1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bai giang doan thuyen danh ca

12 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đoàn Thuyền Đánh Cá
Tác giả Cù Huy Cận
Trường học Không có thông tin
Chuyên ngành Không có thông tin
Thể loại Không có thông tin
Năm xuất bản 1958
Thành phố Không có thông tin
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 27,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước CM, khi mới cầm bút, hồn thơ ảo não của Huy Cận đã từ cảm hứng không gian, cảm hứng vũ trị mà dừng lên trong thơ ông những hình ảnh thiên nhiên rợn ngợp, mênh mông để trên nền thiê

Trang 1

ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ – HUY CẬN

I Giới thiệu chung:

1 Tác giả:

- Cù Huy Cận (1919-2005) Quê Ân Phú - Hà Tĩnh

- Nổi tiếng từ phong trào Thơ mới (1932-1945) và là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Hành động thơ có sự vận động “từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”

Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng không gian -> cũng có những vận động từ giai đoạn TM đến giai đoạn thơ sau CM

- Được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT đợt I (1996)

2 Tác phẩm:

- Nằm trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” - 1958

- Đề tài: Thiên nhiên - vũ trụ - con người là nét riên trong thi pháp thơ Huy Cận Trước CM, khi mới cầm bút, hồn thơ ảo não của Huy Cận đã từ cảm hứng không gian, cảm hứng vũ trị mà dừng lên trong thơ ông những hình ảnh thiên nhiên rợn ngợp, mênh mông để trên nền thiên nhiên ấy, con người hiện lên như một tiểu vũ trị cô đơn, lẻ loi, đơn độc đến tội nghiệp Sau cách mạng, hồn thơ Huy Cận nảy nở dồi dào trong niềm vui trước cuộc sống mới Cảm hứng về thiên nhiên vũ trị vì vậy mang một màu sắc mới: thiên nhiên vẫn đẹp trãng lệ song ấm áp và tràn đầy sinh khí Trên nền thiên nhiên ấy là con người khỏe khoắn, tự do và gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên

- Hoàn cảnh sáng tác: viết năm 1958, sau chuyến đi thực tế tại vùng biển Quảng Ninh Đây là thời kì miền Bắc xây dựng CNXH để khôi phục lại nền kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp hoàn toàn thắng lợi Trong không khí sôi nổi, hào hứng xây dựng cuộc sống mới

ấy, niềm tin yêu cũng tràn ngập trong tâm hồn và trở thành nguồn cảm hứng lớn trong thơ Huy Cận nói riêng và thơ Việt Nam nói chung Bài “ĐOàn thuyền đánh cá” góp thêm vào không khí ấy một khúc ca tươi vui, khỏe khoắn, lạc quan, yêu đời

- Bố cục: gồm 7 khổ thơ, được triển khai theo hành trình của một chuyến

ra khơi đánh cá Song nếu chú ý ta sẽ thấy bài thơ kết cấu theo kiểu đầu – cuối tương ứng

Trang 2

+ Hai khổ đầu: cảnh hoàng hôn trên biển và tâm trạng của người đi biển khi đoàn thuyền ra khơi

+ Bốn khổ thơ tiếp: cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển

+ Khổ cuối: cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh

- Cảm hứng bao trùm: hai nguồn cảm hứng hòa quyện là cảm hứng về lao động và cảm hứng về thiên nhiên, vũ trụ Sự hòa quyện, thống nhất thể hiện qua kết cấu và hệ thống hình ảnh

+ Về kết cấu: thế giới nghệ thuật của bài thơ được xây dựng với sự hài hòa của 2 yếu tố không gian và thời gian Thời gian của bài thơ là nhịp tuần hoàn của vũ trị từ lúc hoàng hôn cho đến lúc bình minh, cũng là thời gian hoạt động của đoàn thuyền đánh cá từ lúc ra khơi đến khi trở về Không gian của bài thơ là không gian rộng lớn, bao la với mặt trời, biển, sóng, mây, gió, trăng, sao… cũng là không gian lao động của con người

