1. Trang chủ
  2. » Tất cả

PPA_Lao_cai-1stdraft-vietnamese

66 251 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Đánh Giá Nghèo Đói Có Sự Tham Gia Của Cộng Đồng (PPA) Tỉnh Lào Cai
Tác giả Nhóm Nghiên Cứu Và Hỗ Trợ Khảo Sát PPA Lào Cai
Trường học Trường Đại Học Lào Cai
Chuyên ngành Đánh Giá Nghèo Đói
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2003
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 849 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tham gia vào việc ra quyết định tại địa phương • Có rất nhiều tiến bộ trong việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở • Người dân mới chủ yếu tham gia ở khâu thực hiện, cung cấp thông t

Trang 1

Báo cáo Đánh giá nghèo đói có sự tham gia của cộng đồng (PPA)

tỉnh Lào Cai (10-31/7/2003)

Tháng 9 năm 2003

Trang 2

và Mường Khương, và 4 xã Bản Cầm, Phong Niên, Pha Long, Tả Gia Khâu đã phối hợp chặt chẽ, dành nhiều thời gian và nỗ lực của mình để cùng chúng tôi hoàn thành đợt đánh giá này Chúng tôi xin đặc biệt cảm ơn các cán bộ thôn bản, cán bộ y tế, giáo dục đã cùng đi và hỗ trợ tích cực trong các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu tại 6 thôn bản khảo sát Nậm Tang, Cốc Sâm 1, Tân Hồ, Xín Chải, Thải Giàng Sán, Lao Chải.

Cuối cùng, chúng tôi xin bày tỏ những lời cảm ơn chân thành nhất tới các hộ gia đình tại các thôn bản - những người dân nam và nữ, những thanh niên - đã dành thời gian chia sẻ với chúng tôi về những thuận lợi và khó khăn trong đời sống, những nhận xét, dự định và mong muốn của mình Nếu không có sự tham gia tích cực của họ, đợt đánh giá này không thể thực hiện được

Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp, các vấn đề nghiên cứu phức tạp, Báo cáo này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người quan tâm Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Nhóm nghiên cứu và hỗ trợ khảo sát

PPA Lào Cai

Trang 3

Tóm lược

Tình hình xoá đói giảm nghèo

• Kết quả giảm nghèo của Lào cai mấy năm qua rất khả quan Đời sống người dân đi lên mọi mặt

An ninh lương thực cải thiện nhiều, nạn đói giảm mạnh.

• Động lực giảm nghèo theo cảm nhận của người dân và cán bộ cơ sở: (i) tăng năng suất lương thực; (ii) mở rộng tín dụng: (iii) cải thiện cơ sở hạ tầng.

• Tính bền vững của giảm nghèo chưa cao, còn nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ rủi ro (canh tác đất dốc, chất lượng giống, thị trường, thời tiết, chết gia súc,ốm đau)

• Giảm nghèo ngày càng khó khăn hơn, có tính đặc thù cao đối với từng vùng, huyện, xã, thôn bản, từng hộ gia đình.

Khuyến nghị:

Giảm mạnh các hình thức "cho không" và "trợ cấp" trực tiếp.

Ưu tiên nguồn lực hỗ trợ người nghèo cách làm ăn thông qua phát triển các mô hình kinh tế hộ, và đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ xã, thôn bản.

Đẩy mạnh phân cấp thực sự, tạo điều kiện cho cấp xã và thôn bản tăng chủ động trong lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện XĐGN.

Đa dạng hóa các loại hình vay vốn (ở vùng cao) để đẩy mạnh tiếp cận tín dụng (cho vay món nhỏ, bằng hiện vật)

Chú trọng canh tác bền vững trên đất dốc gắn với quản lý tài nguyên - môi trường (cân bằng kiến thức mới với kiến thức bản địa) để giảm nguy cơ rủi ro cho người dân.

Sự tham gia vào việc ra quyết định tại địa phương

• Có rất nhiều tiến bộ trong việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở

• Người dân mới chủ yếu tham gia ở khâu thực hiện, cung cấp thông tin còn hạn chế

• Ban giám sát xã, các tổ chức đại diện hoạt động còn thiếu hiệu quả ở vùng cao

• Vai trò quyết định của cấp thôn bản - đang rất hạn chế về năng lực, chế độ phụ cấp

Khuyến nghị:

Bổ sung chức danh "thôn phó" để phá thế "thắt cổ chai" và đào tạo cán bộ trẻ

Đẩy mạnh phân cấp cho cấp xã; tăng cường sự tham gia của cấp xã trong các công trình ngoài Chương trình 135

Hỗ trợ mạnh các đoàn thể để phát huy cơ chế đại diện

Giám sát, đánh giá tránh hình thức, chú trọng các chỉ tiêu nói lên hiệu quả, tác động

Lồng ghép vấn đề giới.

Giáo dục

• Tỷ lệ học sinh tiểu học đến trường rất cao, kể cả trẻ nghèo ở vùng cao

• Công tác vận động tốt; giáo viên, trường lớp, sách vở được tăng cường

• Tỷ lệ chuyên cần chưa cao, khó khăn về ngôn ngữ, trẻ gái còn bị thiệt thòi; chi phí cho con học lớp trên còn cao đối với người nghèo

• Tổ chức được nhiều lớp xóa mù, nhưng tỷ lệ tái mù cao, nhiều người bỏ học

Khuyến nghị:

Mở rộng tuổi xóa mù (tăng lên 15-40); khuyến khích và tổ chức cho phụ nữ đi học

Dạy tiếng kết hợp dạy ngôn ngữ (kể cả lớp mẫu giáo và lớp xóa mù cho người lớn)

Nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng cao: các biện pháp nghiệp vụ giáo dục kết hợp với tăng cường sự tiếp xúc của người dân (trẻ em và người lớn) với tiếng phổ thông.

Y tế

• Màng lưới y tế cơ sở được cải thiện; người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế nhiều hơn

• Gánh nặng của y tế cơ sở, vệ sinh môi trường và nước sạch là vấn đề bức xúc ở vùng cao

• Chương trình khám chữa bệnh miễn phí: nhận thức còn yếu, chi phí gián tiếp lớn (người nghèo khó lên huyện, tỉnh chhữa bệnh), bất cập trong quản lý đối tượng và thẻ khám chữa bệnh.

Khuyến nghị:

Tăng cường chất lượng hoạt động của mạng lưới y tế thôn bản

Trang 4

Tăng cường vận động cộng đồng và hỗ trợ cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường, nước sạch tại các thôn vùng cao,vùng sâu

Quản lý y tế tư nhân (ở vùng thấp) tốt hơn.

Chương trình KCB người nghèo: chú trọng hơn về kinh phí cho tuyến cơ sở; lồng ghép với các hoạt động CSSK trên địa bàn; tăng cường quản lý và giám sát thực hiện; đẩy mạnh truyền thông.

Khuyến nông

• Hệ thống khuyến nông cơ sở được thiết lập, đã tham gia vào các chương trình kinh tế trọng điểm của tiỉnh, phối hợp chặt chẽ hơn với các đoàn thể (vùng thấp)

• Khuyến nông đã đóng góp vào XĐGN thông qua tăng năng suất lương thực

• Năng lực và trình độ khuyến nông xã còn yếu, phụ cấp quá thấp, khuyến nông thôn bản chưa có

• Đa số người nghèo chưa tiếp cận dịch vụ khuyến nông, phương pháp khuyến nông thích hợp cho người nghèo chưa được triển khai áp dụng

Khuyến nghị:

Tăng cường đầu tư cho khuyến nông xã, coi như một chức danh chuyên môn của xã

Phát triển mạng lưới khuyến nông thôn bản, thể chế phương pháp tham gia trong khuyến nông

Phân biệt vùng thấp và vùng cao trong các hỗ trợ sản xuất

Chú trọng khuyến nông có lợi cho người nghèo, tăng đầu tư mô hình kinh tế hộ cho người nghèo

Hỗ trợ xã hội

• Các hỗ trợ xã hội đã góp phần XĐGN, giảm khó khăn lúc gặp rủi ro

• Điều tra hộ nghèo hàng năm mặc dù phát huy tác dụng, nhưng còn nhiều hạn chế

• Danh sách hộ nghèo ít có ý nghĩa trong xã 135, tâm lý chia đều các khoản hỗ trợ còn phổ biến

• Cung cấp và phản hồi thông tin hỗ trợ còn hạn chế

Đảm bảo chất lượng hỗ trợ bằng hiện vật; quan tâm hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ người nhập cư

Phân cấp mạnh hơn cho cấp xã để xác định cách hỗ trợ cụ thể phù hợp với từng đối tượng

Cải cách hành chính

• Cải cách hành chính ở cấp huyện (vùng thấp) đã có kết quả ban đầu

• Cải cách hành chính ở cấp xã chưa mạnh (chưa có kế hoạch, chưa có hệ thống giám sát - đánhh giái hiệu quả, chưa phân cấp mạnh cho cấp xã)

• Thôn trưởng đang làm dịch vụ 1 cửa cho bà con vùng cao

• Ban chỉ đạo XĐGN cấp xã hoạt động hình thức

Khuyến nghị:

Cải cách hành chính ở vùng cao bắt đầu từ vị trí trưởng thôn

Cải tiến tổ chức,hoạt động Ban XĐGN xã; tăng vai trò trong XĐGN của cán bộ tăng cường 135

Phân cấp mạnh, tăng cường giám sát - đánh giá hiệu quả ở cấp cơ sở

Tài nguyên - môi trường

• Mâu thuẫn giữa nhu cầu/thực tế sử dụng đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp/phòng hộ vùng cao

• Hệ canh tác nông nghiệp kém bền vững trên đất dốc

• Phân gia súc lãng phí, gây ô nhiễm, dịch bệnh cho gia súc

• Nhiều hộ dân đã thấy lợi ích của trồng rừng (cây sa mộc)

Khuyến nghị:

Hổ trợ người dân trồng rừng(tránh cho không),hỗ trợ dân tự làm cây giống

Phát huy sở hữu cộng đồng, gìn giữ và tôn tạo các khu 'rừng thiêng'

Làm qui hoạch sử dụng đất chi tiết (ở v ùng cao) với sự tham gia của người dân

Áp dụng kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững, khai thác kiến thức bản địa

