉnh Đăk Lăk cũng như ở cấptrung ương và các địa phương khác trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật và cơ chếnhằm tăng cường hoạt động GDPL cho sinh viên học nghề trong những năm tới Ngoài

ra, luận văn cũng có thể được sử dụng một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việcgiảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành luật Hiến pháp – luật hành chính ở Học viện Khoahọc Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và các cơ sở đào tạo kháccủa nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho sinh viên

các trường Cao đẳng nghề ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng

nghề ở tỉnh Đăk Lăk

Chương 3: Quan điểm, giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật cho sinh viên

các trường Cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO

SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

1.1.Khái niệm, đặc điểm của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề

1.1.1.Khái niệm giáo dục pháp luật

Trong thực tiễn hiện nay đang tồn tại một số quan niệm khác nhau về giáo dục pháp luật Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng giáo dục pháp luật là một

bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức Nếu biết tiến hành quátrình giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức tốt thì sẽ đem lại ý thức pháp luậtcao, có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật ở con người Hay nói cách khác, giáo dụcchính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức hình thành ý thức pháp luật ở con người, vì thế

có thể lồng ghép giáo dục pháp luật vào giáo dục tư tưởng, đạo đức, không nhấtthiết phải tách riêng Luồng quan điểm thứ hai cho rằng, pháp luật là qui tắc xử sự

có tính bắt buộc chung, mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật, do đó không cầnphải đặt vấn đề về giáo dục pháp luật, bởi vì bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chứcnăng của mình bằng các qui định về quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối vớinhững người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh Luồng quanđiểm thứ ba cho rằng, giáo dục pháp luật thực chất là hoạt động tuyên truyền, vì thếchỉ cần tuyên truyền là đã có thể phổ biến, giới thiệu pháp luật để mọi người tuânthủ làm theo pháp luật

Các quan niệm trên đều mang tính phiến diện, chưa thấy hết được tác động, vaitrò của giáo dục pháp luật, nên đã hạ thấp vai trò, giá trị của giáo dục pháp luật, tácđộng không nhỏ đến việc triển khai và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật

Để xác định được đầy đủ và đúng đắn khái niệm giáo dục pháp luật, trước hết cầnphải xem xét dưới góc độ của khoa học sư phạm Nghiên cứu các tài liệu hiện hành chothấy, giáo dục trong khoa học sư phạm được tiếp cận dưới hai nghĩa khác nhau:

Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của nhiều điều kiện kháchquan như: trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, chế độ xã hội…

Trang 15

và sự tác động của nhân tố chủ quan của ý thức, mục đích, kế hoạch và định hướngcủa con người lên việc hình thành những phẩm chất kỹ năng nhất định của đốitượng giáo dục.

Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch củachủ thể giáo dục, tác động lên khách thể giáo dục nhằm đạt được mục tiêu nhất định

Trên cơ sở khái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm, kết hợp với thực tiễn,

có thể thấy giáo dục pháp luật luôn là một hoạt động mang đầy đủ những tính chấtchung của giáo dục, song nó vẫn có một số điểm khác biệt tương đối với các dạnggiáo dục khác đó là:

+ Giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình, giáo dục pháp luật nhằmhình thành tri thức và tình cảm, thói quen ứng xử của con người phù hợp với quy địnhcủa pháp luật

+ Nội dung của giáo dục pháp luật là truyền tải tri thức của nhân loại nói chung, của Nhà nước nói riêng về hai hiện tượng Nhà nước và pháp luật

+ Các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức của giáo dục pháp luật cũng có những đặc thù cơ bản

Tóm lại, khái niệm giáo dục pháp luật trong khoa học pháp lý được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục, theo đó được xem là hoạt động có tính định hướng của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó người giáo dục và người được giáo dục có sự tác động qua lại lẫn nhau, thiết lập những hành vi

xử sự phù hợp với các quy phạm pháp luật Hoạt động của giáo dục pháp luật nhằm hình thành ở con người thói quen xử sự phù hợp với đòi hỏi của pháp luật Giáo dụcpháp luật là quá trình tác động có tính liên tục lâu dài, thường xuyên, vì thế cần phải

có sự phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan nhằm mục đích hướng dẫn hành vi của con người xử sự phù hợp với các quy định pháp luật

Từ phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về giáo dục pháp luật như sau:

Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

Trang 16

1.1.2.Khái niệm giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề

Giống như các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam hiện nay, GDPL đượcthực hiện với tất cả các đối tượng trong xã hội, bao gồm cán bộ, công chức nhànước, người dân Học sinh, sinh viên, bao gồm sinh viên cao đẳng dạy nghề cũng lànhững đối tượng của giáo dục pháp luật

Vì vậy, từ khái niệm GDPL nói chung, có thể rút ra khái niệm GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định tác động lên đối tượng giáo dục nhằm trang bị cho sinh viên tri thức, tình cảm, lòng tin đối với pháp luật, qua đó hình thành ở sinh viên ý thức pháp luật, làm cơ sở cho sự hình thành hành vi và thói quen hành xử phù hợp với pháp luật ngay từ khi đang ngồi trên ghế nhà trường và sau khi tốt nghiệp.

1.1.3.Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao

đẳng, dạy nghề

Mặc dù cũng là một hình thức GDPL, tuy nhiên, do đặc thù của nhóm đốitượng này, GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề có mục đích, nội dung, chủ thể,hình thức và phương pháp giáo dục ít nhiều khác biệt so với GDPL với các đốitượng khác

So với học sinh, sinh viên cao đẳng dạy nghề là đối tượng chuyển tiếp cuốicùng giữa nhà trường và xã hội Các em sinh viên cao đẳng, đặc biệt là cao đẳngnghề, sau khi tốt nghiệp hầu hết sẽ tham gia ngay vào lực lượng lao động của xãhội, chỉ có một số rất ít tiếp tục học cao lên ở các cấp cao hơn (đại học, sau đại học).Nói cách khác, trong hầu hết trường hợp, sinh viên cao đẳng dạy nghề sau khi tốtnghiệp đã trở thành một người công dân trưởng thành của đất nước, có đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ công dân sau khi rời ghế nhà trường Như vậy, nếu lực lượng nàykhông được chăm lo GDPL khi đang học tại trường Cao đẳng thì sẽ không còn cơhội được GDPL một cách tập trung và toàn diện trong môi trường nhà trường nữa

Tương tự như ở các cấp học khác của hệ thống giáo dục quốc dân, GDPLcho sinh viên cao đẳng dạy nghề được thực hiện qua hoạt động giảng dạy trong nhàtrường và một số hoạt động ngoại khóa Dù vậy, trọng tâm của GDPL cho sinh viêncao đẳng dạy nghề là môn học pháp luật đại cương do các giáo viên giảng dạy pháp

Trang 17

luật thực hiện Nội dung GDPL được đưa vào chương trình của các trường Caođẳng dạy nghề theo cách thức thống nhất, ở mức độ cao hơn mức độ cơ bản (nângcao hơn với các cấp học phổ thông), nhằm giúp sinh viên có hành trang kiến thứcpháp luật đầy đủ khi ra trường và bước vào cuộc sống, biết sống, học tập, làm việctheo Hiến pháp và pháp luật.

