Điều này gâytác động không nhỏ đến việc tiếp nhận tri thức một cách thụ động của học sinh.Học sinh như trở thành một cỗ máy tiếp nhận chứ không chủ động, sáng tạo.Trong khi việc dạy Ngữ
Trang 1ẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở lí luận:
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đangtừng bước được đẩy mạnh Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của BCH TW Đảngkhoá VIII nêu rõ: “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyềnthụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”, “phươngpháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của ngườihọc, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Đĩ là dạy học theo
hướng “Tích cực hoá” lấy hoạt động học tập của học sinh làm trung tâm, vai trò của người thầy là người tổ chức – chủ đạo, học trò là người chủ động khám
phá – lĩnh hội kiến thức Thực tế giáo viên tuy có ý thức đổi mới nhưng nhìn
chung vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của phương pháp trước đây Điều này gâytác động không nhỏ đến việc tiếp nhận tri thức một cách thụ động của học sinh.Học sinh như trở thành một cỗ máy tiếp nhận chứ không chủ động, sáng tạo.Trong khi việc dạy Ngữ văn có hiệu quả lại đòi hỏi cao hơn Giảng dạy Văn làmột quá trình mang tính chất nghệ thuật tạo sự kích thích, định hướng và hướngdẫn Dạy khơng chỉ là sự truyền đạt đơn thuần kiến thức mà là một quá trình tạomối tương quan giữa người dạy, người học và tư liệu giảng dạy Thơng thườngngười học chỉ nhớ: 10% những gì họ ĐỌC, 20% những gì họ NGHE, 30% những
gì họ THẤY, 50% những gì họ NGHE VÀ THẤY, 80% những gì họ NĨI, 90%những gì họ NĨI VÀ LÀM, tức là khi họ KHÁM PHÁ CHO CHÍNH HỌ Hiệnnay, thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nhiều giáo viên đã khơngngừng tìm tịi, tích lũy kinh nghiệm, sáng tạo ra những ý tưởng hay, để cĩ thể tạo
Trang 2ra một giờ giảng sinh động, ấn tượng và đạt được mục tiêu của bài học cần chuyểntải đến người học Khơng nằm ngồi mục đích đĩ, trước yêu cầu ngày càng nângcao hơn nữa chất lượng bài giảng với phương châm rút ngắn khoảng cách giữangười dạy và người học bằng những hoạt động, sản phẩm cụ thể trong dạy học,phương pháp giảng dạy cĩ sử dụng “trị chơi học tập” là một sản phẩm như thế.Chúng ta vẫn thường đưa ra phương châm hay khẩu hiệu “tạo ra một giờ học thânthiện” và bằng cách này hay cách khác, phương pháp truyền thống hay hiện đại,đơi khi chúng ta vẫn loay hoay để cĩ một giờ giảng tốt nhất, thân thiện và dân chủnhất, thì chính phương pháp sử dụng “trị chơi học tập” giúp chúng ta đạt được yêu
cầu này Theo đĩ, phương pháp sử dụng “trị chơi học tập” cĩ thể được hiểu đĩ là một phương thức, cách thức truyền tải một thơng điệp, một nội dung cụ thể nào đĩ đến người nghe thơng qua hình thức trị chơi – chơi mà học, từ đĩ ý nghĩa của nội dung bài học được truyền tải đến người nghe một cách nhẹ nhàng, nhưng đầy sâu sắc và dễ hiểu Hay nĩi cách khác “trị chơi học tập” là “chiếc cầu nối” hữu hiệu
và thân thiện nhất, tự nhiên nhất giữa người dạy và người học trong giải quyếtnhiệm vụ chung và cùng hướng tới đạt được mục tiêu của bài học
2 Cơ sở thực tiễn:
Thực tế mấy năm gần đây, tình hình học sinh trong nhà trường có sự biếnđổi theo chiều hướng tiêu cực, với tình trạng học sinh chây lười trong việc họccác môn, trong đó có bộ môn Ngữ văn Càng ngày số lượng học sinh học giỏibộ môn Ngữ văn càng ít bởi lẽ các em vẫn còn thấy chưa hứng thú với việc họcbộ môn này Các em thấy rằng việc học Ngữ văn là quá nặng nề vì phải họcthuộc lòng nhiều, phải ghi nhiều trong quá trình học tập Chính điều này đòi hỏiphải có những phương pháp cải tiến trong việc dạy và học Ngữ văn Đây là yêucầu bức thiết được đặt ra đối với những giáo viên giảng dạy bộ môn này
Trang 3Tình trạng học sinh còn lười học môn ngữ văn cĩ nhiều nguyên nhân trong
đĩ cũng có nguyên nhân từ giáo viên chưa gây được sự hứng thú trong các tiếtdạy của mình Chính vì lẽ đó, kết quả cuối cùng mà học sinh đạt được là chưacao
Cụ thể như trong năm học 2008-2009, kết quả xếp loại học lực môn Ngữvăn của học sinh khối 8 trường THCS Minh Lập như sau:
Với kết quả như trên so với yêu cầu của nhà trường đặt ra thì quả làđáng lo ngại Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi rất bănkhoăn và trăn trở làm thế nào giúp các em ham học bộ môn này hơn? Đểcác em tiến bộ và đạt được kết quả cao hơn?Làm sao cho các em yêu thíchmôn học này hơn? Để giải quyết được điều này, tôi đã phân tích, nghiên cứuvà sáng tạo trong việc vận dụng phương pháp vào giảng dạy, tạo cho mỗitiết dạy Ngữ văn trở thành những tiết học mà học sinh mong đợi.Bởi thực tế, học sinh Trung học cơ sở là lứa tuổi thích hoạt động, khơng chịungồi yên một chỗ mặc dù ở trong tiết học giáo viên luơn muốn lớp trật tự, thậtnghiêm túc Song khổ nỗi học sinh ngồi cả 45 phút để chỉ nghe, hoặc chỉ đểgiáo viên phát vấn câu hỏi, học sinh trả lời thì cĩ lẽ sẽ gây nhàm chán Vàchính điều đĩ dù giáo viên nĩi rất nhiều, cung cấp một lượng kiến thức kháphong phú, song chưa chắc đã in sâu vào trí nhớ của các em Nếu chúng ta biết cách tạo cho các em một niềm phấn khởi trong khi họctập thì cĩ lẽ kết quả sẽ cao hơn rất nhiều Một trong những cách đĩ chính là tổchức một số trị chơi liên quan đến bài học
Trang 4Từ kinh nghiệm giảng dạy thực tế, tôi đã đưa ra giải pháp để áp dụng vàoviệc giảng dạy bộ môn của mình và tơi cũng xin mạnh dạn trình bày trong đề tàinày đó la:ø “Một số hình thức tổ chức trị chơi nhằm tạo hứng thú cho học sinhtrong dạy học môn Ngữ văn THCS”.
II PHẠM VI- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở ở các khối lớp 6,7,8,9 ở cả ba phânmơn: Văn bản, Tiếng Việt, Làm văn
- Phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm là ở đối tượng học sinh cáckhối lớp của trường THCS Minh Lập trong hai năm học 2009 – 2010 và 2010 –
2011
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trong những năm giảng dạy vừa qua, tôi cũng đã tiến hành áp dụng mộtsố phương pháp vào việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong đĩ cĩ phương pháp
tổ chức trị chơi và đạt kết quả khả quan Đó là học sinh càng yêu thích môn họcnày hơn và kết quả học tập của học sinh cũng cĩ nhiều tiến bộ hơn
Từ những thực tế đó, tôi đã rút ra được những kinh nghiệm nho nhỏ và xinđược trình bày ở đây với hi vọng rằng kinh nghiệm của tôi được sự đón nhận củađồng nghiệp để cùng chia sẻ và gĩp một phần vào việc tạo hứng thú cho học sinhkhi học mơn học mang tính nghệ thuật và sang tạo này Học sinh được “Học màchơi, chơi mà học” sẽ cĩ thêm hứng thú và hiệu quả cao hơn Trên cơ sở đĩ, đưachất lượng giáo dục ngày càng đi lên
Trang 5ẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Từ thực trạng học tập môn Ngữ văn chưa đạt hiệu quả cao, tôi đã tiếnhành tổ chức một số trò chơi trong quá trình giảng dạy như:
- Trị chơi: Ai nhanh hơn? Ai giỏi hơn?
