NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ Nhã nhạc, có ý nghĩa "âm nhạc tao nhã", ra đời từ thế kỷ thứ XV đến giữa thế kỷ XX, là thể loại âm nhạc được trình diễn trong cung đình Việt Nam vào các cuộc tế, lễ gắn với các[.]
Trang 1NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
Nhã nhạc, có ý nghĩa "âm nhạc tao nhã", ra đời từ thế kỷ thứ XV đến giữa thế kỷ
XX, là thể loại âm nhạc được trình diễn trong cung đình Việt Nam vào các cuộc tế,
lễ gắn với các lễ kỷ niệm và những ngày lễ tôn giáo cũng như các sự kiện đặc biệt như: lễ đăng quang, lễ tang hoặc những dịp đón tiếp chính thức
Nhã Nhạc Cung Đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ cung đình như Tế Giao, Tế miếu, Lễ Đại triều, Thường triều Nhã nhạc cung đình Huế nhằm tạo sự trang trọng cho các buổi lễ Nhã Nhạc Cung Đình Huế có tiến trình hình thành, phát triển khá rõ ràng, được ghi lại qua các triều đại Lý - Trần và nhiều thế hệ truyền thừa giữ gìn, phát triển, bổ sung, sáng tạo, ngày càng phong phú, tinh tế, đạt đến đỉnh cao vào triều đại nhà Nguyễn
Nhã Nhạc Cung Đình Huế với lời hát tao nhã, điệu thức cao sang, quý phái
Đó biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại
Vì vậy, Nhã Nhạc Cung Đình Huế được các triều đại quân chủ Việt Nam rất coi trọng Nhã nhạc thời Nguyễn thường được gọi là Nhã nhạc cung đình Huế vì triều đại này đóng đô ở Huế suốt gần 150 năm
Vào giữa tháng 12/2003, Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của LHQ (UNESCO) đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại Ngày 31/1/2004 tại Paris thủ đô nước Pháp, lễ đón Bằng công nhận đã được tổ chức Đây là lần đầu tiên, Việt Nam có một kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu được UNESCO công nhận - một vinh dự to lớn cho cả dân tộc Việt Nam nói chung và Huế nói riêng
Lịch sử hình thành và phát triển của Nhã nhạc Cung đình Huế
Từ xưa, Nhã nhạc Việt Nam đã có tiến trình hình thành và phát triển khá rõ ràng Lịch sử hình thành cũng như từng giai đoạn phát triển của loại hình nghệ thuật này
đã được ghi lại theo từng giai đọan Theo đó, có nhiều thế hệ đã truyền thừa, giữ gìn, cũng không ngừng phát triển, bổ sung, sáng tạo thêm để loại hình nghệ thuật này ngày càng trở nên phong phú, tinh tế, để rồi sau đó đạt đến đỉnh cao vào triều đại nhà Nguyễn
Trang 2Nhã nhạc thường được dùng để biểu diễn trong các ngày lễ quan trọng của Hoàng
cung
Vốn là loại hình âm nhạc cung đình, là biểu tượng cho sự trường tồn, hưng thịnh của quyền lực quân chủ phong kiến nên Nhã nhạc mang lời lẽ tao nhã, điệu thức thể hiện chất cao sang, quý phái Nhã nhạc được coi trọng ở nhiều triều đại quân chủ Việt Nam Theo sử sách ghi nhận thì Nhã nhạc Việt Nam có từ thời Lý (1010-1225) và bắt đầu hoạt động một cách quy củ dần về sau
Trang 3Nhã Nhạc cung đình có từ thế kỷ 13
Đến thời Lê (1427-1788) thì loại hình nghệ thuật này đã được dành riêng cho giới quý tộc, bác học với kết cấu phức tạp, chặt chẽ cùng quy mô tổ chức rõ ràng, chi tiết Cũng chính từ Triều Lê mà Nhã nhạc được định ra các loại riêng biệt như sau: Giao nhạc, Miếu nhạc, Cửu nhật nguyệt lai trùng nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Đại yến nhạc, Dù đạt được nhiều thành quả lớn vào giai đoạn này nhưng Nhã nhạc không giữ được sự phát triển liên tục về sau mà đến cuối của triều