Nói cách khác, mặc dù nội hàm khái niệm GDPL cho sinh viên cao đẳng dạynghề cơ bản giống như khái niệm GDPL nói chung, song so với GDPL nói chung,GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề đòi hỏi một số yêu cầu đặc thù về nội dung,phương pháp, mà xuất phát từ tính đặc thù của đối tượng giáo dục là sinh viên - đốitượng chuyển tiếp cuối cùng giữa nhà trường và xã hội

1.2.Mục đích của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề

1.2.1.Mục đích của giáo dục pháp luật nói chung

Để xác định được mục đích của giáo dục pháp luật cho sinh viên, trước hếtchúng ta cần tìm hiểu về mục đích chung của giáo dục pháp luật Theo quan điểmphổ biến của các nhà khoa học, giáo dục pháp luật bao gồm những mục đích sau:

- Mục đích nhận thức: tri thức pháp luật có vai trò quan trọng đối với việc hìnhthành tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật Tri thức pháp luật còngiúp con người tổ chức một cách có ý thức hành động của mình và tự đánh giá kiểm tra,đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật

- Mục đích cảm xúc: đây là mục đích quan trọng của giáo dục pháp luật, vì mục đích này mang lại tình cảm lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật Nội hàm của mục đích cảm xúc chính là giáo dục tình cảm, công bằng, ý thức, biết tuân thủ các tiêu chuẩn công bằng của pháp luật Đồng thời phải biết ủng hộ, tích cực tham gia bảo vệ

sự nghiêm minh của pháp luật, bài trừ thái độ coi thường, không tuân thủ pháp luật Niềmtin pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi Lòng tin vững chắc vào pháp luật là cơ sở để hình thành động cơ của hành vi hợp pháp Có lòng tin vào pháp luật, con người sẽ có hành vi phù hợp với những đòi hỏi của pháp luật một cách tự

nguyện Lòng tin đối với pháp luật được xây dựng trên cơ sở: Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục cho con người biết cách đánh giá các quy phạm pháp luật, biết cách xác định, đánh giá các tiêu

Trang 18

chuẩn về tính công bằng của pháp luật để tự đánh giá về hành vi của mình, biết quan

hệ với người khác và với chính mình bằng các quy phạm pháp luật; Giáo dục tìnhcảm trách nhiệm là giáo dục ý thức về nghĩa vụ pháp lý; Giáo dục ý thức đấu tranhkhông khoan nhượng đối với những biểu hiện vi phạm pháp luật, chống đối phápluật, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm

- Mục đích hành vi: động cơ và hành vi hợp pháp là kết quả cuối cùng củahành động giáo dục pháp luật Thói quen xử sự hợp pháp chính là tuân thủ và thực hiệnmột cách đúng đắn, tận tâm đối với các quy định của pháp luật Chính giáo dục pháp luật

là phương tiện, công cụ cung cấp những tri thức pháp luật, giáo dục lòng tin sâu sắc, dẫntới sự tuân theo pháp luật một cách tự nguyện tạo nên động cơ, hành

vi và thói quen xử sự theo pháp luật

1.2.2.Mục đích của giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Cao đẳng, dạy nghề nói riêng

Từ mục đích của giáo dục pháp luật nói chung, có thể thấy mục tiêu của giáodục cho sinh viên cao đẳng chính là tạo ra những con người phát triển toàn diện,nhiều người lao động có tri thức, có trí tuệ, có khả năng thích ứng nhanh với sự thayđổi nhanh chóng của khoa học công nghệ, có đủ sức mạnh để cạnh tranh trong quátrình phân công lao động Mục tiêu quan trọng hàng đầu của giáo dục sinh viên nóichung và sinh viên cao đẳng nghề nói riêng là giáo dục nhân cách, phát huy và pháttriển hệ thống giá trị của dân tộc, nâng cao dân trí làm cơ sở để đào tạo nhân lực và

là nguồn gốc để đào tạo, bồi dưỡng nhân tài trên nền tảng nhân cách tốt đẹp

Nói một cách cụ thể, mục đích của việc GDPL cho sinh viên trong cao đẳngdạy nghề bao gồm:

Một là, nhằm làm sâu sắc và mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho sinh viên.

Ở bậc giáo dục phổ thông, học sinh đã được tiếp cận với pháp luật đến một mức

độ nhất định thông qua những tình huống pháp luật, qua đó có thể xác định và phân biệt giữacác vấn đề pháp luật hay đạo đức Tuy nhiên, đối với bậc cao đẳng, đại học, GDPL không chỉ đơn thuần thông qua những tình huống pháp luật để nhận biết đó là phạm trù đạo đức haypháp luật nữa, mà sinh viên còn được trang bị những tri thức pháp luật chuyên sâu đến một mức độ nhất định Những kiến thức đó giúp các em

Trang 19

nhận thức rõ hơn các giá trị của pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩnmực pháp luật trong đời sống hàng ngày, mối quan hệ giữa nhà nước với công dân,những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và hình thành ý thức pháp luật đúng đắn.Những điều này sẽ củng cố, hoàn thiện tình cảm pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạynghề Trên cơ sở kiến thức pháp luật được trang bị giúp các em mở rộng và làm sâu sắctri thức pháp luật, am hiểu hơn về pháp luật và đánh gia đúng các hành vi pháp lý Trithức pháp luật được trang bị ở mức độ như vậy góp phần định hướng lòng tin đúng đắnvào các giá trị của pháp luật; giúp sinh viên cao đẳng dạy nghề có khả năng điều khiển,kiềm chế hành vi của mình trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý.

Hai là, GDPL cho sinh viên trong cao đẳng dạy nghề nhằm củng cố, phát triển

niềm tin đối với pháp luật

Thực tế cho thấy khi một người có tri thức pháp luật chưa hoàn toàn đồngnghĩa là người đó đã có tình cảm đúng đắn và niềm tin vào pháp luật Nếu thiếuniềm tin, tình cảm đối với pháp luật sẽ không tạo ra được hành vi hợp pháp và khảnăng tuân theo các quy định của pháp luật Do vậy, hoạt động GDPL trong cao đẳngdạy nghề không chỉ là giảng dạy mà còn là truyền cảm hứng về ý thức pháp luật chosinh viên Thông qua các hoạt động GDPL trong nhà trường, sinh viên cao đẳng dạynghề còn được giáo dục tình cảm trách nhiệm, giúp cho các em xác định được cáctiêu chuẩn đánh giá tính công bằng thể hiện qua việc thực hiện các chuẩn mực phápluật, qua đó xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật ở mọi lúc mọi nơi, cũng như tạo chosinh viên biết phê phán, đấu tranh với những biểu hiện coi thường pháp luật, viphạm pháp luật

Ba là, GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề nhằm củng cố ý thức nhân cách,

rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật của sinh viên

GDPL là nhằm củng cố ý thức pháp luật đã hình thành trong mỗi sinh viên,giúp các em rèn luyện thói quen, hành vi theo chuẩn mực pháp luật và biết cách sửdụng pháp luật như là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Kếtquả cuối cùng của GDPL được thể hiện ở hành vi xử sự phù hợp pháp luật của sinhviên trong đời sống hàng ngày Khi ý thức pháp luật được nâng cao, sinh viên sẽdần hình thành thói quen và hành vi và có thể lựa chọn, quyết định việc mình có

Trang 20

tham gia vào các quan hệ pháp luật hay không, biết đối xử với người khác và vớichính mình bằng các chuẩn mực pháp luật, củng cố ý thức về nghĩa vụ pháp lý củangười công dân Ý thức tự giác thực hiện pháp luật trong sinh viên được lặp đi lặplại nhiều lần thông qua các hành vi xử sự trong đời sống xã hội Sinh viên có hành

vi xử sự theo quy định của pháp luật là kết quả cuối cùng, là cái đích mà GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề cần đạt được

1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề

Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước,quản lý xã hội Một trong những vai trò cơ bản của pháp luật trong đời sống Nhànước, đời sống xã hội là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực củaNhà nước Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật và pháp luật không thểphát huy hiệu lực của mình nếu không có sức mạnh của bộ máy Nhà nước Thôngqua quyền lực Nhà nước, pháp luật mới có thể phát huy tác dụng trong đời sống xãhội, phát huy vai trò quản lý Nhà nước, quản lý xã hội

