Giải thưởng Lê Văn Thiêm do Hội toán học Việt nam sáng lập ra nhằm góp phần ghi nhận những thành tích xuất sắc của những thầy giáo và học sinh phổ thông đã khắc phục khó khăn đẻ dạy
Trang 1B¶n tin néi bé
th«ng tin to¸n häc
- Th¸ng 10 N¨m 1997 TËp 1 Sè 1
Kû niÖm 30 n¨m thµnh lËp Héi To¸n Häc ViÖt Nam
Héi To¸n Häc ViÖt Nam
Trang 3Nguyễn Lê Hương Nguyễn Xuân Tấn
Nguyễn Bích Huy Đỗ Đức Thái
Lê Hải Khôi Lê Văn Thuyết
Tống Đình Quì Nguyễn Đông Yên
• Tạp chí Thông Tin Toán Học
nhằm mục đích phản ánh các
sinh hoạt chuyên môn trong
cộng đồng toán học Việt nam và
quốc tế Tạp chí ra thường kì
4-6 số trong một năm
• Thể lệ gửi bài: Bài viết bằng
tiếng việt Tất cả các bài, thông
tin về sinh hoạt toán học ở các
• Quảng cáo: Tạp chí nhận đăng quảng cáo với số lượng hạn chế
về các sản phẩm hoặc thông tin liên quan tới khoa học kỹ thuật
Trang 5Lời tòa soạn
Thưa các quí vị và các bạn đồng nghiệp!
Tháng 9 vừa qua Hội Toán Học Việt Nam (HTHVN) đã tổ chức kỉ niệm 30 năm thành lập của mình Ba mươi năm là một quãng thời gian còn ít ỏi để một hội chuyên ngành vươn lên từ trứng nước và trong những điều kiện hết sức khó khăn Tuy còn ở mức độ khiêm tốn, cộng đồng toán học của chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu
đáng kể Đội ngũ các nhà toán học ngày càng đông về số lượng và nâng cao về trình
độ Do đó nhu cầu trao đổi thông tin, kinh nghiệm giữa các hội viên, các thế hệ, các cơ sở ngày càng trở nên cấp bách Điều đó đã thể hiện rõ ở sự tham gia tích cực từ ngày đầu đến ngày cuối của đông đảo các vị đại biểu tại Hội nghị toán học toàn quốc
tổ chức nhân dịp 30 năm thành lập của HTHVN vừa qua Thế nhưng đất nước ta trải dài trên ba nghìn cây số, ngành nghề của chúng ta ``chỉ có” cây bút và tờ giấy thì làm sao đủ kinh phí để tổ chức được nhiều cuộc gặp gỡ của các nhà toán học, dù trong phạm vi hẹp mà thôi Việc xuất bản một tạp chí thông tin của Hội hi vọng sẽ giải quyết được phần nào vấn đề nan giải trên và đáp ứng được lòng mong mỏi của đa số hội viên
Tạp chí Thông Tin Toán Học sẽ là một diễn đàn cho tất cả các hội viên trao đổi
về nghiên cứu, ứng dụng và giảng dạy toán học Tạp chí sẽ cung cấp nhiều thông tin của các cá nhân và các cơ sở nghiên cứu để các hội viên hiểu biết nhau về chuyên môn tốt hơn và cũng tạo điều kiện để các thế hệ học hỏi, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau Một số tin tức quan trọng trong cộng đồng toán học quốc tế sẽ được đề cập tới giúp chúng ta cập nhật được phần nào với các thành tựu toán học vô cùng đa dạng và ngày càng phát triển như vũ bão Qua tạp chí cũng hi vọng góp phần khơi dậy lại lòng yêu toán của các bạn trẻ, sao cho đội ngũ toán học đang bị lão hoá trầm trọng ở nước
ta sẽ được bổ sung những gương mặt mới
Y tưởng cho ra đời một tạp chí như vậy không có gì mới lạ và mục tiêu có thể kể ra nhiều hơn nữa Tuy nhiên việc thực hiện ý tưởng đó quả là không dễ Có thể kể ra hàng trăm lí do xác đáng Chúng ta là những nhà chuyên môn, không có kinh nghiệm báo chí, lại ít thời gian rỗi, nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường HTHVN không
có nguồn kinh phí nào để nuôi tạp chí, Do vậy sự ra đời và tồn tại của tạp chí hoàn toàn phụ thuộc vào sự đóng góp nhiệt tình và vô tư của tất cả hội viên, từ biên tập viên, cộng tác viên tới các độc giả Chẳng nhẽ chúng ta chịu bó tay? Trước đây còn nhiều khó khăn gấp bội mà các bậc thầy, anh, chị của chúng ta đã sáng lập và phát triển được hai tạp chí chuyên môn ``Acta Mathematica Vietnamica” và ``Tạp chí Toán Học” (nay là `` Vietnam Journal of Mathematics”) ngày càng có uy tín quốc tế Tạp chí Toán Học và Tuổi Trẻ đã trở thành người bạn thân thiết của nhiều học sinh
và thầy giáo phổ thông Chẳng nhẽ chúng ta không có nổi một diễn đàn cho HTHVN? Chúng tôi mạnh dạn làm một bước đi đầu tiên (và dễ nhất) là khởi động đoàn tàu
Hi vọng nhận được nhiều bài viết cũng như lời góp ý của các anh, chị và các bạn
đồng nghiệp để tạp chí ngày càng trở nên thực sự bổ ích và hấp dẫn Chúng ta cùng chúc và hi vọng về một hành trình tốt đẹp của Tạp chí.
Ban biên tập
Trang 6½ãng toŸn hàc ViÎt Nam
VË ½¡o t-o v¡ xµy dúng tiËm
½ang cáng tŸc gi¨ng d-y v¡
nghiÅn cöu khoa hàc ê
cŸc trõéng ½-i hàc v¡ cŸc viÎn nghiÅn cöu Chîng ta ½¬ ½¡o t-o
½õìc nhiËu ng¡n giŸo viÅn ½¨m
½õçng trŸch nhiÎm gi¨ng dºy toŸn t÷ bºc phä tháng ½Æn ½-i hàc
Sú ra ½éi cða Hæi Gi¨ng d-y toŸn hàc phä tháng (1996), tä chöc th¡nh viÅn cða Hæi THVN, l¡ mæt
sú bä sung hÆt söc c·n thiÆt cho ho-t ½æng cða Hæi trong h¡ng ngñ giŸo viÅn toŸn ê bºc phä tháng Chîng ta ½¬ gÜp söc ½¡o
t-o nÅn nhiËu v-n kþ sõ cÜ trÖnh
½æ toŸn hàc cao, ½¬ v¡ ½ang ho-t ½æng trong t¶t c¨ cŸc l¬nh vúc khoa hàc kþ thuºt, kinh tÆ,
an ninh v¡ quâc phÝng, gÜp ph·n
t-o nÅn chiÆn th°ng trong cuæc
chiÆn tranh giù nõèc trõèc ½µy,
v¡ t-o tiËn ½Ë tât cho viÎc tiÆp
thu cáng nghÎ mèi trong théi kü
½äi mèi, phŸt triÌn kinh tÆ cða
½¶t nõèc hám nay CÜ lÁ Ït cÜ
bæ mán khoa hàc n¡o, tú nhiÅn cñng nhõ x¬ hæi, cÜ thÌ sŸnh
½uìc vèi toŸn hàc vË mºt ½æ
xu¶t hiÎn cða nÜ trong chõçng
trÖnh ½¡o t-o ê mài ng¡nh v¡ mài bºc hàc!
VË nghiÅn cöu khoa hàc T÷
chå chð yÆu ph¨i gøi sinh viÅn v¡ cŸn bæ trÀ ra nõèc ngo¡i hàc tºp, chîng ta ½¬ d·n d·n xµy dúng
½õìc mæt ½æi ngñ
(*) Bµi phŸt biÌu cña chñ tÞch HTHVN t-i lÍ khai m-c Hæi nghÙ ToŸn hàc
ViÎt Nam l·n thö 5, nhµn ký niÎm 30 n¯m th¡nh lºp Hæi ToŸn hàc ViÎt Nam, H¡ Næi, ng¡y 17 thŸng 9 n¯m 1997
cŸn bæ nghiÅn cöu toŸn hàc
cŸc nh¡ l¬nh ½-o ng¡nh toŸn hàc
Trang 7quâc tÆ NhiËu nh¡ toŸn hàc
ViÎt Nam ½¬ v¡ ½ang ½õìc méi
cæng tŸc nghiÅn cöu v¡ gi¨ng
d-y t-i cŸc trõéng ½-i hàc v¡ cŸc
trung tµm nghiÅn cöu toŸn hàc
cða cŸc nõèc phŸt triÌn nhõ
PhŸp, ‡öc, ž, Tµy Ban Nha,
Thòy ‡iÌn, ˜c, Mþ, Nhºt, Mæt
sâ hæi nghÙ hæi th¨o t·m cë
quâc tÆ ½¬ ½õìc tä chöc t-i ViÎt
Nam vèi sú tham gia ½áng ½¨o
½æ cao cða nhiËu bŸo cŸo
khoa hàc cða cŸc nh¡ toŸn hàc
ViÎt Nam Cñng chÏnh qua cáng
tŸc nghiÅn cöu ¶y, chîng ta ½¬
luºn ViÎc öng dòng toŸn hàc v¡o
½éi sâng chð yÆu ph¨i tháng
qua cŸc ng¡nh khoa hàc kþ thuºt
khŸc m¡ ½´c biÎt l¡ Tin hàc
nhùng n¯m g·n ½µy Tuy nhiÅn,
ngay t÷ buäi ½·u phŸt triÌn,
ViÎt Nam ½¬ r¶t quan tµm ½Æn
viÎc ½õa toŸn hàc phòc vò trúc
tiÆp cho ½éi sâng, théi chiÆn
cñng nhõ théi bÖnh Tinh th·n n¡y v¹n ½õìc tiÆp nâi cho ½Æn tºn hám nay ViÎc XÅmine öng dòng toŸn hàc ê ‡-i hàc Khoa hàc tú nhiÅn v÷a tä chöc ký niÎm
20 n¯m ho-t ½æng l¡ mæt minh chöng Mæt khÏa c-nh khŸc cða öng dòng toŸn hàc ph¨i kÌ ½Æn
sú ½Üng gÜp cða nÜ vË m´t
phõçng phŸp luºn, gÜp ph·n t-o
nÅn nhùng cŸch tõ duy mèi trong x¬ hæi nhõ Vºn trï v¡ Tâi
õu, ‡iËu khiÌn v¡ HÎ thâng ChÏnh trÅn cç sê phõçng phŸp luºn ¶y, cŸc nh¡ toŸn hàc chîng
ta cñng ½¬ th²ng th°n ½Üng gÜp nhiËu û kiÆn cÜ ch¶t lõìng v¡o chiÆn lõìc phŸt triÌn, nghÙ quyÆt, chð trõçng chÏnh sŸch cða ‡¨ng v¡ Nh¡ nõèc trong nhùng bõèc chuyÌn quan tràng cða ½¶t nõèc ToŸn hàc cñng
½¬ t-o mái trõéng cho viÎc tiÆp thu cáng nghÎ mèi: ch²ng h-n, nÆu kháng cÜ sú chu¸n bÙ tât
vË toŸn hàc t÷ trõèc thÖ nõèc ta ch°c khÜ cÜ thÌ tiÆp thu cáng nghÎ tháng tin nhanh ½Æn nhõ vºy Cñng xin lõu û r±ng h·u hÆt cŸc khoa tin hàc ho´c cáng nghÎ tháng tin cða cŸc trõéng ½-i hàc
½Ëu sinh ra t÷ cŸc khoa toŸn
VË tháng tin khoa hàc ‡¬ g·n
40 n¯m nay chîng ta cÜ hai t-p chÏ toŸn hàc chÏnh ½Ì cáng bâ kÆt qu¨ nghiÅn cöu cða cŸc nh¡ toŸn hàc ViÎt Nam v¡ c¨ ½ãng nghiÎp quâc tÆ, ½Ü l¡ Acta Mathematica
Trang 8Vietnamica v¡ T-p chÏ ToŸn hàc
CŸc t-p chÏ n¡y ½¬ ½õìc xu¶t
b¨n ½Ëu ½´n v¡ ng¡y c¡ng ½õìc
c¨i tiÆn vË næi dung cñng nhõ
hÖnh thöc HiÎn nay T-p chÏ Acta
cÝn l¡ phõçng tiÎn trao ½äi ½em
l-i cho thõ viÎn ViÎn ToŸn hàc
kho¨ng 70 ½·u t-p chÏ toŸn hàc
phŸt h¡nh vèi nh¡ xu¶t b¨n khoa
hàc quâc tÆ Springer B°t ½·u
t÷ 1997, t-p chÏ xu¶t b¨n trong
ph-m vi quâc tÆ måi n¯m 4 sâ
thay vÖ 2 sâ trõèc ½µy
VË bãi dõëng thÆ hÎ trÀ ToŸn
hàc g°n liËn vèi tuäi trÀ Do vºy
½Ü cñng l¡ nçi ½Ýi hÞi kh°c
nghiÎt mæt cuæc ch-y tiÆp söc
½Üng gÜp lèn trong viÎc n¡y ‡¬
t÷ nhiËu n¯m nay hàc sinh cða
ta dú thi Olympic toŸn quâc tÆ
½-t ½õìc nhiËu gi¨i cao, mang l-i
niËm tú h¡o v¡ tú tin cho thÆ hÎ
trÀ Olympic toŸn d¡nh cho
sinh viÅn
cŸc trõéng ½-i hàc cñng ½¬ ½õìc
tä chöc tèi l·n thö n¯m (5/1997) BŸo ToŸn hàc & Tuäi trÀ ½¬ t÷ lµu trê th¡nh ngõéi b-n thµn thiÆt cða hàc sinh phä tháng yÅu toŸn BŸo ½¬ hai l·n ½õìc Nh¡ nõèc t´ng thõêng huµn chõçng Lao