+ Về hệ thống hình ảnh: có sự hô ứng, gắn bó giữa hình ảnh thể hiện nhịp sống của thiên nhiên đất trời với nhịp sống của con người

- Đặc sắc: 7 khổ thơ, mỗi khổ đĩnh đạc như một bài thất ngôn tứ tuyệt, là

sự kết hợp tuyệt vời giữa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn

II Đọc hiểu văn bản:

1 Hai khổ thơ đầu:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi

- Cảnh hoàng hôn trên biển:

+ Mặt trời là hình ảnh đầu tiên, cũng là dấu hiệu đầu tiên về sự dịch chuyển, vận động của thời gian: mặt trời lên là ngày mới bắt đầu, mặt trời xuống là thời khắc ngày đã cạn

Thông thường: gợi sự tàn lụi

Trang 3

Trong câu thơ: gợi sức sống mạnh mẽ.

-> Do phép so sánh

+ Nghệ thuật so sánh: rất quen thuộc mà vẫn mới mẻ - quen thuộc ở chỗ gợi nhắc mặt trời là gợi nhắc ánh sáng và sức nóng, lạ ở chữ không phải là

“vầng”, là “quầng” mà là “hòn”- thiên nhiên kỳ vĩ là thế mà cũng như nhỏ bé đi bên cạnh con người để gần gũi hơn, đời thường hơn trong cảm giác của con người -> Nói nên cái tư thế khỏe khoắn, tự do và chủ động của con người trước thiên nhiên

+ Sử dụng động từ cũng là một điểm độc đáo của Huy Cận:

Nhóm từ thứ nhất gợi hoạt động của thiên nhiên lại là những từ vốn chỉ hoạt động của con người (xuống, cài then, sập cửa), nhóm thứ 2 chỉ hành đọng của con người song là hành động gắn liền, song hành với thiên nhiên vũ trụ: ra khơi, căng buồm Đặc biệt động từ “căng buồm” vừa là động từ, vùa là tính từ, vừa là diễn tả hệ quả của gió, vừa diễn tả hệ quả tác động của câu hát Lối so sánh liên tưởng này có tác dụng làm nổi bật sự hòa quyện của con người với thiên nhiên Điểm độc đáo thứ hai là với cách sử dụng động từ, Huy Cận đã gợi

ra thế đối lập đầy thú vị của con người và thiên nhiên trong các hoạt động: khi thiên nhiên bước vào thời khắc nghỉ ngơi lại là khi con người bắt đầu hoạt động lao động trên biển Điểm độc đáo thứ ba cũng là rất dễ nhận thấy là cách liên tưởng độc đáo – hệ quả của lối sử dụng động từ: vũ trụ như một ngôi nhà lớn, màn đêm là tấm cửa khổng lồ, những lớp sóng lượn như then cửa… Tất cả tạo nên một khung cảnh biển đêm vừa hùng vĩ, vừa bí ẩn, vừa mênh mông lại vừa gần gũi, ấm áp hơi thở cuộc sống con người

-> Cách nhìn đầy mới mẻ của Huy Cận về thiên nhiên, rất khác với những

gì thường thấy trong thơ ông trước cách mạng

+ Vẻ đẹp của hình ảnh con người trên nền thiên nhiên kì vĩ, mĩ lệ và ấm

áp hơi thở cuộc sống ấy: “lại ra khơi” là sự tiếp diễn của một hoạt động quen thuộc, một nhịp sống bình thường Cái vượt lên vẻ bình thường là công việc lao động trên biển vốn vất vả và nguy hiểm song lại được thực hiện không phải như một sự khó nhọc, miễn cưỡng mà như một niềm vui, niềm hi vọng của những tâm hồn căng đầy sức sống Ba hình ảnh “câu hát” “căng buồm” “gió khơi” hòa vào nhau trong cách nói ẩn dụ, khoa trương đã dựng lại không khí lên đường của những người dân chài như một cuộc xuất quân Đoàn thuyền hăm hở ra khơi làm náo nức, rộn ràng cả mặt biển hoàng hooin là hình ảnh phản chiếu của không khí lao động tập thể ở miền Bắc những năm hòa bình vừa lập lại Vậy là điểm đầu tiên tạo nên vẻ đẹp khỏe khoắn cho con người là những hoạt động thì điểm thứ hai tạo nên và hoàn thiện ấn tượng đó chính là ở chỗ hình ảnh con người không xuất hiện đơn độc mà xuất hiện trong một tập thể đang hồ hởi lên