Trang 5

Tuyên truyền áp dụng 'lò cứu rừng' để tiết kiệm củi

Trang 6

Mục lục

Lời cảm ơn ii

Tóm lược iii

Mục lục vi

1 Giới thiệu 1

2 Tình hình xoá đói giảm nghèo thời gian qua 4

3 Sự tham gia vào việc ra quyết định tại địa phương 17

4 Cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo 23

4.1 Giáo dục 23

4.2 Y tế 30

4.3 Khuyến nông 38

5 Hỗ trợ xã hội 43

6 Cải cách hành chính và XĐGN 48

7 Tài nguyên - môi trường và XĐGN 53

Phụ lục 1 60

Trang 7

1 Giới thiệu

Từ ngày 10 đến 31 tháng 7 năm 2003, Văn phòng Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) tại Việt Nam cùng với UBND tỉnh Lào Cai đã phối hợp tổ chức đợt Đánh giá nghèo đói với sự tham gia của cộng đồng (PPA) tại tỉnh Lào Cai Đợt đánh giá này nhằm cập nhật sự hiểu biết về xoá đói giảm nghèo tại Lào Cai, đóng góp vào báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2003 cùng với đợt khảo sát tại 12 tỉnh trên cả nước Ðợt đánh giá lần này cũng nhằm tìm hiểu cơ hội hỗ trợ nâng cao năng lực triển khai, theo dõi đánh giá Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) ở cấp tỉnh

Địa điểm tiến hành đợt PPA lần này trùng với những địa điểm đã tiến hành đợt PPA năm 1999,

cụ thể tại 2 huyện, 4 xã và 6 thôn như sau:

• Huyện Bảo Thắng : (vùng thấp, là huyện phát triển nhất tỉnh)

• Xã Bản Cầm: thôn Nậm Tang

• Xã Phong Niên: 2 thôn Cốc Sâm 1 và Tân Hồ

• Huyện Mường Khương : (vùng cao, cùng với Xi Ma Cai là 2 huyện khó khăn nhất tỉnh)

• Xã Pha Long: thôn Xín Chải

• Xã Tả Gia Khâu: 2 thôn Thải Giàng Sán và Lao Chải

Hai xã Bản Cầm và Phong Niên (huyện Bảo Thắng) đại diện cho các xã vùng thấp trong tỉnh, thuận lợi về cơ sở hạ tầng và đông người Kinh Hai xã Pha Long và Tả Gia Khâu (huyện Mường Khương) đại diện cho các xã vùng cao sát biên giới, điều kiện về cơ sở hạ tầng còn khó khăn, đông đồng bào dân tộc Cả 4 xã khảo sát đều thuộc Chương trình 135 của Chính phủ1

Nhóm nghiên cứu và hỗ trợ khảo sát 26 người (trong đó có 7 nữ), gồm 1 cán bộ của DFID, nhóm tư vấn 6 người từ Hà nội, 2 cán bộ của Sở LĐ-TBXH Lào Cai, 4 cán bộ UBND huyện Bảo Thắng và Mường Khương, và 13 cán bộ của 4 xã khảo sát Với sự hỗ trợ tích cực của cán

bộ địa phương từ cấp tỉnh đến huyện, xã và đến từng thôn bản, quá trình khảo sát đã diễn ra rất thuận lợi, trôi chảy từ đầu đến cuối Danh sách các thành viên nhóm nghiên cứu và hỗ trợ khảo sát có thể xem ở Phụ lục 1

Khảo sát được tiến hành ở cả bốn cấp:

• Cấp Tỉnh – gặp lãnh đạo Tỉnh, tham vấn các sở, ban, ngành chức năng …

• Cấp Huyện – tham vấn lãnh đạo huyện và các phòng ban ngành chức năng

• Cấp Xã – tham vấn lãnh đạo xã và các cán bộ chuyên trách, trạm xá, trường học

• Cấp Thôn bản – thảo luận nhóm và phỏng vấn người dân địa phương (nhóm hỗn hợp, nam,

nữ, khá, nghèo), đến thăm và phỏng vấn sâu một số hộ gia đình Đây là cấp cơ sở được chú trọng nhất, tốn thời gian nhất trong quá trình khảo sát

Tổng cộng, đã tiến hành 45 cuộc thảo luận nhóm, gồm 453 người tham gia (167.người Kinh,

286 người các dân tộc Hmong, Phù Lá, Thu Lao, Nùng, Dao ) trong đó có 320 nam, 133 nữ; ngoài ra còn tiến hành 122 cuộc phỏng vấn sâu (51 cuộc phỏng vấn cán bộ các cấp tỉnh, huyện, xã và 71 cuộc phỏng vấn hộ gia đình tại thôn bản)

Cụ thể theo bảng sau:

1 Hai xã vùng thấp Bản Cầm và Phong Niên mới được bổ sung vào CT135 từ năm 2000 Hai xã vùng cao Pha Long và Tả Gia Khâu còn được hưởng hỗ trợ dành riêng cho các xã biên giới theo Chương trình 186 của Chính phủ (bên cạnh khoản hỗ trợ 500 triệu đồng/năm theo CT135, mỗi xã biên giới được hỗ trợ thêm 500 triệu đồng/năm theo CT186 - tổng cộng là khoảng 1 tỷ đồng/năm).

Trang 8

Số cuộc Số người Chia ra Số cuộc

Nam Nữ Kinh Dân tộc

Do quay trở lại đúng những địa điểm đã tiến hành PPA năm 1999 nên đoàn khảo sát lần này

có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn những thay đổi trong vòng 4 năm trở lại đây Đặc biệt, đoàn khảo sát đã đến thăm hầu hết những trường hợp hộ gia đình được mô tả trong báo cáo PPA năm

1999 Nhiều cán bộ và người dân ở đây đã làm quen với các công cụ nghiên cứu tham gia (PRA) như phân loại kinh tế hộ, liệt kê - xếp hạng, viết bìa màu Khó khăn lớn nhất trong quá trình khảo sát là khác biệt về ngôn ngữ khi thảo luận với đồng bào dân tộc, nhất là nhóm đồng bào H'Mong và Phù Lá hầu hết phải qua phiên dịch Thời điểm khảo sát vào đúng lúc bắt đầu mùa mưa ở vùng cao, nên đường dốc trơn trượt đi lại khó khăn và tốn thời gian

Kết quả khảo sát sơ bộ đã được phản hồi lại với đại diện UBND và các ban ngành của tỉnh Lào Cai tại cuộc họp ngày 31/7/2003 ngay sau khi kết thúc 3 tuần đi thực địa Dự thảo báo cáo này

sẽ được gửi cho các ban ngành của tỉnh Lào Cai để xin ý kiến chỉnh lý trước khi trình bày tại cuộc hội thảo vào cuối tháng 10 năm 2003 tại Lào Cai

Đề xuất:

Lồng ghép khảo sát định tính và định lượng về đói nghèo ở cấp tỉnh

Trong cuộc họp sơ kết 6 tháng đầu năm 2003 của Ban chỉ đạo XĐGN tỉnh Lào Cai ngày 11/7/2003, sau khi nghe báo cáo và thảo luận về tình hình đói nghèo thời gian qua, lãnh đạo UBND tỉnh đã đề nghị Sở LĐ-TBXH phối hợp với các đoàn thể thành lập một số nhóm (gọn nhẹ) đi khảo sát ở các huyện để trả lời một số câu hỏi bức xúc của tỉnh về XĐGN:

• tại sao còn một bộ phận dân không dám vay ?

• khuyến nông - khuyến lâm đã đến dân chưa ?

• Ban chỉ đạo XĐGN ở huyện và xã hoạt động như thế nào ?

• Việc bố trí cán bộ chuyên trách XĐGN ở huyện làm đến đâu ?

• Triển khai 6 Chương trình hướng về cơ sở như thế nào ?

Rõ ràng ở cấp tỉnh đang có nhu cầu phối hợp giữa số liệu định lượng và định tính nhằm giám sát đói nghèo để phục vụ lập kế hoạch tốt hơn

Hàng năm Sở LĐ-TBXH đều có tổ chức đợt điều tra số liệu hộ nghèo trên toàn tỉnh (thường bắt đầu vào tháng 11), huy động khá đông cán bộ chuyên môn của tất cả các huyện và xã trong tỉnh tham gia Sẽ có ích hơn nhiều nếu cuộc điều tra hộ nghèo hàng năm theo phiếu hỏi được lồng ghép với một số nội dung khảo sát nghèo đói với sự tham gia của cộng đồng (PPA), từ đó tổng hợp ý kiến của người dân và cán bộ cơ sở về một số vấn đề trọng tâm trong chính sách XĐGN của tỉnh

Các đoàn thể cũng có thể tăng cường hoạt động giám sát thường xuyên việc thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch XĐGN ở cơ sở thông qua các hoạt động tham vấn hội viên trong hệ thống hội của mình

Thông tin tốt hơn về XĐGN luôn là điểm khởi đầu để có thể cải thiện việc lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh phục vụ giảm nghèo tốt hơn Đây dường

Trang 9

như là cánh cửa để đưa cách tiếp cận giảm nghèo trong Chiến lược toàn diện tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo (CPRGS) vào quá trình lập kế hoạch ở cấp tỉnh Cơ hội cho các nhà tài trợ trong việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho cấp tỉnh có thể bắt đầu ngay từ khâu thu thập vầ tổng hợp thông tin này

Trang 10

2 Tình hình xoá đói giảm nghèo thời gian qua

2.1 Xu hướng chung

Cán bộ các cấp tỉnh, huyện, xã đều phấn khởi về thành tựu giảm nghèo khả quan trong mấy

năm qua Theo số liệu điều tra của ngành LĐ-TBXH từ năm 2000 đến nay, số hộ nghèo hàng năm giảm bình quân trên 5% tại tất cả các xã khảo sát Với đà hiện nay, Lào Cai chắc sẽ sớm hoàn thành mục tiêu của tỉnh đề ra là đến năm 2005 hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 15%, và cũng sẽ đạt mục tiêu đến 2005 giảm 2/5 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia so với năm 2000 - như nêu trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo (CPRGS)

Kết quả điều tra hộ nghèo 2 năm gần đây (theo tiêu chí mới của MOLISA)

