Thực hiện đề tài: “ Nghệ thuật truyền thống Nhã nhạc cung đình Huế của người Việt ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong phát triển du lịch”. Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và nghệ thuật truyền thống của người Việt trong phát triển du lịch. Chương 2: Nghệ thuật truyền thống nhã nhạc cung đình Huế của người Việt trong phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế. Chương 3: Các giải pháp để bảo tồn và phát huy nhã nhạc cung đình Huế ở Thừa Thiên Huế trong phát triển du lịch.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài này được nghiên cứu từ năm 2020 đến 2022, tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Bài tiểu luận này tập trung vào việc làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của Nghệ thuật truyền thống Nhã nhạc cung đình Huế, cùng với những đặc trưng và giá trị nổi bật của nó Qua đó, bài viết cũng sẽ phân tích thực trạng hiện tại và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật này trong bối cảnh phát triển du lịch tại Thừa Thiên Huế.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hệ thống hóa có chọn lọc và phát triển các khái niệm liên quan đến văn hóa, di sản văn hóa, du lịch văn hóa, nghệ thuật truyền thống, cùng với các vấn đề lý luận về giá trị văn hóa, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu.
Tỉnh Thừa Thiên Huế nổi bật với di sản văn hóa phong phú, đặc biệt là Nhã nhạc cung đình Huế, một hình thức nghệ thuật truyền thống có giá trị lịch sử sâu sắc trong tiến trình văn hóa Việt Nam Nhã nhạc không chỉ thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo mà còn mang trong mình những nét đặc trưng riêng biệt, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, thực trạng khai thác Nhã nhạc trong du lịch hiện nay còn nhiều hạn chế, cần có các giải pháp hiệu quả để duy trì, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này trong xã hội hiện đại.
PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 2
Phương pháp nghiên cứu đề tài
a Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu:
Thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô, Sở du lịch Thừa Thiên Huế, Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống cung đình Huế, và Trường cung cấp Văn hóa Nghệ thuật cung đình Huế Ngoài ra, các tài liệu như giáo trình văn hóa du lịch, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên đại học, và các bài luận văn của Thạc sĩ cũng được sử dụng để tổng hợp thông tin.
Phương pháp này dùng để so sánh Nhã nhạc cung đình Huế với các loại hình nghệ thuật khác c Phương pháp xử lí số liệu:
Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu liên quan đến đề tài Phương pháp thống kê được áp dụng để phân tích các bài báo và bài viết về Nhã nhạc Cung đình Huế trên Internet.
Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Nhã nhạc cung đình Huế trong phát triển du lịch.
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Các hoạt động biểu diễn của loại hình nghệ thuật truyền thống Nhã nhạc cung đình Huế ở tỉnh Thừa Thiên Huế Từ năm 2007 đến năm 2020.
BỐ CỤC BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài nghiên cứu "Nghệ thuật truyền thống Nhã nhạc cung đình Huế của người Việt ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong phát triển du lịch" được cấu trúc thành ba chương, bao gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Theo UNESCO, văn hóa là sự phản ánh và thể hiện đa dạng mọi khía cạnh của cuộc sống con người, từ quá khứ đến hiện tại Qua hàng thế kỷ, văn hóa đã hình thành một hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, giúp mỗi dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình.
UNESCO định nghĩa văn hóa không chỉ là những kiệt tác vĩ đại trong tư duy và sáng tạo, mà còn bao gồm tất cả những yếu tố làm nên sự khác biệt giữa các dân tộc Điều này bao gồm từ những sản phẩm hiện đại tinh vi cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và cách thức lao động của mỗi cộng đồng.
Theo PGS Trần Ngọc Thêm (1997), văn hóa được định nghĩa là một hệ thống hữu cơ bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Giá trị văn hóa Việt Nam được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh như giá trị quốc gia, vùng miền và tộc người Nó được định nghĩa là một hình thái của đời sống tinh thần, phản ánh và kết tinh từ đời sống văn hóa của con người Giá trị văn hóa không chỉ giúp điều tiết hành vi mà còn định hướng sự phát triển tới chân - thiện - mỹ, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của các quốc gia và dân tộc, trong đó có Việt Nam.
Theo Luật Di sản văn hóa 2021, di sản văn hóa được định nghĩa là những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tại Việt Nam.
1.1.4 Phân loại di sản văn hóa:
Theo điều 1 Luật Di sản văn hóa và Điều 2 nghị định 98/2010/NĐ-CP thì di sản văn hóa gồm 2 loại như sau: a Di sản văn hóa phi vật thể:
Theo Điều 4, khoản 1 của Luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi 2009), di sản văn hóa phi vật thể được định nghĩa là sản phẩm tinh thần gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân, cùng với các vật thể và không gian văn hóa liên quan, mang giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc.
Cộng đồng này không ngừng được tái tạo và lưu truyền qua các thế hệ thông qua truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và nhiều hình thức khác.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm:
Nghệ thuật trình diễn dân gian;
Tập quán xã hội và tín ngưỡng;
Nghề thủ công truyền thống;
Tri thức dân gian b Di sản văn hóa vật thể:
Theo Luật Di sản 2021, di sản văn hóa vật thể được định nghĩa là những sản phẩm vật chất có giá trị về lịch sử, văn hóa và khoa học Điều này bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.
Di sản văn hóa vật thể bao gồm:
Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Theo UNWTO, du lịch được định nghĩa là hoạt động di chuyển đến một địa điểm khác với nơi cư trú thường xuyên, nhằm tham quan, nghỉ ngơi, giải trí hoặc các mục đích khác, không bao gồm các hoạt động kiếm tiền tại điểm đến, với thời gian lưu trú không vượt quá một năm.
Theo UNWTO, du lịch văn hóa là hoạt động của những người có động cơ chính là nghiên cứu và khám phá văn hóa Điều này bao gồm các chương trình nghiên cứu về nghệ thuật biểu diễn, lễ hội, sự kiện văn hóa, thăm các di tích đền đài, cũng như du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa và nghệ thuật dân gian.
NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG
Nghệ thuật là sáng tạo của con người hướng tới cái đẹp
Truyền thống là có từ lâu đời, được truyền từ đời này qua đời khác và tồn tại cho đến ngày hôm nay
1.2.3 Khái quát về Nghệ thuật truyền thống:
Việt Nam có một hệ thống nghệ thuật truyền thống phong phú, trải dài từ Bắc vào Nam, với nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau Nghệ thuật truyền thống bao gồm các môn nghệ thuật biểu diễn, nhạc cổ truyền, cùng với nghệ thuật tạo hình và kiến trúc.