- Học sinh: Nắm chắc thể lệ trò chơi do giáo viên đưa ra để tuân thủ thựchiện một cách nghiêm ngặt và đúng quy tắc Nếu là trò chơi mang tính chất tậpthể thì đòi hỏi mỗi thành viên phải có tinh thần trách nhiệm và ý thức cao khitham gia chơi
Về cơ bản tổ chức trị chơi trong dạy học môn Ngữ văn được thực hiệnnhư sau:
1.Trị chơi “ Ai nhanh hơn? Ai giỏi hơn?”
Trị chơi này cĩ thể áp dụng với các dạng bài tâp: tìm từ, lựa chọn từ, đặtcâu, hoặc kiểm tra kiến thức cũ của văn bản…Đây là những bài tập cần phải sửdụng một lượng từ hoặc câu khấ nhiều Do vậy nếu huy động được sự hợp tác củatập thể sẽ đạt hiệu quả cao hơn, giải quyết được nhiều bài trong một thời gianngắn Bên cạnh đĩ, trong quá trình giải bài tập sẽ tạo được hứng thú, tích cực, chủ
Trang 6động sang tạo, giúp học sinh đua tranh nhau hồn thành nhanh bài tập mà khơng
lo cháy giáo án
* Chuẩn bị:
- Giáo viên:
+ Bảng phụ: giấy rô-ki, bảng mê-ka, chia phần bảng cho mỗi nhĩm
+ Bút viết bảng trắng hoặc phấn
+ Sử dụng hệ thống bài tập trong sách giáo khoa( hoặc trong trường hợp cầnmột bài tập để hệ thống nhiều kiến thức mà SGK chưa đáp ứng thì cĩ thể lựa chọnbài tập ngồi nhưng phải vừa sức, đúng chuẩn )
+ Quy định thời gian cho trị chơi ( khoảng từ 1-5 phút)
- Học sinh:
+ Cử ra nhóm trưởng để điều hành hoạt động của nhóm mình
+ Thực hiện theo đúng yêu cầu đề ra
* Thời gian tổ chức:
Tổ chức theo đúng trình tự bài tập vì SGK đã sắp xếp bài tập từ dễ đếnkhĩ,từ nhận biết đến vận dụng Thường được sử dụng ở phần luyện tập củng cố saukhi dạy xong kiến thức lý thuyết
* Cách tổ chức:
-Tổ chức theo nhĩm thi theo kiểu tiếp sức hoặc chia hai dãy bàn cho các em
tự động lên thi vĩi nhau.Khi giáo viên hơ bắt đầu thì 2 nhaons hoặc hai cá nhânlàm bài Nếu tổ chức theo kiểu trị chơi tiếp sức thì: lần lượt theo thứ tự của cácnhĩm lên làm sau đĩ về chỗ và trao phấn cho người tiếp theo…cứ như vậy chođến hêt thời gian quy định hoặc hất bài tập yêu cầu
Trang 7- Cá nhân hoặc nhóm nào hoàn thành bài tập nhanh hơn, chính xáchơn hoặc số lượng nhiều hơn thì sẽ được thưởng bằng tràng pháo tay hoặc cộngđiểm …)
* Những bài tập trong SGK có thể áp dụng trò chơi này như:
Bài tập 4 của bài Nói quá ( SGK trang 103):
Giáo viên chia bảng làm hai cột nhỏ yêu cầu hai dãy bàn thi tìm 5 thành ngữ
so sánh có dung biện pháp nói quá trong vòng 2 phút Mỗi dãy cử người lên tìm,người này ghi xong chạy xuống trao phấn cho người khác, mỗi người chỉ được lênmột lần.Dãy nào tìm xong trước sẽ được thưởng bằng tràng pháo tay Hoặc mỗilần cá nhân lên bảng tham gia chơi sẽ được tính 1 điểm cộng vào điểm miệng.Kếtquả tìm được sẽ không chỉ là 5 thành ngữ như yêu cầu của SGK mà còn nhiều hơn
vì hai dãy không được giống nhau Ví dụ: Ngáy như sấm, nhanh như cắt, đẹp nhưtiên, xấu như ma, khỏe như voi,…
Ở lớp 9, cuối năm học, tôi có dạy bài "Tổng kết phần Văn" Nội dung của bài rất nhiều, rất khó nhớ bởi đây là những kiến thức tổng hợp từ việc học Văn từ