11/2000 11/2002 Tỉnh Lào Cai 29.96%

(34.016 hộ) (22.699 hộ)19.19%

Huyện Bảo Thắng 33,15% 19,74%

Xã Phong Niên 31,35% 19,02%

Huyện Mường Khương 44,88% 30,85%

Xã Tả Gia Khâu 55,18% 42,32%

Nguồn: báo cáo về XĐGN của ngành LĐ-TBXH và của các xã khảo sát, 7/2003

Qua thảo luận nhóm (phân loại mức sống) và phỏng vấn hộ, người dân địa phương đều cho

rằng đời sống của cả hộ khá và hộ nghèo hiện nay đã đi lên về mọi mặt so với thời

năm 1999 An ninh lương thực được cải thiện nhiều, tình trạng đói đã giảm

mạnh Tại các thôn vùng thấp đến nay cơ bản không còn hộ đói Tại các thôn vùng

cao xa xôi vẫn còn một số hộ đói, nhưng trước đây thời gian thiếu ăn phổ biến 3-6 tháng thì nay giảm chỉ còn 1-2 tháng Tiêu chí nghèo đói bây giờ đã khác trước, như

nhóm cán bộ xã Phong Niên so sánh "năm 1999, nghèo có nghĩa là lương thực

không đủ ăn, nhà không có mà ở, quần áo, chăn màn thiếu, đẻ nhiều con Còn nay, năm 2003, người nghèo cũng có nhà, có lương thực tạm đủ ăn, chỉ thiếu vốn, số con giảm, biết khoa học kỹ thuật, làm năng suất tăng "; hoặc như lãnh đạo Hội Nông

dân huyện Bảo Thắng cho biết "nghèo bây giờ bằng trung bình khá ngày xưa, giờ là

thiếu sắm sửa, vật dụng, thức ăn " Nhận thức của người dân về giáo dục, y tế đã

cải thiện nhiều Đã xuất hiện tình trạng "nghèo vì cố lo chi phí cho con ăn học", đây là một vấn đề rất khác với thời mấy năm về trước "không cho con đi học vì nghèo".

Điều đáng quan tâm là mức độ tăng thu nhập và giảm nghèo giữa vùng thấp và vùng cao trong tỉnh còn có sự chênh lệch lớn Khoảng cách giàu nghèo đang dãn ra

Các thôn vùng thấp (các xã Bản Cầm, Phong Niên - huyện Bảo Thắng) gần đường lớn,

hạ tầng cơ sở tương đối tốt Đa số đã có điện, có xe đạp Các hộ trung bình trở lên đa số

có ti vi, nhà ngói Thời gian qua người dân thâm canh tăng năng suất dùng giống mới đại trà, tích cực chuyển dịch cơ cấu, chăn nuôi lợn phát triển mạnh, các ngành kinh doanh - dịch vụ, các công việc phi nông nghiệp đều tăng (nhất là việc làm thuê trong ngành xây dựng gắn với các khoản đầu tư lớn về hạ tầng cơ sở) Thách thức lớn của vùng thấp hiện nay là giúp người dân làm quen và đối phó với các yếu tố thị trường trong các nỗ lực đa dạng hoá sản phẩm

Các thôn vùng cao (các xã Pha Long, Tả Gia Khâu - huyện Mường Khương) đi lại còn

khó khăn, nhiều nơi chưa có điện và thiếu nước sạch, nông nghiệp nhờ vào nước trời

Trang 11

Với điểm xuất phát thấp nên mấy năm qua nạn đói giảm nhiều nhưng mức tăng thu

nhập còn hạn chế, tình trạng nghèo ở một số thôn bản vẫn khá phổ biến Các cộng đồng thiểu số sống ở vùng cao điều kiện sản xuất khó khăn như người H'Mong, Dao, Phù

Lá mới thoát đói gần đây, cơ hội sản xuất hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu còn ít nên

nhìn chung mức độ cải thiện cuộc sống chưa bằng các nhóm dân tộc khác sống ở vùng thấp hơn Vùng cao vẫn đang cần sự hỗ trợ lớn để tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng, tăng sản phẩm hàng hoá phá thế thuần nông để có thể tăng thu nhập

So sánh tiêu chí phân loại kinh tế hộ

Thời điểm 1999 và 2003

thôn Xín Chải

thôn vùng cao xa xôi, sát biên giới

thuộc xã Pha Long - huyện Mường Khương

thôn Cốc Sâm 1

thôn vùng thấp dễ tiếp cận, cạnh đường quốc lộ, thuộc xẫ Phong Niên - huyện Bảo Thắng

Loại cao nhất:

• có nhiều đất hơn

các hộ khác

• đất canh tác gần

nhà hơn và màu mỡ

hơn

• chăn nuôi tốt, gia

súc, gia cầm ít bị bệnh

• có trâu và bò

(trung bình là 3 con)

• đủ lương thực ăn

quanh năm

• nhà gỗ chắc chắn

Loại cao nhất:

• ruộng nương nhiều

• có xe máy,

• có tivi, có máy xát (thời 1999 chưa có điện)

• nhà giá trị cao

• trâu bò nhiều (3-4 trâu), lợn nhiều

• ngô thóc nhiều, đậu nhiều

• có tiền mua phân bón

• biết tính toán làm ăn

• thạo tiếng Kinh

Loại cao nhất:

• có thu nhập bằng tiền mặt—một số hộ

tiết kiệm tiền và có tiền cho vay

• có đủ ăn quanh năm

• có xe máy, máy thu hình, đồ đạc và tiện nghi khác

• một số có nhà gỗ

hoặc nhà gạch xây đẹp

• trẻ em đi học đầy đủ

• có trâu, bò và

một số có máy xát gạo

Loại cao nhất:

• thu ổn định: lương hoặc dịch vụ

• chăn nuôi phát triển (nhất là nuôi lợn)

• buôn bán ở chợ

• nhà mặt đường

• có ruộng (trừ giáo viên)

• tất cả đều nhà ngói, có ti vi

Loại thấp nhất

• không có trâu bò,

thiếu sức kéo, phải đi

mượn trâu bò cày

• đất xấu, xa thôn

• thiếu lao động

• thiếu ăn khoảng

3-4 tháng trong năm

• không chăn nuôi,

nhiều bệnh gia súc

• giường nằm gãy

nát, không có tiền mua

màn

• một số không làm

ăn chăm chỉ như hộ

khác

• các hộ gia đình trẻ

mới tách ra ở riêng

Loại thấp nhất

• có ít trâu bò, lợn

• vợ/chồng già, tàn tật, bỏ nhau

• không biết tính toán

• đông con, con nhỏ

• thiếu ăn 1-2 tháng trong năm

• một số nhà đã

có mái fibrô-ximăng (giường màn có đủ)

• đi làm thuê (làm cỏ rau, ngô, đậu)

• con cái học ít hơn

• không biết tiếng Kinh

Loại thấp nhất

• thiếu đất canh tác, đất xấu

• hay ốm đau, bệnh tật

• số người đi học hạn chế

• nhà tranh tạm bợ

• đồ đạc rất ít, chỉ

có giường và bàn

• thiếu ăn 5-6 tháng

• ít quan hệ với người ngoài và cộng đồng

• phải đi làm thuê để có thu nhập

Loại thấp nhất

• già cả, độc thân, đông con

• bệnh tật

• nữ là chủ hộ

• thiếu lao động

• không buôn bán

• không cải tiến kỹ thuật

• nghèo vì lo cho con đi học

• còn 7/17hộ nhà tranh

• còn 3/17 nhà không có điện (cả thôn trên 90% có điện, 1999 chỉ có 50% có điện) Nguồn:thực hành phân loại kinh tế hộ 7/2003 và trích báo cáo PPA 1999

2.2 Động lực xoá đói, giảm nghèo

Trang 12

Không có gì ngạc nhiên khi các cán bộ cấp tỉnh thường đề cập nguyên nhân bao trùm trong xoá đói giảm nghèo là sự quan tâm chỉ đạo hướng về cơ sở của các cấp đảng và chính quyền kèm

theo đầu tư lớn của Nhà nước ("các công trình đầu tư mấy năm trước bây giờ đã phát huy tác

dụng"), cộng với ý thức tự vươn lên của bản thân người nghèo Còn các nhóm dân và cán bộ xã

huyện tham gia thảo luận trong đợt PPA này thường gắn xoá đói giảm nghèo với những kết quả cụ thể hơn; họ đều có ý kiến khá thống nhất về 3 động lực chủ yếu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mấy năm qua tại các xã ĐBKK của Lào Cai là: (i) tăng năng suất lương thực; (ii) mở rộng tín dụng; và (iii) cải thiện cơ sở hạ tầng

Phân bổ ngân sách phục vụ XĐGN

Tỉnh Lào Cai: thực hiện 2 năm 2001-2002 và kế hoạch 5 năm 2001-2005

triệu đồng Thực hiện 2 năm

2001-2002 Kế hoạch 5 năm 2001-2005

I Các dự án trực tiếp hỗ trợ xđgn 42.900 119.500

1 Khuyến nông - khuyến lâm, hướng dẫn người

nghèo cách làm ăn (kể cả phụ cấp 90.000đ/tháng

cho 171 KNV xã)

2 Cấp bù lãi suất tín dụng nông thôn (chủ yếu tín

dụng ưu đãi cho người nghèo) 10.300 20.000

3 Hỗ trợ chất lợp, nước ăn 14.958 73.000

4 Hỗ trợ giáo dục cho người nghèo (miễn học phí và

các khoản đóng góp, phát sách vở, trợ cấp) 8.773 19.650

5 Hỗ trợ y tế cho người nghèo (khám chữa bệnh, cấp

thuốc miễn phí)

6 Nâng cao năng lực cán bộ XĐGN (tập huấn-tham

quan, điều tra - đánh giá XĐGN, hệ thống sổ sách

theo dõi hộ nghèo, kinh phí hoạt động BCĐ)

II Các dự án lồng ghép hỗ trợ xđgn

1 Cơ sở hạ tầng cho 138 xã ĐBKK và biên giới

(CT135, dự án WB, CT186) 111.490

Đầu tư của Tỉnh cho 20 xã nghèo ngoài CT135 2.000

2 Qui hoạch sắp xếp ổn định dân cư 11.728

3 Hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn (cấp phát

vật tư nông nghiệp, cây con giống)

Tăng năng suất lương thực

Từ năm 1999 đến nay, nhờ trồng giống lúa mới (lúa lai) và giống ngô mới kết hợp với tăng cường sử dụng phân bón, năng suất đã tăng lên đáng kể, giúp cải thiện an ninh lương thực cho người nghèo Kết quả khảo sát trong đợt PPA lần này cho thấy trong 3-4 năm qua năng suất lúa ngô đã tăng bình quân 30-50%, có nơi tăng gấp đôi Trong bối cảnhh diện tích canh tác tăng không đáng kể, việc tăng năng suất lương thực đã cơ bản giải quyết được tình trạng đói ngay cả vùng sâu vùng xa thuộc huyện Mường Khương (như Pha Long và Tả Gia Khâu) Đa số bà con đã có lương thực để đến vụ sau Lương thực có dư nên chăn nuôi lợn gà phát triển Ngô hàng hoá (bán cho tư thương dưới xuôi lên thu mua hoặc bán sang Trung quốc, có lẽ chủ yếu để làm thức ăn chăn nuôi lợn) đã trở thành nguồn thu tiền mặt chủ yếu của đa số đồng bào dân

tộc vùng cao Điều đáng mừng là ngô đang được giá (1500-1700 đ/kg) và thị trường tiêu thụ

thuận lợi, chưa thấy có biến động gì lớn.