Nghệ thuật truyền thống Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện bản sắc dân tộc, góp phần hình thành cốt cách, tinh thần và văn hóa của người Việt Đây cũng là một phần lịch sử đầy tự hào của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam hiện có khoảng 8.000 lễ hội lớn nhỏ mỗi năm, trong đó không thể thiếu những màn biểu diễn nghệ thuật cổ truyền đặc sắc và ấn tượng Đất nước ta được công nhận là nơi có nhiều lễ hội truyền thống nhất trên thế giới.
1.2.4 Một số loại hình nghệ thuật truyền thống:
Nhã nhạc cung đình Huế;
Không gian văn hóa Cồng chiên Tây Nguyên;
1.2.5 Thành tựu của nghệ thuật truyền thống:
Nghệ thuật truyền thống Việt Nam đã đạt rất nhiều thành tự to lớn, và có được sự công nhận của UNESCO như:
Năm 2003, UNESCO công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại
Ngày 25/11/2005 UNESCO, công nhận Không gian văn hóa Cồng chiên Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại
Ngày 30/09/2009 UNESCO, công nhận Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Ngày 01/10/2009, Ca trù Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách
Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp
Ngày 24/11/ 2011, UNESCO công nhận Hát Xoan – Phú Thọ, Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THỪA THIÊN HUẾ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm ở miền Trung Việt Nam, thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, bao gồm cả đất liền và lãnh hải trên thềm lục địa biển Đông.
Việt Nam có bốn điểm cực quan trọng: điểm cực Bắc nằm ở thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền với tọa độ 16°44'30" vĩ Bắc và 107°23'48" kinh Đông; điểm cực Nam ở đỉnh núi cực Nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông với tọa độ 15°59'30" vĩ Bắc và 107°41'52" kinh Đông; điểm cực Tây tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới với tọa độ 16°22'45" vĩ Bắc và 107°00'56" kinh Đông; và điểm cực Đông nằm ở bờ phía Đông đả Sơn Trà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc với tọa độ 16°13'18" vĩ Bắc và 108°12'57" kinh Đông.
Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,5 ha, kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với chiều dài bờ biển lên tới 120 km và chiều rộng ngắn nhất là 44 km ở phía Tây.
Tuyến đường Đông Bắc - Tây Nam kéo dài 65 km từ xã Quảng Công (Quảng Điền) đến xã Sơn Thủy – Ba Lé (A Lưới) là nơi rộng nhất, trong khi điểm hẹp nhất ở cực Nam chỉ khoảng 2-3 km.
Vùng nội thủy của Việt Nam rộng 12 hải lý, trong khi vùng đặc quyền kinh tế mở rộng đến 200 hải lý từ đường cơ sở Trên thềm lục địa biển Đông, cách mũi Khém khoảng 600 m có đảo Sơn Chà, mặc dù diện tích không lớn nhưng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước.
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng Bắc – Nam và là điểm kết nối hành lang Đông Tây giữa Thái Lan, Lào và Việt Nam qua đường số 9.
Là vị trí trung lộ của cả nước, nằm giữa thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Tỉnh có đường bờ biển dài 120 km, cùng với cảng Thuận An và vịnh Chân Mây có độ sâu từ 18 đến 20 m, đủ điều kiện để xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn Ngoài ra, tỉnh còn có cảng hàng không Phú Bài nằm trên quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo địa bàn.
2.1.2 Điều kiện tự nhiên: a Địa hình: Địa hình của tỉnh có cấu tạo dạng bậc khá rõ rệt như: Địa hình núi chiếm khoảng ẳ diện tớch , từ biờn giới Việt Lào, kộo dài đến thành phố Đà Nẵng Địa hỡnh Trung du chiếm khoảng ẵ diện tớch, độ cao phần lớn dưới 500 m, cú đặc điểm chủ yếu là đỉnh rộng, sườn thoải và phần lớn là đồi bát úp, với chiều rộng vài trăm mét Đồng bằng điển hình cho kiểu mài mòn, tích tụ, có cồn cát, đầm phá Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400 km 2 Tổng diện tích đất cho các loại cây trồng là 90.974 ha Trong đó diện tích cây hàng năm là: 44.546,67 ha; diện tích cây lâu năm là 5.343,2 ha (theo số liệu năm 2022) b Hệ thống sông ngoài:
Tỉnh có hệ thống sông suối và sông đào dài tổng cộng 1.055 km, với diện tích lưu vực lên tới 4.195 km² Các sông chính chạy từ Bắc đến Nam tỉnh bao gồm Sông Ô Lâu, Hệ thống sông Hương, Sông Nong, Sông Truồi và Sông Cầu.
Hai, Sông Bù Lu Trong đó có sông Hương là dòng sông lớn nhất, có 2 nguồi chính và đều bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn
Ngoài các sông thiên nhiên, xung quanh thành phố Huế còn các nhiều sông đào như: Sông A Cựu, Sông Đông Ba, Sông Kẻ Vạn, c Tài nguyên, khoáng sản:
Trên lãnh thổ Thừa thiên Huế đã phát hiện được 120 mỏ, điểm khoáng sản với
Việt Nam sở hữu 25 loại khoáng sản và tài nguyên nước dưới đất phân bố rộng rãi Trong số đó, các khoáng sản phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng đáng kể và có giá trị cao.
Khoáng sản nguyên liệu chủ yếu là than bùn, ở Phong Chương trữ lượng mỏ thang bùn lên tới 5 triệu m 3
Khoáng sản kim loại có: sắt, titan, chì, kẽm, vàng, thiếc,
Khoáng sản phi kim loại và vật liệu xây dựng là nhóm tài nguyên có tiềm năng lớn nhất tại tỉnh, bao gồm các loại như pyrit, phosphorit, kaolin, sét, đá granit, đá gabro, đá vôi, cuội sỏi và cát xây dựng.
Tài nguyên nước nhạt và nước khoáng nóng tại tỉnh được phân bố đồng đều, với 7 nguồn nước khoáng nóng như Thanh Tân, Mỹ An, và A Roàng có thể sử dụng cho mục đích uống và chữa bệnh.