Trang 8lớp 6 đến lớp 9 Đến phần "Văn học dân gian", nói về đặc điểm của văn học dân gian , có thể tổ chức cho lớp chơi trò "Truyền tin" Trò này chia làm 2 đội, mỗi đội
5 người (vì tính chất lớp hẹp cho nên chỉ khoảng 10 em lên chơi là vừa), và các
em xếp hàng dọc Người đứng đầu sẽ lên nhận tin từ giáo viên( một câu nói có liên quan đến bài học ) , sau đó về truyền tin lại cho người kế tiếp bằng cách nói thầm (nói thầm làm sao để chỉ người kế mình nghe), cứ thế cho đến người cuối cùng Người cuối cùng sẽ lên trả lại tin nhận được cho giáo viên Nếu đội nào trả lại tin đúng và nhanh hơn thì đội đó sẽ thắng
Thường thường các em chơi trò này sẽ dễ "tam sao thất bản", và chính yếu tố
đó cho nên giáo viên có thể chốt lại trò chơi bằng cách liên hệ với đặc điểm của văn học dân gian: Vì văn học dân gian là loại văn học truyền miệng nên có tính tập thể và thường có dị bản
Hoặc sau khi học xong bài Danh từ ở lớp 6 giáo viên kẻ sơ đồ tư duy và để trống cho hai nhóm thi nhau lên điền để hoàn thành bản đồ tư duy ấy Đội nào xong sớm và đúng sẽ thắng cuộc Hình thức này có thể dùng để củng cố bài học
Trang 92, Trò chơi điền bảng (kết hợp với hoạt động nhóm):
* Đặc điểm:
Trò chơi này dùng trong những giờ ôn tập Thay bằng việc cho học sinhlập bảng thống kê kiến thức bình thường, ta có thể làm thành những thẻ (tờphiếu) kiến thức, sau đó phát cho nhóm và yêu cầu các nhóm học sinh dùng thẻnày để điền vào ô trống trên bảng thống kê Mục tiêu cuối cùng là giúp họcsinh thống kê được kiến thức Cách này nhẹ nhàng mà huy động được sự thamgia của cả lớp
* Chuẩn bị:
Trang 10Giáo viên làm một bảng tổng kết trong đó chỉ có đề mục và các tiêu chíthống kê Phần nội dung các ô trong bảng sẽ được chuyển thành các thẻ, cácthẻ này phát cho các nhóm.
* Ví dụ:
Ngữ văn 8 –tập 1 – Tiết 38: ÔN TẬP TRUYỆN KÝ VIỆT NAM
Trong phần lập bảng thống kê các văn bản truyện ký Việt Nam, ta giữ lạicác ô: Tên các tác phẩm, thứ tự, tác giả, tác phẩm, thể loại, năm sáng tác,phương thức biểu đạt, nội dung chủ yếu, đặc điểm nghệ thuật Các ô nội dungkhác bỏ trống để học sinh dán thẻ kiến thức
Trang 11tác giả ST thuật
01 (Thanh Tịnh) Tôi đi học Truyệnngắn 1941 trữ tìnhTự sự,
Những kỷ niệm trong sáng về ngày đầu tiên đến trường.
Tự sự kết hợp với trữ tình; kể chuyện kết hợp miêu tả và biểu cảm, đánh giá; những hình ảnh
so sánh mới mẻ và gợi cảm.
Tự sự, trữ tình
Nỗi đau của chú bé mồ côi và tình yêu thương mẹ của chú bé.
Văn hồi ký chân thực, trữ tình thiết tha
Khắc hoạ nhân vật và miêu tả hiện thực một cách chân thực, sinh động.
04 (Nam Cao) Lão Hạc
Truyện ngắn (trích) 1943
Tự sự, trữ tình
Số phận bi thảm của người nông dân cùng khổ và nhân phẩm cao đẹp của họ.
Nhân vật được đào sâu tâm lý, cách kể chuyện tự nhiên, linh hoạt, vừa chân thực vừa đậm chất triết lý và trữ tình.