½æng
VË sú hæi nhºp quâc tÆ ‡¬ t÷
nhiËu n¯m nay, Hæi THVN l¡ tä chöc th¡nh viÅn cða Hæi ToŸn hàc thÆ gièi (International Mathematical Union), v¡ t÷ n¯m
1990 chîng ta gia nhºp Hæi ToŸn hàc ‡áng Nam € (SEAMS) KhÜ kh¯n vË t¡i chÏnh h-n chÆ r¶t nhiËu sú hæi nhºp cða chîng ta vèi cŸc ho-t ½æng quâc tÆ v¡ khu vúc Tuy nhiÅn mæt sâ nh¡ toŸn hàc ViÎt Nam, chð yÆu l¡ cŸc nh¡ toŸn hàc trÀ, cñng ½¬ nhºn ½õìc sú t¡i trì cða Hæi ToŸn hàc quâc tÆ, ViÎn h¡n lµm khoa hàc thÆ gièi thö ba v¡ Hæi ToŸn hàc ‡áng Nam € ½Ì tham gia mæt sâ ½-i hæi, hæi nghÙ hæi th¨o toŸn hàc thÆ gièi v¡ khu vúc NhiËu hæi nghÙ hæi th¨o quâc
tÆ song phõçng ho´c ½a phõçng
½¬ ½õìc tä chöc t-i cŸc trõéng
½-i hàc v¡ viÎn nghiÅn cöu t-i H¡ Næi, t/p Hã ChÏ Minh, HuÆ Hæi nghÙ quâc tÆ vË gi¨ng d-y toŸn hàc do Hæi ToŸn hàc VN tä chöc n¯m 1996 l¡ mæt ho-t
½æng cða Hæi ToŸn hàc ‡áng Nam € t-i VN
Nhõ chîng ta ½¬ biÆt, n¯m 1900 nh¡ toŸn hàc vØ ½-i David Hilbert
½¬ ½àc mæt bŸo cŸo khoa hàc näi tiÆng dú bŸo nhùng v¶n ½Ë trung tµm cða toŸn hàc trong thÆ
ký 20 Noi theo tinh th·n H×lbet,
Trang 9n¯m 1992 ‡-i hæi ½ãng
Hæi ToŸn hàc thÆ gièi, ½õìc sú
t¡i trì cða UNESCO v¡ nhiËu tä
sau khi BŸc Hã qua ½éi ½¬
tiÆp tòc d¡nh sú quan tµm õu Ÿi
½´c biÎt ½âi vèi toŸn hàc Sau
½Ü, chîng ta ½¬ t÷ng may m°n
cÜ ½õìc nhùng nh¡ qu¨n lû khoa
hàc t¡i n¯ng cÜ t·m nhÖn chiÆn
lõìc nhõ câ GS - Bæ trõêng T-
Quang Bøu, vÙ bæ trõêng yÅu
toŸn, hiÌu toŸn v¡ biÆt cŸch
khuyÆn khÏch toŸn hàc phŸt
triÌn Chîng ta chÙu çn cŸc thÆ
hÎ toŸn hàc ½i ½·u ½·y t¡i n¯ng
v¡ nhiÎt huyÆt tiÅu biÌu l¡ câ GS
LÅ V¯n ThiÅm, cŸc GS NguyÍn
Thîc H¡o, NguyÍn C¨nh To¡n,
Ho¡ng Tòy, Ngá Thîc Lanh,
NguyÍn ‡Önh TrÏ, ‡´ng ‡Önh
€ng ½¬ ½Ùnh hõèng ½îng
û vÖ sú nghiÎp khoa hàc v¡ ½¡o t-o Chîng ta r¶t vui m÷ng trõèc viÎc câ GS LÅ V¯n ThiÅm v¡ GS Ho¡ng Tòy ½õìc
Nh¡ nõèc t´ng Gi¨i thõêng Hã ChÏ Minh ½ìt 1 (10/1996) Câ GS LÅ V¯n ThiÅm cñng v÷a ½õìc Nh¡ nõèc truy t´ng Huµn chõçng ‡æc lºp h-ng nh¶t (5/1997) Söc m-nh cða ½æi ngñ toŸn hàc nõèc ta
trõèc tiÅn l¡ ê trÏ tuÎ cða nÜ, song
quan tràng hçn: kháng cÜ dµn
chð thÖ kháng cÜ khoa hàc ½Ïch thúc Chîng ta hÆt söc
vui m÷ng nhºn th¶y cŸc thÆ hÎ toŸn hàc nâi tiÆp nhau ½¬ tÞ ra xöng ½Ÿng vèi cáng lao cða cŸc thÆ hÎ ½i trõèc Sau cïng, mæt
½iËu trè trÅu nhõng cÜ thºt: toŸn hàc nõèc ta l¡ mæt trong sâ hiÆm hoi cŸc s¨n ph¸m tât cða mæt théi bao c¶p! ‡iËu ½Ü nÜi
lÅn r±ng ½Ì phŸt triÌn toŸn hàc
c·n cÜ sú ½·u tõ thÏch ½Ÿng cða Nh¡ nõèc
‡Ì ½Ÿnh d¶u 30 n¯m th¡nh lºp v¡ ho-t ½æng cða Hæi ToŸn hàc ViÎt Nam, cñng l¡ 30 n¯m trõêng th¡nh, phŸt triÌn cða toŸn hàc ViÎt Nam, BCHTW Hæi THVN chð trõçng tiÆn h¡nh lÍ ký niÎm mæt cŸch gi¨n dÙ v¡ thiÆt thúc Cò thÌ l¡: thay vÖ nhùng b¨n täng kÆt v¡ diÍn v¯n h¡ng gié (chu¸n bÙ r¶t cáng phu m¡ Ït ngõéi
(xt trang
Trang 10ẵ°n cho sỳ phŸt trièn toŸn hàc ờ
của Hội toán học Việt Nam Ông là
nhà toán học nổi tiếng, đã có
những đóng góp lớn trong nghiên
cứu và ứng dụng toán học Ông
cũng là một trong nhừng người đặt
nền móng cho nền giáo dục đại
học ở nước ta, là người thầy của
nhiều thế hệ các nhà toán học Việt
nam Giáo sư Lê Văn Thiêm luôn
giành sự quan tâm đặc biệt đến
việc giảng dạy toán học ở các
nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh
Giải thưởng Lê Văn Thiêm do Hội
toán học Việt nam sáng lập ra
nhằm góp phần ghi nhận những
thành tích xuất sắc của những thầy
giáo và học sinh phổ thông đã khắc
phục khó khăn đẻ dạy toán và học
toán giỏi, động viên học sinh đi
sâu vào môn học có vai trò đặc biệt
quan trọng trong sự phát triển lâu
dài của nền khoa học nước nhà
Một phần tiền trong quỹ ban đầu
để thành lập Giải thưởng là do Phu nhân của cố Giáo sư Lê văn Thiêm tặng, trích từ tiền thưởng Giải thưởng
Hồ Chí Minh của cố Giáo sư Hội Toán học Việt nam quyết định lập Quỹ Lê văn Thiêm , và hy vọng nhận được sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân nhiệt tình với sự nghiệp phát triển toán học của nước nhà
3 Đối tượng xét thưởng
Giải thưởng sẽ được trao hàng năm cho một hoặc hai thầy giáo dạy toán ở PTTH và hai học sinh PTTH
Các thầy giáo được giải là những người có thành tích đặc biệt xuất sắc trong giảng dạy môn toán Chú trọng những thấy giáo lâu năm trong nghề, những thấy giáo công tác ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa
Một giải giành cho học sinh được tặng cho học sinh có thành tích đặc biệt xuất sắc trong các kì thi toán quốc gia và quốc tế Giải thứ hai được trao cho học sinh đã khắc phục nhiều khó khăn trong học tập và đạt thành tích xuất sắc trong môn toán
Trong những năm sắp tới, khi điều kiện tài chính cho phép, ngoài các đối tượng nêu trên, Giải thưởng Lê Văn Thiêm sẽ được xét trao cho các sinh viên giỏi toán và những nhà toán học trẻ (tuổi đời không quá 35), có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu
Trang 11tích xuất sắc trong nghiên cứu.
-
(*) Các bài giới thiệu về Giải thưởng Lê Văn Thiêm, Quỹ Lê Văn Thiêm, cũng
như các cá nhân đoạt giải năm 1997 do GS Hà Huy Khoái cung cấp.
trường nơi giáo viên công tác cấp,
Giấy đề nghị của Sở giáo dục hoặc
Hội giảng dạy toán học phổ thông
- Đối với học sinh: Sơ yếu lí
lịch, Bản sao học bạ, Giấy giới
thiệu về thành tích học tập do
trường cấp, có chứng nhận của Sở
Giáo dục và đào tạo hoặc của Vụ THPT, Bản sao các giấy chứng nhận
đoạt giải (nếu có) Hội đồng Giải thưởng Lê Văn Thiêm của Hội toán học bao gồm đại diện của các tổ chức sau: Hội toán học, Viện Toán học,
Vụ Trung học Phổ thông Bộ GD và
ĐT, Hội giảng dạy toán học phổ thông Hội đồng giải thưởng sẽ tổ chức xét và công bố giải trên các phương tiện thông tin đại chúng và trao giải vào dịp đầu năm học mới.
Quỹ Lê Văn Thiêm
Quỹ Lê Văn Thiêm được
thành lập theo quyết định của Hội
Toán học Việt Nam, nhằm động
viên sự đóng góp vật chất của các
nhà toán học, các tổ chức và cá
nhân thiết tha với sự nghiệp phát
triển toán học nước nhà Số tièn thu
quốc gia, Trung tâm khoa học tự
nhiên và công nghệ quốc gia, Viện
toán học, Trường Đại học Khoa
Cho đến nay, tổng số tiền ủng hộ mà Quỹ nhận được là 20 triệu đồng Quỹ
Lê Văn Thiêm hy vọng tiếp tục nhận
được sự ủng hộ quý báu của các Sở Giáo dục, các trường đại học, các cơ quan, các tổ chức và cá nhân, đặc biệt của các nhà toán học trong và ngoài nước
Mọi chi tiết xin liên hệ theo địa chỉ sau:
GSTS Hà Huy Khoái Viện Toán học Hộp thư 631 BĐ Bờ Hồ, Hà Nội
Trang 12Brodman (Zurich, Thuỵ Sĩ), Đặng
Đình áng (TP HCM), Nguyễn
Đình Trí (Hà Nội), Nguyễn Đình
Ngọc (Hà Nội), Đoàn Quang
Fax: (84) 4 8343303 E-mail: hhkhoai@thevinh.ac.vn
Sau khi xem xét các hồ sơ đăng kí
xét thưởng, Hội đồng quyết định trao
Giải thưởng Lê Văn Thiêm 1997 cho
các thầy giáo và học sinh sau đây:
1 Giải thưởng giành cho thầy giáo:
Nhà giáo Phan Huy Tỉnh, giáo viên
trường PTTH Phan Bội Châu, Nghệ
An Thành tích: đã tham gia giảng dạy
24 năm, trong đó 10 năm liên tục gần
đây là giáo viên giỏi cấp ngành, cấp
tỉnh, đã góp phần đào tạo nhiều học
sinh giỏi toán, trong đó có 42 em đoạt
giải trong các kì thi Olimpic quốc gia, 4
em tham gia Đội tuyển thi Olimpic quốc
tế, 3 em đoạt giải nhì
2 Giải thưởng giành cho học sinh:
- Đỗ Quốc Anh, học sinh lớp 12 Khối PTCT ĐHKHTN ĐHQG Hà Nội Thành tích: đoạt giải 3 trong kì thi Olimpic quốc tế năm 1996, giải nhất tuyệt đối (42/42 điểm) trong kì thi Olimpic quốc
3 Olimpic toán toàn quốc năm 1997
Lễ trao Giải thưởng Lê Văn Thiêm 1997 đã được tổ chức trọng thể ngày 17 tháng 9 năm 1997 tại phiên khai mạc Hội nghị toán học Việt Nam lần thứ
5 (nhân kỉ niệm 30 năm thành lập Hội toán học)
30 năm Hội Toán (tiếp tr 5)
muõn nghe!), chợng ta tiặn hĂnh ký
niẻm b±ng mổt hổi nghÙ khoa hàc
nay Chợng ta củng tiặn hĂnh trao
hàc toŸn giịi ẵè tị líng biặt ỗn nhĂ toŸn hàc cỏng ẵãu LÅ V¯n ThiÅm, vĂ củng ẵè ẵổng viÅn thặ hẻ trÀ tiặp nõi cŸc thặ hẻ ẵi trừốc, vừỡt qua khĩ kh¯n vĂ thŸch thửc mối, phŸt trièn ngĂnh toŸn hàc VN, lĂm giãu trẽ tuẻ cho tọ quõc, phũc vũ ẵ°c lỳc sỳ nghiẻp "cỏng nghiẻp hĩa, hiẻn
ẵ-i hĩa ẵảt nừốc", thỳc hiẻn ừốc mỗ
"dàn giãu, nừốc m-nh, xơ hổi cỏng b±ng, v¯n minh"
Trang 13gi¨i thõêng LÅ V¯n ThiÅm, do Hæi
THVN sŸng lºp, cho th·y giŸo
v¡ hàc sinh ½¬ cÜ cáng d-y toŸn
v¡
Xin c¨m çn cŸc vÙ ½-i biÌu, cŸc anh cŸc chÙ v¡ cŸc b-n!
GiŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm sâng m¬i vèi cŸc thÆ
hÎ toŸn hàc ViÎt Nam ‡å Long Vµn ( ViÖn To¸n häc )
Nh©n dÞp giíi thiÖu gi¶i th−ëng Lª V¨n Thiªm, chóng t«i tr©n träng giíi thiÖu bµi viÕt sau ®©y cña Chñ tÞch HTHVN
Nhùng th¡nh qu¨ hám nay cða
cuæc ½¶u tranh giù nõèc v¡ dúng
nõèc l¡ nhé sú hy sinh, ½Üng gÜp
cða biÆt bao nhiÅu ngõéi, trong
½Ü ph¨i kÌ ½Æn lèp trÏ thöc cŸch
m-ng ½·u tiÅn m¡ cuæc ½éi v¡ sú
nghiÎp cða måi ngõéi trong sâ hà
½Ëu Ït nhiËu g°n bÜ ho´c chÙu
¨nh hõêng trúc tiÆp cða BŸc Hã
GiŸo sõ toŸn hàc LÅ V¯n ThiÅm
thuæc sâ nhùng ngõéi nhõ thÆ
ThiÅm, vèi hàc lúc xu¶t s°c, ½¬ thi
½ºu v¡o trõéng ¾cole Normale
Sup¾rieure de Paris näi tiÆng cða
PhŸp N¯m 1948 anh l¡ ngõéi ViÎt
Nam ½·u tiÅn ½õìc nhºn hàc vÙ
tiÆn sþ quâc gia vË toŸn hàc t-i
PhŸp, v¡ sau ½Ü trê th¡nh giŸo sõ,
gi¨ng d-y ê Zórich (Thòy Sþ)
Cuâi n¯m 1949, khi t¡i n¯ng khoa hàc ½õçng lîc nê ræ, vÙ giŸo sõ tiÆn sþ 31 tuäi LÅ V¯n ThiÅm, nghe theo léi kÅu gài cða Hã Chð TÙch, ½¬ ½Ì l-i phÏa sau mÖnh con ½õéng cáng danh ½·y triÌn vàng ê phõçng Tµy, trê vË Tä quâc tham gia cuæc khŸng chiÆn gi¡nh
½æc lºp dµn tæc
GiŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm l¡ tŸc gi¨ kho¨ng 20 cáng trÖnh nghiÅn cöu khoa hàc cáng bâ ê trong v¡ ngo¡i nõèc, trong ½Ü cÜ hai cuân sŸch chuyÅn kh¨o Trong luºn Ÿn tiÆn
sþ cða mÖnh, áng ½¬ gi¨i quyÆt mæt b¡i toŸn khÜ t÷ng tãn t-i trong nhiËu n¯m Hai cáng trÖnh khoa hàc ½·u tiÅn cða áng (cáng bâ n¯m 1949 v¡ 1950) ½õìc th÷a nhºn l¡ nhùng kÆt qu¨ cç b¨n, mê
½õéng cho mæt hõèng nghiÅn cöu mèi, v¡ ½õìc trÏch d¹n ræng r¬i trong cŸc sŸch chuyÅn kh¨o cÜ tiÆng trÅn thÆ gièi
BÅn c-nh nghiÅn cöu lû thuyÆt, giŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm r¶t ch¯m lo
Trang 14½Æn öng dòng toŸn hàc ng ½¬
cïng cŸc hàc trÝ cða mÖnh nghiÅn
cöu b¡i toŸn nä mÖn nh±m phòc
vò giao tháng théi chiÆn, phŸ nîi
l¡m kho x¯ng d·u, l¶y ½Ÿ xµy dúng
khu gang th¾p ThŸi NguyÅn
v v ng cñng ½¬ cïng cŸc
cæng sú cða mÖnh nghiÅn cöu
xµy dúng má hÖnh toŸn hàc v¡ bæ
chõçng trÖnh gi¨i cŸc b¡i toŸn
dÝng ch¨y, phòc vò cho viÎc thiÆt
kÆ v¡ thi cáng cáng trÖnh thðy
½iÎn HÝa BÖnh v¡ quy ho-ch ½ãng
b±ng sáng Cøu Long
Trong sú nghiÎp giŸo dòc v¡ ½¡o
t-o, giŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm ½¬ cÜ
nhùng ½Üng gÜp lèn lao T÷ cáng
tŸc giŸo dòc ê bõng biËn Nam
bæ, áng ½õìc cø ra chiÆn khu ViÎt
xµy dúng ViÎn ToŸn hàc, v¡ ½õìc
cø l¡m ViÎn trõêng ½·u tiÅn cða
ViÎn GiŸo sõ ½¬ cÜ câng hiÆn
lèn lao trong viÎc xµy dúng, phŸt
triÌn ViÎn ToŸn hàc th¡nh mæt
trung tµm nghiÅn cöu toŸn hàc
½·u ng¡nh ê nõèc ta, ½õìc sú th÷a
nhºn quâc tÆ ræng r¬i ng cñng
l¡ täng biÅn tºp ½·u tiÅn cða hai t-p
chÏ toŸn hàc cða nõèc ta: Tºp san
ToŸn Lû (sau tŸch th¡nh T-p chÏ
ToŸn hàc) v¡ t-p chÏ Acta
Mathematica Vietnamica
GiŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm cñng ½¬
t÷ng ½õìc cø l¡ ™y viÅn ™y ban
khoa hàc nh¡ nõèc, Trõêng ban
khoa hàc cç b¨n, Trõêng ban toŸn
lû (1960-1970), ‡-i diÎn to¡n quyËn
cða ViÎt Nam t-i ViÎn liÅn hìp
nghiÅn cöu nguyÅn tø Dubna (LiÅn xá cñ, 1956-1980)
N¯m 1966, giŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm l¡ mæt trong cŸc sŸng lºp viÅn v¡ ½õìc b·u l¡ Hæi trõêng ½·u tiÅn cða Hæi ToŸn hàc ViÎt nam,
tä chöc x¬ hæi nghË nghiÎp cða cæng ½ãng nhùng ngõéi l¡m cáng tŸc gi¨ng d-y, nghiÅn cöu, phä biÆn v¡ öng dòng toŸn hàc trong c¨ nõèc Hæi l¡ tä chöc th¡nh viÅn cða LiÅn hiÎp toŸn hàc quâc tÆ (IMU) v¡ cða Hæi toŸn hàc ‡áng Nam € (SEAMS)
Trong hçn bân chòc n¯m lao
½æng sŸng t-o, gian khä v¡ dñng c¨m, vèi t¶m lÝng son cŸch m-ng v¡ trÏ tuÎ khoa hàc uyÅn thµm, giŸo
sõ LÅ V¯n ThiÅm l¡ ngõéi cÜ cáng
½·u trong viÎc ½´t nËn mÜng cho ng¡nh toŸn hàc ViÎt nam nÜi riÅng, ng¡nh khoa hàc cç b¨n v¡ hÎ thâng
‡-i hàc ViÎt nam nÜi chung ng l¡ ngõéi th·y cða nhiËu thÆ hÎ cŸc nh¡ khoa hàc ViÎt nam NhiËu hàc trÝ cða áng ½ang l¡ nhùng cŸn bæ chð chât trong cŸc ng¡nh khoa hàc
tú nhiÅn ê nõèc ta
L¡ mæt nh¡ khoa hàc lèn, áng cÝn ½ãng théi l¡ mæt nhµn cŸch lèn: th²ng th°n, chµn thúc ½Æn ngµy thç; sâng gi¨n dÙ, khiÅm tân,
"mæt ½éi thanh b-ch ch²ng v¡ng son"; yÅu thõçng tán tràng ½ãng nghiÎp, nµng ½ë thÆ hÎ trÀ; kháng
vò lìi, biÆt gŸc sang bÅn mài chuyÎn thuæc danh lìi cŸ nhµn ½Ì to¡n tµm to¡n û phòc vò sú nghiÎp khoa hàc v¡ giŸo dòc
GiŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm qua ½éi ng¡y 03 thŸng 7 n¯m 1991 t-i th¡nh phâ Hã ChÏ Minh, ½Ì l-i cho gièi khoa hàc ViÎt nam nÜi chung v¡ cæng ½ãng toŸn hàc ViÎt nam nÜi riÅng niËm tiÆc thõçng vá h-n Câ v¶n Ph-m V¯n ‡ãng, trong thõ chia buãn gøi phu nhµn câ giŸo sõ LÅ V¯n ThiÅm, cÜ viÆt: "Anh LÅ V¯n ThiÅm qua ½éi c¡ng l¡m näi bºt t·m
Trang 15vĩc vĂ sỳ cõng hiặn cða nhĂ toŸn
hàc vĂ ngừội chiặn sỉ cổng săn
LÅ V¯n ThiÅm" Quă ẵợng nhừ ai
ẵĩ ẵơ nĩi: "thội gian sÁ s°p xặp
l-i mài giŸ trÙ"
Cổng ẵóng toŸn hàc Viẻt nam
rảt vui mững vĂ tỳ hĂo khi giŸo sừ
LÅ V¯n ThiÅm ẵừỡc NhĂ nừốc trao
t´ng Giăi thừờng Hó Chẽ Minh ẵỡt 1
ngĂy 30-10-1996 vĂ truy t´ng Huàn
LÅ V¯n ThiÅm vối mong muõn r±ng tinh thãn tºn tũy vệ sỳ nghiẻp khoa hàc, giŸo dũc, vĂ ẵ-o ẵửc trong sŸng cða giŸo sừ sÁ sõng mơi trong líng cŸc thặ hẻ toŸn hàc Viẻt Nam
Vài nét về Hội nghị (tiếp theo
tr 13)
Hội nghị cũng nghe báo cáo về “Tính
năng ứng dụng máy tính trong toán
học” do ông Nguyễn Xuân Dũng, đại
diện Nhà phân phối máy tính CASIO
tại Việt nam trình bày
Tại Hội nghị 6 tiểu ban hoạt động
song song với nhiều báo cáo mời và
các thông báo ngắn nội dung khoa học
phong phú
Tiểu ban 1 (Đại số, Tôpô, Hình học)
có 12 báo cáo mời (30’) và 21 thông
báo ngắn (15’)
Tiểu ban 2 (Giải tích, Giải tích hàm,
Phương trình vi tích phân) có 14 báo
cáo mời và 33 thông báo ngắn
Tiểu ban 3 (Tối ưu hóa, Hệ động lực,
Toán ứng dụng) có 12 báo cáo mời và
34 thông báo ngắn
Tiểu ban 4 (Toán học tính toán, Xác
suất, Thống kê) có 8 báo cáo mời và
25 thông báo ngắn
Tiểu ban 5 (Cơ sở toán học của tin
học) có 6 báo cáo mời và 13 thông báo
ngắn
Tiểu ban 6 (Giảng dạy toán học) có 6
báo cáo mời và 15 thông báo ngắn
Phần lớn các báo cáo mời đề cập đến
những hướng nghiên cứu dài hơi của
người báo cáo và các đồng sự Nhiều vấn đề được đề cập tới khá hấp dẫn và mang tính thời sự cao Trong nhiều hướng dã đạt được nhiều kết quả sâu sắc và có tính hệ thống Đề tài nghiên cứu khá đa dạng, trải rộng khắp từ lí thuyết tới toán học ứng dụng và giảng dạy toán
Đặc biệt, chiều 20/9 đã diễn ra buổi Thảo luận bàn tròn về “Giảng dạy toán học ở đại học và phổ thông” Không chỉ cán bộ giảng dạy toán học ở các trường đại học, các giáo viên toán ở các trường phổ thông, mà rất nhiều cán bộ nghiên cứu toán học ở các viện nghiên cứu cũng nhiệt tình tham gia và
đóng góp nhiều ý kiến quí báu
Tối 20/10 lễ bế mạc Hội nghị và liên hoan chiêu đãi đã được tổ chức tại Nhà hàng Đông Nam á, bên Hồ Hoàn kiếm, Hà nội Tối hôm đó, trong không khí phấn khởi chào mừng thành công của Hội nghị, các đại biểu đã tham dự bốc vé số với giải thưởng là
10 chiếc máy tính bỏ túi CASIO do Công ty XNK Bình Tây, một trong những nhà tài trợ cho Hội nghị, gửi tặng Phần lớn giải thưởng thuộc về các nhà toán học đứng tuổi, trong đó
có 2 giải bay sang tận Pháp Chắc hẳn
Trang 16đó là nhờ kết quả ứng dụng toán học
lâu năm trong lí thuyết trò chơi
Hội nghị kết thúc lặng lẽ, còn khiêm
tốn hơn cả lúc khai mạc Chắc chắn
còn nhiều thiếu sót, song HNTH đã
gây ấn tượng mạnh cho các đại biểu
tham dự Ra về mỗi đại biểu lại có
thêm gánh nặng về trách nhiệm, với những nỗi lo lẫn với những ước vọng mới về nền toán học của nước nhà Dù sao cũng không thể tách toán khỏi cuộc sống đời thường Hẹn gặp lại HNTH toàn quốc lần sau
Vài nét về Hội nghị Toán học
toàn Việt nam lần thứ 5
Lê Hải Khôi (Viện CNTT) và Lê Tuấn Hoa (Viện Toán học)
Để kỷ niệm 30 năm ngày thành lập
Hội Toán học Việt nam, để tổng kết
những thành tựu các nhà toán học Việt
nam đã đạt được và trao đổi những kết quả
mới nhất trong các lĩnh vực nghiên cứu,
giảng dạy và ứng dụng toán học, để định
hướng phát triển toán học Việt nam trong
tương lai, Hội Toán học Việt nam
Các HNTH toàn quốc là một hoạt động
có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền
toán học Việt nam, có tác dụng thúc đẩy
những nghiên cứu cơ bản và ứng dụng
trong lĩnh vực toán học ở các trường đại
học và các viện nghiên cứu, nâng cao chất
lượng giảng dạy toán học trong nhà trường
phổ thông Hội nghị là một dịp để các nhà
toán học từ mọi miền đất nước với các
chuyên ngành khác nhau gặp gỡ, trao đổi
với nhau Do khó khăn về tài chính, bốn
HNTH toàn quốc trước đây cũng đã được
tổ chức tại thủ đô, bởi ở đó tập trung đông
đúc nhất đội ngũ toán học Các năm tổ
khá dũng cảm, bởi vì vấn đề đầu tiên là
tiền đâu lúc đó chưa biết giải quyết ra sao
(bản thân HTHVN không có nguồn kinh
phí đáng kể nào) Ban chấp hành HTHVN,
Ban tổ chức và Ban chương trình hội nghị
một mặt vừa phải chịu khó đi gõ cửa các
cơ quan tài trợ, mặt khác phải tự giải quyết tất cả các công việc liên quan nhằm giảm chi phí tới mức tối thiểu Nhờ sự tích cực và tính chủ động đó mà có tới 24 đơn
vị tài trợ Hội nghị, thu được số tiền gần
100 triệu đồng để tổ chức HNTH lần này
Có thể đó là con số như muối bỏ biển đối với các hội nghị ở lĩnh vực khác, nhưng với HTHVN và Ban tổ chức thì nó thật quí giá Trên cơ sở đó mà mỗi đại biểu dự HN chỉ phải tự túc tiền ăn ở, đi lại, và đóng hội nghị phí 50.000, nhưng vẫn được đảm bảo nước giải khát đầy đủ, tiền phở bữa trưa và
có đầy đủ tài liệu cũng như một bữa liên hoan tổng kết rôm rả Ngoài ra một số đại biểu trẻ gặp khó khăn về tài chính còn
được tài trợ Đó đã là một thành công lớn Của ít, tình nhiều Sự tài trợ của nhiều cơ quan gây cảm động cho các đại biểu, bởi vì nó không chỉ đảm bảo cho thành công của hội nghị, mà còn thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với ngành toán nước nhà
Điều đó thật không tầm thường trong khung cảnh hiện nay Hi vọng rằng sự quan tâm đó càng ngày càng lớn thêm Các cơ quan, tổ chức đã tài trợ và ủng hộ
tài chính cho Hội nghị là: Tài trợ chính:
Chương trình Nghiên cứu cơ bản Nhà nước, Hội đồng Ngành Toán - Chương trình Nghiên cứu cơ bản Nhà nước, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Viện Công nghệ Thông tin, Viện Toán học, Công ty xuất nhập khẩu Bình tây - Nhà phân phối máy tính
CASIO Tài trợ: Liên hiệp các Hội Khoa
học Kỹ thuật Việt nam, Hội Giảng dạy Toán học Phổ thông, Đại học Khoa học
Tự nhiên - ĐHQG Hà nội, Đại học Đại cương - ĐHQG Tp Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà nội, Đại học Sư phạm -
Trang 17ĐHQG Hà nội, Đại học Sư phạm Vinh,
Đại học Sư phạm Hà nội II, Đại học Đà
lạt, Đại học Giao thông Vận tải Hà nội,
Cao đẳng Sư phạm Tp Hồ Chí Minh,
Trung tâm Quốc gia dự báo khí tượng
thủy văn, Trung tâm Phát triển Hệ thống -
ĐHQG Hà nội, Trung tâm Đào tạo sau đại
học - Học viên Kỹ thuật Quân sự, Trường
PTTH dân lập Anbe Anhxtanh, Nhà Xuất
bản Giáo dục, Ban Cơ yếu Chính phủ,
Công ty T&C Ngoài tài trợ về vật chất, cơ
quan chủ nhà là Viện Công nghệ Thông
tin cũng như Viện Toán học đã đóng góp
rất nhiều trong coong tác tổ chức Hội
nghị đã được sự quan tâm đặc biệt của
lãnh đạo Trung tâm KHTN và CNQG
Hơn 350 cán bộ nghiên cứu và giảng
dạy toán học, tin học từ khắp mọi miền tổ
quốc, cùng một số nhà toán học người
Việt tại Pháp và một nhà toán học Thụy sĩ
đã tham dự Hội nghị Thế hệ nối tiếp thế
hệ hội tụ trong bầu không khí thân mật,
cởi mở, như không có khoảng cách về tuổi
tác Cùng với các bậc lão thành như các
GS Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Đình Trí,
Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu, Phạm Hữu
Sách, xuất hiện những gương mặt trẻ
măng như TS Ngô Bảo Châu, NCS Tạ Thị
Hoài An, sinh viên Nguyễn Quang Diệu,
Đại biểu nữ chỉ có thấp thoáng, chúng
ta gặp các PTS Trương Xuân Đức Hà,
Trương Thị Mỹ Dung, Nhiều nhà toán
học đang giữ các cương vị lãnh đạo quan
trọng, bận trăm công nghìn việc cũng thu
xếp tham dự hội nghị (nhiều anh còn đọc
báo cáo nghiên cứu) như các GS Nguyễn
Đình Ngọc, Đào Trọng Thi, Trần Văn
Nhung, Hồ Đức Việt, Nguyễn Văn Mậu,
Các phóng viên Đài THVN, PT&TH Hà
nội, các báo Hà nội mới, KH&ĐS, Tiền
phong, Lao động, đã đến dự và đưa tin
về Hội nghị
Lễ kỉ niệm và Hội nghị bắt đầu bằng lời
giới thiệu của GS Phạm Kỳ Anh Sau đó