Thừa Thiên Huế có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với nhiệt độ cao và bức xạ dồi dào Đặc biệt, chế độ mưa ở đây khác biệt so với các vùng khác trong cả nước, với lượng mưa lớn nhất Mùa mưa tập trung từ tháng 3 đến tháng 4, chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa hàng năm, trong khi tháng 10 và 11 có thể đạt tới 53% Mùa nắng nóng ở Huế cũng trái ngược với miền Bắc và miền Nam, khi mà trong khi miền Bắc và miền Nam phải đối phó với bão, Huế lại phải chịu đựng những cơn nắng oi bức.
2.1.3 Điều kiện xã hội: a Dân cư:
Tính đến năm 2021, dân số của tỉnh có 1.153.795 người Trong đó, nam là 571
245 người, nữ là 583.550 người, mật độ dân số là 233,2 người/km 2 , sống ở thành thị là 609.377 người, ở vùng nông thôn là 544,418 người
Tỉnh không chỉ có dân tộc Kinh mà còn có nhiều dân tộc thiểu số như Cơtu, Tà Ôi, Bru Vân Kiều, được coi là người bản địa ở phía tây Ngoài ra, còn có các dân tộc khác như Hoa, Mường, Thái và Thổ Qua thời gian sống chung, các dân tộc này đã hình thành bản lĩnh dân tộc và nét văn hóa đặc trưng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng cho tiểu vùng nơi họ sinh sống.
Thừa Thiên Huế là một trung tâm văn hóa đặc sắc của Việt Nam, được UNESCO công nhận với 5 danh hiệu, bao gồm 1 di sản văn hóa thế giới, 1 di sản văn hóa phi vật thể thế giới, và 3 di sản tư liệu thế giới.
Quần thể di tích Cố đô Huế: 1993
Nhã nhạc cung đình Huế: 2003
Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế: 2016
KHÁI QUÁT VỀ NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển:
Nhã nhạc đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển rõ ràng từ xưa, với lịch sử được ghi lại theo từng cột mốc thời gian Nhiều thế hệ đã kế thừa và gìn giữ loại hình nghệ thuật này, không ngừng phát triển và sáng tạo để nó trở nên hoàn thiện và tinh tế hơn Đến triều đại nhà Nguyễn, Nhã nhạc đã đạt đến đỉnh cao và phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Dưới đây là tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Nhã nhạc cung đình Huế.
Dưới triều đại Vua Đinh vào thế kỷ X, nhã nhạc đã xuất hiện, nhưng do tình hình và hoàn cảnh lúc bấy giờ, không có tư liệu nào được ghi chép lại Tình trạng này cũng tiếp tục diễn ra trong thời kỳ Tiền Lê.
Dưới thời nhà Lý (1010 - 1225), triều đình đã thành lập một đội ngũ ca nhạc múa cung đình với hơn 100 người, dựa trên nền tảng văn hóa và nghệ thuật dân gian của người Việt cổ Hoạt động hát múa trong cung đình trở nên phong phú và bài bản, vẫn giữ được sự gần gũi với các hình thức ca hát dân gian do cuộc sống giữa quý tộc và dân thường khá gắn bó Tuy nhiên, ảnh hưởng từ hai nền văn hóa Chiêm Thành và Trung Hoa đã dẫn đến sự phân hóa giai cấp rõ rệt hơn, làm tăng mức độ chính quy hóa trong tổ chức cung đình, từ đó tạo ra sự phân biệt và khắt khe hơn trong việc sử dụng nhạc cụ, hát và múa giữa cung đình và nhân gian.
Dưới thời Trần (1225 - 1400): Cùng với sự xuất hiện của Đại nhạc và
Triều đình quy định rõ ràng về việc phân biệt giữa Đại nhạc và Tiểu nhạc: Đại nhạc chỉ dành cho vua, trong khi hoàng gia và các quan lớn chỉ được xem trong các dịp lễ tết, còn Tiểu nhạc thì mọi người đều có thể thưởng thức Dưới thời nhà Trần, Đại nhạc bao gồm các nhạc cụ như trống cơm, ống kèn, tiểu quản, xập xõa và trống lớn, trong khi Tiểu nhạc có các nhạc cụ như đàn cầm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn thất huyền, đàn song huyền, địch, sái, kèn và quản.
Dưới thời nhà Hồ (1400 - 1407), âm nhạc cung đình đã có những chuyển biến đáng kể, mặc dù thời gian tồn tại của triều đại này rất ngắn Nhà Hồ đã thực hiện nhiều cải cách trong văn hóa, kinh tế và xã hội, trong đó có việc du nhập Nhã nhạc từ Trung Hoa Một trong những nguyên tắc quan trọng được áp dụng là kết hợp múa văn và múa võ trong nhạc cung đình.
Dưới thời nhà Lê (1427 - 1788), nhã nhạc đã hoàn thiện và trở thành loại nhạc chính thống, là tài sản riêng của triều đình, chỉ dành cho giới quý tộc và bác học với cấu trúc phức tạp Trong khi đó, tục nhạc, loại hình âm nhạc dân gian, cũng phát triển song song Tuy nhiên, vào thế kỷ XVI và XVII, âm nhạc cung đình bắt đầu suy thoái Để khôi phục, vua Lê đã thành lập hai tổ chức âm nhạc: Đường thượng chi nhạc với các nhạc cụ như trống tre lớn, biên khánh, đàn cầm, và Đường hạ chi nhạc với các nhạc cụ như tỳ bà, quản cổ.
Thời nhà Nguyễn (1802 - 1945): Thời này tình hình trên được cải thiện
Vào giữa thế kỷ XIX, sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội đã thúc đẩy sự phát triển của văn hóa nghệ thuật, đặc biệt dưới triều đại của vua Minh Mạng, Triệu Thị và Tự Đức Âm nhạc triều đình được coi trọng và do Bộ Lễ tổ chức, với 7 thể loại âm nhạc chính: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc và Cung trung nhạc Nhã nhạc được sử dụng trong các lễ tế đại triều hai lần mỗi tháng và thường triều bốn lần mỗi tháng, bao gồm các lễ như Nam Giao, Tịch điền, và sinh nhật của vua và hoàng hậu Các lễ tế đặc biệt như Đăng quang, lễ tang của vua và hoàng hậu, và đón tiếp sứ thần cũng có các thể loại âm nhạc riêng biệt, như Đại triều nhạc cho lễ Nguyên đán và Đại yến cửu tấu nhạc cho các dịp mừng thọ.