Bà con tích cực dùng giống mới còn vì giống mới được trợ giá thông qua hệ thống vật tư nông

nghiệp nhà nước nên giá thấp hơn giá thị trường từ vài nghìn - ở xã Bản Cầm, đến chục

Trang 13

nghìn/kg - ở xã Tả Gia Khâu (từ 2001 tỉnh Lào cai trợ giá 30% giá giống mới cho bà con khu

vực 3, dự kiến sẽ giảm dần và chấm dứt sau 3 năm) Phân bón ở vùng cao được trợ cước, có

đợt được chương trình ĐCĐC cấp không Ở vùng cao người dân còn được vay phân theo thoả

thuận giữa ngân hàng nông nghiệp và trạm vật tư nông nghiệp ("mọi người đăng ký vay phân

qua trưởng thôn, trưởng thôn lấy xác nhận của xã rồi đưa ngân hàng, ngân hàng duyệt rồi đưa qua trạm vật tư nông nghiệp, cả thôn đến trạm vật tư lĩnh phân về, sau 6 tháng trả gốc cộng lãi suất ưu đãi 0.21%" - xã Tả Gia Khâu) Hiện nay trạm vật tư cụm xã Pha long tiêu thụ vài trăm

tấn phân/năm, tất cả đều được trợ giá (thời 1999 tiêu thụ phân không đáng kể)

Trường hợp xã Pha Long - huyện Mường Khương:

Tăng năng suất nông nghiệp và mở rộng tín dụng

1999-2000 2003

Năng suất

Tỷ lệ sử dụng giống mới

Diện tích đất nông nghiệp 587 ha 602 ha

Bình quân lương thực 280 kg/người.năm 345 kg/người.năm

Vay vốn

Dư nợ 160 triệu đồng 900 triệu đồng

Số hộ vay n/a 385 (trong tổng số 467 hộ)

Số lượng gia súc

Nguồn: thảo luận nhóm lãnh đạo xã Pha Long, 7/2003

Mở rộng tín dụng

Tỉnh Lào Cai đã tìm nhiều cách để tăng cường cho người dân vay vốn, như cấp bù lãi suất (lãi

suất cho vay người nghèo vùng 3 của Ngân hàng chính sách xã hội 0.4-0.45% được tỉnh cấp bù một nửa, chỉ còn 0.21%), nâng hạn mức vay không cần thế chấp lên 7-10 triệu đồng, thời

hạn vay được kéo dài 3-5 năm đủ thời gian cho gia súc sinh sản, mở rộng vốn vay ưu đãi cho cả các hộ cận nghèo Tại các thôn khảo sát, lượng vốn vay đã tăng nhiều so với năm 1999, đa số người nghèo đã vay vốn bình quân 2-5 triệu đồng Nguồn tín dụng ưu đãi chủ yếu được bà con mua trâu bò (bà con vùng cao trước đây nuôi nhiều ngựa nhưng khi đường xá tốt lên bà con giảm nuôi ngựa, vì: ngựa chỉ để thồ không cày được, tốn công nuôi vì không chăn thả

được, lại hay bị ốm do lạnh) Sở hữu trâu bò là một khía cạnh quan trọng của kinh tế hộ

gia đình ở vùng cao, rất có hiệu quả đối với công tác giảm nghèo tại Lào Cai :

• có trâu bò là chủ động được sức kéo, không phải đi đổi công mượn trâu bò để cày bừa, tránh lỡ thời vụ

• có nguồn phân để bón ruộng nương (ở vùng cao phân trâu bò phơi khô rất quí)

• nuôi trâu bò là một cách tiết kiệm có lãi (bò mẹ đẻ bò con)

Còn một số hộ chưa vay vốn - chiếm khoảng 30% - cho biết họ không có nhu cầu vay hoặc không dám vay vì sợ không trả nổi lãi và gốc; một số ít hộ quá nghèo (đói) không được trưởng thôn bảo lãnh Mặc dù vậy hầu hết các hộ gia đình đều có vay phân bón (vài trăm ngàn

Trang 14

đồng/vụ) từ các đại lý tư nhân (ở vùng trung du) hoặc trạm vật tư cuả công ty nhà nước (ở vùng cao) để sản xuất nông nghiệp.

Năm 2000 anh chị vay vốn ngân hàng người nghèo mua bò, để kéo cày, làm ruộng kịp thời vụ Năm 2002 anh chị bán bò con để trả vốn, bán bò mẹ để lấy tiền mua gỗ làm nhà Trước đây cả nhà ở trong một túp lều tạm, một gian, mái lá, nay đã làm được nhà tường trình, khung gỗ, mái lợp fibrô-ximăng 4 gian Ngoài tấm lợp của nhà nước cấp, anh chị chi phí làm nhà hết khoảng 8 triệu đồng Anh chị còn nợ anh em 80 lít rượu, đậu tương hạt 40 kg, tiền mặt 600.000 đồng chi phí làm nhà, dự tính sau vụ ngô năm nay sẽ trả hết.

Hiện nay khó khăn nhất của gia đình là thiếu trâu bò để cày Anh Chẩn rất muốn được vay tiếp nhưng hiện nay không còn là hộ nghèo theo phân loại của nhà nước nên không được vay với

lãi suất ưu đãi 0,21% Nếu muốn vay, sẽ phải chịu lãi 0,7% tháng, mà như vậy thì "không làm

đủ lãi để trả, vì bây giờ muốn mua trâu bò phải vay lớn, 4 triệu đồng, hàng tháng không làm gì đã phải có 28.000 đ để trả lãi thì nhà em không làm gì ra được thế ".

Cải thiện cơ sở hạ tầng

Lào cai có 138 xã (trong tổng số 180 xã phường) thuộc loại đặc biệt khó khăn được đầu tư theo Chương trình 135 (trong đó 11 xã biên giới còn được đầu tư bổ sung theo chương trình riêng của Chính phủ) Một lượng lớn vốn đầu tư từ các nguồn đã được đổ vào các xã ĐBKK Theo báo cáo của UBND Tỉnh, trong 2 năm 2001-2002 đã đầu tư trên 110 tỷ đồng cho cơ sở hạ tầng tại 138 xã này Ưu tiên đầu tư thời gian qua tại các điểm khảo sát là kênh mương thuỷ lợi, đường giao thông, trường học và nước sạch - tương đối phù hợp với nhu cầu của bà con Nhìn

chung, khi thảo luận với cán bộ cơ sở và người dân đều cho rằng các công trình hạ tầng đã

cải thiện đời sống dân sinh của bà con rất nhiều: đường xá đi lại tốt hơn, kênh mương kiên

cố hoá làm lúa tốt hơn, trường học tốt hơn và gần nhà trẻ em đi học đỡ vất vả hơn, đỡ khó khăn về nước sạch

Một trong những tác động quan trọng của đường giao thông là giúp cải thiện việc tiếp cận thị

trường đối với đầu vào (phân, giống, thức ăn gia súc) và đầu ra (ngô, lợn, gà, đậu tương) của

sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc vùng cao - với tập quán chỉ sử dụng tiền mặt chủ

yếu trong các phiên chợ Như một cán bộ xã Pha Long nhận xét " các thôn xa (như thôn Xín

Chải) chưa phát triển mạnh lên được cũng là do đường giao thông chưa tốt, bà con chưa ai biết buôn bán, tư thương cũng chưa ai đến đó được " Người dân ở thôn Nậm Tang (xã Bản

Cầm) - thôn vùng sâu ở xã vùng thấp, cũng có nhận xét tương tự về tình trạng của thôn mình

Mạng lưới kinh doanh theo phiên chợ hàng tuần

xã Pha Long - huyện Mường Khương

Tại xã vùng cao Pha long, mấy năm gần đây khi đường xá tốt dần lên đã làm cho mạng lưới thương mại theo phiên chợ hàng tuần giữa chợ cửa khẩu bên Trung quốc (Lao Kha) với chợ trung tâm cụm xã Pha long, chợ thị trấn Mường Khương, và chợ của các xã xung quanh, trở nên nhộn nhịp hơn Mạng lưới này tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho gần 100 hộ đồng bào dân tộc (đa phần là phụ nữ) sống ở các thôn ngay gần trung tâm xã Pha Long chuyên đi các chợ phiên trong tuần thu mua nông sản của bà con - nhất là ngô và gà (để bán cho tư thương từ dưới xuôi lên) và bán các đồ dùng thiết yếu cho bà con tại phiên chợ.