Trang 4

đường Và điểm thứ ba, quan trọng nhất, là Huy Cận ở tư cách một nhà thơ đã chú ý rất nhiều đến cảm xúc và cái nhìn của người lao động: “câu hát” là biểu hiện cảm xúc hào hứng và tình yêu mãnh liệt với biển cả, với gió, với cánh buồm; “câu hát” cũng là niềm lạc quan, hi vọng về những mẻ lưới đầy để cá

“dệt lưới ta” tạo ra “muôn luồng sáng” Nghệ thuật so sánh, lối liên tưởng độc đáo lạ lung lại tiếp tục phát huy tác dụng: đàn cá như đoàn thoi, biển là tấm lụa lớn, lưới là tấm lụa nhỏ trong tấm lụa khổng lồ của thiên nhiên -> Đây là một cách nhìn, cách cảm thật thơ Nó là cơ sở cho sự xuất hiện của lời mời gọi thiết tha trìu mến ở đoạn cuối: “Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi” Đây không chỉ là khát vọng về thành quả lao động, đây còn là tình yêu và sự gắn bó giữa con người với công việc, đối tượng và môi trường lao động Và chỉ khi con người lao động

và tự do, lao động để cho mình mới có được tâm lí sảng khoái nhường ấy

2 Bốn khổ tiếp: Cảnh lao động trên biển:

a Ấn tượng ban đầu:

- Khung cảnh không gian: phóng khoáng, lãng mạn mà vẫn thật gần gũi,

ấm áp, được gợi tả một cách phong phú tinh tế qua hệ thống hình ảnh, từ ngữ và lối liên tưởng, so sánh độc đáo

+ Hình ảnh: gió, trăng, biển đều là những hình ảnh thiên nhiên mang tầm vóc vũ trụ Biển bát ngát vô tận Trăng thi vị, thơ mộng Gió khỏe khoắn và phóng khoáng, tự do Sự hô ứng của những hình ảnh này tạo ra cho người đọc một cảm giác thật thú vị: được hòa mình vào vũ trụ bát ngát để hưởng thụ cái phóng khoáng của thiên nhiên cao rộng, đẹp đẽ

+ Từ ngữ: để gợi không khí lao động, nhà thơ đã sử dụng rất nhiều những động từ mạnh diễn tả hoạt động của con người, để gợi không khí lao động trên biển, những động từ đểu chỉ động tác của người đánh cá, những danh từ đều gắn với không gian biển cả cùng sản vật từ không gian ấy với tư cách là một nguồn sống vô tận cho con người; để gợi hình ảnh con người lao động, nhà thơ sử dụng đại từ nhân xưng “ta ” vừa diễn tả tư cách chủ thể của hoạt động lao động, vừa diễn tả tư cách đối tượng hưởng thụ những giá trị của thiên nhiên

+ Lối liên tưởng độc đáo: trong cái nhìn của nhà thơ - lấy điểm nhìn là điểm nhìn của chính những người lao động trên biển - biển cả là “lòng mẹ”, cá

là “em” là những gì thân thiết máu thịt nhất Đặc biệt hình ảnh biển cả được ví với lòng mẹ - yêu thương vô hạn nên cũng vị tha và ấm áp vô cùng Và yêu thương, vị tha của bà mẹ biển cả được biểu hiện ra trong một hoạt động cụ thể:

“cho ta cá” - cho ta nguồn sống để cuộc sống trở nên giàu có và tràn ngập niềm hạnh phúc Cũng từ điểm nhìn ấy, nhà thơ với tâm hồn lãng mạn của một thi nhân còn phát hiện ra người lao động không hề đơn độc giữa biển đêm xa thẳm