Triều đình đã mở rộng biên chế và bổ sung nhiều loại đàn nhạc, bao gồm Nhã nhạc, Huyền nhạc, Ti Trúc Tế nhạc, Ty chung, Ty khánh, và Ty cổ.
Đại nhạc bao gồm 42 nhạc cụ, trong khi Nhã nhạc có 8 nhạc cụ Ti Trúc Tế nhạc được biểu diễn bởi 8 ca sinh và 8 nhạc công Ty chung - Ty khánh có 6 nhạc công chơi các nhạc cụ, và Ty cổ gồm 7 nhạc công.
Vào cuối thế kỷ XIX, khi đất nước đối mặt với nạn ngoại xâm, vai trò của triều đình ngày càng giảm sút, dẫn đến sự suy giảm của âm nhạc trong các lễ nghi Cuối thời Nguyễn, chỉ còn hai loại nhạc chính là Đại nhạc và Tiểu nhạc Đồng thời, triều đình cũng đã cho du nhập dàn Quân nhạc phương Tây, khiến vai trò của Nhã nhạc trở nên mờ nhạt hơn.
Sau năm 1945, Nhã nhạc đã mất đi không gian vốn có và có nguy cơ mai một Từ năm 1975, Chính phủ và Bộ Văn Hóa - Thông tin đã có nhiều quyết định để bảo tồn loại hình văn hóa độc đáo này Vào tháng 3/1994, UNESCO đã phối hợp tổ chức hội nghị quốc tế về bảo vệ văn hóa phi vật thể vùng Huế Đến tháng 9/1996, Dự án đào tạo Nhã nhạc đầu tiên tại Trường Đại học Nghệ thuật Huế đã được khai giảng với 15 sinh viên Tháng 8/2002, Hội thảo Quốc tế về Nhã nhạc đã diễn ra, góp phần thúc đẩy công cuộc bảo tồn Giữa tháng 8/2002, hồ sơ Nhã nhạc đã được gửi đến UNESCO để đăng ký vào Danh mục Kiệt tác phi vật thể Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc cung đình Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại.
Nhã nhạc, mặc dù không còn giữ nguyên diện mạo như xưa, vẫn là minh chứng độc đáo cho sự sáng tạo văn hóa đặc biệt của dân tộc Việt Nam Được duy trì và phát triển qua hàng nghìn năm, nhã nhạc hiện nay vẫn mang trong mình giá trị văn hóa quý báu.
Lịch sử Nhã nhạc hiện đang gặp khó khăn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị, do số lượng tài liệu hạn chế và phân bố rải rác Không có cơ quan nào lưu trữ thông tin một cách hệ thống, dẫn đến việc thiếu hụt nghệ nhân và người có kiến thức về kỹ thuật diễn xướng.
2.2.2 Nhã nhạc cung đình Huế:
Nhã nhạc cung đình Huế, quốc nhạc của nhà Nguyễn (1802 - 1945), là loại hình âm nhạc chính thống, thường được biểu diễn trong các lễ hội trọng đại của Hoàng cung như Tế Nam Giao, Tế Xã Tắc, và các sự kiện quan trọng khác Nó không chỉ thể hiện sự trang trọng mà còn là biểu tượng cho vương quyền và sự hưng thịnh của triều đại Nhã nhạc đã được các triều đại quân chủ Việt Nam coi trọng và có nguồn gốc từ thời nhà Lý.
(1010 – 1225) nhưng phát triển mạnh mẽ và bài bản nhất là vào thời nhà Nguyễn
(1802 – 1945) Dưới thời Nguyễn Nhã nhạc được gọi là Nhã nhạc cung đình Huế Ngày 7/11/2013, Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác
Di sản văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại
Nhạc nghi thức trong âm nhạc cung đình Việt Nam và nhạc tế trong các đình làng, cũng như nhạc trong đám cưới và đám tang, được chia thành hai nhóm chính: nhóm phe văn và nhóm phe võ Sự phân chia này liên quan đến các nhạc cụ hòa tấu trong dàn nhạc cung đình Huế từ đầu thế kỷ XIX, với nguồn gốc bắt nguồn từ các quy luật của nhiều nghi thức cúng đình tại các làng, xã của người Việt ở Bắc bộ từ nhiều thế kỷ trước.
PHONG CÁCH CỦA NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
Nhã nhạc được tổ chức với quy mô lớn, thể hiện sự hoành tráng qua các buổi lễ quan trọng như Tế Giao và lễ Đại triều, với gần 100 người tham gia trình diễn Trong đó, múa Bát dật có 64 người, Đại nhạc 42 người, và Huyền nhạc 26 người Quan cảnh hùng tráng với sự hiện diện của binh lính, voi ngừa chầu hầu, cùng với không khí trang nghiêm và âm thanh lời ca, tiếng nhạc vang lên, tạo nên một lễ hội đầy ấn tượng.
Âm nhạc trang trọng và uy nghiêm được sử dụng trong các nghi lễ Triều đình, với đối tượng khán giả là vua chúa và thần linh Đặc điểm nổi bật của loại hình âm nhạc này thể hiện qua cách trình tấu của các nghệ sĩ, cùng với giai điệu và tiết tấu chậm rãi, tạo nên sắc thái âm nhạc đặc trưng.
Tính bác học trong văn hóa thể hiện qua triết lý sâu sắc về nhân sinh và vũ trụ, nhấn mạnh vai trò của Tôn quân, Thần quyền và Quân quyền Lời nhạc chương được chăm chút tỉ mỉ, mang đậm hình tượng và thể hiện tính bác học cao.
NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
Nhã nhạc cung đình Huế có mối quan hệ chặt chẽ với nghệ thuật Tuồng, thể hiện qua sự giao thoa giữa các làn điệu hát trong múa cung đình và các điệu Tuồng.
Nhã nhạc cung đình Huế rất phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều loại hình như ca, nhạc, múa, kịch, văn thơ và mỹ thuật Nó được phân chia thành các thể loại như nhạc lễ, nhạc thính phòng, sân khấu, nhạc không lời, nhạc có lời và nhạc kèn múa diễn xuất Ngoài ra, nhạc cung đình còn đa dạng về chủng loại nhạc khí và âm sắc, cũng như môi trường trình diễn, từ trong nhà, ngoài trời, đền, miếu, đàn tế, sân khấu cho đến dưới thuyền.