3, Trò chơi: Đọc thơ (hoạt động cá nhân):
* Đặc điểm:
Học sinh thường sợ đọc thuộc lòng các bài thơ hay đoạn thơ Nhưng với trò chơinày sẽ giúp học sinh hứng thú hơn và thuộc thơ nhanh hơn Hoạt động này nênsử dụng sau những tiết học xong bài thơ hoặc ca dao
Trang 12* Chuẩn bị:
- Sau khi học xong bài thơ, giáo viên cho học sinh nhẩm lại bài thơ
- Học sinh nhẩm lại các câu thơ trong bài thơ vừa học xong
* Ví dụ:
Ngữ văn 8 – tập 2: Văn bản: Khi con tu hú
- Sau khi học xong bài thơ này, giáo viên cho học sinh nhẩm lại và sau đó tiếnhành thực hiện trò chơi
- Giáo viên đọc trước một câu:
“Khi con tu hú gọi bầy”
- Sau đó yêu cầu học sinh đọc câu thơ tiếp theo:
“ Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”
- Học xong vừa đọc xong chỉ định một bạn bất kỳ trong lớp đọc tiếp câu:
“Vườn râm dậy tiếng ve ngân”.
- Tương tự thực hiện cho đến khi hết bài thơ hoặc có yêu cầu dừng của giáoviên
- Những bạn nào đọc sai cuối giờ sẽ bị phạt làm một hoạt động do lớp hoặcgiáo viên yêu cầu
4, Trò chơi: Thuyết minh biểu tượng (hoạt động nhóm):
* Đặc điểm:
Trò chơi này kích thích khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng và khả năng diễnđạt của học sinh Nó cũng đơn giản, thích hợp với nhiều giờ học tập làm văn.Mục đích chủ yếu của trò chơi này là kỹ năng làm văn, đặc biệt là đối với vănthuyết minh
Trang 13* Cách tiến hành:
- Giáo viên chia học sinh thành các nhóm (4-10 học sinh, trong đó nên có mộtsố học sinh có năng khiếu về hội hoạ)
- Mỗi nhóm sẽ vẽ một bức tranh biểu tượng trong khoảng thời gian quy địnhsau đó thuyết minh ý nghĩa của nó
- Từng nhóm lên thuyết trình về biểu tượng của nhóm mình
- Các nhóm khác đặt câu hỏi phản biện với nhóm thuyết trình
- Giáo viên cần tìm ra một ban giám khảo: Giáo viên và một số học sinh tronglớp
-> lưu ý: Trò chơi này do học sinh thực hiện theo ý tưởng riêng của nhóm, chonên ban giám khảo cần nhìn nhận và đánh giá cho phù hợp, không nên đánhgiá theo ý kiến chủ quan Với dạng trò chơi này thì cũng có thể áp dụng chohọc sinh làm đồ vật sau đó thuyết trình
- Khi trình bày, giáo viên nên cho học sinh treo tranh lên và giới thiệu
5, Trò chơi: Ô chữ (hoạt động nhóm hoặc cá nhân):
* Đặc điểm:
Trang 14Trò chơi này khá quen thuộc và đã được áp dụng nhiều nhưng nó lại được sựđón nhận rất nhiệt tình và hứng khởi của các em học sinh Chính vì thế, nómang lại hiệu quả cũng rất cao Trò chơi này thích hợp với một giờ văn họchoặc tiếng Việt.
*Chuẩn bị:
- Giáo viên hoặc học sinh soạn ra một bảng ô chữ cùng các câu hỏi đi kèmtương ứng với kiến thức của các ô hàng ngang cần thực hiện Từ gợi ý của các ôhàng ngang, học sinh dần dần tìm ra nội dung của ô hàng dọc – Đây là ô chínhmà nội dung của nó có tầm quan trọng đối với bài học mà học sinh cần nắmchắc và ghi nhớ được
- Bảng ô chữ này có thể chuẩn bị từ bảng phụ Để trò chơi mới lạ hơn, giáoviên yêu cầu học sinh tự làm hoặc có thể áp dụng công nghệ thông tin để tạo raphần mềm trò chơi
* Ví dụ:
Ngữ văn 9 – tập một: Bài : TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
- Dạy xong bài này, giáo viên cho học sinh tham gia vào trò chơi Giáo viênchia ra nhóm hoặc cá nhân
- Yêu cầu cầu của trò chơi: Học sinh nắm được những nội dung cơ bản về tácgiả Nguyễn Du và tác phẩm truyện Kiều cũng như các nhân vật trong truyện.Đặc biệt, khi kết thúc trò chơi học sinh phải nắm được một trong hai giá trị lớncủa Truyện kiều đó là “giá trị nhân đạo”
- Giáo viên treo bảng phụ và lần lượt nêu ra các câu hỏi cho các nhóm thựchiện, bắt đầu từ nhóm 1 Các nhóm có quyền lựa chọn ô hàng ngang Nếu nhóm