Trang 5

mà luôn có bạn đồng hành để bầu bạn và hỗ trợ, giúp đỡ cho công việc lao động vốn nhọc nhằn của người đánh cá trở nên nhẹ nhàng hơn

- Sự vận động của thời gian cũng là một ấn tượng nổi bật ở bốn câu thơ này: cả hình ảnh, từ ngữ đều có khả năng gợi ra ấn tượng đó - ấn tượng về một

sự vận động của thời gian trong từng bước đi gấp gáp

+ Hình ảnh trăng, sao gợi thời gian đêm - thời gian gắn với cuộc hành trình ra “dò bụng biển”, giăng lưới để bắt cá

+ Hình ảnh “trời sáng” “rạng đông” “nắng hồng” lại mở ra ấn tượng về một buổi bình mình tràn đầy ánh sáng và vô cùng ấm áp

+ Xu thế vận động: càng gần sáng, thời gian càng vận động nhanh hơn, khẩn trương hơn Điều này tuy không thể hiện trực tiếp qua từ ngữ chỉ thời gian song lại được biểu hiện tính tế qua cách miêu tả những hoạt động khẩn trương dồn dập của con người Đây không chỉ là cảm giác, ấn tượng của một người ngoài cuộc mà là cảm giác, ấn tượng gắn với hiểu biết của người lao động về công việc của họ: dân gian có câu “tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông” để đúc kết một kinh nghiệm về hoạt động sống của các loài tôm cá Bởi vậy, thời điểm

“rạng đông” là thời điểm thuận lợi nhất cho việc đánh cá, tìm được luồng cá đi

và đón đầu được đàn cá trong hành trình tự nhiên của nó Là thơ, nhưng khi thơ bắt rễ rất sâu từ đời sống sẽ cho người đọc không chỉ cảm xúc mà còn cả hiểu biết, không chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ mà còn thỏa mãn cả nhu cầu hiểu biết của bạn đọc

- Hình tượng người đánh cá:

+ Trong văn chương xưa nay: Trong văn chương cổ, hình tượng này được phác họa đầy tính ước lệ, cách điệu - thường xuất hiện trong hệ thống ngư - tiều

- canh - mục Và đôi khi, ngư ông không lấy việc đánh cá làm chính mà chỉ có cái cớ để suy tư, biểu hiện cảm xúc và tư tưởng sống nhàn

Ví dụ: Bài “Ngư nhàn” của Không Lộ Thiền sư:

Vạn lí thanh giang, vạn lí thiên

Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên

Ngư ông thụy trước vô nhân hoán

Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền

Trong văn học hiện đại giai đoạn 1930-1945, hình ảnh người lao động trên biển được khắc họa rất dung dị, đời thường: cuộc sống nhọc nhằn, đầy bất trắc vì “biển không chỉ có lúc bình yên mà có lúc cũng đầy bão tố”, tâm lí có nỗi đau khổ kinh hoàng khi đối diện với cơn giận dữ của biển cả song cũng tha thiết với quê hương, với cuộc sống

Trang 6

Ví dụ: Truyện ngắn “Chiều sương” của Bùi Hiển (chi tiết thú vị): những hồn ma của người chết vì tố lốc trên biển có thể gây tai họa cho những người đồng hương vì họ cô đơn quá giữa biển khơi lạnh lẽo muốn tìm một vài người bạn cho bớt cô đơn song cũng có khi chính những hồn ma ấy khi tìm về được đến quê nhà lại đùa trêu những người cùng làng để tìm lại chút ấm áp và niềm vui cuộc sống

Đến giai đoạn sau 1975, nhất là thời kì sau đổi mới, hình ảnh người lao động trên biển lại được khắc họa với tất cả những thực tế trần trụi, khắc nghiệt nhất

Ví dụ: Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đi vào khắc họa cái cơ cực, đói nghèo đến nghiệt ngã “cả tháng trời vợ chồng con cái toàn ăn xương rồng luộc chấm muối” Và chính cái nghèo đói, sự nhọc nhằn, khốn khổ, cơ cực đó đã tàn phá con người - khiến họ trở nên cục cằn, thô lỗ, thảm hại Tuy nhiên, trong sâu thẳm con người họ vẫn có những chỗ đáng cảm thông, thậm chí đáng trân trọng