GS Đỗ Long Vân, Chủ tịch HTHVN đã
đọc diễn văn nhân kỷ niệm 30 năm thành
lập Hội (xem toàn văn bài diễn văn trong
số này) Tiếp đến GS Hà Huy Khoái thay
mặt BCH HTHVN thông báo các qui chế
về giải thưởng Lê Văn Thiêm, quỹ Lê Văn
Thiêm và công bố các cá nhân đoạt giải
năm nay (xem các bài giới thiệu trong số
này) Các giải thưiởng được trao trước sự
cổ vũ nhiệt liệt của hội trường Cuối cùng,
GS Đinh Dũng, Trưởng ban Tổ chức, đã
đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Các GS Nguyễn Văn Đạo, Giám đốc ĐHQG Hà Nội kiêm Trưởng ban Chương trình nghiên cứu cơ bản, GS Trần Mạnh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm KHTN và CNQG, và GS Bạch Hưng Khang, Viện trưởng Viện CNTT - nơi tổ chức Hội nghị
- phát biểu ý kiến nhân dịp
kỉ niệm 30 năm thành lập HTHVN và chúc Hội nghị thành công tốt đẹp PTS Hồ
Đức Việt, ủy viên Ban chấp hành Trung
ương Đảng CSVN, Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Ninh, đã tặng lẵng hoa chào mừng
lễ kỉ niệm và Hội nghị Phần trọng thể kết thúc ngắn gọn như vậy
Về nội dung, Hội nghị đã nghe 3 báo cáo toàn thể trong ba buổi sáng khác nhau Báo cáo đầu tiên do PGS-TS Hà Huy Bảng
trình bày với tiêu đề: “Nonconvex cases
of the Paley-Wiener-Schwartz theorem”
Anh Bảng năm nay 38 tuổi Tốt nghiệp đại học tại Liên xô, năm 1982 anh về Viện Toán công tác, và nhanh chóng bảo vệ luận án PTS dưới sự hướng dẫn của GS Trần Đức Vân Tiếp tục nghiên cứu (chủ yếu trong nước), anh đã hoàn thành luận
án TS và bảo vệ thành công tại Viện toán Xteclốp năm 1995 Việc Ban chương trình
bố trí anh báo cáo đầu tiên như một khích
lệ đối với giới toán học trẻ hoặc còn chưa già lắm
Ngày thứ hai, GS Đặng Đình áng báo
cáo về “Domain identification for elliptic equations and systems: a restricted survey” Đã ngoài bảy mươi tuổi, với mái
tóc bạc trắng, Giáo sư vẫn say sưa trình bày một loạt kết quả nghiên cứu của mình
và các học trò của mình Là một nhà toán học đầu đàn của Miền Nam, sau giải phóng GS đã ở lại góp phần xây dựng và phát triển nền toán học trong nước Ông
đã công bố trên 100 công trình nghiên cứu Sự làm việc miệt mài và đầy hiệu quả, sáng tạo của ông là một tấm gương lớn cho giới toán học trong nước
Ngày thứ ba, GS Frédéric Pham trình bày một báo cáo tổng quan :
“Asymptotics: Old and New” về một
hướng toán học hiện đại liên quan nhiều tới vật lí và chứa đựng triết học sâu sắc
Ông là một trong những nhà toán học xuất sắc, chuyên gia về lí thuyết kì dị, là niềm
tự hào của những người Việt làm toán Sinh năm 1938, năm 1965 ông đã công bố
Trang 18một loạt bài báo quan trong Ông là người
Việt đầu tiên được mời đọc báo cáo mời
tại Đại hội Toán học thế giới (năm 1970,
tổ chức tại Pháp) Mặc dù dạy tại Nice,
ông luôn quan tâm đến việc đào tạo và
phát triển toán học ở Việt Nam Ông có tới
6 học trò đã bảo vệ thành công luận án PTS và 3 trong số đó sau này dã bảo vệ luận án TS
(xt trang 11)
Luận án mới
LTS: Mục này do PTS Nguyễn Lê Hương
phụ trách Những ai mới bảo vệ luận án
mà muốn thông báo tóm tắt kết quả luận
án của mình thì xin gửi về toà soạn một
bản tóm tắt ngắn (không quá 100 chữ, kể
cả tên luận án) kèm theo các thông tin
khác như trình bày dưới đây
Viết tắt dưới đây: mã số (ms), người
2 (Docteur en Sciences) Ngô Bảo Châu,
Le lemme fondamental de Jacquet et Ye en
egales caracteristiques, ms: 1.01.03, nhd:
Prof Dr G Laumon, nbv: 10.6.1997,
csđt: Univ Paris XI Orsay (Pháp)
Phó Tiến sĩ:
1 Lê Hoàng Trí, Tính chất Schauder và tính
chất aR của một số lớp không gian compact,
ms: 1.01.01, nhd: PGS-TS Nguyễn Tố
Như và PTS Nguyễn Hữu Điển, nbv:
6.1.1997, csđt: Viện Toán học
2 Trần Văn Dũng, Mạng Petri: nửa vết, quá
trình, miền đạI số và cấu trúc sự kiện, ms:
nbv: 18.1.1997, csđt: Viện KH giáo dục
4 Trần Luận, Vận dụng tư tưởng sư phạm của
G Polia xây dựng nội dung và phương pháp
dạy học trên cơ sở các hệ thống bài tập theo
chủ đề nhằm phát huy năng lực sáng tạo của
học sinh chuyên toán cấp II, ms: 5.07.02,
nhd: PGS-PTS Phạm Gia Đức và PGS-PTS
Nguyễn Gia Cốc, nbv: 20.1.1997, csđt:
Viện KH giáo dục
5 Chu Đức Khánh, Bài toán ngược trong lí thuyết thế vị, ms: 1.01.01, nhd: GS-TS
Đặng Đình áng và PTS Nguyễn Bích Huy, nbv: 20.1.1997, csđt: ĐHSP tpHCM
6 Nguyễn Đinh Hùng, Bồi dưỡng tư duy lôgic cho học sinh trường THCSVN thông qua
hệ thống câu hỏi và bài tập đại số lóp 7, ms: 5.07.02, nhd: PTS Nguyễn Việt Hải và PGS-PTS Nguyễn Đào Tam, nbv: 24.1.1997, csđt: ĐHSP Vinh
7 Nguyễn Đức Đạt, Về các dàn con của một dàn, ms: 1.01.03, nhd: PGS Nguyễn Quốc Toản, nbv: 27.1.1997, csđt: ĐH KHTN Hà nội
8 Nguyễn Thị Tĩnh, Biểu diễn các đa thức legendre qua các đa thức bernulli và euler, ms: 1.01.01, nhd: PGS-TS Vũ Kim Tuấn, nbv: 30.1.1997, csđt: Viện Toán học
9 Nguyễn Vũ Tiến, Về một số lớp bài toán tối ưu rời ràc và các vấn đề liên quan, ms: 1.01.09, nhd: PTS Nguyễn Ngọc Chu và PGS-TS Nguyễn Xuân Tấn, nbv: 3.2.1997, csđt: Viện Toán học
10 Hà Quang Thuỵ, Một số vấn đề về không gian xấp xỉ, tập thô đối với hệ thông tin, ms: 1.01.10, nhd: PGS-PTS Hồ Thuần và PGS-PTS Hồ Sỹ Đàm, nbv: 4.2.1997, csđt: ĐH KHTN Hà nội
11 Đặng Chiểu, Đoán nhận một lớp ôtômát
và ứng dụng, ms: 1.01.08, nhd: GS-TS Phạm Thế Long và PTS Ngô Đắc Tân, nbv: 20.3.1997, csđt: Học viện KTQS
12 Nguyễn Sỹ Anh Tuấn, Về một lớp toán
tử giả vi phân giải tích phức một biến và áp dụng, ms: 1.01.02, nhd: GS-TS Trần Đức Vân và PTS Nguyễn Sỹ Minh, nbv: 3.4.1997, csđt: Viện Toán học
13 Ngô Quốc Tạo, Nâng cao hiệu quả của các thuật toán nhận dạng ảnh, ms: 1.01.10, nhd: GS-TS Bạch Hưng Khang và GS-TS Hoàng Kiếm, nbv: 28.5.1997, csđt: Viện
CN thông tin
14 Phương Minh Nam, Thiết kế và cài đặt
hệ thống thông tin di trú, ms: 1.01.10, nhd: PGS-PTS Lê Tiến Vương và PGS-PTS Vũ
Trang 19Lục, nbv: 30.5.1997, csđt: ĐH Bách khoa
Hà nội
15 Đỗ Văn Thành, Về phương pháp lập luận
trên các cơ sở tri thức với nhiều đánh giá khác
nhau trong lí thuyết khả năng, ms: 1.01.10,
ĐH Bách khoa Hà nội
Hội nghị, Hội thảo
LTS: Mục này dành để cung cấp thông tin về
các hội nghị, hội thảo sắp được tổ chức trong
nước và quốc tế mà anh chị em trong nước có
thể (hi vọng xin tài trợ và) đăng kí tham gia
Đề nghị các ban tổ chức các hội thảo, hội nghị
cung cấp thông tin kịp thời về toà soạn Các
thông tin này có thể được in lặp lại
Hội nghị cơ học toàn quốc lần
thứ 6 , Hà nội, 3-5/12/1997 Liên hệ
với: PTS Nguyễn Thị Trung, Viện cơ
học, 224 Đội Cấn, Hà Nội
Hội nghị quốc tế về giải tích ứng
dụng và tối ưu hoá, Hà nội,
27-30/12/1997. Hội nghị này được tổ chức
nhân dịp ngày sinh lần thứ 70 của GS
Hoàng Tụy Liên hệ với:
PGS-TS Lê Dũng Mưu, Viện Toán
học, Hộp thư 631, Bờ hồ, Hà nội
Japan-USA-Vietnam Workshop
on Research and education in systems, computation and control engineering (RESCCE’98), Hanoi 13-15/5/1998 Liên hệ: PGS-TS Vũ Ngọc Phát, Viện Toán học, Hộp thư 631,Bờ hồ, Hà nội
International Congress of Mathematicians, Berlin,Germany, August 18-27, 1988 Liên hệ:
ICM’98 (c/o Prof Dr J Winkler),
TU Berlin, MA 8-2, Strasse des 17 Juni 135, D-10623 Berlin, Germany Fax 0049 30 314-21604
(xem các thông báo của BTC đăng trong
số này)
International Congress of Mathematicians
Berlin, Germany, August 18-27, 1988
Responsibility for the scientific program lies with the Program Committee appointed by IMU There will
be about twenty one-hour Plenary Lectures covering recent developments in the major areas of mathematics and about 170 forty-five-minute Invited Lectures in nineteen sections The sections are follows:
7 Lie Groups and Lie Algebras
10 Partial Differential Equations
11 Mathematical Physics
12 Probability and Statistics
13 Combinatorics
14 Mathematical Aspects of Computer Science
15 Numerical Analysis and Scientific Computing
16 Applications
Trang 208 Analysis
9 Ordinary Differential Equations and Dynamical
Systems
17 Control Theory and Optimization
18 Teaching and Popularization of Mathematics
19 History of Mathematics
Every registered participant (traditionally called Ordinary Member) of the Congress will have the opportunity to give a short presentation, either during a poster session or in the form of a fifteen-minute lecture A formal call for such presentations will be issued in the Second Announcement Informal mathematical seminars may be organized at the initiative of groups of participants English, French, German, and Russian are the official languages of the Congress
All Plenary and Invited Lectures will be published in the Proceedings of ICM’98, a complimentary copy of these Proceedings will be sent to each Ordinary Member Abstracts of all lectures and of all short presentations will be distributed free of charge to Ordinary Mummers at Congress check-in The Fields Medals and the Nevanlinna Prize will be awarded during the Opening Ceremony on the first day of the Congress.
It will be forwarded to an appropriate member of the Organizing Committee If electronic
communication is not available you may also write to
ICM’98 (c/o Prof Dr J Winkler)
TU Berlin, MA 8-2, Strasse des 17 Juni 135, D-10623 Berlin, Germany
To receive the Second announcement, fill out the form on the ICM’98 server (http://elib.zib.de/ICM98) Alternatively, send an empty e-mail to icm98@zib.de with Second Announcement in the SUBJECT line
to receive an e-mail form If this is not possible for you, please fill out the form below and send it to the ICM’98 Secretary Prof Winkler (see address above)
The Second Announcement will be mailed from Berlin at the beginning of 1998
The Organizing Committe has received a number of requests from mature mathematicians (35 years and older) from developing countries, who are not eligible for support under the programs mentioned above, to help them attend ICM'98 To assist these colleagues, the Organizing Committee and IMU have approached sponsoring agencies The success was limited, nevertheless, it is now possible to announce
a support program offering financial help for (a few) active mature mathematicians from developing
Trang 21countries
Those interested in the program can find the details below ( xem trang sau)
Sincerely
Martin Groetschel, President of the ICM'98 Organizing Committee
ICM'98 Committee for Support of Mathematicians from Developing Countries (short: CSMDC)
Please find below the application form for mature mathematicians (older than 35 years of age at the occasion of the Congress) with residence in developing countries for grants to attend ICM98 The funds for financial support are very limited To secure the participation of as many persons as possible, only local costs in Berlin (registration, board and lodging) will be supported Travel grants can only be provided in exceptional cases
All mathematicians who would like to apply for financial support are kindly asked to fill out the application form below
DEADLINE (for the submission of applications): JANUARY 1, 1998
All applications will be reviewed and all applicants will be informed about the result immediately after MAY 1, 1998
Please fill out the form below and return it by E-MAIL to icmcsmdc@math.fu-berlin.de
The SUBJECT LINE of the E-MAIL HEADER must have the following form Subject: ICM-CSMDC
If e-mail is not available you can MAIL or FAX the form to the address at the end of the form
Xin lưu ý là để tiết kiệm chỗ, chúng tôi đã xoá hết các dòng trống để điền vào trong mẫu sau:
-
CSMDC-application form for a grant for participation in ICM'98 I would like to apply for a grant for the participation in ICM'98, Berlin, August 18-27, 1998 Name:
Date and place of birth:
Citizenship:
Affiliation:
E-mail:
Fax:
Scientific CV 1 Study (places, year, degree)
2 Academic degrees (PhD and/or corresponding degrees)
year
Institution where your title was awarded
3 Professional career (academic institutions where you were employed, year, position)
4 Research field
5 Selected list of publications (at most 10 items of your most recent or important publications)
6 Further scientific activities and merits (Membership in scientific academies, important academic awards, Editorial activities) 7 Travel grant requested (Please specify why this is an exceptional case and provide an estimate of the travel costs.)