Nhã nhạc cung đình Huế nổi bật với tính biến hóa và biến tấu cao, cho phép mỗi nhạc cụ thể hiện bản nhạc theo cách riêng Mỗi nghệ nhân có thể chơi khác nhau tùy thuộc vào tâm trạng, không gian và cảm hứng, tạo nên sự độc đáo trong từng lần biểu diễn.
Nhã nhạc cung đình Huế nổi bật với quy mô lớn và tính chuyên nghiệp cao, bao gồm dàn nhạc và các tiết mục ca múa cung đình đa dạng Dàn nhạc có thể có tới 40 nhạc công cho tiết mục Cổ Xúy đại nhạc, trong khi các điệu múa như bát dật hoặc bai bông thu hút đến 64 vũ công, chưa kể đến sự hỗ trợ của dàn bát âm và các nhạc cụ bên ngoài.
Nhã nhạc cung đình Huế sở hữu một hệ thống lý luận âm nhạc phong phú, bao gồm các quy tắc âm luật và cách phân loại bài bản kèn dựa trên các phương pháp rung, nhấn Hệ thống này còn bao gồm những quy định âm nhạc đặc trưng cho từng loại bài bản và nhiều niêm luật khác nhau.
NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
Nét đẹp độc đáo của văn hóa nghệ thuật Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Triều đình đã tạo điều kiện thuận lợi về chính trị và tài chính để thu hút nhiều nhạc sĩ, nhạc công tài năng từ khắp nơi trong nước Khi tiến cung, họ có thời gian và dụng cụ để phát triển kỹ năng nghệ thuật, trở thành những nhạc sĩ chuyên nghiệp với khả năng sáng tác và biểu diễn tinh vi Những người này mang trong mình niềm đam mê mãnh liệt với âm nhạc và nghệ thuật, sẵn sàng hi sinh và cống hiến cả đời cho Nhã nhạc.
Nhạc khí được chế tác tinh xảo và đa dạng, với hơn 30 loại khác nhau, mang đến nhiều âm sắc phong phú như tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trong, tiếng đục, tiếng bổng, tiếng trầm, tiếng da, tiếng khánh, và tiếng đồng Sự kết hợp hài hòa giữa các âm sắc này, từ tiếng sáo cao đến âm thanh trầm của đàn tỳ bà, tạo nên những khúc nhạc hoàn mỹ, thu hút sự chú ý của người nghe.
Nhã nhạc cung đình Huế là một thể loại âm nhạc truyền thống với quy mô lớn và cấu trúc rõ ràng, được chia thành hai dàn nhạc Dàn nhạc lớn (Đại nhạc) bao gồm các nhạc cụ như kèn, trống và bộ gõ, với nhiều loại kèn khác nhau như kèn đại, kèn trung và kèn tiểu Trống cũng rất đa dạng, từ trống đại cổ đến trống tiểu cổ và cặp trống vỗ Bộ gõ bao gồm các nhạc cụ như mõ, phách, chuông lớn, chuông nhỏ, đại la và tiểu loa Dàn nhạc nhỏ (Tiểu nhạc) sử dụng các nhạc cụ dây tơ và sáo trúc, tạo nên sự phong phú cho âm thanh của nhã nhạc.
Âm nhạc truyền thống Việt Nam bắt nguồn từ âm nhạc dân gian, được chọn lọc, tinh chế và nâng cao để phù hợp với cung đình Trong quá trình phát triển, âm nhạc này cũng tiếp thu và chịu ảnh hưởng từ âm nhạc cung đình Trung Hoa và văn hóa Chăm Pa, đặc biệt là trong quan niệm về vũ trụ nhân sinh liên quan đến âm dương ngũ hành Điều này thể hiện nét tương đồng chung trong văn hóa phương Đông.
Nhã nhạc là một di sản văn hóa độc đáo của Huế, thể hiện rõ nét phong cách và tâm hồn bản sắc Việt Nó không chỉ đại diện cho văn hóa cung đình Huế mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với âm nhạc dân gian địa phương, chia sẻ những yếu tố âm nhạc đặc trưng như hơi Khách và hơi Dựng.
Trong âm nhạc truyền thống, hơi nhạc được hình thành từ thang âm và các hình thức chữ nhạc phù hợp với ngữ điệu, giọng nói Huế Nhã nhạc có ảnh hưởng sâu rộng đến các loại hình âm nhạc khác như Ca Huế và nhạc Tuồng, đồng thời lan tỏa vào miền Nam, tạo ra các hình thức biểu diễn mới như Đờn ca tài tử và Cải lương.
Giá trị giáo dục có tính bao trùm, định hướng xã hội, lý tưởng, đạo đức và hành vi con người theo chuẩn mực xã hội, thể hiện tính nhân loại của văn hóa Nhã nhạc cung đình Huế cần được bảo tồn như các di sản văn hóa khác, vì mỗi di sản giúp gợi nhớ về lịch sử và quá trình hình thành, phát triển Giá trị chức năng của văn hóa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển liên tục của lịch sử dân tộc.
Nhã nhạc cung đình Huế là một loại hình âm nhạc quan trọng, không thể thiếu trong các buổi lễ lớn nhỏ của cung đình Huế Nó không chỉ là tiếng nói kết nối người Việt với nhau mà còn với bạn bè quốc tế Nhã nhạc mang đến những giá trị văn hóa bền vững trong tâm thức người Việt, đặc biệt là người Huế Đồng thời, đây cũng là một loại hình nghệ thuật thu hút du khách đến Huế, khuyến khích họ tìm tòi, khám phá và trải nghiệm, góp phần thúc đẩy du lịch và các hoạt động giải trí.
NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ HUẾ
2.6.1 Số lượng khách đến với Nhã nhạc cung đình Huế:
Nhã nhạc cung đình Huế là một di sản văn hóa quan trọng, được khai thác hiệu quả trong ngành du lịch, thu hút đông đảo khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế.
Năm 2019, Huế đón 4,8 triệu lượt khách du lịch, tăng gần 11% so với năm trước, trong đó có 2,2 triệu lượt khách lưu trú, tăng 5,1% Doanh thu ngành du lịch đạt 4.900 tỷ đồng, tăng 9,6%, và doanh thu xã hội từ du lịch đạt 12.250 tỷ đồng Thị trường khách quốc tế ổn định, với lượng khách chủ yếu đến từ Tây Âu và Bắc Mỹ.
Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan,
Số lượng khách tham quan Nhã nhạc cung đình Huế ngày càng tăng theo thời gian, đặc biệt là trong Festival Huế lần thứ 3 vào năm 2004, nơi tôn vinh nghệ thuật này với nhiều sân khấu biểu diễn thành công Từ năm 2005 đến 2007, Nhã nhạc được phát huy và khai thác mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của du khách.
2019 lượng khách đến với Nhã nhạc cung đình Huế ngày càng tăng Đặc biệt là năm
Năm 2016, Festival tại Thừa Thiên Huế thu hút 999.865 lượt khách, đánh dấu sự tăng trưởng mạnh mẽ Tuy nhiên, vào năm 2020, ngành du lịch địa phương gặp khó khăn nghiêm trọng do ảnh hưởng của Covid-19, dẫn đến sự sụt giảm 87% lượng khách tham gia các hoạt động nghệ thuật Tổng số lượng khách thưởng thức loại hình nghệ thuật này từ năm 2007 đến nay đã bị ảnh hưởng đáng kể.
Cơ cấu khách du lịch đến với Nhã nhạc Cung đình Huế cho thấy sự chênh lệch giữa khách quốc tế và khách nội địa, với 52% là khách quốc tế và 48% là khách nội địa Sự công nhận của UNESCO vào năm 2003 đã giúp nâng cao nhận thức của khách quốc tế về loại hình nghệ thuật này Nhã nhạc Cung đình Huế không chỉ là một hình thức du lịch độc đáo mà còn mang giá trị văn hóa sâu sắc, thể hiện bản sắc của một triều đại được phục hồi gần như nguyên bản, tạo nên sự đặc biệt cho trải nghiệm du lịch.
2.6.2 Doanh thu của ngành du lịch từ Nhã nhạc cung đình Huế:
Sự gia tăng số lượng khách du lịch đã dẫn đến doanh thu từ Nhã nhạc cung đình Huế tăng lên trong thời gian gần đây Đặc biệt, vào năm 2008, doanh thu đạt mức cao kỷ lục 1.753.780.000 đồng, trùng với thời điểm diễn ra Festival Huế.
Từ năm 2014 đến 2019, doanh thu tăng liên tục, đặc biệt đạt 2.368.790.700 đồng vào năm 2018 Tuy nhiên, năm 2020 chứng kiến sự sụt giảm mạnh do dịch bệnh, với doanh thu chỉ đạt 282.280.892 đồng Vào những năm có Festival, lượng khách đến Huế, đặc biệt là khách quốc tế, rất đông, dẫn đến doanh thu từ Nhã nhạc cao và góp phần quảng bá hình ảnh du lịch của Huế ra thế giới.
Doanh thu từ Nhã nhạc cung đình Huế vẫn còn khiêm tốn so với tổng doanh thu từ tham quan du lịch của Thừa Thiên Huế, chỉ chiếm khoảng 1,3% trong giai đoạn 2007 - 2009 Trong những năm có lễ hội lớn, doanh thu này cũng chỉ đạt 2,2% vào năm 2008.
Mặc dù được UNESCO công nhận là một loại hình nghệ thuật độc đáo, nhưng nghệ thuật này vẫn chưa được khai thác triệt để và quảng bá rộng rãi đến du khách Điều này dẫn đến việc nó chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của khách du lịch.
Tỷ lệ doanh thu từ Nhã nhạc cung đình Huế biến động theo thời gian và xu hướng, đặc biệt trong những năm có lễ hội lớn tại Thừa Thiên Huế Doanh thu từ nghệ thuật này thường cao, với tỷ lệ % doanh thu so với tổng doanh thu tham quan đạt 2,2% vào năm 2018, 1,35% vào năm 2014, và 1,3% vào năm 2016.
2.6.3 Địa điểm thời gian, nội dung biểu diễn của Nhã nhạc cung đình Huế:
Trong các kỳ Festival Huế 2004, 2006, 2008, Nhã nhạc cung đình Huế đã được biểu diễn trong các lễ tế như lễ tế đàn Nam Giao, lễ tế đàn Xã Tắc, lễ Truyền Lô, lễ thi tiến sỹ Võ và lễ lên ngôi hoàng đế Quang Trung Những buổi biểu diễn này thường diễn ra tại Nhà hát Duyệt Thị Đường (Đại Nội Huế) và Nhà hát Minh Khiêm Đường (Lăng Tự Đức).
Nhã nhạc thường được biểu diễn trong các lễ hội lớn và lễ tế quan trọng, với địa điểm chính là Duyệt Thị Đường (Đại Nội) và Minh Khiêm Đường (Lăng Tự Đức) Thời gian biểu diễn trước đây kéo dài 45 phút, nhưng hiện nay, nhằm thu hút du khách, nhà hát đã giảm thời gian biểu diễn xuống còn 20 phút và miễn phí cho khán giả.
Các địa điểm biểu diễn hiện nay ngắn hơn trước và theo quy định, tuy nhiên, chúng lại nằm trong các di tích và lăng tẩm Điều này khiến du khách gặp khó khăn trong việc sắp xếp thời gian khi phải tham quan nhiều địa điểm trong khu di tích cùng một lúc.
Nhà hát nghệ thuật truyền thống cung đình Huế thông báo rằng từ ngày 9/1/2021, Nhà hát Duyệt Thị Đường sẽ tổ chức các hoạt động biểu diễn phục vụ khách, bao gồm Nhã nhạc cung đình Huế, Tuồng và Múa hát cung đình Nội dung biểu diễn sẽ bao gồm Nhã nhạc, múa cung đình và trích đoạn Tuồng cung đình Huế.
Nhã nhạc cung đình Huế là một loại hình nghệ thuật độc đáo, thể hiện sự đa dạng và tính nguyên bản Để cảm nhận trọn vẹn giá trị nghệ thuật của nó, người xem cần có kiến thức về lịch sử và giá trị văn hóa của Nhã nhạc Nếu thiếu hiểu biết, khán giả có thể cảm thấy nhàm chán và chỉ đến một lần mà không thực sự thưởng thức được vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật này.
THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận, nhờ vào sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ trong việc truyền nghề, thu thập tư liệu và mở các hệ đào tạo liên thông Điều này tạo ra môi trường thuận lợi cho việc tổ chức và phục hồi các yếu tố của không gian diễn xướng.
Khác với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ Bắc Ninh và Ca trù, Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhà hát nghệ thuật truyền thống có những đặc trưng riêng biệt cùng với những thuận lợi trong quá trình trùng tu và tôn tạo.