+ Ở bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”: trong không khí xây dựng cuộc sống mới, xã hội mới, nhà thơ cũng có một tâm thế mới để xây dựng hình tượng con người Hơn nữa, với xuất thân là một nhà thơ trưởng thành từ phong trào Thơ mới, nhanh chóng chuyển mình trong thời đại cách mạng nên cũng có một cơ sở

và tầm nhìn đặc biệt khi xây dựng hình tượng: cơ sở là ý thức khẳng định cái tôi

cá nhân – một cái tôi đối diện với không gian vũ trụ Tầm nhìn mới là phát hiện năng lực, sức mạnh để làm chủ thế giới, có thể đối diện với không gian vũ trụ bằng tư thế ngang hàng song không đối lập mà hòa hợp với thiên nhiên

b Phân tích cụ thể:

b1 Khổ 3: Khắc họa tư thế tự do, chủ động:

- Đồng nhất “ta” - “thuyền”, con người lao động - phương tiện lao động: cụm từ “thuyền ta” không chỉ tạo quan hệ sở hữu (thuyền của ta) mà còn gợi sự đồng hành (thuyền cùng ta) khiến con người bớt đi phần nhỏ bé, đơn độc trước biển cả

- Quy tụ, lôi cuốn vả vũ trị vào cuộc hành trình của người lao động: Gắn với “thuyền” là “buồm” và “lái” - những bộ phận tạo nên sự vận động và hướng

đi cho con thuyền trên biển Song điểm đặc biệt, lạ lùng của con thuyền đánh cá

là ở hình ảnh “lái gió” và “buồm trăng” “Gió” và “trăng” vốn là hình ảnh thiên nhiên thi vị, thơ mộng và phóng khoáng, bay bổng Cách liên tưởng “lái gió”

“buồm trăng” vừa gắn với thực tế (con thuyền đánh cá trong đêm trăng, người lao động dựa vào sức gió để thuyền đi trên biển) vừa tạo được một liên tưởng thú vị: đây dường như không phải con thuyền của cõi thực mà là con thuyền của

Trang 7

cõi mộng, công việc đánh cá trên biển không còn là công việc khổ nhọc, nặng

nề mà là một công việc đầy hứng thú Đây không chỉ là một cách nói hoa mĩ của văn chương Chiều sâu của cách nói ấy là một nhận thức mới mẻ về cuộc sống của người lao động: trong xã hội cũ, người lao động bị bóc lột nặng nề nên công việc lao động là thứ cực hình, khổ sai Còn khi con người làm chủ cuộc đời, làm chủ đất nước, mọi giá trị lao động đều thuộc về mình thì lao động lại là niềm vui, là niềm hứng thú Và chính niềm tin tưởng vào cuộc đời là cơ sở để cảm xúc thăng hoa, trí tưởng tượng cất cánh

- Mô tả hành trình của đoàn thuyền đánh cá:

+ Động từ “lướt” diễn tả sự vận động nhanh chóng, nhẹ nhàng của con thuyền trên biển Hô ứng với cách dùng từ ấy là hình ảnh “mây cao” “biển bằng” khắc họa khung cảnh trời yên biển lặng - dường như thiên nhiên cũng như ủng hộ, tạo điều kiện cho con người, trở thành cái nền để làm nổi bật tư thế hiên ngang, tự do đến dường như thanh thản, nhẹ nhõm

+ Hệ thống động từ “đậu” (dừng lại, đứng yên, tạm thời không di chuyển), “dò” (tìm kiếm từng bước thận trọng) “dàn đan thế trận” (tổ chức, sắp xếp các lực lượng tác chiến trong một trận đánh), vây giăng (bố trí lực lượng thành một vòng chắn khiến đối phương không thể thoát) đã thể hiện được không khí lao động khẩn trương, gấp gáp của người lao động trên biển Cảnh đánh cá được dựng lại như một trận đánh và người đánh cá là những chiến binh chiến tướng thiện chiến, có tầm nhìn chiến lược và khả năng phối hợp tác chiến để trận đánh có thể thành công chắc chắn