Hệ thống pháp luật là “con đường”, là cái “khung pháp lý” do Nhà nước đặt ra đểmọi tổ chức, mọi công dân dựa vào đó mà tổ chức, dựa vào đó để phát triển Giáo dụcpháp luật góp phần đem lại cho con người có tri thức pháp luật, xây dựng tình cảmpháp luật đúng đắn và có hành vi hợp pháp, biết sử dụng pháp luật làm phương tiện đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện cho quá trình quản lý Nhànước, quản lý xã hội Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong tiếntrình đổi mới, từng bước tham gia hội nhập quốc tế, gia nhập WTO, cùng với xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thì giáodục pháp luật được nâng lên một tầm cao mới Khi nói đến nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, là nhà nước đó phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, quản lý xã hộibằng pháp luật và hoạt động của Nhà nước đó cũng phải tuân theo quy định của phápluật và không ngừng tăng cường pháp chế Nhưng để quản lý xã hội bằng pháp luật vàkhông ngừng tăng cường pháp chế thì đòi hỏi mọi công dân phải sống và làm việc theoHiến pháp và pháp luật, và điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua giáo dục phápluật Trong điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay, trình độ dân trí còn thấp, dẫn đếntrình độ pháp luật trong một số bộ phận nhân

Trang 21

dân còn hạn chế Vì vậy muốn luật thực sự đi vào cuộc sống, muốn mọi người sống

và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật thì công tác giáo dục pháp luật là một yêucầu cấp thiết, đòi hỏi các cấp các ngành cần phải quan tâm thúc đẩy một cáchthường xuyên, liên tục

Giáo dục nhà trường nói chung, cũng như giáo dục pháp luật trong nhà trườngnói riêng giữ một vai trò trọng yếu trong việc giáo dục đạo đức, lối sống và hìnhthành nhân cách cho người học, qua đó tạo ra nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu

và phát triển của xã hội tiên tiến, văn minh Hoạt động giáo dục pháp luật trong nhàtrường là một hoạt động giáo dục cụ thể, gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nóichung Nội dung giáo dục pháp luật là một phần của nội dung chương trình đào tạocủa hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục pháp luật tốt không chỉ góp phần ổn địnhhoạt động ngành mà còn góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục,góp phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Từ một góc nhìn khác, “Vai trò của GDPL trước hết bắt nguồn từ vai trò vàgiá trị xã hội của pháp luật” [48, tr.37], với ý nghĩa là phương tiện hàng đầu để Nhànước quản lý xã hội và để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Văn hoá pháp lý chỉ có thể được hình thành trên cơ sở của GDPL [48, tr.38] “Đểcho nền dân chủ ngày một phát triển, ăn sâu, bám chắc vào đời sống xã hội, trởthành nếp sống bình thường của mỗi người, mỗi tổ chức và toàn bộ xã hội thì khôngthể tách rời nó với quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế vàđẩy mạnh GDPL cho người lao động” [48, tr.41]

Trong công cuộc xây dựng đất nước, GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề

có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục – đào tạo và đối với toàn xã hội.Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Thứ nhất, GDPL góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách,

rèn luyện hành vi ứng xử cho sinh viên có hành động “sống và làm việc theo Hiếnpháp và pháp luật” trong nhà trường và sau khi ra trường Cùng với giáo dục đạođức, GDPL củng cố ý thức tuân thủ pháp luật cho sinh viên thông qua các nội dung

về pháp luật đã được nâng cao và các hoạt động ngoài giờ lên lớp (nói chuyện phápluật, thi tìm hiểu pháp luật, hái hoa dân chủ chủ đề pháp luật, hoạt động trải nghiệm

Trang 22

sáng tạo ) Thông qua các hoạt động giáo dục này, sinh viên được trang bị và củng

cố những kiến thức pháp luật đã được học ở các cấp phổ thông, bồi dưỡng tình cảm,niềm tin đối với những chuẩn mực pháp luật nhằm tạo động lực, thói quen hành xửtheo chuẩn mực pháp luật qui định

Nếu như GDPL trong các trường phổ thông nhằm hình thành ý thức pháp luậtcho học sinh thì GDPL ở các trường Cao đẳng dạy nghề nói riêng, các trường Caođẳng, đại học nói chung góp phần củng cố, hoàn thiện ý thức đó Hoạt động nàykhông chỉ giúp hình thành đạo đức lối sống, mà còn hình thành nhân cách và ý thứcpháp luật vững chắc cho sinh viên - một yêu cầu rất cần thiết với các công dân vàngười lao động trưởng thành Đối với sinh viên cao đẳng dạy nghề, bên cạnh giáodục đạo đức, việc thực hiện GDPL sẽ thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của sinh viêntrong thời kỳ các em chuẩn bị bước vào cuộc sống tự lập Nhìn rộng hơn, trong xuthế hội nhập quốc tế hiện nay, GDPL trong nhà trường còn giúp định hướng cuộcsống và lựa chọn giá trị của thế hệ trẻ Nhờ GDPL mà xã hội sống có kỉ cương, nềnếp, tạo điều kiện cho xã hội ổn định, phát triển và các công dân có khả năng thuậnlợi trong hội nhập quốc tế

Thứ hai, GDPL nhằm mục tiêu phát triển toàn diện cho sinh viên, bởi lẽ sảnphẩm cuối cùng của giáo dục chính là những con người có đầy đủ các yếu tố: Đức -Trí - Thể- Mĩ Một công dân trưởng thành hàng ngày sẽ phải xử lý rất nhiều tìnhhuống diễn ra trong cuộc sống cá nhân và trong công việc, trong sự tương tác vớigia đình, xã hội, vì thế cần biết lựa chọn cách ứng xử văn minh, tuân thủ pháp luật,tạo ra lợi ích cho bản thân, cộng đồng, xã hội, biết hành xử theo những chuẩn mựcđược pháp luật qui định, có cách sống theo “văn hoá pháp lí”, khắc phục đượcnhững hạn chế về nhận thức pháp lí, về đạo đức pháp lí Trong bối cảnh đất nướchiện nay, khi mà có những xung đột nhất định giữa sự phát triển kinh tế với vấn đềtrật tự, an toàn xã hội, tình hình vi phạm pháp luật ngày càng có xu hướng gia tăng

và tội phạm có xu hướng ngày càng trẻ hoá thì việc GDPL trong các trường Caođẳng, đại học sẽ góp phần giải quyết những vấn đề đó

Thứ ba, GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề chính là góp phần đào tạonguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội, cho đất nước Như đã đề cập, trong

Trang 23

thực tế hầu hết sinh viên cao đẳng dạy nghề tốt nghiệp không tiếp tục học đại học

mà tham gia ngay vào thị trường lao động Nguồn nhân lực ấy cần phải có tri thứcpháp luật để có thể hành xử theo pháp luật Để làm được điều này cần phải thúc đẩyGDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề

1.4 Chủ thể giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề

Theo nghĩa chung nhất, chủ thể GDPL được hiểu là tất cả những người thamgia góp phần thực hiện các mục tiêu GDPL” [48, tr 55-56] [89, tr.42] Nói một cụthể, chủ thể GDPL là những tổ chức, cá nhân có chức năng hoặc trách nhiệm truyềntải kiến thức pháp luật tới các đối tượng giáo dục Trong các trường Cao đẳng dạynghề, chủ thể GDPL là những người thực hiện các tác động GDPL lên đối tượnggiáo dục là sinh viên cao đẳng dạy nghề mà theo nghĩa rộng có thể phân thành dạngnhư sau:

- Các chủ thể có thẩm quyền, đồng thời có nghĩa vụ, trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động GDPL cho sinh viên

- Các chủ thể là những cá nhân không thuộc các chủ thể có thẩm quyền nêutrên, họ không buộc phải tham gia các hoạt động GDPL mà chỉ có những hoạt động mang tính chất hỗ trợ các chủ thể có thẩm quyền

- Các chủ thể chuyên nghiệp là những người mà nhiệm vụ chủ yếu trực tiếp vàthường xuyên của họ là GDPL, ví dụ như các giáo viên giảng dạy pháp luật trong các nhàtrường, các báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật, các cán bộ chuyên gia làm côngtác nghiên cứu, chỉ đạo hoạt động GDPL