Cố đô Huế Mà điểm chính ở nơi đây là Nhã nhạc cung đình Huế nên nó đã trở thành một đơn vị hoạt động nghệ thuật có doanh thu
Các kỳ Festival Huế trong những năm qua đã tạo điều kiện cho Nhã nhạc cung đình Huế có cơ hội quảng bá và thể hiện Hiện nay, Nhã nhạc cung đình Huế đã vươn ra ngoài biên giới Việt Nam, khẳng định vị thế của mình.
22 âm nhạc cung đình của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và các nước trên thế giới
Thứ tư, Theo NSND Bạch Hạc cho biết thì đến nay Nhà hát đã khôi phục được
Trong số 11 vũ khúc cung đình, có 8 điệu múa đã được lập hồ sơ khoa học và phục hồi nguyên bản, bao gồm múa Tam quốc tây du, Tam tinh chúc thọ, Lục cúng hoa đăng, Bát tiên hiến thọ, Phiến vũ cùng các vũ khúc cung đình khác.
Bên cạnh những thuận lợi trên thì việc bảo tồn và phát huy Nhã nhạc cung đình Huế cũng gặp phải những khó khăn nhất định như:
Nhã nhạc cung đình Huế đang đối mặt với nguy cơ mai một do thiếu tài liệu lịch sử và cơ sở lưu trữ hệ thống Số lượng nghệ nhân và người biểu diễn có kiến thức về Nhã nhạc hiện nay còn hạn chế, điều này ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này.
Nhã nhạc cung đình Huế là một loại hình nghệ thuật bác học, đòi hỏi người xem phải có kiến thức về lịch sử và giá trị của nó để cảm nhận được vẻ đẹp và sự tinh túy bên trong Nếu thiếu hiểu biết, người xem có thể cảm thấy nhàm chán và thiếu hứng thú.
Thứ ba, dễ bị xuyên tạc làm mất đi những hình ảnh đẹp đẽ vốn có của loại hình nghệ thuật dân gian này mang lại
Những nghệ nhân cuối cùng của triều Nguyễn như La Cháu, Trần Kích và Lữ Hữu Thi đã qua đời, gây khó khăn trong việc truyền nghề và so sánh các vũ khúc để hoàn thiện bài bản Hệ quả là nhiều bản nhạc trong Nhã nhạc cung đình vẫn chưa được phục hồi.
Trong thời đại 4.0, việc tuyển sinh cho ngành diễn viên múa Cung đình tại các trường Trung cấp nghề vẫn còn nhiều hạn chế Chương trình đào tạo chưa đáp ứng đủ yêu cầu, khiến sinh viên ra trường chưa sẵn sàng cho công việc biểu diễn tại Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế Điều này dẫn đến nguồn lực cho biểu diễn múa cung đình chưa được đảm bảo và ổn định.
GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHÃ NHẠC
Để bảo tồn và phát huy Nhã nhạc cung đình Huế trong phát triển du lịch, cần phục hồi và dựng lại các bản lễ nhạc nhằm giúp Nhã nhạc hồi sinh và phát triển bền vững Sau khi được UNESCO vinh danh, đã có hơn 100 bài Nhã nhạc được phục hồi, cần đưa vào trình diễn để thu hút khách du lịch và tạo thêm nhiều sự lựa chọn cho du khách.
Các nhà trường nên tổ chức các buổi học ngoại khóa về Nhã nhạc cung đình Huế cho trẻ em, học sinh và sinh viên, nhằm giúp các em tiếp cận và hiểu biết sâu sắc hơn về loại hình nghệ thuật truyền thống này Điều này không chỉ khơi dậy niềm đam mê mà còn tạo sự hứng thú cho các em Bên cạnh đó, việc lồng ghép các bài học về lịch sử hình thành và phát triển của Nhã nhạc vào chương trình học sẽ giúp các em có kiến thức vững vàng, từ đó thưởng thức nghệ thuật một cách lôi cuốn hơn.
Nhà nước và các cơ quan nên tổ chức các sân chơi và cuộc thi tìm hiểu, nghiên cứu, biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế để thu hút sự quan tâm và ủng hộ của cộng đồng Cần tăng cường các chương trình biểu diễn cho các tổ chức, trường học, và lưu diễn tại các vùng sâu, vùng xa, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục nghệ thuật và đưa giá trị nghệ thuật của Nhã nhạc đến gần hơn với mọi người.
Hỗ trợ và tạo điều kiện cho nghệ sĩ giảng dạy và truyền nghề cho thế hệ sau là rất quan trọng Cần xây dựng các trung tâm âm nhạc truyền thống và cung cấp đạo cụ để tạo ra môi trường học tập tốt cho những người đam mê và muốn cống hiến Điều này sẽ giúp phát triển nguồn nhân lực bền vững phục vụ cho ngành du lịch.
Xây dựng bảo tàng để lưu giữ nhạc và nhạc cụ từ các triều đại, đồng thời bán vé tham quan cho du khách trong và ngoài nước, tạo cơ hội cho họ khám phá và tìm hiểu vẻ đẹp văn hóa.
Truyền thống văn hóa của dân tộc ta không chỉ giúp bảo tồn những tư liệu quý giá về Nhã nhạc mà còn thúc đẩy sự phát triển du lịch, đặc biệt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Huế.
Đầu tư bài bản vào công tác truyền thông và xúc tiến thông tin đại chúng là cần thiết để giới thiệu và tuyên truyền vẻ đẹp của Nhã nhạc cung đình Huế đến với mọi người, đặc biệt là bạn bè quốc tế Đồng thời, cần kêu gọi sự ủng hộ từ các nhà đầu tư và thực khách để có kinh phí biểu diễn ở nước ngoài, giúp họ hiểu rõ hơn về sức hấp dẫn và giá trị nhân văn của loại hình nghệ thuật này.
Lên kế hoạch và xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế là cần thiết để quảng bá Nhã nhạc cung đình Huế Đặt mục tiêu cụ thể hàng năm với các quốc gia trong khu vực và toàn cầu sẽ giúp tiếp nhận và giới thiệu những giá trị văn hóa nghệ thuật độc đáo Tham gia các cuộc thi và tổ chức biểu diễn ở nước ngoài không chỉ tăng cường giao lưu văn hóa mà còn góp phần phát triển du lịch và hội nhập văn hóa.