-> Vừa khắc họa không khí lao động khẩn trương, vừa làm nổi bật lòng lạc quan, yêu đời, yêu nghề của những người lao động trên biển

b.2 Khổ 4: Cái nhìn - đầy yêu mến, tự hào

- Biện pháp liệt kê: Cá nhụ, cá chim, cá đước, cá song, Hình ảnh rất nhiều loài cá làm nên ấn tượng về một vùng biển giàu có - nguồn sống vô tận của con người Đồng thời, cách miêu tả này cũng gieo một niềm hi vọng về những mẻ lưới nặng đầy

- Cách miêu tả: Từ láy “lấp lánh” vừa gợi tả khoảnh khắc bắt sáng của cá, vừa gợi tả vẻ sinh động của hình ảnh

Lối liên tưởng “đuốc đen hồng” vừa gợi màu sắc đặc biệt (đen - hồng) của cá song, vừa gợi hình dung tới bó đuốc trên biển đông - đây không chỉ là ấn tượng tự giác, đây còn là cảm xúc rất tinh, rất sâu của nhà thơ khi đặt mình vào

vị trí của người lao động để nhìn bằng cái nhìn của họ: cá tôm là nguồn sống, cũng là ánh sáng hi vọng của hiện tại và tương lai

Trang 8

- Xây dựng mối quan hệ độc đáo: Trong tác phẩm “Ông già và biển cả”, nhà văn Hê-minh-uê dù có để nhân vật ông Xan-ti-a-gô cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt diệu, lí tưởng của con cá kiếm thì mối quan hệ giữa ông lão và con cá vẫn

là mối quan hệ giữa người chinh phục và đối tượng chinh phục - một mối quan

hệ tiềm ẩn những khoảng cách Còn ở đây, với một cách dùng từ độc đáo, Huy Cận đã gợi ra mối quan hệ hoàn toàn khác: từ “em” gợi liên tưởng đến một nhân vật trong cổ tích châu Âu - nàng tiên cá  vẻ đẹp kì thú của biển cả, làm hình ảnh đàn cá trở nên gần gũi thân thương đến vô cùng Và chỉ cần một chữ “em”

ấy thôi đã đủ để bộc lộ cái nhìn đầy yêu mến, thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên tạo vật nói chung, với biển cả - môi trường lao động và cũng là nguồn sống của con người nói riêng

- Thể hiện một sự cảm nhận rất lạ lùng:

Đêm là sinh thể, biển là lồng ngực, sóng nhấp nhô là nhịp thở của đêm Đêm thở: Sao lùa nước Hạ Long “Sóng” và “sao” vẫn thuộc hai thế giới khác nhau đã được kéo gần lại trong cái nhìn của Huy Cận Lùa vừa là hoạt động lao động, vừa là hoạt động đùa giỡn - tinh nghịch

Hơi thở thuộc về những sinh thể có sự sống Hơi thở của đêm là một liên tưởng bắt rễ từ thực tế cảm nhận mà con người có được trong cuộc hành trình trên biển: có thể hiểu, hơi thở của đêm được tạo nên từ gió lông, sóng dội trong không gian bát ngát của biển cả “Lùa” là hoạt động của mãi chèo, song “sao lùa” thì không còn là hoạt động đơn thuần nữa Dường như, mỗi lần mái chèo khua nước, mặt nước xao động, lấp lánh ánh sao đêm lại khiến nhà thơ liên tưởng dường như chính ngôi sao đêm kia đang “lùa nước” Trời, mây, nước dưới ngòi bút miêu tả tài hoa của nhà thơ đã hòa vào làm một, dệt lên một bức tranh thiên nhiên, bức tranh lao động thật kì ảo Có lẽ vì thế mà nhà thơ Bế Kiến Quốc đã cho rằng “Nhờ có câu thơ, toàn bộ không khí biển khơi lung linh, rào rạt, sống động và kì ảo hẳn lên”

b.3 Khổ 5: Tâm thế - sảng khoái và tràn ngập hứng thú

- Xây dựng mối quan hệ vừa đồng cảm, vừa rất mực ân tình:

+ Ta (người lao động) và trăng: Khi ta “hát” cũng là khi trăng “gõ nhịp” trên thuyền “Hát” là để “gọi cá vào” “Gõ nhịp” cũng là động tác quen thuộc để gọi cá  con người và thiên nhiên hòa nhập, gắn bó

+ Ta (người lao động) và biển (môi trường lao động, nguồn sống của con người): Trong mối quan hệ này, biển lại là chủ thể chủ động khi “cho” ta cá, khi

“nuôi lớn đời ta” Động từ “cho” (chuyển cái sở hữu của mình sang người khác

mà không đổi lấy gì cả) không chỉ làm rõ thêm sự giàu có, hào phóng của biển

cả mà còn diễn tả cả những ân tình biển cả dành cho con người Còn cụm từ

Trang 9

“nuôi lớn đời ta” trong mối quan hệ với từ “cho” đã tiếp tục thể hiện sự ghi nhận công lao, ân nghĩa của biển khi tạo nguồn sống để duy trì và phát triển sự sống của con người, mà sự nuôi dưỡng ấy tự nhiên như một tất yếu từ tấm lòng người mẹ Đây chính là cơ sở của cách so sánh “biển cho ta cá như lòng mẹ” Biển vô tận, lòng mẹ cũng vô tận Biển nuôi dưỡng con người như mẹ nuôi con Biển yêu thương con người như mẹ thương con, nuôi dưỡng đời con để con trưởng thành mạnh mẽ và đầy tự tin trong cuộc sống Có lẽ, nói về biển, khó có thể còn có cách nói nào thấm thía ân tình hơn thế

- Khắc họa tâm thế sảng khoái và tràn đầy hứng thú

+ Khung cảnh không gian được khắc họa phóng khoáng bát ngát - dù cao rộng song không tạo đối lập khiến con người nhỏ bé mà đồng hành, đồng cảm

để con người có thêm sự tự tin: trăng, sao là bạn đồng hành, biển mở rộng tấm lòng hào phóng Trên cái nền thiên nhiên ấy, con người không chỉ thể hiện mình như người lao động mà còn bộc lộ cả tâm hồn nghệ sĩ - rất mực hào hứng và cũng thật tự do

+ Chủ thể trữ tình hiện diện trực tiếp trên nền thiên nhiên không chỉ bằng công việc lao động thuần túy mà bằng một hành động thật lạ lùng: hát Thực ra, hình ảnh người lao động trên sông, trên biển cất lên câu hò, điệu hát không thật mới lạ, song câu hát, tiếng hò cất lên là để vơi đi nhọc mệt hoặc trao gửi, giãi bày cảm xúc, tình cảm với nhau Cái lạ của tiếng hát ở đây là ở đối tượng mà nó hướng tới: cá Thế là, từ một sản vật cần đánh bắt, cá đã trở thành đối tượng tâm tình, bầu bạn của con người Thật khó có một cái nhìn nào lãng mạn, thi vị hơn thế đối với công việc của người lao động

b.4 Khổ 6: Hành động - khỏe khoắn, mạnh mẽ

- Bước chuyển của thời gian: được gợi tả trực tiếp qua những hình ảnh và trạng thái của hình ảnh ấy Sao là đấy hiệu của đêm “Sao mờ” là thời khắc đêm tàn để nhường chỗ cho bình minh lóe rạng “Rạng đông”, “nắng hồng” là dấu hiệu của một buổi bình minh tươi đẹp, rạng rỡ Sự tuần hoàn, nối tiếp của thời gian được biểu hiện qua sự tiếp nối và thay thế của hình ảnh khiến hoạt động của thời gian trở nên sinh động, có hồn và gợi lại những cảm xúc thật lãng mạn

- Nhịp điệu của công việc: Chỉ với một chữ “kịp” (Có đủ thời gian để làm một việc gì trước khi không còn điều kiện hoặc hết thời hạn làm), tác giả đã khắc họa vừa là sự thôi thúc của thời gian (trời sắp sáng) vừa là nhịp độ khẩn trương, gấp gáp của công việc cần hoàn thành trước khi trời sáng (kéo lưới) Và