E-mail: icmcsmdc@math.fu-berlin.de
Fax: ++49/30/838 75 454
Mail: Freie Universitaet Berlin, Fachbereich Mathematik und Informatik
ICM-CSMDC
Arnimallee 2-6, 14195 Berlin, Germany
For the CSMDC:
Gerhard Berendt and Eberhard Letzner
berendt@math.fu-berlin.de letzner@math.fu-berlin.de
Nhắn tin: Chúng tôi cố gắng gửi Tạp chí thông tin này đến tận tay các hội viên theo địa chỉ cơ quan hay nhà riêng mà độc giả chọn Tuy nhiên vì công tác quản lí hội viên của BCH HTHVN còn nhiều khó khăn nên chúng tôi không có được danh sách địa chỉ đó Vì vậy một
Trang 22số hội viên sẽ ch−a đ−ợc gửi Tạp chí hoặc gửi sai địa chỉ mong muốn Những hội viên nào có nhu cầu đổi địa chỉ, hoặc ch−a nhận đ−ợc Tạp chí (miễn phí) này, xin gửi th− về Toà soạn để thông báo kịp thời
Trang 23
Môc lôc
Lêi tßa so¹n 1
§ç Long V©n 30 n¨m héi to¸n häc ViÖt nam 2
Gi¶i th−ëng Lª V¨n Thiªm 6 Quü Lª V¨n Thiªm 7 Gi¶i th−ëng Lª V¨n Thiªm 1997 8
§ç Long V©n Gi¸o s− Lª V¨n Thiªm sèng m·i víi c¸c thÕ hÖ
to¸n häc ViÖt nam 9
Lª H¶i Kh«i vµ Lª TuÊn Hoa Vµi nÐt vÒ Héi nghÞ To¸n häc
toµn ViÖt nam lÇn thø 5 12
LuËn ¸n míi 14
Héi nghÞ, Héi th¶o 15 International Congress of Mathematicians 16
Trang 24Héi To¸n Häc ViÖt Nam
th«ng tin to¸n häc
Th¸ng 3 N¨m 1998 TËp 2 Sè 1
Pierre Fermat (1601-1665)
Lưu hµnh néi bé
Trang 25Nguyễn Lê Hương Nguyễn Xuân Tấn
Nguyễn Bích Huy Đỗ Đức Thái
Lê Hải Khôi Lê Văn Thuyết
Tống Đình Quì Nguyễn Đông Yên
• Tạp chí Thông Tin Toán Học
nhằm mục đích phản ánh các
sinh hoạt chuyên môn trong
cộng đồng toán học Việt nam và
quốc tế Tạp chí ra thường kì
4-6 số trong một năm
• Thể lệ gửi bài: Bài viết bằng
tiếng việt Tất cả các bài, thông
tin về sinh hoạt toán học ở các
• Quảng cáo: Tạp chí nhận đăng quảng cáo với số lượng hạn chế
về các sản phẩm hoặc thông tin liên quan tới khoa học kỹ thuật
Trang 27Về định lí cuối cùng của Fermat
và Andrew Wiles
Nguyễn Quốc Thắng (Viện Toán học)
LTS: Mục này nhằm giới thiệu những sự kiện nổi
bật trong toán học hoặc giới thiệu các hướng
nghiên cứu trong và ngoài nước Tác giả bài viết
tốt nghiệp ĐHTH Minsk năm 1980 Anh đã sang
Canada làm Master, được đặc cách Master và
chuyển thẳng lên làm Ph.D tại đó và bảo vệ luận
án tại đó năm 1994 về Đại số Anh vừa trở về sau
chuyến đi cộng tác khoa học 1 năm ở Israel
Như nhiều người trong chúng ta đã
biết rằng ``cuối cùng” định lí cuối cùng
của Fermat, được đặt ra cách đây hơn
350 năm, đã được chứng minh một cách
chặt chẽ, khẳng định rằng phương trình
(1) x n + y n = z n , xyz ≠ 0, n ≥ 3,
không có nghiệm nguyên (x,y,z) Do
được phát biểu đơn giản và do trên con
đường tìm tòi giải quyết nó đã sinh ra
nhiều hướng toán học, bài toán trở thành
bài toán nổi tiếng nhất trong toán học
Đã có nhiều bài báo tổng quan, cả
chuyên môn lẫn không chuyên, đề cập
đến lịch sử của định lí này, cách chứng
minh, phương hướng và triển vọng phát
triển của những vấn đề có liên quan
Gần đây đã có hàng loạt sách chuyên
khảo dành cho chuyên gia trong lĩnh vực
lí thuyết số và hình học đại số trình bày
chi tiết những lí thuyết hiện đại của toán
học có liên quan đến bài toán Fermat và
lời giải của Andrew Wiles với sự cộng
tác của một học trò cũ của anh là
Richard Taylor Tuy nhiên có một vài tư
liệu hay liên quan đến định lí Fermat và
Wiles có lẽ chưa được biết đến rộng rãi
mà người viết bài này muốn chia sẻ với
bạn đọc
Andrew Wiles sinh ra tại thành phố
Cambridge, Vương quốc Anh, ngày 11
tháng 4 năm 1953 Lúc học phổ thông,
một hôm hoàn toàn tình cờ, anh vớ được
một cuốn sách về số học nói về định lí cuốí cùng của Fermat Thế là từ đó định
lí Fermat đeo đuổi anh suốt quãng đời niên thiếu và trưởng thành Cũng như mọi thanh thiếu niên say mê toán trên trái đất này, anh đã thử tìm lời giải của bài toán tưởng chừng đơn giản nhưng lại cực kì hóc búa này Song lời giải luôn tuột khỏi anh và điều đó lại càng làm cho anh say mê nó Và anh cũng sớm nhận ra rằng để có được lời giải của bài
toán đó cần phải có một kiến thức sâu rộng về lí thuyết số và những ngành liên
quan Năm 1971 anh vào học tại trường
ĐHTH Oxford nổi tiếng của Anh quốc, tại Merton College và tốt nghiệp năm
1974 Cùng năm đó anh vào học tại Clare College của ĐHTH Cambridge và nhận bằng Tiến sĩ (Ph.D.) tại đó năm
1977 Trong thời gian làm nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của giáo sư John Coates, anh đã nhận được những kết quả rất độc đáo và sâu sắc về số học của
đường cong elliptic, trong khuôn khổ của một chương trình rộng lớn liên quan
đến giả thuyết của Birch và Dayer Những kết quả đó đã được đăng năm 1977 trong một bài báo viết chung
Swinnerton-với J Coates trong Inventiones Mathematicae, một trong những tạp chí
có uy tín lớn nhất trong giới toán học
Từ năm 1977 đến 190 anh là nghiên cứu viên (Junor Research Fellow) tại Clare College và có hàm Trợ lí giáo sư mang tên Benjamin Peirce tại trường
ĐHTH Harvard nổi tiếng của Mỹ Năm
1981 anh là giáo sư thỉnh giảng tại Sonderforschungsbereich: Theoretische Mathematik (Phòng nghiên cứu đặc biệt
về toán lí thuyết) của ĐHTH Bonn (CHLB Đức) và sau đó là thành viên của
Trang 28Institute for Advanced Study (Học viện
nghiên cứu cấp cao) tại Princeton (Mỹ),
một trong những viện nghiên cứu có uy
tín lớn nhất trên thế giới Năm 1982 anh
trở thành giáo sư chính thức tại ĐHTH
Princeton và mùa xuân năm đó anh là
giáo sư thỉnh giảng tại ĐHTH Paris 11,
Orsay (Pháp) Với học bổng
Guggenheim anh đã đến nghiên cứu tại
Institut des Hautes Etudes Scientifiques
và Ecole Normale Superieure (1985 -
1986) (Pháp) Từ 1988 đến 1990 anh giữ
hàm giáo sư nghiên cứu của Hội Khoa
học Hoàng gia và năm 1989 được bầu
làm thành viên của Hội khoa học nổi
tiếng này Năm 1994 A Wiles được bầu
làm thành viên của American Academy
of Arts and Sciences (Viện Hàn lâm các
khoa học và nghệ thuật của Mỹ) và giữ
hàm giáo sư mang tên Higgins tại
ĐHTH Princeton
Sau khi giải quyết được bài toán
Fermat, tài năng của anh được thế giới
biết đến và công nhận một cách rộng
rãi Anh được trao hàng loạt giải thưởng
khoa học danh tiếng như Schock Prize
(1995), Wolf Prize (1995), Ostrowski
Prize (1996), Commonwealth Award
(1996), National Academy of Sciences
Award (1996), Cole Prize in Number
Theory (1997), Wolfskehl Prize (1997),
King Faisal International Prize in
Science (1998)
Điểm lại những công trình của A
Wiles (tính đến ngày 9/3/1998, toàn bộ
bao gồm 18 công trình) ta thấy anh viết
không nhiều song có thể nói hầu như
mỗi công trình của anh (hoặc cùng viết
chung với các nhà toán học khác) đều
mang tính chất nền tảng và là lời giải có
tính triệt để cao của những giả thuyết,
bài toán cơ bản quan trọng nhất của lý
thuyết số hiện đại
Nhiều người làm toán chúng ta đều
biết rằng rất nhiều bài toán, giả thuyết
mà chúng ta đang quan tâm giải quyết
được coi như là trường hợp riêng của
những bài toán, giả thuyết tổng quát
hơn, bao trùm hơn Suy nghĩ của
Wiles luôn hướng về những lời giải như
vậy Vì thế mỗi công trình đã ra của
Wiles đều được đăng trong những tạp chí có uy tín nhất Ví dụ như anh đã
đăng 6 bài báo trong Annals of Mathematics, 4 bài báo trong Inventiones Mathematicae (mà mọi
người trong chúng ta đều tự hào nếu như
có một bài báo đăng trong các tạp chí
đó) Điều quan trọng hơn cả là Wiles luôn tìm ra lời giải của những bài toán,
giả thuyết then chốt nhất, sâu sắc nhất
trong lý thuyết số hiện đại Vì vậy trước ngưỡng cửa của lời giải cho bài toán Fermat, A Wiles đã được trang bị bằng những kỹ thuật tinh tế nhất của lý thuyết Iwasawa (anh đã chứng minh giả thuyết Iwasawa năm 1990) trong lý thuyết số học các trường cyclotomic (chia đường tròn), lý thuyết các dạng modular, lý thuyết biểu diễn nhóm Galois và lý thuyết biểu diễn p-adic Cho nên có thể
nói A Wiles đã kết hợp được nhuần nhuyễn và cực kì sáng tạo tất cả những tinh hoa của toán học thế kỉ 20 để giải quyết bài toán Fermat
Bây giờ chúng ta điểm lại vài nét chính trong lịch sử chứng minh định lí Fermat Như chúng ta đã biết Fermat viết vào lề một quyển sách số học rằng
ông tìm ra lời giải cho bài toán (1) song không có chỗ để viết vào Lịch sử toán học đã chứng tỏ rằng Fermat đã chứng minh được định lí cuối cùng của mình
cho trường hợp n = 4 bằng cách xây
dựng lí thuyết đường cong elliptic Song không có mối liên hệ hiển nào giữa
đường cong elliptic và phương trình Fermat (1) bậc cao hơn, nên đường cong elliptic đã không đóng một vai trò nào trong 350 năm sau đó trong việc chứng minh định lí Fermat
Nhà toán học Pháp Y Hellegouarch trong bài báo đăng trong Acta Arithmetica (1974) đã là người đầu tiên trong suốt thời gian đó tìm ra một số liên hệ giữa định lí Fermat và đường cong elliptic Tuy nhiên mãi đến năm
1987 G Frey đã giả định và mô tả rằng
nếu (a,b,c) với abc ≠ 0, n ≥ 3 là nghiệm của a n + b n = c n , thì đường cong elliptic
y 2 =x(x - a n )(x + b n ) là không modular
Trang 29Điều đó trái với giả thuyết
Shimura-Taniyama (một trong những giả thuyết
sâu sắc và quan trọng nhất của lí thuyết
số hiện đại, nói rằng mọi đương cong
elliptic đều là modular) Sau đó Serre
(1985-1986) đã đưa ra một giả thuyết
đóng vai trò quan trọng trong việc
chứng minh địng lí Fermat J.-P Serre
đã nêu ra (và cùng với J F Mestre kiểm
tra trên một số ví dụ cụ thể) một giả
thuyết về dạng modular và biểu diễn
Galois modulo p Nói riêng Serre đã
chứng minh rằng một trường hợp riêng
của giả thuyết đó, gọi là giả thuyết
Epsilon cùng với giả thuyết
Shimura-Taniyama sẽ kéo theo Định lí Fermat
Ngay cùng năm đó (1986), K Ribet,
một trong những nhà toán học Mỹ nổi
tiếng, dựa trên ý tưởng của Mazur đã
chứng minh được giả thuyết Epsilon của
Serre Thực ra, K Ribet còn gặp khó
khăn trong một chỗ mấu chốt Tuy
nhiên trong một buổi trao đổi giữa ông
ta với Mazur trong một tiệm cà phê sinh
viên tại ĐH Berkeley, Mazur chỉ ra rằng
lí thuyết của Ribet đủ để giải quyết
điểm then chốt đó
A Wiles sau khi nghe tin giả thuyết
Epsilon đã được chứng minh đã hiểu
ngay rằng “cán cân lực lượng” đã
nghiêng hẳn về những phương pháp có
liên quan đến giả thuyết
Shimura-Taniyama Về sau anh tâm sự rằng từ
thời điểm đó trở đi cả cuộc đời anh thay
đổi hẳn "Tôi không muốn nó tuột khỏi
tay tôi lần nữa” Từ lúc đó A Wiles đã
đề ra một chương trình để chứng minh
giả thuyết Shimura-Taniyama cho các
đường cong elliptic nửa ổn định - và
``chỉ cần” thế là có thể chứng minh định
lí Fermat
Cùng trong thời gian đó, Kolyvagin
và Rubin đã độc lập phát triển một lí
thuyết gọi là hệ Ơle Nhiều nhà toán học
đã đánh giá phát kiến này có tính chất
cách mạng trong lí thuyết số học hiện
đại nói chung và số học đường cong
elliptic nói riêng Một cách tự nhiên,
thoạt đầu A Wiles cũng thử áp dụng kĩ
thuật của lí thuyết Iwasawa để chứng
minh định lí Fermat Tuy nhiên có một
vài cản trở trong trường hợp nghiên cứu
các biểu diễn l-adic với l = 2 Đồng thời
lại nảy sinh một số vấn đề liên quan đến giao đầy đủ trong Đại số giao hoán, nên khi nghiên cứu mở rộng phương pháp của M Flach - một trong những bước then chốt tiếp theo trong chương trình chứng minh của mình - anh quyết định
áp dụng lí thuyết hệ Ơle Đến mùa hè
1993, mọi việc dường như đã đâu vào
đấy Ngày 23/6/1993, trong phút cuối cùng của bài giảng thứ 3 của mình tại Isaac Newton Institute for Mathematical Sciences (Viện Toán học mang tên Niutơn) tại Cambridge, A Wiles chậm
rãi viết trên bảng một hệ quả: Định lí Fermat được chứng minh
Ngay sau đó cả thế giới toán học và
đại chúng hân hoan chào đón tin mừng này Phần lớn tin tưởng vào sự đúng đắn của chứng minh, nhưng một số do thận trọng vẫn tỏ ý hoài nghi A Wiles đã gửi bài báo với các chứng minh chi tiết
đến tạp chí Inventiones Mathematicae
đã nêu ở trên Đồng thời anh gửi cho người bạn thân của mình Nicolas Katz
và là một nhà toán học Mỹ có uy tín tại Princeton một bản thảo dày cộp để lấy ý kiến Trong suốt hai tháng hè 7-8/1993, Katz ngồi đọc bản thảo của Wiles, kiểm tra lại từng câu, từng chữ Thỉnh thoảng
ông ta e-mail lại cho Wiles yêu cầu giải thích rõ những chi tiết chưa được viết ra, hoặc những luận điểm chưa sáng tỏ Sau khi Wiles trả lời, mọi việc xem ra suôn