- Các chủ thể không chuyên nghiệp là những người hoặc tổ chức mà thông quacác hoạt động chuyên môn của mình đã tham gia tích cực vào việc thực hiện các nộidung GDPL, ví dụ như cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp, hành pháp, luật sư, cán bộcác tổ chức chính trị, xã hội

Dù vậy, cần thấy rằng chủ thể cơ bản của GDPL ở các trường Cao đẳng dạynghề trước hết là giáo viên Giáo viên GDPL có thể là giáo viên giảng dạy môn giáodục công dân hoặc giáo viên chủ nhiệm hay giáo viên bộ môn khác, tuỳ thuộc vàonội dung, hình thức và phương pháp GDPL cho sinh viên Ngoài ra, còn có một sốđối tượng khác cũng tham gia vào GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề, ví dụ

Trang 24

như cán bộ chuyên trách công tác GDPL, cán bộ đoàn thanh niên

Tuy nhiên, có một yêu cầu chung đối với các chủ thể nêu trên đó là họ phảiđược trang bị kiến thức về pháp luật và kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, có những hiểubiết về đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi sinh viên để tìm ra các phương pháp GDPLthích hợp Có như vậy các chủ thể giáo dục mới có thể thực hiện quá trình GDPL vàgiữ vai trò chủ đạo trong quá trình GDPL Vai trò đó được thể hiện qua việc, chủthể GDPL là người tổ chức, điều khiển toàn bộ quá trình GDPL; quán triệt mục đíchGDPL và chuyển tải nó tới sinh viên Không những vậy, họ còn phải có kế hoạch,phương pháp tổ chức hợp lý, khoa học, hệ thống các hoạt động giáo dục trong vàngoài nhà trường và phát huy được ý thức tự GDPL của sinh viên Đối với GDPLchính khoá, dựa vào nội dung của chương trình, họ là những người lựa chọn phươngpháp phù hợp, đối với GDPL qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, họ là người lựa chọnnội dung, phương pháp, các hình thức tổ chức giáo dục và tổ chức, hướng dẫn quátrình giáo dục sinh viên, đồng thời là người kiểm tra đánh giá và giúp sinh viên tựkiểm tra đánh giá quá trình giáo dục học tập pháp luật

1.5 Nội dung giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề

Nội dung GDPL là yếu tố quan trọng của quá trình GDPL Xác định nội dungGDPL đúng, đủ, phù hợp là đảm bảo cần thiết để GDPL có hiệu quả Nộ i dungGDPL được xác định dựa trên cơ sở mục đích, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, trình

độ nhận thức của đối tượng GDPL nhằm hình thành ở họ hệ thống tri thức phápluật, tình cảm, lòng tin, thói quen hành động phù hợp với pháp luật

Tương ứng với những mục đích của GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề

đã phân tích ở phần trên, có thể xác định nhiệm vụ GDPL cho sinh viên cao đẳngdạy nghề là giúp cho các em hiểu và nắm vững những vấn đề cơ bản trong đườnglối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có ý thức học tập, làm việc tuânthủ theo hiến pháp và pháp luật Để thực hiện nhiệm vụ này, xét về nội dung, ngoàinhững quy phạm pháp luật cụ thể, GDPL cần cung cấp những kiến thức mang tính

lý luận về nhà nước và pháp luật, chẳng hạn như bản chất, vai trò của nhà nước vàpháp luật, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân

Đi sâu hơn, nội dung GDPL trong cao đẳng dạy nghề hiện nay cần nhằm cung

Trang 25

cấp cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về bản chất của pháp luật, vai trò và vị trícủa pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống, ví dụ như pháp luật với quyền bìnhđẳng của công dân; pháp luật với các quyền tự do, dân chủ của công dân Nhữngnội dung cần trang bị để thực hiện được nhiệm vụ này đó là quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, quyền tự do dân chủ, tự do

cá nhân Đặc biệt, cũng cần cung cấp cho các em những nội dung như quyền tài sản,quyền nhân thân, năng lực của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật …Bên cạnh

đó, cần bồi dưỡng cho sinh viên năng lực phán đoán, đánh giá những tình huốngpháp luật, dẫn dắt sinh viên rèn luyện ở những môi trường, hoàn cảnh khác nhautrong thực tế, tham gia vào đấu tranh chống những biểu hiện xấu, hành vi vi phạmpháp luật để hình thành thói quen, hành vi pháp luật và sử dụng pháp luật là công cụ

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Cuối cùng, GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề không chỉ dừng lại ở việccung cấp kiến thức pháp luật, giới thiệu các quy phạm pháp pháp luật mà còn thôngqua đó giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên Đặc biệt, cần chú trọng giáo dụcthái độ thượng tôn pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần hình thành hành vi

tự giác chấp hành pháp luật cho sinh viên

Để đạt được kết quả cao, nội dung GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề cầnphải được hiệu chỉnh định kỳ và được thay đổi cho phù hợp với thực tiễn của xã hội

và sự phát triển của hệ thống pháp luật Người dạy phải luôn cập nhật những vấn đềmới, những thay đổi trong xã hội, trong các chủ trương, chính sách và pháp luật củanhà nước để giúp người học cập nhật được kiến thức, thông tin và có khả năng ứngdụng vào cuộc sống

Hiện tại, nội dung GDPL tại các trường Cao đẳng ở nước ta nhìn chung đượcchia ra thành 2 nhóm Nhóm thứ nhất là nhóm kiến thức chung, bao gồm các nộidung sau:

- Những vấn đề lý luận chung về nhà nước và pháp luật (Quy định tại Điều 24,Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật năm 2012) Mục tiêu của phần này là giúp sinh viênnắm bắt được những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật như nguồn gốc, bản chất,chức năng của nhà nước và pháp luật, từ đó sinh viên xác định được

Trang 26

vai trò của nhà nước và pháp luật trong đời sống xã hội, xây dựng niềm tin của sinh viên vào pháp luật.

- Quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật: Mụctiêu của phần này là giúp sinh viên hiểu được khái niệm quy phạm pháp luật, phân biệtquy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội, trình bày hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật của Việt Nam, so sánh quan hệ pháp luật với quan hệ xã hội

- Vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý, pháp chế xã hội chủ nghĩa: Mục tiêucủa phần này là giúp sinh viên hiểu rõ về hành vi vi phạm pháp luật, các yếu tố cấu thànhcủa hành vi vi phạm pháp luật, từ đó biết điều chỉnh hành vi của mình theo chuẩn mựcpháp luật

- Các ngành luật cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam (gồm các ngành luậtnhư Luật Nhà nước Việt Nam; Luật Hành chính Việt Nam; Luật Hình sự và tố tụng hìnhsự; Luật Dân sự và tố tụng dân sự; Luật lao động): Mục tiêu của phần này nhằm trang bịcho sinh viên những kiến thức cơ bản về các ngành luật này

Ngoài những nội dung trên, theo Chỉ thị số 10/CT - TTg ngày 12 tháng 06 năm

2013 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm học 2013-2014, tại các cơ sở giáo dục, đàotạo từ cấp trung học phổ thông trở lên, bao gồm các trường Cao đẳng, đã đưa nộidung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy trong học phần pháp luật Bộ GD-ĐTcũng có văn bản hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 10, cụ thể và văn bản số 5571/BGD

- ĐT-TTr, ngày 13 tháng 08 năm 2013, theo đó đối với các cơ sở giáo dục đại học

có đào tạo trình độ đại học, cao đẳng không chuyên về luật thì nội dung phòng chốngtham nhũng phải được tích hợp, lồng ghép vào môn học Pháp luật đại cương hoặc mônhọc khác phù hợp với thời lượng 5 tiết Như vậy ngoài kiến thức chung về nhà nước vàpháp luật, sinh viên còn được tìm hiểu về pháp luật phòng chống tham nhũng, giúp các

em hiểu biết và có thể góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng saukhi ra trường

Nhóm thứ hai là những quy định hiện hành về kiến thức pháp luật phù hợp vớingành nghề của từng loại đối tượng người học, giúp người học lĩnh hội kiến thứcpháp lý cần thiết trong lĩnh vực hoạt động của mình trong nghề nghiệp tương lai(theo quy định tại Điều 24, Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật năm 2012) Nội dung

Trang 27

GDPL theo ngành nghề còn bao gồm một số luật thực định, liên quan trực tiếp đếnlĩnh vực hoạt động của đối tượng giáo dục, các quyền và nghĩa vụ của công dântrong lĩnh vực hoạt động và các trình tự giải quyết tranh chấp phổ biến liên quantrong lĩnh vực nghề nghiệp.