để cụ thể hóa cái nhịp độ khẩn trương đó của công việc, tác giả đã đi vào miêu

tả hoạt động của con người bằng điệp từ “kéo” trong hai cách kết hợp từ diễn tả hai mức độ khác nhau của hoạt động: nếu “kéo lưới” chỉ là một hoạt động của người đánh cá thì “kéo xoăn tay” vừa đặc tả động tác, vừa làm nổi bật sự nỗ lực

Trang 10

tối đa trong công việc, vừa khắc họa vẻ đẹp của con người lại vừa gợi mở kết quả của công việc là những mẻ lưới nặng cá đầy Và kết quả là đây: “chùm cá nặng” vừa tương xứng với nỗ lực “kéo xoăn tay”, vừa gợi tả chính xác hình ảnh

mẻ lưới khi khu về ăm ắp cá lại vừa gợi một liên tưởng thú vị (mẻ lưới đầy tựa chùm quả ngọt) - thành quả xứng đáng cho những nỗ lực, cố gắng của con người

- Sự luân chuyển, tiếp nối của hình ảnh: Đây có lẽ là chỗ rất thú vị của câu thơ Huy Cận - hình ảnh vẫy gọi hình ảnh, cảm xúc gợi mở cảm xúc Tất cả

cứ như những lớp sóng nối tiếp nhau tạo nên một thế giới phong phú, xôn xao

và rực rỡ - thế giới của người lao động và cuộc sống lao động: Khi “sao mờ” là

“trời sáng” với “rạng đông” và “nắng hồng”; khi “kéo lưới” cho “kịp trời sáng”

là phải “kéo xoăn tay”, phải “kéo xoăn tay” là vì “chùm cá nặng”, trong “chùm cá” ấy là bao nhiêu “vảy bạc, đuôi vàng” Và ánh “bạc”, ánh “vàng” của chùm

cá lại hô ứng với ánh “hồng” của mặt trời buổi bình minh; lúc “chùm cá” được kéo lên, công việc hoàn thành cũng là lúc “lưới xếp”, “buồm lên”, “đón nắng hồng” Là hình ảnh thực, công việc và con người thực đấy mà vẫn đẹp một cách kì ảo, rực rỡ, diễm lệ Và rực rỡ, diễm lệ mà vẫn không xa lạ vì nó là vẻ đẹp rực rỡ, diễm lệ tỏa ra từ cuộc sống lao động hàng ngày Đây không chỉ là kết quả của tài năng nghệ thật, sự khéo léo trong quy tụ và sử dụng sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật Đây còn là tấm lòng và tình yêu của nhà thơ đối với cuộc đời Đọc những câu thơ này, người ta không còn thấy hồn thơ ảo não, luôn tìm kiếm để “khơi dậy cái mạnh mẽ ngàn năm” trong cõi đất này mà chỉ thấy một nhà thơ với cuộc hành trình từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui mà cái đích của cuộc hành trình đó đã hiện hữu ngay trước mắt

3 Khổ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh.

- Hình ảnh đoàn thuyền: Không được miêu tả tỉ mỉ mà được gợi tả bằng

ấn tượng - những ấn tượng sâu đậm, độc đáo mà vẫn thống nhất với toàn bài và đặc biệt với khổ thơ đầu

+ “Câu hát” là hóa thân của tâm hồn trong sáng, khỏe lành, của sức sống căng tràn ngân lên thành giai điệu, của niềm tin, hi vọng và tình yêu Khi “câu hát căng buồm” là khi sức sống, niềm vui của con người đã chuyển vào trong từng động tác lao động, truyền sức sống cho cánh buồm để nó căng len trong gió khơi Có một điều thú vị là câu thơ này gần như lặp lại hoàn toàn một câu thơ trong khổ thơ đầu, chỉ dùng khác đúng một chữ

Ở khổ đầu: “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

Ở khổ này: “Câu hát căng buồm với gió khơi”

Ngày đăng: 02/11/2023, 18:07

w