Nhã nhạc cung đình Huế là một báu vật vô giá của quốc gia, được hình thành và phát triển qua hàng trăm năm Dù trải qua nhiều biến động của đất nước, loại hình nghệ thuật này vẫn được bảo tồn và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Sau khi tìm hiểu và phân tích Nhã nhạc cung đình Huế, tôi đã có cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn về bộ môn nghệ thuật này, cũng như lịch sử Việt Nam Với những giá trị đặc trưng, tôi nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc thúc đẩy phát triển Nhã nhạc cung đình Huế Tôi cũng cảm thấy ngưỡng mộ trước sự tinh hoa và đồ sộ của loại hình nghệ thuật này, góp phần xây dựng và lan tỏa những giá trị tốt đẹp đến người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.
Mặc dù các giải pháp đề xuất có thể chưa hoàn hảo do tính hạn chế của đề tài, nhưng chúng vẫn đáng được xem xét trong việc bảo tồn và phát huy Nhã nhạc cung đình Huế trong phát triển du lịch Bên cạnh đó, cần nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn trong việc bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật truyền thống này.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, chúng em nhận thức rõ trách nhiệm của mình như những chủ nhân tương lai của đất nước trong thời đại công nghệ mới Chúng em cần lan tỏa giá trị của Nhã nhạc cung đình Huế và cùng nhau bảo vệ, phát triển di sản văn hóa này với khát vọng tươi sáng Qua bài tiểu luận này, em hy vọng Nhã nhạc cung đình Huế sẽ ngày càng được nhiều người biết đến và phát triển trong lĩnh vực du lịch, tránh bị mai một hay biến chất.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Văn Bốn (2012), “Văn hóa du lịch Việt Nam”, T/C Văn hóa Nghệ thuật, số 335, Hà Nội
2 Nguyễn Ngọc Hiền (2021), “Tìm hiểu về Nhã nhạc cung đình Huế”, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Nguyễn Thị Hoàng Lan (2022), “Phát huy nhã nhạc trong lĩnh vực du lịch”,
Báo Thừa Thiên Huế, tr.1-2
4 Nguyễn Trọng Chính (2018), “Bảo tồn phát huy giá trị Nhã nhạc cung đình Huế - Di sản văn hóa của nhân loại”, Báo ảnh dân tộc và miền núi”, 226
5 Phan Thuận An, Phan Thuận Thảo (2002), “Thử đi tìm định nghĩa về Nhã nhạc Việt Nam, Âm nhạc cung đình Huế”, Kỷ yếu hội thảo, Huế
Nhã nhạc cung đình Việt Nam được coi là một kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, như được nêu trong bài viết của Phan Tiến Dũng và Nguyễn Phước Hải Trung (2004) trên Tạp chí Di sản văn hóa Bài viết này nhấn mạnh giá trị văn hóa và nghệ thuật của nhã nhạc, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của nó trong di sản văn hóa Việt Nam.
Phan Hạnh Thục (2007) trong luận văn Thạc sĩ Du lịch Học đã nghiên cứu sức hấp dẫn của một số loại hình văn hóa phi vật thể ở Huế đối với khách du lịch Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố văn hóa độc đáo của Huế và tác động của chúng đến sự thu hút du khách.
Trường đại học Khoa học xã hội & nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
8 Wikipedia (2022), “Nhã nhạc cung đình Huế”, https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A3_nh%E1%BA%A1c_cung_%C4% 91%C3%ACnh_Hu%E1%BA%BF, Ngày truy cập [18/11/2022]
9 Wikipedia (2022), “Thừa Thiên Huế”, https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%ABa_Thi%C3%AAn_Hu%E1%BA%BF, Ngày truy cập [10/11/2022]
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH VÀ BẢNG BIỂU
Hình 1 Nhã nhạc cung đình Huế ở Festival Huế 2004
Nguồn:https://www.vntrip.vn/cam-nang/nha-nhac-cung-dinh-hue-35446
Hình 2 Nhã nhạc ở giai đoạn đầu của triều đại nhà Nguyễn
Nguồn:http://vietrigpaunesco.org/2021/05/07/nha-nhac-cung-dinh-hue-di-san-van-hoa- phi-vat-the-tai-viet-nam/
Hình 3 Các ban nhạc, nhạc khí, bài bản âm nhạc, ca chương,
Nguồn: http://vietrigpaunesco.org/2021/05/07/nha-nhac-cung-dinh-hue-di-san-van-hoa-phi-vat-the- tai-viet-nam/
Hình 4 Hội nghị quốc tế về bảo vệ và gìn giữ phục hồi văn hóa phi vật thể Huế
Nguồn:http://vietrigpaunesco.org/2021/05/07/nha-nhac-cung-dinh-hue-di-san-van-hoa-phi-vat-the- tai-viet-nam/
Hình 5 Biểu diễn Nhã nhạc tại Festival Huế
Nguồn: https://www.sggp.org.vn/nha-nhac-tai-san-vo-gia-cua-nhan-loai-500250.html
Hình 6 Cấu trúc của bộ gõ trong dàn Đại nhạc
Nguồn: https://chuongchua.com/cac-loai-trong-dan-toc-viet-nam.html
Hình 7 Bộ hơi và bộ dây trong dàn đại nhạc
Nguồn: https://sdl.thuathienhue.gov.vn/?gd &cn&tc"21
Hình 8 Bộ gõ trong dàn Tiểu nhạc
Nguồn: https://dotchuoinon.com/2015/07/14/nhac-cu-co-truyen-vn-trong/
Hình 9 Bộ hơi và bộ dây trong dàn Tiểu nhạc
Nguồn: https://reviewnhaccu.com/2019/09/nhac-cu-truyen-thong-bien-gioi-van-hoa-va-bien-do- dan-toc/
Hình 10 Một số điệu múa cung đình nổi bật
Nguồn: http://www.didulich.net/tin-tuc-su-kien/mua-cung-dinh-10219
Hình 11 Lượng khách xem Nhã nhạc cung đình Huế tại Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống cung đình Huế
Nguồn: Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Hình 12 Cơ cấu khách du lịch đến xem Nhã nhạc cung đình Huế tại Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống cung đình Huế
Nguồn: Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Hình 13 Doanh thu từ khai thác nhã nhạc tại tại Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống cung đình Huế
Nguồn: Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Doanh thu từ xem biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế (đồng)
Tổng doanh thu của tham quan du lịch (đồng)
% Doanh thu từ khai thác nhã nhạc cung đình Huế (%)