Trang 15

Thứ Bảy

Chợ Thải

Giàng Sán Chợ Pha Long

Chợ Mường Khương

Chợ Lao Kha (TQ)

Chợ Sín Lùng

- Bán ngô, đậu tương

- Mua vải vóc, quần áo, giày dép

- Bán ngô, đậu tương, gà

- Mua thực phẩm, dầu đèn, đồ sắt

Thứ Tư

~ 100 hộ KD

- Mua ngô, đậu, gà của dân ĐF

- Bán thực phẩm, dầu đèn, giày dép

Trang 16

2.3 Các hộ nghèo còn lại

Các khía cạnh nghèo rất đa dạng

Thảo luận nhóm ở thôn bản cho thấy người dân luôn nhận thức về các khía cạnh nghèo rộng hơn so với cách hiểu thuần tuý dựa vào "thu nhập dưới 80.000 đ/người-tháng" của nhà nước

Dễ hiểu là số liệu không khớp nhau do tiêu chí khác nhau: có nhiều hộ mà người dân cho là thuộc diện nghèo (xếp hạng kinh tế hộ tương đối trong thôn) nhưng nằm ngoài danh sách nghèo của chính quyền địa phương (theo kết quả điều tra chính thức hàng năm), và ngược lại

có một số hộ chính quyền xếp vào diện nghèo nhưng thực tế người dân không cho là nghèo (vấn đề này ảnh hưởng nhiều đến việc "bình xét" nhận hỗ trợ của nhà nước - xem phẩn 4)

Tiêu chí nghèo khác nhau giữa điều tra của DOLISA và người dân tự phân loại Thôn Nghèo theo điều tra của

DOLISA (12/2002)

Nghèo theo dân tự phân loại

(7/2003)

Theo quan niệm của người dân, sở dĩ còn một số hộ vẫn nghèo hoặc mới phát sinh nghèo là do các nguyên nhân rất đa dạng sau:

 Thiếu đất, đất xấu

 Thiếu lao động, đông con còn nhỏ

 Thiếu vốn

 Thiếu nước

 Không biết cách làm ăn

 Không có trâu bò, gia súc chết

 Mới tách hộ

 Già cả

 Ốm đau

 Vợ chồng bỏ/chết, phụ nữ làm chủ hộ

 Không chăm chỉ bằng hộ khác

 Người di cư đến sau không có đất

 Chi phí hiếu hỷ, đám ma (vùng cao)

 Mặc cảm, tự ti (Cốc Sâm 1, Nậm Tang)

 Cho con đi học (Cốc Sâm 1)

Các khía cạnh nghèo nêu trên cũng không có gì mới mẻ (đã được đề cập trong báo cáo PPA

năm 1999 và các báo cáo của tỉnh) và thường đan xen nhau Thực tế mỗi huyện, mỗi xã, mỗi

thôn lại có những vấn đề riêng của mình Ngay trong một thôn bản thì mỗi người nghèo cũng có hoàn cảnh riêng, có vài nguyên nhân cùng tác động

Giảm nghèo ngày càng khó khăn hơn

Khảo sát lần này còn cho thấy những hộ nghèo hiện nay- đặc biệt hộ nghèo đồng bào dân tộc ở vùng cao - vẫn đang lún sâu trong khó khăn,và giảm nghèo sắp tới sẽ ngày càng khó hơn

Thiếu đất nông nghiệp ngày càng nghiêm trọng Theo người dân, đất đai luôn là khía cạnh

quan trọng bậc nhất của cái nghèo Báo cáo năm 1999 có nêu hai loại khó khăn về đất: a) thiếu đất do mật độ dân số cao ở vùng thấp; và b) đất xa và xấu (dốc, đá) ở các thôn vùng cao Đợt đánh giá nghèo đói lần này cho thiếu đất vẫn là khó khăn cố hữu ở vùng thấp, còn tình hình thiếu đất ở vùng cao đã trầm trọng hơn trước nhiều Số hộ mới tách hoặc di cư đến sau ở vùng cao đa số thuộc diện nghèo vì thiếu đất

Trang 17

nông nghiệp Thiếu đất ở vùng cao là một thách thức lớn, việc khắc phục sẽ khó hơn nhiều ở vùng thấp, bởi cơ hội chuyển dịch cơ cấu hay tạo việc làm phi nông nghiệp cho người dân tộc thiểu số vùng cao còn rất hạn chế.

Số hộ nghèo còn lại khó tiếp cận vốn Khác với năm 1999, đợt đánh giá lần này cho thấy

nhiều hộ nghèo đã được vay vốn Ở vùng thấp hộ nghèo chủ yếu vay vốn qua tín chấp của các Hội nông dân và Hội phụ nữ; còn ở vùng cao hộ nghèo chủ yếu vay vốn qua Trưởng thôn Thiếu vốn không còn là khó khăn hàng đầu của đa số người dân, nhưng vẫn còn khoảng 30% số hộ chưa vay vốn Sẽ khó hơn nhiều khi tiếp tục mở rộng diện vay vốn, vì:

• một số hộ không có nhu cầu vay (vấn đề thiếu trâu bò không còn nghiêm trọng như hồi

1999, nhưng ngoài mua trâu bò cũng chưa thấy cơ hội đầu tư vào cái gì khác vì cơ hội chuyển dịch cơ cấu ở vùng cao còn rất hạn chế)

• số khác cần vốn nhưng không dám vay vì sợ bị rủi ro, không có tiền trả lãi hàng tháng Đặc biệt một số hộ vừa thoát nghèo vẫn cần vốn mua gia súc nhưng nay phải chịu lãi suất cao hơn (không được vay ưu đãi 0.21% như lúc còn nghèo nữa) nên khôngg dám vay vì không lo nổi tiền trả lãi hàng tháng

• ngoài ra còn một số hộ đói hoặc "không biết làm ăn" (trong đó có cả hộ không chăm chỉ bằng hộ khác) không thuộc diện được vay vốn vì trưởng thôn không dám bảo lãnh

Một số người giải thích: "Trưởng thôn là tổ trưởng tổ vay Nhà nào muốn vay thì hỏi

trưởng thôn Trưởng thôn đưa các hộ đi ngân hàng để làm thủ tục vay Trưởng thôn phải nộp bìa đỏ của nhà mình cho ngân hàng, bao giờ các hộ đã trả hết mới được lấy bìa đỏ về Vì thế trưởng thôn thấy hộ nghèo quá hoặc không biết làm ăn thì không dám làm thủ tục cho vay."

Đề xuất:

Đa dạng hóa loại hình vay vốn ở vùng cao

Vốn ngân hàng cho hộ nghèo vay hiện nay chủ yếu là vốn 2-5 triệu, thường là để nuôi trâu bò

Ưu điểm của vốn vay này là nếu thuận lợi, sẽ giải quyết được vấn đề sức cày hoặc sức vận chuyển cho hộ nghèo Nhược điểm là mức độ rủi ro khá lớn, vì số vốn lớn, mà tới hạn mới trả gốc, do đó nếu thất bại, hộ sẽ nợ số tiền lớn Mặt khác, nhiều hộ nói rằng vay vốn này chỉ biết để nuôi trâu bò, chứ cũng không biết làm gì khác Cần cân nhắc việc đa dạng hình thức vay, để giảm rủi ro cho hộ nghèo theo hướng cho vay món nhỏ, vay bằng hiện vật.

Tại một số nơi, hội phụ nữ có cho các chị vay vốn quay vòng 500.000 đồng để nuôi lợn gà Đây cũng là một hình thức vay hợp lý, vì khoản vay nhỏ, hộ nghèo có thể chấp nhận rủi ro dễ dàng hơn Nếu tăng cường công tác tiêm phòng, vệ sinh môi trường, thì chăn nuôi nhỏ là một mảng hoạt động kinh tế có thể phát triển trong tương lai, và cho vay vốn nhỏ để nuôi lợn gà có thể là hình thức ngân hàng có thể đẩy mạnh ở vùng cao (thông qua các đoàn thể).

Tại các thôn vùng cao đã áp dụng cách cho vay phân bón qua trạm vật tư nông nghiệp Qua khảo sát nhiều hộ nghèo dù không vay vốn ngân hàng nhưng đều có vay phân bón theo cách này Có lẽ cần mở rộng cách cho vay phân bón này, bao gồm cả việc cho vay giống nữa (để tránh tình trạng những hộ nghèo không lo kịp tiền để mua giống, hoặc những thôn ở xa thông tin muộn nên không lấy được giống, sau lại phải mua ngoài với giá cao)

Cần phải thừa nhận rằng việc cho vay vốn nhỏ, vay bằng hiện vật là một công tác phức tạp, đòi hỏi sự phối kết hợp chặt chẽ giữa nhiều bên (ngân hàng, vật tư, trưởng thôn, đoàn thể, khuyến nông) nhưng là một cách giúp hộ nghèo tiếp cận vốn vay hiệu quả và ít rủi ro hơn.

Các biện pháp đề xuất ưu tiên để giảm nghèo cũng rất đa dạng

Trong bối cảnh các nguyên nhân nghèo đan xen, có tính đặc thù cao và "càng ngày càng đi vào lõi" nên không có gì ngạc nhiên khi các cuộc thảo luận với người dân tại các thôn bản về biện

Trang 18

pháp giảm nghèo cho kết quả rất khác nhau tuỳ theo từng nơi - mặc dù về tổng quát cũng bao trùm hầu như tất cả các biện pháp có thể Nhìn chung người dân đều muốn được nhà nước tiếp tục hỗ trợ "hướng đối tượng" nghèo, nhất là hỗ trợ về giống và phân bón, mở rộng tín dụng ưu đãi, đi kèm hướng dẫn cách làm ăn đến tận hộ nghèo Có nơi đề cao các biện pháp hỗ trợ cộng đồng; có nơi nhấn mạnh về việc làm thêm; có nơi lại đề nghị hỗ trợ trồng rừng; có nơi quan tâm đến chính sách trợ cấp cho những người thực sự khó khăn Ngoài ra, thôn chưa có loại hạ tầng cơ sở nào thì bà con thường ưu tiên cho loại hạ tầng đó (ví dụ điện, đường, hoặc kênh mương, nước sạch );

Các nhóm cán bộ thường ưu tiên các biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội nói chung ở địa phương Nhóm cán bộ rất coi trọng các cơ sở hạ tầng như đường, kênh mương, nước sạch, điện, trường học, trạm y tế là tất yếu cần phải thực hiện trước, coi trọng việc nâng cao năng lực của lực lượng cán bộ cấp xã và thôn bản, đồng thời tỏ ra e ngại rằng nhiều loại hỗ trợ trực tiếp trong thời gian qua đã làm nảy sinh tâm lý ỷ lại vào nhà nước ở người nghèo

Có một số ý kiến cho rằng cách giúp đại trà cho tới nay (cho vay vốn, cấp/trợ giá giống) đã rất hiệu quả, nhưng còn sót lại một số hộ nghèo do những nguyên nhân khác nhau, muốn họ thoát nghèo cần phải giúp đỡ cụ thể cho từng hộ phù hợp với hoàn cảnh của họ Ví dụ như thiếu đất thì cấp đất hoặc cho mượn đất, thiếu vốn thì cho vay vốn, thiếu lao động thì cộng đồng giúp công, hoặc ốm đau già cả thì trợ cấp thường xuyên cho họ

Đề xuất:

Một cách tiếp cận khác trong giảm nghèo thời gian tới ở Lào Cai

Thời gian qua, giảm nghèo ở Lào Cai khá nhanh, nhưng thời gian tới sẽ khó khăn hơn do

"nghèo đã dần đi vào phần lõi" Tại mỗi thôn bản khảo sát nhiều hộ trước đây nghèo nhưng

có đất đai, có sức khoẻ đã tận dụng được những hỗ trợ của nhà nước (cho vay vốn, cấp không hoặc trợ giá giống/phân, cấp tấm lợp ), cộng với nỗ lực bản thân từng bước đi lên thoát nghèo Đa phần số hộ nghèo còn lại đều có những hoàn cảnh đặc thù (mới tách hộ, thiếu đất, thiếu lao động, già cả, ốm đau ) mà các biện pháp hỗ trợ "đại trà" hiện nay thực tế có ít tác dụng đối với họ

Trong bối cảnh các nguyên nhân nghèo đan xen, có tính đặc thù cao thì để tiếp tục giảm nghèo cần có những nỗ lực cụ thể, phù hợp với từng vùng, từng huyện xã, từng thôn bản, và từng hộ

gia đình Cần ưu tiên nhiều hơn (về ngân sách và nhân sự) cho việc hỗ trợ các mô hình kinh

tế hộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của người nghèo (thay vì hỗ trợ đại trà theo từng kỹ

thuật, từng cây con đơn lẻ như hiện nay) Có lẽ đã đến lúc xem xét giảm mạnh các hình

thức "cho không" và "trợ cấp", để ưu tiên nguồn lực: (i) tăng ngân sách hỗ trợ người nghèo cách làm ăn, và (ii) tăng ngân sách đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ xã, thôn bản để "giúp người nghèo tự đi được, sau khi đã đánh thức và giúp họ đứng lên"

Và để "hướng đối tượng" tốt hơn, cách hợp lý nhất là đẩy mạnh phân cấp thực sự, tạo điều kiện cho cấp xã và thôn bản tăng sự chủ động trong lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ

chức thực hiện các biện pháp giảm nghèo phù hợp với đặc điểm từng nơi.

2.4 Tính bền vững của công cuộc giảm nghèo

Mặc dù tỉnh Lào Cai đã đạt nhiều thành tựu trong xoá đói giảm nghèo, qua ý kiến của người dân và cán bộ cơ sở cho thấy tính bền vững chưa cao Còn có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ bị rủi ro của người nghèo

Canh tác đất dốc không bền vững

Trang 19

Tại các thôn vùng cao, đều thấy tình trạng nương ngô cạnh tranh với đất lâm nghiệp trên đất dốc Việc sử dụng giống ngô mới trên đất dốc, đi kèm với tăng cường cày xới và sử dụng ngày càng nhiều phân hoá học đã làm tăng nhanh tình trạng xói lở và bạc mầu đất (phỏng vấn một số hộ gia đình ở vùng cao cho thấy tình trạng sử dụng phân hoá học có nơi đã ở mức cao hơn cả miền xuôi) Giờ đây đồng bào dân tộc vùng cao Lào Cai hầu như đã hết du canh du cư, đất đều đã có chủ và không còn cơ hội để cho "đất nghỉ" như cách canh tác truyền thống trước kia Khi phỏng vấn một số già làng và người có tuổi tại các thôn bản vùng cao đều được xác nhận là

"đất đang dần mọc đá" Các kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc (SALT) tuy đã được nghiên cứu và khảo nghiệm nhiều nhưng hầu như chưa được đưa vào áp dụng tại Lào Cai Rõ

ràng, canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc tại vùng cao gắn với quản lý tài nguyên

- môi trường là một khoảng trống lớn cần được lấp đầy trong thời gian tới.

Phụ thuộc vào vật tư được trợ giá

Việc chuyển sang sử dụng chủ yếu vật tư nông nghiệp từ bên ngoài (nhất là giống lai không tự để giống được, phải mua hàng năm, giá cao hơn giống địa phương từ 5-10 lần) thay vì sử dụng các vật tư tự cung tự cấp như trước đây (giống địa phương) có lẽ là một trong những thay đổi lớn nhất trong hệ thống canh tác của đồng bào dân tộc ở Lào Cai mấy năm gần đây Thay đổi này đã giúp tăng cường an ninh lương thực, giải quyết nạn đói cho người nghèo, nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ bị rủi ro của họ Vật tư được trợ giá, trợ cước (được cung cấp qua hệ thống vật tư nông nghiệp của nhà nước) càng làm cho người dân gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vật tư này Tại các xã khảo sát vụ vừa qua đã xảy ra trường hợp giống ngô trợ giá không tốt làm người dân thất thu nặng nề trên diện rộng Giống lúa lai phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc cũng gây mối lo ngại về chất lượng giống không ổn định và khả năng chủ động cung cấp giống kịp thời vụ cho bà con (người dân cho biết cùng một giống lúa nhưng có năm mạ tốt có năm mạ không tốt)

"Trồng ngô mà thu hoạch chuối"

Trường hợp ở xã Bản Cầm - huyện Bảo Thắng

Tại xã Bản cầm (huyện Bảo Thắng) vụ ngô xuân vừa qua bà con dùng giống ngô P11 Lào cai được trợ giá Tuy nhiên chất lượng giống có vấn đề khiến năng suất giảm mạnh so với trước Nhiều nhà cho biết bị mất trắng do cây ngô "trổ đến 5-6 bông xoè ra như bắp chuối" mà không đậu hạt Bà con cho biết trước đây dùng giống địa phương tuy năng suất thấp hơn giống mới nhưng chưa bao giờ bị hiện tượng như vậy Có gia đình sản xuất giỏi như bà Hoàng thị Lưu thôn Nậm Tang mọi năm gieo 12 kg giống thu được 2 tấn hạt thì năm nay chỉ thu được vẻn vẹn có 7 tạ Có hộ nghèo khi được phỏng vấn cho biết vụ ngô vừa qua bị thất bát nên gặp khó khăn, gia đình phải tăng đi làm thuê để lấy tiền đong gạo

Ông Phó chủ tịch Hội Nông dân xã cho biết: 'năm nay trong xã trồng 700 kg giống ngô P11, có 400kg giống trồng trên đất bằng mất trắng còn 300kg trồng trên đất dốc năng suất giảm 30- 40%"

Lãnh đạo Trung tâm giống nông lâm nghiệp Lào Cai công nhận: năm nay giống ngô P11 sản xuất tậi trung tâm đã cung cấp 48 tấn cho toàn tỉnh trong đó khoảng 20 tấn gieo trên diện tích 112ha tại Bảo Thắng đã "giảm năng suất do ảnh hưởng của thời tiết khô hạn vụ xuân".

Nói chung thì người dân luôn "hoan nghênh" việc trợ giá trợ cước vì giảm được chi phí sản xuất Tuy nhiên khi giống mới không tốt, dễ bị mất trắng khi thu hoạch sẽ là một nguy cơ đẩy người nghèo rơi vào tình thế nghèo thêm Một số cán bộ ở các xã khảo sát cho rằng trợ giá nên

giảm dần, "năm thứ hai bằng nửa năm đầu tiên, năm thứ ba bằng nửa năm thứ hai, năm thứ tư

là hết" (tỉnh đã đề ra chính sách giảm dần trợ giá này, nhưng thực tế hai năm qua vẫn chưa

giảm trợ giá) Một người khác nói: "Trợ giá là cái để kích, để người ta dùng giống mới, khi

Trang 20

người ta đã quen dùng thì giảm đi rồi không trợ giá nữa Chứ có mấy đợt trợ giá, năm sau lại không có, người ta bắt đầu quen không có thì năm sau lại có."

Giá cả thị trường không ổn định

Người dân các thôn vùng thấp (xã Bản Cầm, Phong Niên huyện Bảo Thắng) mấy năm qua đã quá thấm thía với sự sụt giá thảm hại của nhiều cây trồng đã từng được chính quyền phát động rầm rộ, như cây mía và các loại cây ăn quả như nhãn, vải, mận Điển hình như cây mía trồng mạnh từ 1997, từng đượoc coi là cây xoá đói giảm nghèo, cả xã có mấy chục ha; giá từ 3000-4000đ/kg mật sau 2 năm đã giảm xuống đến mức không đủ tiền trả công chặt mía (cây mía có một thời gian chủ yếu bán sang Trung quốc - sau đó khách hàng Trung quốc không mua nữa); đến năm 2001 người dân chặt bỏ hết không trồng mía nữa Cây ăn quả được nhà nước hỗ trợ giống nhưng có loại chất lượng không cao, hoặc khi có thu hoạch giá quá thấp hoặc không bán được; ví dụ nhãn thời 1999 giá được 7000-8000 đ/kg.nay chưa được 2000 đ/kg nên nhiều nhà

"chỉ để trẻ con vặt ăn chơi"

Thị trường luôn là một yếu tố rủi ro khó lường nhất đối với người nông dân chân lấm tay bùn trong các nỗ lực sản xuất hàng hoá và đa dạng hoá cây trồng vật nuôi Cũng may là thời gian qua một số cây trồng chính như ngô, lúa, đậu tương và các loại vật nuôi chủ lực như trâu bò lợn gà đều được giá, thị trường tương đối thuận lợi Có ý kiến băn khoăn thời gian tới không rõ liệu còn được thuận lợi như vậy không, nhất là đối với cây ngô (khi phải đối mặt với ngô nhập khẩu trong quá trình tự do hoá thương mại)

Hiện nay chính quyền tỉnh đang tiếp tục thực hiện một số chương trình cây-con trọng điểm, trong đó nổi lên cây chè với nhiều ưu đãi về tín dụng (cấp bù 50% lãi suất cho vay đối với hộ vay vốn để trồng chè) và cam kết bao tiêu sản phẩm (tỉnh chỉ đạo nông trường chè ký hợp đồng thu mua với xã đảm bảo 1kg chè búp tươi giá tương đương 1kg thóc) Qua khảo sát nhiều hộ gia đình đã vay 8-10 triệu đồng để trồng chè, trong khi đó nhìn rộng ra về triển vọng thị trường của cây chè trong vài năm tới cũng đang tiềm ẩn không ít rủi ro

Phụ thuộc vào thời tiết

Vùng cao xa xôi có một vấn đề riêng là nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào nước trời, do vậy năm nào bị hạn thì năm sau thiếu lương thực Xã Tả Gia Khâu năm 1997 mất mùa vì hạn, năm

1998 đói, các năm 1999-2002 thời tiết tốt, lại có phân bón nên sản xuất được, bà con hết đói Đến năm nay (2003) lại đang hạn nặng, bởi thiếu nguồn nước để mở rộng hệ thống thuỷ lợi nên nhiều diện tích bà con không cấy được, đây là một nguy cơ rủi ro thường trực mà người dân và chính quyền xã đều chưa thấy lối ra Người dân và cán bộ ở đây lo ngại rằng năm sau sẽ có nhiều hộ quay trở lại thiếu đói do hạn năm nay

Hơn nữa, việc sử dụng giống mới năng suất cao (HYVs) không phải lúc nào cũng thích hợp với vùng không chủ động nước hoặc thời tiết thay đổi thất thường (giống địa phương có khả năng thích nghi và chống chịu thời tiết tốt hơn) Chính vì vậy ở vùng cao vẫn còn nhiều gia đình tiếp tục dành một phần diện tích trồng giống địa phương vì: (i) ăn ngon hơn; (ii) dễ thu hoạch và dễ bảo quản hơn; (iii) tự để được giống; (iv) phù hợp hơn với khả năng bón phân, chất đất, địa

hình và khí hậu từng nơi Rõ ràng, đi tìm sự cân bằng giữa kiến thức mới và kiến thức bản

địa để vừa nâng cao an ninh lương thực và thu nhập, vừa giảm nguy cơ bị rủi ro cho người dân cần là một vấn đề trọng tâm trong XĐGN thời gian tới.