sẻ, Song đến một hôm, Katz yêu cầu giải thích những kết quả liên quan đến
hệ Ơle mà Wiles xây dựng mà ông cho
là chưa chặt chẽ, thậm chí không tồn tại! Wiles trả lời rằng như thế, , như thế, song sau mỗi lần trả lời Katz lại viết : ``tôi vẫn không hiểu!” Đến lần thứ ba thì Wiles thấy quả thực có vấn đề Và thế là đến mùa thu năm 1993, Wiles nhận thấy rằng việc sử dụng hệ Ơle (để
mở rộng phương pháp Flach) là chưa
đầy đủ, và có thể là sai Một số nhà toán học khác như Luc Illusie cũng nhận ra vấn đề tương tự Tin đồn, tiếng bàn tán xì xào lại loang ra, và không ít người đã nghĩ là phải bắt đầu lại từ đầu Nhiều
Trang 30người muốn hỏi, chất vấn Wiles về sự
thực của vấn đề nhưng Wiles hoàn toàn
Đầu năm 1994, trước đòi hỏi của dư
luận, A Wiles có gửi e-mail ngắn trên
Tuy nhiên, cho đến khi kết thúc khoá
cao học, mặc dầu có một số tiến bộ
trong việc cải tiến phép chứng minh,
Wiles vẫn chưa tìm ra lối thoát Anh
viết: `` tôi vẫn chưa suy nghĩ lại về
cách tiếp cận ban đầu mà tôi đã gác lại
chữa lại luận điểm sai trong việc dùng
hệ Ơle Đến xuân-hè 1994, sau khi thấy
việc sửa chữa không có kết quả, Wiles
cùng Taylor bắt đầu quay lại cách tiếp
cận cũ của Wiles và cố nghĩ ra luận
điểm mới cho trường hợp l = 2 Đến
tháng 8/1994 họ gặp phải trở ngại không
vượt qua nổi
Không hoàn toàn tin tưởng rằng
phương pháp hệ Ơle là không sửa được,
Taylor đã quay về Cambridge cuối 8/94
Tháng 9/1994, Wiles quyết định xem lại
lần cuối cách tiếp cận cũ để tìm ra điều
gì là cản trở chủ yếu Bằng cách đó,
ngày 19/9/1994 “tôi - Wiles viết - đã
thấy loé lên tia sáng là nếu mở rộng lí
thuyết của de Shalit thì có thể dùng nó cùng với đối ngẫu ” cho các vành Hecke Và thế là Wiles đã tìm ra cách giải quyết cho điểm mấu chốt cho cách giải mà anh gác lại mấy năm trước Sau khi thông báo điều đó cho Taylor, hai người lại hợp sức tiến hành nghiên cứu chi tiết phát kiến này và đã hoàn thành bước quyết định còn thiếu, sau đó được công bố trong bài báo viết chung [TW]
về một số tính chất của vành Hecke Và thế là Định lí Fermat được chứng minh hoàn toàn chặt chẽ và được công bố trong bài báo [W]
Nếu ai đó đã xem buổi phỏng vấn [B] trên TV của BBC tháng 11/1997 hẳn cũng phải cảm động khi thấy A Wiles thoạt đầu, do quá xúc động, đã rơm rớm nước mắt không nói nên lời nào khi
được yêu cầu kể lại những giai đoạn của việc giải quyết Bài toán FERMAT Các bạn thấy đấy nhà toán học đâu phải hoàn toàn khô khan, và làm toán
đâu phải không đem lại cảm xúc mãnh liệt
Tài liệu tham khảo
[B] BBC: The Last Theorem of Fermat,
November 1997
[TW] R Taylor and A Wiles, theoretic properties of certain Hecke algebras, Annals of Mathematics
Ring-141(1995), 553-572
[W] A Wiles, Modular elliptic curves and Fermat’s last Theorem, Annals of
Mathematics 141(1995), 443-551 [W1] A Wiles, C V.,
http://www.math.princeton.edu [W2] A Wiles, Bibliography, http://www.math.princeton.edu
Trang 31Mười bài học
cho những người
làm toán?
Gian-Carlo Rota
LTS: Trong mục này chúng tôi sẽ đăng tải
những trao đổi về việc học, làm và giảng dạy
toán học Để mở đầu mục này chúng tôi xin
trân trọng giới thiệu ý kiến của một nhà toán
học Mỹ thông qua lời dịch và giới thiệu của
GS-TS Ngô Việt Trung.
Lời giới thiệu: Gian-Carlo Rota là
một trong những nhà toán học Mỹ
hàng đầu hiện nay Ông là giáo sư về
toán học ứng dụng và triết học ở Học
viện công nghệ Massachussett (MIT)
và là trưởng ban biên tập của tạp chí
Advances in Mathematics, một trong
những tạp chí danh giá nhất của nền
toán học thế giới Vừa qua ông đã
trình bày những kinh nghiệm của ông
về "nghề toán" trong một bài phát biểu
với tên gọi: Mười bài học tôi ước đã
được người ta dạy cho biết trước đây
(Ten lessons I wish I have been
taught) Bài phát biểu của Rota đã gây
ra một cuộc tranh luận sôi nổi trong
những nhà toán học Mỹ vì nhiều bài
học không tuân theo lối suy nghĩ thông
thường Tôi hy vọng rằng bản dịch sau
phản ánh được những điều Rota muốn
truyền đạt (Ngô Việt Trung)
1 Giảng bài
Bốn yêu cầu sau cho một bài
giảng hay không phải là hiển nhiên đối
với mọi người nếu tôi nghĩ đến các bài
giảng tôi đã được nghe 40 năm qua
a Mỗi một bài giảng chỉ nên có một
chủ đề
Nhà triết học Đức Hegel từng nói
rằng một nhà tiết học hay dùng từ "và"
không phải là một nhà triết học giỏi
Tôi cho rằng ông ta nói đúng, ít nhất là
đối với các bài giảng Mỗi một bài giảng chỉ nên nêu lên một chủ đề và nhắc lại nó liên tục giống như một bài hát có nhiều lời Người nghe cũng giống như một đàn bò chuyển động một cách chậm chạp theo hướng được dẫn đi Nếu ta chỉ nêu một chủ đề thì
ta có cơ may hướng được người nghe theo đúng hướng Nếu ta dẫn theo nhiều hướng thì đàn bò sẽ tán loạn trên
đồng Người nghe sẽ mất hứng thú và mọi người phải quay trở lại chỗ họ đã dừng nghe để có thể tiếp tục theo dõi bài giảng
b Không bao giờ giảng quá giờ
Giảng quá giờ là một lỗi không thể tha thứ được Sau 50 phút (một vi thế kỷ như von Neumann thường nói) thì mọi người sẽ không còn quan tâm
đến bài giảng ngay cả khi ta đang chứng minh giả thuyết Riemann Một phút quá giờ giảng sẽ làm hỏng cả bài giảng hay nhất
c Liên hệ đến người nghe
Khi vào phòng ta phải để ý xem
có ai trong số người nghe mà công trình của người đó có liên quan đến bài giảng Hãy ngay lập tức bố trí lại bài giảng sao cho công trình người ấy
sẽ được đề cập đến Bằng cách này, ta
có ít nhất một người chăm chú theo dõi bài giảng và thêm một người bạn Tất cả mọi người đến nghe bài giảng của ta đều hy vọng một cách thầm kín
là cái mà người giảng bài trông đợi Tôi thường gặp những cựu sinh viên MIT đã từng nghe các bài giảng của
Trang 32tôi Phần lớn họ thú nhận rằng đã
quên nội dung bài giảng và tất cả
những kiến thức toán học mà tôi nghĩ
là đã truyền đạt được cho họ Tuy
nhiên, họ sẽ vui vẻ nhắc lại những câu
đùa tếu, những mẩu chuyện tiếu lâm,
những nhận xét bên lề hay một lỗi nào
đấy của tôi
2 Kỹ thuật bên bảng đen
a Hãy xoá sạch các vết phấn cũ
trên bảng
Một điều rất quan trọng là phải
xoá hết các vết phấn còn sót lại sau khi
lau bảng Bằng cách bắt đầu với một
viết tắt Những người nghe có ghi chép
đã có thiện ý với ta và ta nên giúp họ
ghi chép Khi sử dụng đèn chiếu, ta
nên thêm thời gian giải thích các trang
được chiếu bằng cách đưa ra những lời
bình luận không quan trọng hay nhắc
lại các ý để người nghe có thời gian
chép lại trang được chiếu Tất cả
chúng ta đều rơi vào ảo tưởng rằng
người nghe sẽ có thời gian đọc bản sao
các trang bài giảng ta đưa cho họ sau
khi giảng bài Đó chỉ là ước mong mà
thôi
3 Công bố một kết quả nhiều lần
Sau khi bảo vệ luận án tôi nghiên
cứu giải tích hàm một số năm Tôi
mua Tuyển tập công trình của F Riesz
ngay khi quyển sách to, dày và nặng
này được xuất bản Nhưng khi bắt đầu
lướt xem tôi không thể không nhận
thấy các trang sách rất dày, gần như là
bìa các tông Thật lạ lùng, các bài báo của Riesz đều được in lại với chữ to Tôi thích các bài báo của Riesz vì chúng đều được viết rất đẹp và gây cho người đọc một cảm giác dứt khoát
Khi tôi đọc kỹ cuốn Tuyển tập công trình của Riesz thì một cảm giác khác nổi lên Những người biên tập đã tận dụng in hết mọi thứ nhỏ nhặt mà Riesz đã công bố Rõ ràng là những công trình của Riesz không nhiều Ngạc nhiên hơn là những công trình này được xuất bản nhiều lần Riesz thường công bố một bản thảo còn thô
về một ý tưởng trong một tạp chí không tên tuổi của Hungary Một vài năm sau đó ông gửi đăng một loạt các thông báo trong tờ Comptes Rendus của Viện hàn lâm Pháp với ý tưởng đó
được chi tiết hoá thêm Một vài năm nữa trôi qua và ông sẽ đăng bài báo cuối cùng bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh
Koranyi, người đã theo học Riesz, nói với tôi rằng Riesz thường dạy cùng một chủ đề năm này qua năm khác trong khi suy ngẫm về việc viết bài báo cuối cùng Không đáng ngạc nhiên khi bài báo này rất hoàn hảo
Ví dụ của Riesz xứng đáng được noi theo Giới toán học hiện nay bị chia ra làm nhiều nhóm nhỏ, mỗi một nhóm có những thói quen, những ký hiệu và những khái niệm riêng Vì vậy cần thiết phải trình bày một kết quả dưới nhiều dạng khác nhau, mỗi một dạng có thể sử dụng được cho một nhóm đặc biệt Nếu không thì cái giá phải trả sẽ là việc một người nào đó sẽ phát hiện lại kết quả của ta với một ngôn ngữ và những ký hiệu khác và họ
sẽ có lý khi khẳng định rằng kết quả
đấy là của họ
4 Anh chắc sẽ được nhớ đến bởi các bài báo tổng quan của anh
Trang 33Chúng ta hãy xét hai ví dụ, bắt
đầu với Hilbert Khi nhắc đến Hilbert,
chúng ta nghĩ đến một số định lý nổi
tiếng của ông như Định lý cơ sở của
Hilbert Nhưng tên của Hilbert thường
được nhớ đến bởi công trình Tổng
quan số học (Zahlbericht) hay cuốn
sách Cơ sở hình học hay giáo trình của
ông về những phương trình tích phân
Tên gọi "không gian Hilbert"
được đưa ra bởi Stone và von
Neumann để ghi nhận giáo trình của
Hilbert về những phương trình tích
phân mà trong đó từ "phổ" được định
nghĩa lần đầu tiên, ít nhất là 20 năm
trước khi môn Cơ học lượng tử ra đời
Giáo trình này gần như là một bài tổng
quan được dựa theo các công trình của
Hellinger và nhiều nhà toán học khác
mà tên họ ngày nay đã bị lãng quên
Tương tự, cuốn Cơ sở hình học là
cuốn đã làm cho tên tuổi Hilbert quen
thuộc với mọi người làm toán không
chứa một công trình gốc nào của ông
và đã gặt hái kết quả những công trình
của nhiều nhà hình học như Kohn,
Schur, Wiener (không phải là Schur và
một bài báo tổng quan mà tờ báo
Bulletin của Hội toán học Đức đặt cho
Hilbert viết
William Feller là một ví dụ khác
Feller được nhớ đến như là tác giả của
cuốn sách hay nhất về xác xuất Rất ít
người làm xác xuất hiện nay có thể
nêu lên tên một công trình nghiên cứu
của Feller Phần lớn mọi người còn
không biết rằng Feller vốn nghiên cứu
hình học lồi
Hãy cho phép tôi đi lạc đề với một
hồi tưởng cá nhân Thỉnh thoảng tôi có
công bố trong một nhánh triết học
được gọi là khoa học hiện tượng (phenomenology) Sau khi công bố bài báo đầu tiên trong môn này, tôi rất bực mình khi người ta nói với tôi tại một hội nghị của Hội khoa học hiện tượng
và triết học tồn tại (existential philosophy) một cách úp mở rằng mọi
điều tôi viết trong bài báo đều đã được biết và tôi bị buộc phải xem lại tiêu chuẩn công bố của mình trong môn khoa học hiện tượng
Một chuyện nữa là những công trình cơ sở của môn khoa học hiện tượng được viết bằng ngôn ngữ triết học Đức rất nặng nề Theo truyền thống thì không có ví dụ minh họa về những điều được bàn Một hôm tôi quyết định công bố với một chút nghi ngại một bài báo thật ra là một bài viết lại một vài đoạn từ một cuốn sách của Husserl cộng thêm một vài ví dụ Tại hội nghị tiếp theo của Hội khoa học hiện tượng và triết học tồn tại, tôi đang chờ đợi điều xấu nhất có thể xẩy ra thì một nhà khoa học hiện tượng hàng đầu xông đến tôi với một nụ cười trên môi
Ông ta ca ngợi bài báo của tôi hết lời
và khuyến khích tôi phát triển tiếp những ý tưởng mới mẻ và độc đáo của bài báo đó
5 Mỗi một nhà toán học chỉ có một vài mẹo
Cách đây đã lâu một nhà số học già nổi tiếng đã đưa ra một số nhận xét chê bai các công trình của Erdos Tôi khâm phục sự đóng góp của Erdos cho toán học và cảm thấy bực mình khi nhà toán học già đó nói một cách khẳng định rằng tất cả các công trình của Erdos có thể rút gọn về một vài mẹo mà Erdos đã luôn dựa vào chúng trong các chứng minh Điều mà nhà số học đó không nhận thấy là những nhà toán học khác, kể cả những người giỏi nhất, cũng dựa vào một vài mẹo mà họ
sử dụng lần này đến lần khác Hãy xem Hilbert Quyển hai của Tuyển tập
Trang 34các công trình của Hilbert chứa những
bài báo của của Hilbert về lý thuyết
bất biến Tôi quyết tâm đọc kỹ một số
bài báo này Thật buồn là một số kết
quả đẹp của Hilbert đã bị rơi vào quên
lãng Nhưng khi đọc những chứng
minh của Hilbert cho một số định lý
sâu sắc trong lý thuyết bất biến, tôi
ngạc nhiên thấy rằng những chứng
minh này đều sử dụng một số mẹo
giống nhau Như vậy Hilbert cũng chỉ
có một vài mẹo!