Như vậy, có thể thấy nội dung GDPL cho sinh viên tại các trường Cao đẳng ởnước ta hiện nay là tương đối rộng, có tính bao quát cao, có thể giúp sinh viên nắmbắt được những kiến thức cơ bản ở mức độ khá toàn diện về nhà nước, pháp luật nóichung và cả những kiến thức pháp lý có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn củatừng trường nói riêng

1.6 Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho sinh viên cao đẳng dạy nghề

Hình thức giáo dục có thể hiểu là những dạng hình thức tổ chức hoạt độngphối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục Như vậy, hình thức GDPL

có thể xem là “các dạng hoạt động cụ thể để tổ chức quá trình GDPL, để thể hiệnnội dung GDPL” [48, tr.75]

Theo một chuyên gia, có hai loại hình thức GDPL đó là: “những hình thứcGDPL mang tính truyền thống của giáo dục chính trị tư tưởng, chẳng hạn như phổbiến, nói chuyện pháp luật, các hội nghị hội thảo pháp luật, các câu lạc bộ pháp luật,các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tuyên truyền pháp luật, dạy và học pháp luật trongnhà trường; hình thức thứ hai là các hình thức GDPL đặc thù như định hướngGDPL trong các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của các cơ quan Nhànước hay GDPL qua các hoạt động của tổ chức xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chứcnghề nghiệp pháp luật” [48, tr.76-77]

Hình thức giáo dục rất quan trọng Thực tế cho thấy nếu xây dựng được nộidung GDPL tốt mà không có một hình thức GDPL phù hợp thì mục đích GDPLcũng khó đạt được kết quả như mong muốn, bởi quá trình GDPL phải được thựchiện thông qua các dạng hoạt động cụ thể, đó là các hình thức GDPL

Khác với bậc phổ thông, ở bậc cao đẳng, đại học, việc dạy và học là quá trìnhtương tác rất rõ ràng và sâu rộng giữa giảng viên và người học, vì vậy hoạt độngnày đòi hỏi có chương trình, nội dung, có phương pháp dạy học mang tính khoahọc, kỹ thuật và có các hình thức tổ chức dạy học phù hợp

Trang 28

Theo Điều 11 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, hình thức phổbiến, giáo dục pháp luật bao gồm:

- Họp báo, thông cáo báo chí

- Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư

- Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật

- Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp côngdân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong

bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở

- Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị vàcác đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở

- Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân

- Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng

cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm chocông tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả

Từ một góc độ khác, hiện tại, trong chương trình giáo dục pháp luật tại các cơ

sở giáo dục của Việt Nam, bao gồm các trường Cao đẳng dạy nghề, giáo dục phápluật thường được thực hiện thông qua 2 hình thức, đó là:

- Giáo dục chính khóa thông qua việc lồng ghép trong các hoạt động giáo dục(ví dụ môn học đạo đức ở cấp tiểu học; môn học giáo dục công dân ở cấp trung học cơ

sở, trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngànhtại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dụckhác của hệ thống giáo dục quốc dân) Ở các trường Cao đẳng, đại học, quá trình GDPLcho sinh viên thường được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động dạy học các môn phápluật Hình thức dạy học chính khóa được quy định

Trang 29

trong các chương trình đào tạo của ngành.

- Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Với hoạt động GDPL ngoại khóa, hiện nay ở các trường Cao đẳng, đại học thường có những hình thức chính như “Tuần sinh hoạt công dân” đầu khóa, tham dự phiên tòa thực tế hoặc tổ chức phiên tòa giả định (được sinh viên thực hiện tại trường), tham gia các câu lạc bộ pháp luật, tham gia các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật do trường tổ chức hoặc các cơ quanchủ quản tổ chức, lồng ghép vào các hoạt động như thi diễn kịch, diễn văn nghệ, các buổinói chuyện chuyên đề, giới thiệu các văn bản mới trong những buổi sinh hoạt thường kỳ…

Về phương pháp GDPL, có thể hiểu đó là con đường, cách thức, biện pháphoạt động để chiếm lĩnh nội dung giáo dục và đạt được mục đích GDPL [48, tr.75].Theo quan điểm phổ biến hiện nay ở Việt Nam, phương pháp GDPL bao gồmphương pháp áp dụng trong một hoạt động GDPL cụ thể (phương pháp thuyết trình,phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận…) và cácphương pháp tổ chức GDPL [48 tr.83], [89, tr.49] Dưới góc độ khoa học giáo dục,phương pháp GDPL bao gồm nhóm phương pháp thuyết phục, nhóm phương pháp

tổ chức hoạt động, nhóm phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi [89 tr.49].Phương pháp GDPL có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả GDPL Cùng một nộidung giáo dục nhưng nếu sử dụng phương pháp phù hợp sẽ thu được kết quả caohơn Các phương pháp GDPL đang được sử dụng trong cao đẳng dạy nghề ở nước

ta hiện nay khá đa dạng, tuy nhiên phương pháp thuyết trình vẫn là chủ yếu Phươngpháp thuyết trình là phương pháp giáo dục bằng lời nói sinh động của chủ thểGDPL để trình bày các văn bản pháp luật mới, phân tích, giải thích, chứng minhmột vấn đề, một điều luật hoặc chế định pháp luật, qua đó giúp sinh viên nắm đượcnội dung kiến thức chủ yếu Tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu của nội dung bàigiảng, chủ thể GDPL có thể sử dụng hình thức thuyết trình, diễn giải phổ thôngđồng thời giới thiệu những hình ảnh sinh động trong thực tế để phân tích và phátvấn các tình huống, biện pháp xử lý tình huống, tạo sự tập trung chú ý và khuyếnkhích sinh viên phát huy tính tự giác, độc lập và sáng tạo trong quá trình học tập.Bên cạnh đó, một phương pháp giáo dục khác cũng thường được sử dụng là

Trang 30

phương pháp hướng dẫn Đây là phương pháp GDPL dựa trên những quy luật của

sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, có những nét cơ bảncủa sự tìm tòi khoa học Ở bậc cao đẳng, đại học, sinh viên đã có một trình độ nhậnthức cao, do vậy phương pháp hướng dẫn đóng vai trò quan trọng nhằm phát triển

tư duy, năng lực tìm hiểu vấn đề và giải quyết vấn đề của các em Với phương phápnày, giáo viên sẽ hướng dẫn sinh viên cách đọc, cách tìm hiểu, cách nghiên cứu cácvấn đề pháp luật trên cơ sở những nội dung mới, khó đã được giảng giải nhằm giúpcác em mở rộng, đào sâu kiến thức đã lĩnh hội

Việc lựa chọn phương pháp nào tuỳ thuộc vào từng nội dung dạy học phápluật và từng thời điểm, từng đối tượng giáo dục cụ thể Mỗi phương pháp có những

ưu, nhược riêng, không có phương pháp nào là vạn năng Xét tổng quát, ở cáctrường Cao đẳng dạy nghề, việc lựa chọn và vận dụng các phương pháp và hìnhthức tổ chức GDPL cần được thực hiện theo những định hướng chung sau đây:

Thứ nhất, phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo, tính tích cực tư duy

pháp luật của sinh viên, từ đó giúp các em nắm được những tri thức về pháp luật,hình thành ý thức pháp luật làm cơ sở cho sự hình thành thái độ, hành vi và thóiquen tích cực phù hợp với các chuẩn mực pháp luật

Thứ hai, vận dụng linh hoạt, phối kết hợp các hình thức, phương pháp giáo

dục Các hình thức, phương pháp giáo dục phải hấp dẫn, gắn liền với cuộc sốnghằng ngày của sinh viên và thực tiễn cuộc sống, giúp sinh viên thấy được lợi ích và

sự cần thiết từ việc học tập pháp luật

Thứ ba, khi lựa chọn các hình thức và phương pháp giáo dục cần căn cứ vào

mục đích, nội dung, đối tượng sinh viên cao đẳng dạy nghề cụ thể

1.7 Các yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên

Trang 31

nhà trường là chính và đóng vai trò quan trọng nhất Điều này là bởi đa số hoạt độngGDPL cho sinh viên được thực hiện ở trường.

