Căn cứ uào tính chất oà mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành ui được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm L nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất ngh
Trang 1TS PHAM VAN LOI
Trang 2TỘI PHẠM TRŨNG LĨNH WUC CONG NGHE THONG TIN
Trang 3MA SO: TPA - 07 - 08
137-2007/CXB/40-07/NXBTP
Trang 4TS PHAM VAN LQ!
(Chủ biên)
TỘI PHẠM
TRONG LINK WUC
CONG NGHE THONG TIN
(Sách chuyên khảo)
NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP
HÀ NỘI - 2007
Trang 53 TS Nguyễn Minh Đức - Cục trưởng Cục Thống kê - Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao
4 TS Trần Văn Hoà - Cục Cảnh sát kinh tế - Bộ Công an
5 T6 Trần Mạnh Đạt - Trưởng Ban Nghiên cứu tư pháp
hình sự - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
6 ThS Nguyễn Văn Cương - Viện Khoa học pháp lý - Bộ
9 ThS Lê Tuấn Sơn - Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tưpháp
10 ThS Trịnh Tiến Việt - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 611 CN Phạm Văn Thiệu - Toà án nhân dân tối cao
12 CN Võ Văn Tuyển - Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp
13 CN Nguyễn Mạnh Cường - Viện Khoa học pháp
Trang 7LỜI GIỚI THIỆU
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến và thụ hưởng những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật mới - cuộc cách mạng công nghệ thông tin Mặc dù cuộc cách mạng này mới chỉ khởi đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX, bắt nguồn bằng việc phát minh ra máy tính điện tử (Computer) và thực sự
bùng phát khi mạng thông tin toàn cầu (Internet)
được sử dụng rộng rãi, song đã được nhiều nhà khoa học dự báo là sẽ đưa xã hội loài người tiến vào một kỷ nguyên mới, một thời kỳ mới - nền kinh tế tri thức,
một nền kinh tế được tiên đoán là sẽ phát triển mạnh
mẽ gấp nhiều lân so với cuộc cách mạng công nghiệp
trước đây Thực tiễn đời sống xã hội trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam chúng ta những năm vừa qua đã kiểm chứng cho dự báo này Máy tính và công nghệ kỹ thuật số đi kèm đã và đang thay thế các công nghệ trước đây trên tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội Máy tính đã nhanh chóng hiện diện và được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã
Trang 8hội, với những mục đích sử dụng cũng hết sức đa dạng, từ sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học kỹ thuật cho đến mục đích giải trí đơn thuần
Mới chỉ hình thành và phát triển vài thập kỷ,
nhưng cuộc cách mạng mới này đã khiến cho nhiều
ngành kinh tế, xã hội và văn hoá hoàn toàn phụ thuộc vào các công nghệ mới của nó, đặc biệt phải kể đến vai trò của máy tính điện tử và Internet Công nghệ thông tin cũng hình thành một thế hệ mới, khác so với
thế hệ cách đây chỉ vài thập kỷ ở chỗ phụ thuộc vào
công nghệ thông tin, coi máy tính, Internet, E-mail, điện thoại di động, máy ảnh số, máy nghe nhạc số,
là những công cụ không thể thiếu trong cuộc sống
Cuộc cách mạng cũng phát triển những khái niệm,
thuật ngữ mới mà cách đây vài thập kỹ chưa được nhắc đến nhưng nay đã trở nên quen thuộc trong đời sống xã hội như: thư tín điện tử (E-mail), mạng thông tin toàn cầu (Internet), thông tin di động (Mobile
Phone), thương mại điện tử (E-Commercial), công nghệ số (Digital Technology) công nghệ không dây (Wii, Bluetooth), trò chuyện trên mạng (Chatting), trò chơi trên mạng (Game Online)
Cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của
Trang 9nhân loại, khi mà các thành tựu càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị lợi dụng,
sử dụng hoặc là mục tiêu của tội phạm Các thành tựu
do công nghệ thông tin đem lại cũng không nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, trong thế giới mà công nghệ thông tin đã tạo ra cho con người đã hình thành một khái niệm mới về tội phạm - tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin hay còn được biết đến với các tên khác nhau như: tội phạm mạng (Cyber Crimes), tội phạm máy tính hay tội phạm liên quan đến máy tính
(Computer Crimes) Đây là những khái niệm mới
không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước
trên thế giới Do vậy, ngay từ việc sử dụng thuật ngữ,
việc đưa ra khái niệm, đặc điểm đến việc quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào cần phải tội phạm hoá cũng còn có nhiều ý kiến không đồng nhất
Chính vì vậy, thách thức mới hiện nay đối với các nhà
xây dựng pháp luật cũng như các cơ quan thực thi pháp luật là việc đưa ra những quy định pháp luật
phù hợp và các biện pháp khả thi để có thể phòng
chống và đấu tranh một cách có hiệu quả loại tội
phạm này trong giai đoạn hiện nay Cuốn sách