6 Đừng lo về những lỗi
Một lần nữa tôi lại bắt đầu với
Hilbert Khi những người Đức định
xuất bản Tuyển tập công trình của
Hilbert và tặng ông một bộ nhân dịp
một ngày sinh nhật sau này của ông
thì họ nhận thấy rằng họ không thể
công bố những bài báo dưới dạng ban
đầu vì chúng chứa quá nhiều lỗi, trong
đó có những lỗi rất trầm trọng Vì vậy
họ đã thuê nhà toán học (nữ) đang thất
nghiệp Olga Taussky-Todd xem lại
các bài báo của Hilbert và chữa tất cả
các lỗi Olga đã làm việc này trong ba
năm và mọi lỗi đều đã sửa được mà
không cần thay đổi lắm nội dung các
định lý Chỉ có một ngoại lệ là một bài
báo được Hilbert viết khi ông đã có
tuổi là không thể sửa nổi Đó là một
chứng minh cho giả thuyết Continuum
được công bố trong tờ Mathematische
Annalen đầu những năm ba mươi
Cuối cùng thì Hilbert đã được trao cho
một bản in Tuyển tập công trình mới
tinh nhân ngày sinh nhật Hilbert đã
giở ra xem kỹ lưỡng và không phát
hiện ra điều gì
Có hai loại lỗi Loại lỗi chí tử sẽ
phá tan toàn bộ lý thuyết, còn loại lỗi
bất trắc sẽ có ích khi kiểm tra tính
nó có giúp gì cho từng vấn đề của anh không Thể nào cũng có lúc anh gặp may và mọi người sẽ nói "Làm thế nào anh ta đã giải quyết được vấn đề đó? Chắc anh ta là một thiên tài!"
8 Hào phóng khi trích dẫn
Tôi luôn luôn phật lòng khi đọc một bài báo mà tôi cảm thấy rằng tôi không được trích dẫn như phải có Có thể khẳng định rằng điều này cũng
đúng với mọi người Một hôm tôi đã làm thử một thí nghiệm Sau khi viết một bài báo tương đối dài, tôi bắt tay làm một bản nháp toàn bộ các trích dẫn Khi đó tôi bỗng quyết định trích dẫn một số bài báo không liên quan tí gì đến nội dung bài báo của tôi để xem
điều gì sẽ xảy ra
Thật bất ngờ tôi nhận được thư của hai tác giả mà các bài báo của họ không liên quan gì với bài báo của tôi Cả hai thư đều được viết với một giọng xúc động Cả hai tác giả đều chúc mừng tôi là người đầu tiên đã công nhận sự đóng góp của họ trong lĩnh vực đó
9 Viết lời giới thiệu nhiều thông tin
Ngày nay ít người đọc một bài báo từ đầu đến cuối Nếu ta muốn người khác đọc bài báo của ta thì ta phải cung cấp cho họ những động cơ thuyết phục Một lời giới thiệu dài và lan man tóm tắt lịch sử vấn đề, trích dẫn đầy đủ sự đóng góp của mọi người
và mô tả lôi cuốn nội dung bài báo sẽ góp phần thu hút một số người đọc
Trang 35Là một biên tập viên của tạp chí
Advances in Mathematics tôi thường
gửi các bài báo lại cho tác giả yêu cầu
họ viết dài hơn Một lần tôi nhận được
thư trả lời từ một tác giả nói rằng cũng
bài báo đó đã bị tạp chí Annals of
Mathematics từ chối vì lời giới thiệu
quá dài
10 Hãy chuẩn bị cho tuổi già
Ông bạn Ulam đã quá cố của tôi
thường nhận xét rằng cuộc sống của
ông bị chia rõ rệt làm hai phần ở
phần đầu ông luôn luôn là người trẻ
nhất trong nhóm, còn ở phần thứ hai
ông luôn luôn là người già nhất mà
không có giai đoạn chuyển tiếp
Bây giờ thì tôi thấy Ulam đã nhận xét
rất đúng Tuổi già hình như không đến
dần dần và ta chấp nhận nó một cách
khó khăn Điều này phụ thuộc vào một
nhận thức cơ bản và ta cần có thời gian làm quen với nó Ta phải hiểu rằng
đến một tuổi nào đó ta không còn
được coi là một cá nhân nữa Ta sẽ trở thành một thể chế (institution), và ta sẽ
được đối xử như người ta đối xử với một thể chế Họ mong đợi ta sử sự như một đồ vật cổ hay như một kỳ quan kiến trúc
Việc ta có còn viết bài hay không không còn quan trọng nữa Nếu bài báo của ta không tốt, thì họ sẽ nói
"Anh mong đợi gì nữa? Ông ta đã chai sạn mất rồi!'" Còn nếu một bài báo nào đó của ta trở nên thú vị thì họ sẽ nói "Anh mong đợi gì khác? Ông ta cả cuộc đời đã nghiên cứu cái này rồi!" Phản ứng tế nhị duy nhất là nên vui vẻ
đóng vai trò mới của anh như là một thể chế
Tài trợ nghiên cứu, Học bổng
Viện Toán học thông báo có hai học bổng ba năm 1998 - 2000 cho nghiên cứu sinh về
chuyên ngành Tối ưu của Viện như sau:
1 Học bổng UNISOFRA, do Hội Universites-Solidarite-Francophone ở Pháp cấp
trong 3 năm, mỗi năm 1200 USD, bắt đầu từ 1998 Học bổng này dành cho nghiên cứu sinh làm luận án về ngành tối ưu, dưới sự đồng hướng dẫn của GS Hoàng Tụy và một giáo sư tin học Pháp
2 Học bổng T&C, do Công ty T&C cấp, trong 36 tháng, mỗi tháng 1 500 000 đồng
Người nhận học bổng này sẽ tham gia làm việc mỗi tuần 3 buổi tại công ty nói trên về
đề tài trong lĩnh vực toán và tin học ứng dụng
Nghiên cứu sinh nào quan tâm cần gửi đơn đến Viện Toán học trước ngày 1/5/1998
Để được xét cấp các học bổng nói trên cần dự thi và đạt kết quả cao trong kì thi tuyển nghiên cưú sinh ngành Toán do Bộ Đại học và Giáo dục tổ chức vào tháng 5 năm nay
Trang 36Hội thảo
"Một số vấn đề về Tính toán khoa học"
Nguyễn Hữu Điển (Viện Toán học)
Viện Toán học đã phối hợp với Viện Cơ
học, Viện Công nghệ Thông tin, Đại học
Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Vinh,
và University of Heidelberg (CHLB Đức)
tổ chức Hội thảo "Một số vấn đề về Tính
toán khoa học" (Workshop "Some
Problems on Scientific Computing") tại Hà
Nội vào các ngày 18ư20/3/1998 Hội thảo
nhằm mục đích liên kết các nhà khoa học
Việt Nam có nghiên cứu trong lĩnh vực
Tính toán khoa học hoặc có quan tâm đến
hướng khoa học liên ngành này Các chủ
đề chính của Hội thảo: Môi trường, Mô
phỏng cơ học, Vận trù học, Tính toán song
song Có 4 nhà khoa học Đức tham gia hội
thảo này Ngôn ngữ chính thức tại Hội
thảo: tiếng Việt, tiếng Anh
Ban Chương trình: PGS TS Phạm Kỳ
Anh (Đại học Quốc gia Hà Nội), Prof Dr
Hans Georg Bock (University of
Heidelberg, CHLB Đức), GS TS Ngô Huy
Cẩn (Viện Cơ học), GS TS Nguyễn Văn
Điệp (Viện Cơ học), PTS Bùi Văn Đức
(Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn), GS TS
Đinh Dũng (Viện Công nghệ Thông tin),
PGS PTS Trịnh Quang Hoà (Đại học Thuỷ
lợi), PGS TS Đinh Thế Lục (Viện Toán
học), GS TS Hoàng Xuân Phú (Viện Toán
học, Trưởng ban), Prof Dr Gerhard
Reinelt (University of Heidelberg, CHLB
Đức), Prof Dr Johannes Peter Schlửder
(University of Heidelberg, CHLB Đức),
GS TS Nguyễn Khoa Sơn (Viện Toán
học), TS Nguyễn Thanh Sơn (Đại học
Quốc gia Tp Hồ Chí Minh), PGS PTS
Dương Văn Tiển (Đại học Thuỷ lợi), GS
TS Trần Đức Vân (Viện Toán học)
Ban Tổ chức: Phan Thành An (Đại học
Vinh), PTS Nguyễn Hữu Điển (Viện Toán
học), GS TS Hoàng Xuân Phú (Viện Toán
học), PTS Tạ Duy Phượng (Viện Toán
học), PTS Lê Công Thành (Viện Toán
học), PGS PTS Nguyễn Đông Yên (Viện
Toán học, Trưởng ban)
Các cơ quan tài trợ: DaimlerưBenzưStiftung, Đại học Giao thông Vận tải, Đại học Vinh, Đề tài Khoa học cơ bản về Cơ học cấp Nhà nước, Hội
đồng ngành Toán thuộc Hội đồng Khoa học Tự nhiên, Khoa Công nghệ Thông tin
ư Đại học Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh, Khoa ToánưCơưTin học ư ĐHKHTN ư
ĐHQG Hà Nội, Khoa ToánưTin ứng dụng
ư ĐHBK Hà Nội, Đề tài "Các phương pháp số trong thống kê và xử lý thông tin" (Chương trình Nghiên cứu Cơ bản, Phân viện Các vấn đề Toán học của Công nghệ Thông tin, Viện Công nghệ Thông tin), Viện Công nghệ Thông tin, Viện Toán học
Có 116 đại biểu Việt Nam và 4 đại biểu nước ngoài (trong số 140 người đăng ký)
đã đến dự Hội thảo
Tại buổi lễ khai mạc Hội thảo sáng ngày 18/ 3/1998, ngoài 120 đại biểu của Hội thảo còn có một số vị khách mời: GS
TS Đặng Vũ Minh - Giám đốc Trung tâm KHTN & CN Quốc gia, PGS PTS Trịnh Quang Khuynh - Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ô Đậu Sĩ Thái - Phó Vụ trưởng
Vụ Hợp tác Quốc tế (Trung tâm KHTN &
CN Quốc gia), GS TS Nguyễn Minh Chương, GS TS Phan Đình Diệu, PGS-PTS Nguyễn Văn Hộ - Chủ nhiệm Khoa Toán Tin ứng dụng (ĐHBK Hà Nội), PTS Lê Hải Khôi - Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, PGS PTS Đặng Huy Ruận
- Chủ nhiệm Khoa Toán Cơ Tin học và ứng dụng (ĐHKHTN, ĐHQG Hà Nội), GS
TS Phạm Hữu Sách, GS Hoàng Tụy, GS
TS Đỗ Long Vân - Chủ tịch Hội THVN,
GS TS Trần Đức Vân - Viện trưởng Viện Toán học
Sau lời khai mạc của GS TS Hoàng Xuân Phú, Hội thảo đã nghe các bài phát biểu của GS TS Đặng Vũ Minh, GS TS
Trang 37Trần Đức Vân, và của GS TS Hans Georg
Bock (Giám đốc Trung tâm IWR,
University of Heidelberg, CHLB Đức)
PGS PTS Nguyễn Đông Yên đọc danh
sách các đơn vị đã tài trợ cho Hội thảo
Trong hai ngày 18 và 19/3 Hội thảo đã
nghe các báo cáo toàn thể sau đây:
1 Hans Georg Bock: Simulation tools and
parallel optimization methods for
differential algebraic equations with
applications to mechanical systems in
robotics and vehicle dynamics
2 Nguyễn Hữu Công (ĐHQG Hà Nội):
Parallel numerical methods of RK and
RKN type for ODEs
3 Trịnh Quang Hòa, Dương Văn Tiển,
Hoàng Minh Tuyển (Đại học Thuỷ lợi):
Nhận dạng lũ sông Hồng trong điều hành
hồ Hòa Bình chống lũ hạ du
4 Johannes Peter Schlửder: Parallel
numerical methods for parameter
estimation and optimum experimental
design in differential algebraic equations
5 Nguyễn Quý Hỷ, Nguyễn Văn Hữu,
Phạm Kỳ Anh, Nguyễn Đình Hóa (ĐHQG
Hà Nội), Trần Cảnh (ĐH Xây dựng Hà
Nội): On optimal controlling a system of
populations and an application to green
covering the waste lands and bare hills
6 Gisbert zu Putlitz (University of
Heidelberg, CHLB Đức): Muonium
7 Đặng Hữu Chung (Viện Cơ học):
Numerical simulation of fluid mud layer
under current and waves in estuaries and
coastal areas
8 Gerhard Reinelt: Combinatorial
optimization and integer programming in
practice
9 Đặng Quang á, Nguyễn Công Điều
(Viện Công nghệ Thông tin): Monotone
difference schemes for solving some
problems of air pollution
Chiều ngày 18/3 và 19/3 các đại biểu đã
nghe 33 báo cáo trình bày tại 3 tiểu ban
Tối ngày 19/3 các đại biểu cùng dự buổi
liên hoan Hội thảo tại Nhà hàng Nghĩa
Đô GS Trần Mạnh Tuấn - Phó Giám đốc
Trung tâm KHTN & CN Quốc gia - đã tới
dự Ngày 20/3 các đại biểu đi thăm Nhà
máy Thủy điện Hoà Bình Ông Vũ Đức
Quỳnh, Giám đốc Nhà máy, đã tiếp các
đại biểu của Hội thảo Ông Giám đốc đã giới thiệu về quá trình xây dựng Nhà máy, cho biết các vấn đề gặp phải trong quá trình vận hành công trình thuỷ điện lớn này, và trả lời nhiều câu hỏi của các đại biểu
Sau đây là danh sách các báo cáo tại các tiểu ban (mỗi báo cáo được trình bày trong
20 phút)
Tiểu ban A:
1 Võ Văn Tuấn Dũng, Trần Vũ Thiệu
(Viện Toán học): Một số bài toán tối ưu thực tế
2 Trần Văn Hoài, Nguyễn Thanh Sơn
(ĐH Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh): MPI trên mạng cục bộ và ứng dụng trong tính toán
3 Lê Dũng Mưu (Viện Toán học):
Convex-concave programming and its application to optimizing water distribution networks
4 Phạm Hồng Quang (Viện Toán học):
On mathematical models for solving some problems in computer drafting system for weather forecast.