Gia súc chết

Trang 21

Trong các thôn khảo sát, một số hộ bị trâu, bò chết, do bệnh, do thời tiết lạnh hoặc do lăn xuống núi Những hộ này vẫn nghèo và một số chưa trả được nợ ngân hàng Trong mấy năm gần đây, dịch vụ thú y đã mở rộng ở các thôn vùng cao và rất được người dân hoan nghênh Hiện nay mỗi năm cán bộ thú y xã đi tiêm phòng trâu bò hai đợt, đã giảm bệnh dịch đi nhiều, nhưng nếu mua trâu bò không vào đợt có tiêm phòng thì nguy cơ rủi ro vẫn cao Mặt khác, một số thôn vùng cao còn cần có ngựa để vận chuyển, mà mấy năm gần đây ngựa hay chết dịch Đây cũng là một vấn đề cần khắc phục.

Ốm đau nặng và mất lao động chính

Tất cả các loại hộ từ khá đến nghèo đều có thể bị tổn thương nặng nề do trong nhà có người ốm đau nặng Rủi ro này có thể tác động ghê gớm hơn đối với hộ nghèo, nhưng cũng có thể biến các hộ không nghèo thành nghèo Lao động là nguồn lực quan trọng, do vậy đối với bất cứ loại hộ nào, việc mất một lao động (do ốm đau, chết hay bỏ đi) đều gây tác động lớn Các hộ nữ làm chủ hộ có con còn nhỏ thuộc diện dễ bị tổn thương nhất khi người phụ nữ phải gánh vác mọi việc trong gia đình Báo cáo PPA 1999 đã nêu vấn đề này, và đợt đánh giá này cũng gặp những trường hợp tương tự

2.5 Tạo việc làm

Do đặc điểm là tỉnh đang xây dựng rất mạnh (vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ các nguồn trên 500-600 tỷ đồng/năm, năm 2005 Lào Cai sẽ lên thành phố), nên Lào Cai hiện có nhiều cơ hội việc làm lao động thủ công cho người dân địa phương trong các công trình xây dựng - điển hình là công việc "đập đá, thồ cát" với tiền công bình quân 15.000 đ/ngày Đây là sự thay đổi đáng kể so với năm 1999: thời đó cơ hội chủ yếu là làm thuê cho anh em họ hàng trong nội bộ thôn bản nên chỉ có việc vài ngày trong năm khi đến mùa vụ nông nghiệp; còn bây giờ công trình xây dựng nhiều, ai chịu khó đi xa (đi Bắc Hà, Sa Pa, Than Uyên, thị xã Lào Cai) thì có thể có việc làm quanh năm Tại những thôn có mỏ đá (như thôn Nậm Tang - xã Bản Cầm) cũng đã xuất hiện một số doanh nghiệp khai thác đá xây dựng (cả doanh nghiệp nơi khác đến,

và doanh nghiệp thành lập tại địa phương) tạo việc làm ổn định cho vài chục lao động địa phương.2

Tại các thôn vùng thấp, bà con cho biết:đi làm thuê xa nhà là một phương cách chống đỡ khó khăn khá phổ biến của người nghèo ít đất, nhất là lớp nam thanh niên Người dân thường đi nhiều vào dịp cuối năm (từ tháng 10 đến tết âm lịch), đi hàng tuần có khi hàng tháng mới về nhà 1 lần Từ trước tới nay đa phần người Kinh đi làm thuê xa nhà, nhưng gần đây người dân tộc ở vùng thấp cũng bắt đầu đi ra ngoài làm thuê nhiều hơn - một phần do sức ép về thiếu đất ngày càng mạnh Tuy vậy, tâm lý chung của người dân ở đây vẫn coi làm thuê là một phương cách tạm thời, "đi làm thuê xa nhà chỉ là bất đắc dĩ"; một số người cho rằng đi làm bên ngoài

là "tham bát bỏ mâm" (một phụ nữ nghèo ở xã Phong Niên phàn nàn "đi làm xa ở nhà không ai trông, có đàn gà chạy đi người ta bắt mất còn quá tội !")

Còn tại các thôn vùng cao đi lại khó khăn, bà con dân tộc vẫn hiếm khi đi ra ngoài xã để kiếm việc làm Có thể thấy, cơ sở hạ tầng được cải thiện sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy việc đi

2 Hệ thống doanh nghiệp Lào Cai đang phát triển mạnh, đến cuối 2002 toàn tỉnh có 477 doanh nghiệp với 19.346 lao động, tăng 180 doanh nghiệp so với năm 2001, trong đó có 417 doanh nghiệp tư nhân (Báo cáo của UBND tỉnh Ðánh giá thực hiện chương trình XĐGN và việc làm 3 năm 2001-2003, 5/2003) Được biết đa số doanh nghiệp tư nhân mới thành lập hoạt động trong ngành xây dựng.

Trang 22

làm thuê Hiện nay, khi nào có công trình xây dựng trong thôn, trong xã thì bà con không phân biệt giàu nghèo đều tham gia lao động lấy tiền (làm thuê cho nhà thầu) rất đông.

Cả thôn đi thồ cát xây trường học

Thôn Lao Chải, xã Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương

Năm 2002 thôn vùng cao Lao chải được xây dựng một ngôi trường cấp 1 do nguồn vốn Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ Cả thôn hơn 30 hộ đã tham gia thồ cát, xi măng từ chân đường cái vào địa điểm xây trường (cách 5km) để có thêm thu nhập Ai có ngựa thì dùng ngựa thồ, không có ngựa thì dùng gùi đi bộ, có gia đình cả vợ chồng con cái vài ba người cùng đi thồ vật liệu Tổng kết lại sau 1 tháng hộ nào trong thôn cũng kiếm được vài trăm nghìn đồng tiền thồ vật liệu, có hộ thanh niên nghèo mượn ngựa của bố đi thồ kiếm được gần triệu đồng.

Tại các thôn khảo sát hiếm thấy trường hợp nào người dân "thoát ly" khỏi nông nghiệp để đi làm công nhân hay nghề phi nông nghiệp Do trình độ văn hoá thấp, không có tay nghề nên lớp thanh niên chủ yếu đi làm lao động thủ công ngắn hạn theo từng công trình Trong khi đó Lào Cai đang thu hút khá đông lao động có tay nghề từ các tỉnh trung du lên Mở rộng các hình thức đào tạo nghề là một hướng đi hợp lý, nhưng có lẽ trước mắt sẽ khả thi hơn ở các khu vực gần thị xã và các huyện lỵ

Chính quyền cấp xã hiện nay ít đứng ra tổ chức cho người dân lao động trong các công trình hạ tầng - dù được chính quyền tỉnh và huyện khuyến khích, mà chủ yếu vẫn phó mặc cho các nhà thầu3 Rủi ro chính khi đi làm thuê được bà con cả vùng cao và vùng thấp nhắc đến là không biết chữ, không có hợp đồng, đau ốm thì tự về nhà mà chữa, thỉnh thoảng vẫn có người bị cai thầu lừa không được trả công

Dường như một vấn đề bức xúc về tạo việc làm cho người dân ở Lào Cai, nhất là đồng bào dân tộc và người nghèo ít đất, là hỗ trợ truyền thông và hỗ trợ pháp lý cho người lao động trong các công trình xây dựng (tránh tình trạng bỏ mặc cho cai thầu tự lo liệu như hiện nay)

Đi làm thuê :

Chỉ sợ bị lừa không được trả công

"…Hai ba năm nay, những gia đình ít đất sản xuất thường phải đi làm thuê, có khi làm ở trong huyện, có khi làm ở gần xóm, nhóm thanh niên thường đi làm ở xa, ở tỉnh và huyện Than Uyên có khi đi 10 người một nhóm để đào đất, đổ bê tông, xây dựng cơ bản, phụ hồ, vận chuyển đá́ nhiều khi làm xong rồi mà [cai thầu chạy mất] không được trả tiền công".

(thảo luận nhóm phụ nữ ở thôn Cốc Sâm 1, xã Phong Niên)

" Năm ngoái làm đường ở xã, em và mấy người nữa ra đập đá thuê, cai thầu nợ mấy trăm nghìn.Đập đá khoán, cứ 1 xe đổ xuống 1 đống đá hộc dùng búa đập khoảng 3 ngày được 50.000 đồng Gần Tết nó bảo nó đi lấy tiền rồi đi luôn không quay lại Cả ông chủ tịch xã cũng

bị nó lừa, cho nó vay ít tiền rồi nó đi luôn."