Lê thì đi vào thời kỳ suy thoái và nhạt phai vì nhiều nguyên nhân khác nhau
Trang 4Triều đình Nguyễn quy định 7 thể loại âm nhạc gần giống với các thể loại của triều
Lê
Đến thời nhà Nguyễn (1802 - 1945), hình thức âm nhạc bác học mang tên Nhã nhạc cung đình Huế phát triển mạnh mẽ trở lại và được tổ chứ bài bản hơn bao giờ hết Nhất là thời kỳ từ nửa đầu thế kỷ XIX, khi mới lập nghiệp ở phương Nam, triều đình của vua Gia Long đã sớm biết sử dụng nghệ thuật âm nhạc để “di dưỡng tinh thần” Từ đây tên gọi Nhã nhạc gắn liền với cung đình Huế và thực sự phát triển theo mô thức, quy phạm đúng chuẩn của nhà nước quân chủ Giai đoạn này cũng là bước chuẩn bị quan trọng tạo tiền đề phát triển cho âm nhạc cung đình các đời vua sau Cũng chính từ đây, loại hình này trở nên có hệ thống, bài bản phong phú, thậm chí có hàng trăm nhạc chương với lời ca bằng chữ Hán
Trang 5Lời lẽ tao nhã, điệu thức cao sang, quý phái
Nhã nhạc cung đình được triều đình và cả dân chúng tôn vinh là loại hình âm nhạc chính thống, hay nói cách khác là quốc nhạc Vì vậy mà chỉ trong những ngày lễ trọng đại, mang ý nghĩa to lớn như Tế Nam Giao, Tế Xã Tắc, lễ mừng đăng quang,
lễ mừng thọ vua, nghi thức tiếp đón các sứ thần triều đình mới cho biểu diễn Nhã nhạc ở Kinh Thành Huế Theo tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu thì Nhã nhạc thời Nguyễn vẫn hay được gọi là Nhã nhạc cung đình Huế bởi vì triều đại này đã đóng đô ở Huế suốt gần 150 năm
Trang 6Thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn
Phát triển mạnh vào thời nhà Nguyễn là vậy nhưng Nhã nhạc Huế cũng đã từng bị
đe dọa nghiêm trọng sau khi xuất hiện những loại nhạc cụ và nền âm nhạc mới từ phương Tây cũng như biến cố sau này khi triều đại phong kiến cuối cùng của nước
ta sụp đổ Tuy nhiên Nhã nhạc vẫn thể hiện sức sống bền bỉ qua thăng trầm của lịch sử và được gìn giữ vẹn nguyên
Nhắc đến triều Nguyễn người ta lại nhớ đến cô đô Huế cùng bao giá trị vật chất và tinh thần, bên cạnh những công trình kiến trúc cổ kính như Đại Nội, đền đài, cung điện, 4 lăng tẩm đẹp nhất của Huế còn có giá trị văn hóa độc đáo mang tên Nhã nhạc cung đình Huế
Trang 7Một trong những tài sản vô giá của dân tộc ta
Loại hình nghệ thuận bác học này cũng đã được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, để gìn giữ và bảo tồn cũng như giới thiệu cho thế giới một nét đẹp nghệ thuật đặc sắc mà chỉ một số ít quốc gia còn bảo tồn được và giữ gìn đến ngày nay Sự vinh danh này đã góp công làm nên một Huế thu hút và sâu lắng, bên cạnh một cố đô cổ kính và thơ mộng bên dòng sông Hương
Giá trị nghệ thuật của Nhã nhạc cung đình Huế
Trang 8Cấu trúc nhạc chương
Các nhạc chương của Nhã nhạc đều do Bộ Lễ biên soạn Theo đó, tùy theo các buổi lễ khác nhau mà nhạc chương cũng khác nhau như:
Tế Giao có nhiều nhạc chương, cụ thể là 10 và mang chữ Thành thể hiện sự thành công
Tế Xã tắc có 7 nhạc chương mang chữ Phong cầu mong được mùa