Ở một góc độ khác, nhà trường với đội ngũ những người làm quản lí, các cán

bộ, giáo viên, cơ sở vật chất cùng các yếu tố đồng bộ khác giúp cho hoạt động GDPL trở nên sinh động, chuyên nghiệp hơn ở những môi trường bên ngoài Mặc dù vậy, hiệu quả của hoạt động GDPL cho sinh viên ở các trường Cao đẳng dạy nghề có thể khác nhau, phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó bao gồm các điều kiện bảođảm trình độ, năng lực và tâm huyết của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý; sự quan tâm của lãnh đạo với hoạt động này…

Đội ngũ giáo viên, cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật

Do đặc thù của GDPL cho sinh viên cao đẳng dạy nghề là chủ yếu diễn ratrong môi trường nhà trường nên đội ngũ giáo viên, cán bộ làm công tác GDPL cóvai trò đặc biệt quan trọng

Để bảo đảm chất lượng, hiệu quả của hoạt động GDPL, đội ngũ giáo viên,cán bộ làm công tác GDPL cần phải đủ về số lượng và vững vàng về chuyên môn,nghiệp vụ Thêm vào đó, họ phải có ý thức trách nhiệm cao với hoạt động GDPL,thể hiện ở quan niệm, sự nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng, sự tác động củacông tác GDPL

Năng lực của đội ngũ giáo viên, cán bộ làm công tác GDPL thể hiện ở trình

độ kiến thức, hiểu biết pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của họ Kiến thứcpháp luật là nền tảng để giáo viên xác định, lựa chọn và giảng dạy, truyền đạt kiếnthức pháp luật cho sinh viên một cách hiệu quả Bên cạnh đó, kỹ năng nghiệp vụ sưphạm cũng là nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng bài giảng pháp luật Kỹ năngnày thể hiện qua năng lực thuyết trình, đối thoại, khả năng lựa chọn và sử dụng phốikết hợp các phương pháp giảng dạy, truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật; ở việcđưa ra những tình huống pháp luật, sự kiện pháp lý thực tế liên quan đến nội dungpháp luật đang truyền đạt để giúp sinh viên dễ nhớ, dễ hiểu Bên cạnh đó, kỹ năng

sư phạm còn thể hiện ở việc vận dụng công nghệ thông tin để soạn giáo án, bàigiảng điện tử phục vụ quá trình giảng dạy

Trang 32

Điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động giáo dục pháp luật

Mặc dù các trường Cao đẳng dạy nghề đã có sẵn cơ sở vật chất cơ bản(trường lớp, trang thiết bị giảng dạy) song để hoạt động GDPL cho sinh viên đạthiệu quả cao, vẫn cần đầu tư thêm về nguồn lực Cụ thể, để có thể thực hiện các bàigiảng về pháp luật một cách sinh động, giáo viên có thể cần tổ chức cho sinh viêntham quan một phiên toà ở TAND cấp quận, huyện gần nơi trường đặt địa điểm.Hoặc giáo viên có thể trình chiếu một số bộ phim hay video clip về các hành vi tuânthủ và không tuân thủ pháp luật để sinh viên thảo luận, đánh giá…Tất cả những hoạtđộng này đòi hỏi cần có sự đầu tư bổ sung của nhà trường (xe cộ đi lại, máychiếu…) Mặc dù sự đầu tư đó không lớn nhưng chỉ có thể thực hiện được trongđiều kiện có sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường

Tiểu kết Chương 1

Giáo dục pháp luật là một trong những lĩnh vực hoạt động của nhà nước với

sự tham gia của các thiết chế xã hội Đây là hoạt động có định hướng, có tổ chức, cóchủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống

và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp

lý và hành vi phù hợp với đòi hỏi của pháp luật hiện hành

Khái niệm GDPL trong trường Cao đẳng cũng giống như khái niệm GDPLnói chung, nhưng có đối tượng tác động cụ thể là sinh viên, với mục đích nhằmtrang bị cho sinh viên không chỉ những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật

mà còn một số kiến thức pháp luật đặc thù có liên quan đến chuyên ngành, qua đógiúp sinh viên biết điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống, học tập và laođộng theo đúng khuôn mẫu của pháp luật Để đạt được hiệu quả cao, nội dungGDPL cho sinh viên cần phải được cập nhật thường xuyên để phù hợp với thực tiễncủa xã hội và sự thay đổi của pháp luật Có như vậy sinh viên mới có cơ hội nắm bắtkhông chỉ kiến thức pháp luật cơ bản, mà còn những vấn đề pháp lý mới, phản ánhnhững thay đổi trong xã hội, các chủ trương, chính sách của nhà nước, và có khảnăng ứng dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ Ở TỈNH ĐĂK LĂK2.1 Khái quát về hệ thống các trường Cao đẳng nghề tại tỉnh Đăk Lăk

Hiện nay trường Cao đẳng nghề tại tỉnh Đăk Lăk đã phát triển cả về số lượnglẫn quy mô đào tạo, mở ra nhiều ngành học đáp ứng với nhu cầu của xã hội, cungcấp nguồn nhân lực phong phú cho các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực Điển hìnhtrường Cao Đẳng nghề Đăk Lăk (nay là trường Kỹ Thuật Đăk Lăk)

Những năm qua, nhờ thực hiện tốt việc đào tạo gắn với nhu cầu xã hội, thịtrường lao động Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk đã từng bước khẳng địnhđược uy tín – thương hiệu, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chotỉnh và khu vực Tây Nguyên

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk (30 Y Ngông, TP Buôn Ma Thuột) cónguồn gốc ban đầu là Trường Trung học Kỹ thuật Y Út Ban Mê Thuột (thành lậpvào năm 1957); Trung học Kỹ thuật Ban Mê (từ năm 1965 - 1976); Trường Côngnhân Kỹ thuật Cơ Điện (4 – 1976 đến tháng 3 – 2007); Trường trung cấp nghề(tháng 3 – 2007 đến tháng 6 – 2011); đến tháng 6 – 2011 nâng cấp thành TrườngCao đẳng Nghề Đắk Lắk – đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nhà trường vềquy mô, số lượng và chất lượng đào tạo; và Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắktheo Quyết định số 924/QĐ-LĐTBXH ngày 20 – 6 – 2017 của Bộ trưởng Bộ Laođộng – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) Hiện nay, Trường đào tạo 11 nghề hệcao đẳng gồm: Công nghiệp ôtô; Điện công nghiệp; Cắt gọt kim loại; Kỹ thuật máylạnh và Điều hòa không khí; Hàn; Thiết kế đồ họa; Công nghệ kỹ thuật ôtô; Kỹthuật lắp điện và điều khiển trong công nghiệp; Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử;Công nghệ thông tin và Kế toán Đồng thời đào tạo 14 nghề hệ trung cấp và 22ngành nghề hệ sơ cấp Trường hiện có tổng số 161 công chức viên chức, trong đó có