5 Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Tuấn Anh
(ĐH Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh): ứng dụng hệ thống xử lý song song để giải quyết bài toán thấm
6 Nguyễn Thanh Sơn, Đặng Trần Khánh
(ĐH Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh): Xây dựng công cụ hỗ trợ cho lập trình song song trên hệ thống phân bố
7 Nguyễn Hải Thanh (ĐH Nông nghiệp
I): An interative method for solving the multi-objective balanced transportation problem in a fuzzy environment
8 Trần Hùng Thao (Viện Toán học):
Genetic algorithms applied to filtering
9 Hồ Đức Việt (Tỉnh uỷ Quảng Ninh),
Đào Kiến Quốc, Phạm Trọng Quát, Nguyễn Ngọc Cương (ĐH Quốc gia Hà
Nội): An optimal problem of the queueing theory and its application to dispatchering empty trucks
Tiểu ban B:
1 Bùi Văn Đức (Tổng cục Khí tượng
Thuỷ văn): Khả năng ứng dụng một vài
Trang 38phương pháp vật lý thống kê vào dự báo
thủy văn hạn vừa
2 Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Quý Hỷ,
Nguyễn Văn Hữu, Hà Quang Thụy (ĐH
Quốc gia Hà Nội): Estimating the
correlation of the frequences of
development random variables by the
Monte-Carlo method and its application
to the researches of the relation of the flux
of three rivers
3 Nguyễn Quý Hỷ, Nguyễn Văn Hữu,
Phạm Kỳ Anh, Nguyễn Đình Hoá, Hà
Quang Thụy: On a model of the stochastic
optimal control arising from a system of
electric power stations
4 Nguyễn Quý Hỷ, Phạm Kỳ Anh, Phạm
Trọng Quát (ĐH Quốc gia Hà Nội), Bùi
Thế Tâm (Viện Toán học): A probability
model to solve a problem of the stochastic
optimal control and its application to
operating a hydo-electric power station
5 Nghiêm Tiến Lam (ĐH Thuỷ lợi): ứng
dụng mô hình toán trong quản lý và vận
hành hệ thống tưới
6 Trần Gia Lịch (Viện Toán học):
Numerical methods for calculating
discontinuous wave by dam-breaking on
the river
7 Nguyễn Ân Niên (Viện NCKH Thuỷ lợi
Nam Bộ), Nguyễn Thị Bạch Kim (Viện
NCKH Thuỷ lợi), Nguyễn Văn Châu
(Viện Toán học): Chương trình KOD-2.0
8 Nguyễn Ân Niên, Nguyễn Thị Bạch
Kim, Hà Lương Thuần (Viện NCKH Thuỷ
lợi): Vấn đề tính chất lượng nước trong
khu đầm nuôi trồng thủy, hải sản.
9 Lê Đình Quang, Vương Quốc Cường
(Trung tâm NC Khí tượng nhiệt đới và
Bão): Một số vấn đề dùng toán trong khí
tượng - thủy văn
10 Tống Đình Quỳ (ĐHBK Hà Nội),
Nguyễn Văn Hữu, Đào Kiến Quốc (ĐH
Quốc gia Hà Nội): Về một thuật toán mô
phỏng lưu lượng nước về hồ chứa
11 Ngô Trọng Thuận (Trường Cán bộ Khí
tượng Thuỷ văn): Cát bùn sông Hồng
12 Hoàng Minh Tuyển (Viện Khí tượng
Thuỷ văn): Mô hình ngẫu nhiên tổng hợp
lũ sông Hồng
Tiểu ban C:
1 Đặng Quang á, Nguyễn Như Trung
(Viện Công nghệ Thông tin): Relizing 3-D
resistivity model by the finite difference
method
2 Chu Đức (ĐH Quốc gia Hà Nội): Some
comments based on mathematical methods upon the migration of Vietnamese ethnic groups
3 Nguyễn Đình Hoá (ĐH Quốc gia Hà
Nội), Bùi Đức Tiến (Học viện Nguyễn ái
Quốc): Lựa chọn các yếu tố liên quan mật thiết nhất đến một vấn đề trong điều tra dư luận xã hội và áp dụng
4 Hoàng Xuân Huấn (ĐH Quốc gia Hà
Nội), Phạm Hạ Thủy (Viện KHCN Mỏ):
Một mô hình tính toán ứng dụng trong hệ thông tin trợ giúp khai thác mỏ
5 Nguyễn Quý Hỷ, Nguyễn Văn Hữu,
Đào Kiến Quốc (ĐHQG Hà Nội), Phan
Thu Hải (Viện Dầu khí): The extension of samples by the Monte-Carlo method and its application to the prediction of reserves of oil.
6 Hoàng Văn Lai, Lê Mậu Long (Viện
Công nghệ Thông tin): Sử dụng cubic spline để nâng cao tốc độ hội tụ của nghiệm số trong mô hình động học cấu trúc tuổi
7 Hoàng Trung Lập (Viện Quy hoạch và
Thiết kế Nông nghiệp): Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Việt Nam trước ngưỡng cửa của thời kỳ cất cánh.
8 Nguyễn Hồ Quỳnh (ĐHBK Hà Nội):
Numerical solution for the ARIMA(p,d,q) model and application
9 Đào Trọng Thi (ĐH Quốc gia Hà Nội),
Lê Xuân Lam (Học viện Hành chính Quốc gia), Nguyễn Chí Bảo (ĐH Giao thông
Vận tải): Predicting on sequences of policies for population and an application
to borrowingư paying debts
10 Nguyễn Hữu Tiến, Tống Đình Quỳ,
Nguyễn Đức Nghĩa (ĐHBK Hà Nội): A new adaptive filtering algorithm for solution of the money circulation problem
11 Tô Cẩm Tú (Viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp): About the calculation of cation exchange cap ity (CEC) in clay through CEC in soil, OC% and clay
12 Tô Cẩm Tú: Variation of CEC on soil
with respect to Ca, Mg and the profoundness (P) of soils of type PS.
Trang 39Tin tức hội viên và hoạt động toán học
LTS: Để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhautrong cộng đồng các nhà toán học Việt nam, Tòa soạn mong nhận được nhiều thông tin từ các hội viên HTHVN về chính bản thân mình, cơ quan mình hoặc đồng nghiệp của mình
♣ Điểm tin việc đăng kí hội viên
HTHVN và nộp hội phí năm 1998:
Hưởng ứng chủ trương cải tiến công tác tổ
chức và hoạt động của BCH Hội (xem
thông báo đăng trong tập 1 số 2, và trang
bìa 3 số này), nhiều đơn vị và cá nhân đã
nộp trực tiếp hoặc gửi phiếu đăng kí hội
viên và hội phí tới đại diện của Hội là ông
Vương Ngọc Châu Một số hội viên còn
đăng kí mua Acta Mathematica
Vietnamica Cụ thể cho đến nay đã có 205
hội viên (gồm ĐHSP Vinh: 50, ĐHSP Qui
Nhơn: 32, ĐHSP Xuân Hoà: 30, ĐH Cần
Thơ: 29, Viện Toán học: 23, Viện Khoa
học giáo dục: 11 và các cơ sở còn lại: 30)
đăng kí lại hoặc gia nhập mới BCH Hội
mong tiếp tục nhận được hồi âm của các
quí vị và các bạn để một vài tháng nữa sẽ
có danh sách gần đầy đủ trong tổng kết sơ
bộ.
♣ Gặp mặt mừng Xuân Mậu Dần
Ngày 17/1/98, tức 19 tháng chạp 1997, tại
Hà Nội BCH HTHVN đã tổ chức buổi gặp
mặt truyền thống hàng năm của Hội mừng
Xuân mới Có nhiều nhà toán học đã tới
dự, trong đó cao tuổi nhất là Giáo sư
Nguyễn Thúc Hào Trước khi bước vào
buổi gặp mặt chính thức, phần lớn các đại
biểu đã nhiệt tình ủng hộ chủ trương mới
của BCH Hội bằng cách ghi phiếu đăng kí
hội viên 1998 và nộp hội phí Thay mặt
BCH Hội, Giáo sư Đỗ Long Vân đã đọc lời
chúc mừng và điểm lại một số sự kiện nổi
bật trong năm âm lịch vừa qua Đó là: việc
tổ chức thành công các Hội nghị toán học
toàn quốc lần thứ 5 (Hà Nội, 17-20/9),
Hội nghị quốc tế về Giải tích ứng dụng và
tối ưu (Viện Toán học, 27-30/12), Hội thảo
về Đào tạo phổ thông chuyên toán (ĐHQG
Hà Nội, 6-10/1/1998), Olympic toán sinh
viên tổ chức ĐHKT Quân sự, đó là việc gây
dựng và trao giải thưởng Lê Văn Thiêm,
việc tạp chí Vietnam Journal of
Mathematics được NXB khoa học có uy tín
cao trên thế giới Springer phát hành, và sự
ra đời của Nội san Thông Tin Toán Học của Hội (trích từ bài phát biểu của GS Đỗ Long Vân)
♣ ấn phẩm: Trong năm 1997, Tạp chí Acta Mathematica Vietnamica đã ra hai số gồm 30 bài với tổng số là 620 trang, trong
đó có 21 bài có nhà toán học nước ngoài
là tác giả hoặc đồng tác giả Các con số tương ứng của Vietnam Journal of Mathematics là 37 bài (11 bài có tác giả nước ngoài) và 380 trang
♣ Cơ cấu mới của Viện Toán học: Do
sự thay đổi cơ cấu cán bộ của Viện sau
27 năm thành lập và phát triển, nhằm thúc đẩy hơn nữa công tác nghiên cứu
lí thuyết, ứng dụng toán học và tham gia giảng dạy đại học và trên đại học, vừa qua Viện Toán học đã sắp xếp lại các phòng chuyên môn như sau: Có 8 phòng chuyên môn và hai trung tâm:
1 Phòng Đại số và Lí thuyết số (Trưởng phòng: PGS-TS Nguyễn Tự Cường)
2 Phòng Hình học và Tô pô (Trưởng phòng: GS-TS Đỗ Ngọc Diệp, Phó trưởng phòng: PTS Nguyễn Việt Dũng)
3 Phòng Giải tích toán học (Trưởng phòng: GS-TS Hà Huy Khoái)
4 Phòng Phương trình vật lí toán (Trưởng phòng: PGS-PTS Hà Tiến Ngoạn, Phó trưởng phòng: PGS-PTS Trần Gia Lịch)
5 Phòng Xác suất và thống kê toán học (Trưởng phòng: PTS Trần Hùng Thao, Phó trưởng phòng: TS Nguyễn Đình Công)
6 Phòng Tối ưu và Điều khiển (Trưởng phòng: PGS-TS Vũ Ngọc Phát, Phó trưởng phòng: PGS-TS Lê Dũng Mưu)
7 Phòng Giải tích số và Tính toán khoa học (Trưởng phòng: PGS-PTS Nguyễn
Trang 40Đông Yên, Phó trưởng phòng: PTS
Nguyễn Hữu Điển)
8 Phòng Cơ sở toán học của tin học
(Trưởng phòng: PTS Ngô Đắc Tân, Phó
trưởng phòng: PTS Phạm Hồng Quang)
9 Trung tâm Đào tạo sau đại học
(Giám đốc: PGS-PTS Phan Huy Khải,
♣ Vài nét về hoạt động khoa học của
Viện Toán học năm 1997: Trong năm
vừa qua, toàn thể cán bộ trong Viện đã
công bố được 31 bài báo trên các tạp
chí quốc tế và 13 bài trên 2 tạp chí Acta
Mathematica Vietnamica và Vietnam
Journal of Mathematics, 3 quyển sách
chuyên khảo viết bằng tiếng Anh được
xuất bản trên thế giới và hai giáo trình
đại học in trong nước Con số thống kê
này là chưa đầy đủ vì có những bài đã
ra trong năm qua nhưng đến lúc tổng
kết năm bản thân tác giả vẫn chưa biết
(ví dụ trong năm 1996 có 16 bài như
vậy) Để tránh tính trùng lặp, ở đây
chúng tôi không thông kê số tiền ấn
phẩm cũng như các báo cáo khoa học
tại các hội nghị Không kể tới trên 30
nhà toán học nước ngoài dự các hội
nghị tại Việt nam cũng đến Viện, Viện
đã đón 13 giáo sư quốc tế đến thăm và
làm việc tại Viện Trong khi đó có 25
cán bộ Viện đi công tác nước ngoài đã
trở về và 8 cán bộ đi từ những năm
trước vẫn tiếp tục chương trình cộng tác
của mình Có 2 cán bộ của Viện bảo vệ
thành công luận án Tiến sĩ khoa học, 4
nghiên cứu sinh của Viện bảo vệ thành
công luận án PTS Viện đang đào tạo 5
khoá cao học với tổng số là 100 học
viên (trích tổng kết Hoạt động khoa
học năm 1997 của Viện Toán học)
♣ Trách nhiệm mới
1 GS-TS Đỗ Long Vân được bầu làm
Chủ tịch-bầu của Hội Toán học Đông
Nam á nhiệm kì 1998 - 1999 Theo
điều lệ của Hội Toán học Đông Nam á, Ban lãnh đạo Hội gồm có 1 chủ tịch, 1 chủ tịch-bầu, 2 phó chủ tịch, 1 thư kí và
1 thủ quĩ với nhiệm kì 2 năm một Khi bầu nhiệm kì mới, chủ tịch-bầu đương nhiên trở thành chủ tịch Như vậy GS
Đỗ Long Vân sẽ là Chủ tịch (President) Hội trong nhiệm kì 200-
2001 Ông sinh năm 1941 tại Cổ Nhuế,
Hà Nội Sau khi tốt nghiệp ĐHTH Hà Nội, ông bảo vệ luận án Phó tiến sĩ tại
ĐHTH Lômônôxốp, Matxcơva năm
1969 và luận án Tiến sĩ tại ĐHTH Humboldt (Berlin) năm 1985 Ông
được phong Phó giáo sư năm 1984 và Giáo sư năm 1996 Hiện nay ông là Chủ tịch Hội THVN (nhiệm kì trước là Tổng Thư kí)
2 PGS-PTS Lê Quang Trung được
cử làm Hiệu phó trường ĐHSP
thuộc Đại học quốc gia Hà Nội từ tháng 1/1998 Anh sinh ngày 10/8/1956 tại Vĩnh Phúc Tốt nghiệp đại học Khoa toán, ĐHSP Hà Nội 1 năm 1977 và bảo
vệ thành công luận án PTS về Phương trình đạo hàm riêng năm 1989 tại Viện Toán học dưới sự hướng dẫn của GS-TS Nguyễn Minh Chương Anh được cử làm Phó chủ nhiệm khoa toán (8/1992-1/94), rồi chủ nhiệm Khoa toán (1/1994-1/98) của Trường ĐHSP thuộc
ĐHQG Hà Nội
3 PTS Phạm Khắc Ban được cử làm
chủ nhiệm Khoa toán, trường ĐHSP
thuộc Đại học quốc gia Hà Nội từ tháng 3/1998 Ông sinh ngày 4/2/1948 tại Nam Ninh, Nam Định Tốt nghiệp
đại học Khoa toán, ĐHSP Hà Nội 1 năm 1970, ông ở lại giảng dạy tại trường ở tổ bộ môn Hình học Ông bảo
vệ PTS năm 1994 về chuyên ngành Giải tích Hypecbolic Từ 4/1994 - 1/1998 ông là Phó chủ nhiệm Khoa toán