Tế Miếu có 9 nhạc chương mang chữ Hòa để được hòa hợp
Tế Lịch Đại Đế vương có 6 nhạc chương mang chữ Văn thể hiện trí tuệ
Lễ Đại triều dùng 5 bài mang chữ Bình tỏ ý hòa bình
Lễ Vạn thọ dùng 7 bài mang chữ Thọ với ý nghĩa trường tồn
Lễ Đại yến dùng 5 bài mang chữ Phúc thể hiện phúc lành,
Sự đa dạng và phong phú về thể loại Ảnh: thegioidisan
Vào giai đoạn đầu của triều vua Gia Long, triều đình kế thừa hình thức và cấu trúc Nhã nhạc trước đó bao gồm: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đài triều nhạc Đồng thời Bộ Lễ cũng bổ sung thêm vào nhiều loại thể nhạc khác như Huyền Nhạc, Ty Trúc Tế Nhạc, Ty Chung, Ty Khánh và Ty Cổ sao cho phù hợp với từng
Trang 9cuộc lễ của triều đình mới Sử sách triều Nguyễn ghi lại chi tiết về 12 cuộc lễ trong
đó mỗi cuộc lễ đều có ghi đầy đủ các bài ca chương với 126 bài ghi đầy đủ lời ca nguyên gốc cùng bản dịch
Nhã Nhạc Huế mang giá trị nghệ thuật cao
Tổ chức nhạc khí
Về tổ chức nhạc khí, theo quy định thời kỳ này bao gồm 6 loại ban nhạc Đó là các ban: Nhã nhạc, Nhạc huyền (bộ nhạc treo), Đại nhạc (Cổ xuý đại nhạc), Tiểu nhạc (ti trúc tế nhạc), Ty chung và Ty khánh (dàn nhạc chuông và khánh đá), Quân nhạc Mỗi ban nhạc đều có quy định các nhạc khí cụ thể Theo đó, sẽ có không dưới 30 chủng loại với số lượng hàng trăm nhạc khí khác nhau như trống bản, cái phách, cái sáo, đàn huyền tử, đàn nhị, đàn tì bà, chùm thanh la bằng đồng 3 chiếc
Trang 10Nhã Nhạc ở thời nguyễn hay còn gọi là Nhã nhạc cung đình Huế được thể hiện trong các lễ tế đại triều tổ chức 2 lần/tháng và trong thường triều là 4 lần/tháng
Nhã nhạc cung đình Huế hiện nay
Ngày nay, Nhã nhạc cung đình Huế với các hình thức như dàn nhạc, ca chương, bài bản, vũ khúc được diễn xướng trong nhiều dịp như: Festival Huế, lễ hội Phật giáo, lễ hội dân gian, âm nhạc thính phòng…
Nhã nhạc còn được trình diễn trong các nghi thức ngoại giao, biểu diễn phục vụ khách du lịch và dân địa phương trong các dịp đại lễ và tết cổ truyền… Chính vì thế, Nhã nhạc ngày nay vẫn có điều kiện và không gian diễn tấu phong phú Giá trị nghệ thuật vẫn được giữ gìn, trường tồn và tiếp tục phát huy
Trang 11Công tác gìn giữ, bảo tồn nhã Nhạc Cung Đình ra sao?
Nhã nhạc cung đình Huế có thể được xem là tài sản vô giá của dân tộc ta Giá trị này cần được bảo tồn và phát huy trong xã hội đương đại Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng việc bảo tồn đã thu được nhiều thành quả tốt đẹp với những công tác
cụ thể như sau:
Nhã Nhạc Cung Đình đã được tiến hành công tác bảo tồn từ những năm
1992 Qua vài năm sau đó, công tác bảo tồn Nhã nhạc đã dần đi vào quỹ đạo
Các bài Nhã nhạc cung đình Huế quan trọng đã được Nhà Hát Truyền Thống Cung Đình Huế bảo tồn như: 10 bản Ngự bao gồm Phẩm tuyết, Hồ quảng, Nguyên tiêu, Bình bán, Liên hoàn, Nhã nhạc cung đình Huế - Lưu thủy kim tiền, Tây mai, Xung phong, Tẩu mã, Long hổ… cùng một số bài trong dàn Đại nhạc
Nhà Hát Nghệ Thuật Cung Đình Huế còn tiến hành biểu diễn Nhã nhạc qua các hình thức diễn xướng trong những dịp như: Festival Huế, lễ hội Phật giáo, lễ hội dân gian, một số nghi thức ngoại giao, biểu diễn phục vụ khách
du lịch Huế đến tham quan, tìm hiểu…