chuyên khảo “Ti phạm trong lĩnh uực công nghệ
9
Trang 10thông tin” tập trung phân tích khái niệm, những đặc điểm về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin; thực trạng và giải pháp phòng chống loại tội phạm này ở nước ta và một số nước trên thế giới
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 4 năm 2007 NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP
10
Trang 11Chương | Khái niệm, đặc điểm
của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Chương I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI PHẠM
Khái niệm tội phạm là một trong những vấn dé
trọng tâm trong pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới Việc quan niệm cũng như điều chỉnh
bằng pháp luật đối với những hành vi bị coi là tội
phạm đều có tính lịch sử và phụ thuộc điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia Chính vì vậy, trên cơ sở xác định những hành vi bị coi là tội phạm, mỗi nước đều có những quy định pháp luật điểu
chỉnh tương ứng, phù hợp với điều kiện của mình
Ô nước ta, việc xác định những hành vi bị coi là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:
*1, Tội phạm là hành 0i nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực
11
Trang 12TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHE THONG TIN
12
hiện một cách cố ý hoặc uô ý, xâm phạm độc
lập, chủ quyên, thống nhất, toàn uẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền uăn hoú, quốc phòng, an
ninh, trột tự, an toàn xã hội, quyên, lợi ích
hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài
sản, các quyên, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh cực khác của trột tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
2 Căn cứ uào tính chất oà mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành ui được quy định
trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm (L nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng uà tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
3 Tội phạm íL nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức
cao nhất của khung hình phạt đối uới tội ấy
là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là
lội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối uới
tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất
nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất
Trang 13Chương I Khái niệm, đặc điểm
của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin
lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt đối uới tội ấy là đến mười lắm
năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xõ hội
mà mức cao nhất của khung hình phạt đối uới tội ấy là trên mười lắm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
4 Những hành u¡ tuy có đấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm
bà được xử lý bằng các biện pháp khác”
Theo luật hình sự Việt Nam thì tội phạm phải là hành vi của con người - nguyên tắc hành vi trong luật hình sự Việt Nam Những gì mới chỉ hình thành trong
tư tưởng, chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa thể là tội phạm Chỉ qua hành vi của mình, con người mới có thể gây thiệt hại, gây ra sự nguy hiểm cho xã hội và những gì trong ý nghĩ, tư tưởng của con
người cũng chỉ có thể được xác định qua chính những
biểu hiện bên ngoài mà trước hết là qua các hành vi của họ Với định nghĩa trên thì hành oi bị coi là tội phạm được phân biệt uới hành uí không phải là tội phạm qua các dấu hiệu sau:
18
Trang 14gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hai dang kể cho các
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, đó là các
quan hệ xã hội như: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm, sở hữu,
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân Theo quy định thì hành vi nguy hiểm cho xã hội
chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu “được quy định trong
Bộ luột Hình sự" Sự quy định này thể hiện nguyên tác “không ai bị hết án uì một hành öL mà lúc họ thực
hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là tội
phạm” được quy định tại khoản 2 Điều 11 Tuyên ngôn 14
Trang 15Chương I Khái niệm, đặc điểm
của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin
toàn thế giới về nhân quyển của Liên hợp quốc Việc
khẳng định tội phạm phải được quy định trong Bộ
luật Hình sự không những là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng, chống tội phạm được thống nhất,
bao dam nguyên tắc pháp chế, bảo đảm quyền dân
chủ của công dân không bị những hành vi xử lý tuỳ
tiện, mà còn là động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp
thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật hình sự phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội®
Hành ví nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
Bộ luật Hình sự bị coi là tội phạm khi hành vi đó do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Khẳng định này thể hiện “nguyên
tắc có lỗi”, bởi vì luật hình sự Việt Nam không thừa
nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là quy trách nhiệm cho con người chỉ căn cứ vào việc người đó đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không
căn cứ vào lỗi của họ Chúng ta áp dụng hình phạt
không phải để trừng trị hành vi mà để trừng trị người
đã thực hiện tội phạm nhằm cải tạo, giáo dục họ Mục
® Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dan, H.2005, tr 48
15
Trang 16TOI PHAM TRONG LĨNH VỰC CONG NGHE THONG TIN
đích giáo dục, cải tạo chỉ có-thể đạt được nếu hình
phạt được áp dụng cho người có lỗi, đối với người
không có lỗi, hình phạt không phát huy được tác dụng
giáo dục, cải tạo”, Điều kiện để người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội có thể có lỗi (cố ý hoặc vô ý)
khi thực hiện hành vi đó là họ phải là người có năng
lực trách nhiệm hình sự, đó là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều
khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội Người có năng lực trách nhiệm hình sự bị coi là có lỗi khi thực hiện
hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định
của chủ thể trong khi có đủ diéu kiện quyết định thực
hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Cũng theo điểu luật trên, tuy tội phạm có chung các dấu hiệu như đã trình bày, nhưng những hành vi
phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội khác nhau Vì vậy, theo khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999, tội phạm được phân thành bốn loại khác nhau: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng Sự phân loại như vậy thể hiện
® Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luột hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, H.2005, tr 47,
16
Trang 17Chương I Khái niệm, đặc điểm
của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin
sự quy định về phân hoá trách nhiệm hình sự và là cơ
sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt
cho các tội phạm cụ thể cũng như cho việc xây dựng
trong luật hình sự và các ngành luật liên quan các quy định về sự phân hoá trong đường lối đấu tranh
phòng, chống các loại tội phạm khác nhau
Theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì các loại tội phạm được phân biệt với nhau bởi cả đấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và cả đấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý” Tội phạm nói chung có đấu hiệu uê mặt nội dung chính trị, xã hội là tính
nguy hiểm cho xã hội và có dấu hiệu uê mặt hậu quả
pháp lý là tính chịu hùnh phạt thì các loại tội phạm
cũng có những dấu hiệu đó nhưng với nội dung cụ thể
khác nhau Mức độ xác định tính nguy hiểm cho xã hội được xác định qua mức độ cao nhất của khung hình phạt Ngoài ra, nhằm tránh việc xác định tội
phạm một cách máy móc, khoản 4 Diéu 8 Bộ luật
Hình sự năm 1999 quy định: những hành uì tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm
® Uông Chu Lưu (Chủ biên): Binh luận khoa học Bộ luật
Hình sự Việt Nam năm 1999, Nxb Chính trị quốc gia, H
2001, tr 30-33
17
Trang 18TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THONG TIN
cho xã hội không đáng kế, thì không phải là tội phạm
và mức độ nguy hiểm đáng kể hay không đáng kể của hành vi tội phạm được xác định trên cơ sở tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại; tính chất của hành
vi khách quan, trong đó bao gồm cả tính chất của
phương pháp, thủ đoạn, công cụ và phương tiện phạm
tội; tính chất và mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe doa
gây ra cho quan hệ xã hội bị xâm hại; tính chất mức
độ lỗi; động cơ, mục đích của người phạm tội; nhân thân của người có hành vi phạm tội; hoàn cảnh kinh
tế, chính trị, xã hội “
Như vậy, khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm
1999 đã định nghĩa tội phạm một cách khoa học, thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm Định nghĩa này không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể
trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, mà còn
là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đấn các
điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể®,
® Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, H.2005, tr 46
® Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, H.2005, tr 41
18