62 cán bộ quản lý và giảng viên có trình độ thạc sỹ; có 5 khoa chuyên môn và 4trung tâm

Trang 34

Từ năm 2013, Trường được Bộ LĐTBXH đầu tư thiết bị hiện đại cho 3 ngànhnghề trọng điểm quốc gia: Công nghệ ôtô, Điện công nghiệp và Cắt gọt kim loại.Hiện nhà trường đang đề nghị bổ sung phát triển thành 5 nghề trọng điểm quốc gia

và 1 nghề trọng điểm khu vực ASEAN Hằng năm trường đào tạo 4.000 - 5.000 sinhviên (HSSV)/năm

Hằng năm, Trường đều tổ chức tốt các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằmtạo điều kiện cho giáo viên nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng nghề Độingũ giáo viên nhà trường đã đạt nhiều giải cao trong các hội thi, hội giảng Hội thithiết bị đào tạo tự làm cấp trường, đã có 16/24 thiết bị đoạt giải được tiếp tục bổsung tính năng, mở rộng phạm vi ứng dụng đăng ký tham gia hội thi cấp tỉnh năm

2017 và 15 mô hình tham gia Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk lần thứ VI

Được sự quan tâm của tỉnh, Bộ LĐTBXH, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, nhàtrường đang tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ công tác giảng dạy,học tập Qua đó, Trường đã tiến hành xây dựng, cải tạo sân tập lái ôtô hạng B2 đạtchuẩn Quốc gia với diện tích rộng hơn 9000 m2 và sửa chữa ký túc xá, chống nóng cácxưởng; xây mới mở rộng xưởng thực hành khu Đồng – Sơn; nhà thực hành điện lạnh,gara ôtô và đang hoàn thiện phê duyệt thiết kế khu giảng đường 18 phòng học, khu nhàlàm việc và hội trường 3 tầng, đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa với những nỗlực trong thời gian qua, Trường đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen năm học

2011 - 2012; Bộ LĐTBXH tặng Bằng khen năm học 2014 - 2015; UBND tỉnh tặngBằng khen và Cờ thi đua “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua trong các năm học 2013 -

2014 và 2015 - 2016” Tin tưởng rằng những thành quả trên sẽ là nền tảng, cơ sở vữngchắc tạo động lực để nhà trường tiếp tục giữ vững và phát triển, đáp ứng yêu cầu "Đổimới và phát triển sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp” hiện nay, với định hướng xây dựngTrường Cao đẳng kỹ thuật chất lượng cao (giai đoạn 2017 - 2025), Trường Đại học kỹthuật sau năm 2025

Về nội dung chương trình

Căn cứ Luật giáo dục nghề nghiệp ngày 27 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Nghị định số 14/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội;

Trang 35

2.2 Thực trạng giáo dục pháp luật ở các trường Cao đẳng nghề tại tỉnh

Đăk Lăk trong 5 năm gần đây.

Khi nói về thực trạng giáo dục PL, có nghĩa là bao hàm nhiều vấn đề có liênquan Trong phạm vi luận văn này, tác giả luận văn nêu ra những vấn đề chính cóliên quan đến giáo dục PL tại các trường Cao đẳng nghề ở tỉnh Đăk Lăk hiện nay

2.2.1 Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên theo

chương trình chính khóa

Kết quả tuyển sinh sinh viên vào trường hàng năm tại các trường Cao đẳngnghề cho thấy, chất lượng đầu vào của học sinh, sinh viên chưa cao và không đồngđều Điển hình như trường Cao Đẳng nghề Đăk Lăk (nay là trường Cao đẳng KỹThuật Đăk Lăk), tuyển sinh hệ cao đẳng hàng năm (5 năm gần đây) Cụ thể năm

2014 - 2015 tuyển được 382 sinh viên; năm 2015 - 2016 được 359 sinh viên; năm

2016 - 2017 tuyển được 294 sinh viên; năm 2017 - 2018 tuyển được 295 sinh viên;năm 2018 - 2019 tuyển được 273 sinh viên Điều này có ảnh hưởng lớn trong việcnhận thức và tiếp thu các môn học, trong đó có môn pháp luật Tác giả luận văn tiếnhành điều tra nhận thức của học sinh, sinh viên các trường cao đẳng nghề về tầmquan trọng của môn học pháp luật

Bảng 2.1 Đánh giá tầm quan trọng của môn học pháp luật

TT Đánh giá về tầm quan trọng của môn học Số lượng Tỷ lệ

Tổng số học sinh, sinh viên được khảo sát 568

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả luận văn)

Qua bảng trên, chúng ta thấy rằng tỷ lệ người học ý thức được tầm quan trọngcủa môn học đạt mức chưa cao, với con số 50,2% số người học được hỏi cho rằngmôn học có tính thiết thực Như vậy, gần nửa số học sinh, sinh viên được hỏi chưa

Trang 36

thấy được tầm quan trọng của môn học đối với việc rèn luyện phẩm chất, nhân cáchcủa họ, cũng như đối với nghề nghiệp của họ sau này Có 67,3 % số học sinh sinhviên được hỏi cho rằng cần thiết phải học tập PL Như vậy số lượng học sinh, sinhviên chưa thấy được tầm quan trọng của PL vẫn còn khá nhiều Đây là một khókhăn cho giảng viên bộ môn khi lên lớp trong việc tạo động cơ học tập, khơi dậyhứng thú học tập của sinh viên đối với bộ môn này Do đó, chỉ có 36,3% số họcsinh, sinh viên được hỏi có hứng thú đối với môn học này Đây cũng là tình trạngchung của HS-SV trường Cao đẳng nghề Hệ lụy là họ không có hứng thú khinghiên cứu, học tập môn học Nguyên nhân của sự không hứng thú ấy một phần lớn

là do nội dung kiến thức của môn học Từ kết quả khảo sát trên chúng ta thấy rằngnhiều vấn đề cần được nhìn nhận lại để từ đó tìm ra giải pháp tích cực Trước tiênchúng ta nhìn nhận vấn đề ở góc độ nội dung GDPL trong các trường Cao Đẳngnghề tại tỉnh Đăk Lăk

*Nội dung giáo dục pháp luật

Về nội dung môn học PL dành cho sinh viên cao đẳng, các trường đều bám sát theo Chương trình môn học PL dùng cho đào tạo hệ CĐN (Ban hành kèm theoThông tư số 08/2014/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 4 năm 2014 của Bộtrưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Theo đó HS được học các nội dung chính về Nhà nước và PL và các ngànhluật cơ bản Nhờ đó các em nắm được một số các kiến thức PL cần thiết ứng dụngvào cuộc sống Tuy nhiên có một thực tế là nội dung chương trình còn dàn trải,nặng về phổ biến các quy định của PL, chưa chú trọng đến việc hướng người họcrèn luyện kỹ năng ứng xử, kỹ năng vận dụng PL để giải quyết các vấn đề thực tiễn.Chương trình môn học pháp luật dùng cho đào tạo trình độ hệ cao đẳng bao gồmnhững kiến thức cơ bản về các vấn đề: Một số vấn đề chung về nhà nước và phápluật; Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam; Luật Nhà nước (Luật Hiến pháp);Luật Dạy nghề; Pháp luật Lao động; Pháp luật Kinh doanh; Pháp luật Dân sự vàLuật Hôn nhân gia đình; Luật Hành chính và pháp luật Hình sự; Luật Phòng, chốngtham nhũng Qua đó chúng ta thấy rằng lượng kiến thức PL cần dạy và học là rấtnhiều, trong khi đó số tiết quy định là 30 tiết (Tương ứng 2 đơn vị học trình)

Trang 37

Từ năm 2018 với nội dung GDPL cho SV hệ CĐ thì có quy định cụ thể nhưnội dung được quy định trong chương trình môn học dùng cho trình độ cao đẳng.Theo đề nghị của Tổng Cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp;

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số13/2018/TT-BLĐTBXH N ngày 26 tháng 9 năm 2018 Ban hành chương trình mônhọc pháp luật thuộc khối các môn học chung trong chương trình đào tạo trình độtrung cấp, trình độ cao đẳng

Ở đây môn học pháp luật được coi là môn học chung trong chương trình chínhkhóa của nhà trường Đó là sự đổi mới tư duy phù hợp với yêu cầu khách quan thể hiện sựnhìn nhận đúng mức về vị trí vai trò của giáo dục pháp luật đối với việc hình thành nhâncách của sinh viên học nghề cao đẳng, góp phần vào việc nâng cao chất lượng nguồnnhân lực

Theo thông tư số 13/2018/ TT - BLĐTBXH Thông tư ban hành chương trình,môn học pháp luật thuộc khối các môn học chung trong chương trình đào tạo trình

độ trung cấp, trình độ cao đẳng ban hành ngày 26/9/ 2018, nôi dung gồm:

+ Bộ môn pháp luật dành cho hệ cao đẳng nghề MH02:

Bảng 2.2 Chương trình môn học dành cho hệ cao đẳng 2018

3 Bài 3: pháp luật dân sự

4 Bài 4: pháp luật lao động

5 Bài 5: pháp luật hành chính

6 Bài 6: pháp luật hình sự

7 Bài 7: pháp luật phòng, chống tham nhũng

8 Bài 8: pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Kiểm tra

Trang 38

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt ra yêu cầu tăng cườnggiáo dục pháp luật trong các trường dạy nghề thông qua các chương trình môn học,giáo trình, tài liệu giảng dạy pháp luật, đảm bảo đúng tinh thần và nội dung Hiếnpháp và pháp luật hiện hành.

Đổi mới việc dạy và học Pháp luật trong chương trình dạy nghề, góp phầnthực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên, nâng cao ý thức phápluật, xây dựng tình cảm, niềm tin, ý thức công dân của học sinh, sinh viên Trên cơ

sở đó giúp cho học sinh, sinh viên trong các trường dạy nghề tạo lập thói quen ứng

xử phù hợp và theo chuẩn mực pháp luật

Thực hiện Quyết định 137/2009/QĐ -TTg ngày 2/12/2009 và Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc đưa nội dung phòng, chốngtham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đạo đức

xã hội, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ, công chức, sinh viên,học sinh về phòng, chống tham nhũng, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấutranh phòng, chống tham nhũng

Trong thời gian qua các trường Cao đẳng nghề ở Đăk Lăk nhìn chung thựchiện đúng theo chương trình khung của Bộ lao động thương binh xã hội, Tổng cụcdạy nghề về chương trình nội dung giáo dục môn pháp luật dành cho hệ cao đẳng

So với chương trình mới có sự thay đổi, các trường có thể thay đổi phù hợpvới nội dung của trường mình, thậm chí ngay trong cùng một trường ở các ngànhhọc khác nhau cũng có thể thay đổi khác nhau để phù hợp với nội dung học tập củasinh viên, đây là một trong những điểm linh động, tiến bộ giúp giáo viên có thể đemlại kiến thức pháp luật chung cho sinh viên đồng thời có khả năng cung cấp thêmcho các em kiến thức về pháp luật liên quan đến chuyên ngành mình đang nghiêncứu học tập Về nội dung bài giảng cũng có nhiều nội dung mới được đưa vào nhằmlàm phong phú hơn về lượng kiến thức, thời gian cơ cấu cho từng bài giảng là phùhợp hơn

Tuy nhiên, qua nghiên cứu về chương trình nội dung giáo dục pháp luật củacác trường Cao Đẳng Nghề ở Đăk Lăk hiện nay, với kết quả thăm dò ý kiến từ phíasinh viên và giảng viên cho thấy, 70% cho rằng chương trình nội dung là phù hợp,

Trang 39

30% cho rằng cần phải bổ sung thêm lượng kiến thức pháp luật cho sinh viên

trong chương trình này

*Về phân bổ thời gian, hình thức và phương pháp giảng day thực tế theo nội dung chương trình

- Trong quá trình giáo dục pháp luật ở các trường Cao đẳng nghề thuộc tỉnhĐăk Lăk hiện nay bao gồm: giảng dạy trên lớp, tự học, tự nghiên cứu, … trong đó giáodục pháp luật bằng hình thức giảng dạy trên lớp vẫn là phần chính, tuy nhiên vẫn có sựkết hợp giữa các hình thức khác nhau để nâng cao chất lượng đào tạo và để thực hiện tốtđược điều đó đã có sự kết hợp giữa công tác quản lý đào tạo, ban giám hiệu và cán bộgiáo viên, sinh viên của các trường Cao đẳng nghề trên địa bàn Tỉnh Đăk Lăk Giảng dạytrên lớp của giáo viên là khâu quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật cho sinh viêntrường Cao đẳng nghề Đăk Lăk Giảng gì trên lớp? là câu hỏi mà mỗi thầy cô giáo màđặc biệt là những thầy cô giáo trẻ dạy bộ môn pháp luật ở các trường Cao đẳng nghề ĐăkLăk phải luôn tự hỏi mình và tìm câu trả lời Đây là một quá trình lâu dài, bền bỉ vàkhông bao giờ có điểm kết thúc bởi vì đối tượng sinh viên là những người có nhận thức,

có trình độ và xuất phát điểm rất khác nhau và đã là nghệ thuật giảng dạy thì không baogiờ có giới hạn Vì thế, các thầy cô luôn phải trình bày để sinh viên nắm được vấn đề cốtlõi nhất, có khả năng tiếp cận các vấn đề, phương pháp giải quyết vấn đề và phân tíchđược kết quả trong mỗi chương, mục và toàn bộ học phần

Đổi mới phương pháp dạy học trên lớp vô cùng quan trọng, nhưng để đem lạikết quả cao cần phải làm tốt khâu chuẩn bị lên lớp trong đó quan trọng nhất là chuẩn

bị bài giảng cho sinh viên Bài giảng phát cho sinh viên chính là trí tuệ tập thể của

bộ môn, các giáo viên trường Cao đẳng nghề Đăk Lăk luôn luôn tập trung đầu tưcho bài giảng vừa để giúp cho sinh viên tự học, vừa để nâng cao nghiệp vụ sư phạmcủa chính mình Nếu những điều mà giáo viên viết ra mà sinh viên đọc không thểhiểu nổi, không biết giáo viên định thể hiện điều gì của học phần thì việc viết ấy sẽtrở thành vô ích, lãng phí thời gian của chúng ta và gây tốn kém cho xã

hội Bài giảng không thể là sự chép lại hay bê tất cả những kiến thức trong nhữngcuốn sách liên quan đến nội dung học phần và đổ vào đó một cách thiếu cân nhắc

Ngày đăng: 17/11/2023, 08:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đánh giá tầm quan trọng của môn học pháp luật - (Luận văn thạc sĩ) giáo dục pháp luật cho sinh viên tại các trường cao đẳng nghề từ thực tiễn tỉnh đăk lăk
Bảng 2.1. Đánh giá tầm quan trọng của môn học pháp luật (Trang 35)
Bảng 2.2. Chương trình môn học dành cho hệ cao đẳng 2018 - (Luận văn thạc sĩ) giáo dục pháp luật cho sinh viên tại các trường cao đẳng nghề từ thực tiễn tỉnh đăk lăk
Bảng 2.2. Chương trình môn học dành cho hệ cao đẳng 2018 (Trang 37)
Bảng 2.3: Thống kê quy mô đào tạo HSSV từ năm 2011-2016 - (Luận văn thạc sĩ) giáo dục pháp luật cho sinh viên tại các trường cao đẳng nghề từ thực tiễn tỉnh đăk lăk
Bảng 2.3 Thống kê quy mô đào tạo HSSV từ năm 2011-2016 (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w