(phỏng vấn nhanh nam thanh niên đang đập đá làm đường ở xã Pha Long)

3 Tỉnh khuyến khích các xã ký hợp đồng với Ban quản lý dự án huyện để tổ chức người dân tham gia xây dựng lấy tiền công trong các dự án thuộc Chương trình 135 Tuy nhiên kết quả đạt được còn khiêm tốn: trong 2 năm 1999-2000: nhân dân tham gia xây dựng 14 tỷ trong tổng giá trị thực hiện 122 tỷ, năm 2001 dân tham gia xây dựng 10,5 tỷ trong tổng số 56.2 tỷ; còn năm 2002 dân tham gia 6,5 tỷ trong tổng số 55,7 tỷ (trích Báo cáo tổng kết Chương trình 135 của Sở Kế hoạch Đầu tư Lào cai, các năm 1999-2000, 2001 và 2002).

Trang 23

3 Sự tham gia vào việc ra quyết định tại địa phương

3.1 Thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở

Nhìn chung, kể từ khi có Qui chế dân chủ ở xã (Nghị định 29/CP) theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và các qui định liên quan, cán bộ xã đã tham khảo ý kiến của người dân nhiều hơn trong các công việc liên quan trực tiếp đến dân tại địa phương Một số

biểu hiện tích cực là:

• Người dân tham gia trực tiếp bình xét hộ nghèo, bình xét đối tượng được nhận các khoản hỗ trợ của nhà nước (tấm lợp, lu nước, hỗ trợ hộ đặc biệt khó khăn ) Người dân ngay cả ở những thôn xa xôi nhất ở vùng cao cho biết việc bình xét thời gian qua đều được thực hiện công khai thông qua họp thôn Người dân cho rằng, họ biết rõ hoàn cảnh từng hộ nên biết được hộ nào thực sự cần được hỗ trợ

• Người dân thảo luận về triển khai các công trình 135, các công trình giao thông liên thôn, các khoản đóng góp huy động (ví dụ tỉnh có chính sách hỗ trợ 30 triệu đồng/km công nổ mìn, thuê máy để mở mặt đường giao thông liên thôn; các phần việc khác do địa phương huy động dân tự làm - do đó dân phải bàn bạc, thống nhất ý kiến về việc đóng góp công lao động thì mới làm được)

• Các xã đều có phân công cán bộ xã "nắm tình hình và chỉ đạo" từng thôn bản Các

xã đều bố trí bộ phận tiếp dân để giải quyết các thủ tục cho dân (đa phần là các thủ tục chứng nhận và liên quan đến đất đai, vây vốn), tiếp nhận và xử lý các đơn từ thắc mắc khiếu nại của dân Các xã đều cố gắng hạn chế thấp nhất đơn từ khiếu kiện vượt cấp

Người dân biết rõ nhất ai khó khăn cần hỗ trợ

Thảo luận nhóm nam ở thôn Thải Giàng Sán - xã Tả Gia Khâu

"Hộ Giàng Cồ Mìn, 26 tuổi là hộ nghèo nhất ở thôn Giàng Thải Sán Nhà nó không có trâu bò Bò đã chết năm 2000, tiền nó vay của Ngân hàng năm 1999 còn chưa trả được Nó không có ruộng lúa, chỉ ít đất trồng ngô diện tích trồng khoảng 12 kg giống Hai đứa con nó lại còn nhỏ (3 tuổi và 4 tháng) Bởi thế, khi họp thôn chúng tôi đã lựa chọn để nó được nhận hỗ trợ phát triển sản xuất từ nguồn vốn định canh định cư của tỉnh gồm 300.000 đồng tiền mặt, 30 kg gạo, chảo, cuốc, xẻng, lưỡi cày, dao phát, chén bát, chăn, màn, chiếu Không có ai thắc mắc gì vì nó quá nghèo rồi".

Có lẽ cán bộ các cấp đã rút được nhiều kinh nghiệm từ những thất bại trước đây khi không

tham khảo ý kiến của dân: Trong đợt khảo sát lần này đã nghe được nhiều ý kiến của cán bộ về

tình hình trước đây "ngày xưa trong chương trình định canh định cư [không bàn với dân] bà

con dửng dưng không gắn bó, không thiết thực, nhiều khi làm nhà nhưng dân không ở, người

ta bảo nhà không đúng hướng, phản chủ, phản lộ hoặc đặt nóc vào giờ xung nên không ở ";

và thay đổi gần đây "phải lấy thôn bản bình bầu xem xét, vấn đề là công bằng; mình có nhiều

bài học lắm rồi, khi có chuyện thì tiền cán bộ đi xử lý thắc mắc còn quá tội ".

Mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ, việc thực hiện qui chế dân chủ cơ sở ở Lào Cai vẫn là một

thách thức lớn, đặc biệt ở các xã vùng cao với các đặc điểm đa dân tộc, đa ngôn ngữ, ít người

thạo tiếng phổ thông, địa hình xa xôi đi lại khó khăn, năng lực cán bộ hạn chế Những vấn đề

chính hiện nay là:

Trang 24

Truyền thông, cung cấp thông tin cho dân còn hạn chế Một thực tế là đại bộ phận

người dân còn ít hiểu biết về các chính sách chủ trương của nhà nước, cũng chưa nắm được các quyền lợi và nghĩa vụ của mình Khi hỏi về các công việc ở địa phương - kể

cả những việc liên quan trực tiếp đến người dân - câu trả lời thường gặp của đồng bào

dân tộc là "chi pâu" (“không biết”) Sự "không biết" khiến cho những khâu tiếp theo

“bàn, làm, kiểm tra” trở nên ít ý nghĩa (bản thân Quy chế dân chủ thì cán bộ xã và thôn

đều nói đã phổ biến cho dân ở tất cả các thôn, nhưng khi hỏi dân thì cũng ít người nhớ

là mình có những quyền gì) Nguyên nhân của "không biết" thì có nhiều (nguồn, kênh,

hình thức thông tin chưa đa dạng và chưa phù hợp, cơ sở vật chất nghèo nàn, ), nhưng đáng lưu ý là:

• cán bộ xã và thôn bản nhiều khi cũng không nắm vững các chính sách, chủ trương của Nhà nước (do thiếu thông tin, năng lực hạn chế, bận nhiều việc); và thường chỉ chú trọng giải thích kỹ cho dân khi có ý kiến thắc mắc, khiếu nại

• người dân nhiều khi cũng thiếu động cơ để tìm hiểu những vấn đề không phải là

thiết thân với mình ("người dân mải làm ăn không quan tâm ")

• còn thiếu một cơ chế chủ động tìm hiểu nhu cầu thông tin cụ thể của từng nhóm người dân (nhất là người nghèo và phụ nữ) để tìm cách phổ biến đa kênh,

đa chiều cho thiết thực, phù hợp với họ

Người dân mới được tham gia chủ yếu ở khâu thực hiện Tại các thôn khảo sát, qua

phỏng vấn người dân hầu như không biết gì về các khâu "đóng góp vào dự thảo kế

hoạch", "lựa chọn ưu tiên", "thiết kế công trình", "dự toán-quyết toán công trình"

Khái niệm 'tham gia" theo cách hiểu của người dân thường là được "phổ biến" (để triển khai) trong cuộc họp thôn, và "lao động" trong công trình (lao động công ích hoặc được trả công)

Còn thiếu biện pháp thu hút người nghèo, phụ nữ tham gia Do học vấn thấp (hầu

hết phụ nữ dân tộc trên 30 tuổi ở vùng cao không biết chữ), do tập quán (chủ yếu chồng

đi họp), do tự ti (người nghèo đi họp chủ yếu ngồi nghe) nên phụ nữ, người nghèo nói chung ít tham gia ý kiến vào các công việc của địa phương Ở các thôn cũng chưa thấy

có biện pháp gì đáng kể để khắc phục những yếu điểm cố hữu của người nghèo và phụ

nữ để tăng cường sự tham gia của họ

• Ở một số thôn khi bình xét hộ nghèo và nhất là khi bình xét người được hưởng hỗ trợ của nhà nước có giá trị lớn (ví dụ, tấm lợp), bà con có nhiều ý kiến khác nhau, có cả những ý kiến không vừa lòng, tỵ nạnh giữa người nghèo và người không nghèo dễ ảnh hưởng xấu đến sự gắn bó xã hội trong cộng đồng

Sự tham gía của người dân thông qua các tổ chức đại diện (hội nông dân, hội phụ

nữ, thanh niên ) còn hạn chế Có những thôn ở vùng cao các tổ chức đoàn thể hoạt

động khó khăn, một số hầu như không hoạt động Lý do chủ yếu theo ý kiến của bà con

là do năng lực cán bộ hạn chế (nhiều cán bộ đoàn thể không thạo tiếng phổ thông), cán

bộ bận việc nhà (cán bộ đoàn thể ở ấp không có phụ cấp), các đoàn thể ít tổ chức được các hoạt động thiết thực để thu hút bà con tham gia

Ở một số thôn, chi bộ Đảng được người dân đánh giá cao trong thực hiện qui chế

dân chủ (mọi việc quan trọng trong thôn đều phải được chi bộ bàn "chủ trương", các kết quả bình xét đều phải được chi bộ "thông qua"- nhất là khi dân có ý kiến khác nhau) Tuy nhiên cũng có khó khăn là một số thôn vùng cao chưa có đảng viên, hoặc không đủ số đảng viên tối thiểu (3 người) để thành lập chi bộ

Có thể thấy tại các xã nghèo đang rất thiếu những cán bộ “phát triển cộng đồng”- XĐGN

được giao chức năng nhiệm vụ cụ thể và được trang bị những kỹ năng tham gia cần thiết (ví

dụ, các kỹ năng PRA, giám sát – đánh giá…) để thúc đẩy sự tham gia tích cực và hiệu quả của

Trang 25

người dân Thời gian qua Lào Cai đã bố trí cán bộ tăng cường đến hầu hết các xã 135 để giúp

xã thực hiện các chương trình, dự án XĐGN (gọi là "cán bộ 135") Dù chỉ là giải pháp tạm thời, các cán bộ tăng cường này cần được đào tạo kỹ về các phương pháp người dân cùng tham gia để thúc đẩy việc thực hiện dân chủ trong XĐGN

Thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở :

Nâng cao vai trò của các tổ chức đại diện

Nghị định 79/CP mới ban hành tháng 7/2003 (thay thế NĐ29/CP) đã nhấn mạnh vai trò của các

tổ chức đại diện - HĐND và các thành viên Mặt trận tổ quốc (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ ) - trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Chức năng chủ yếu của HĐND giữa 2 kỳ họp chính là giám sát-đánh giá việc thực hiện các chính sách phát triển KH-XH và XĐGN tại địa phương Trong Điều lệ của các Hội cũng đều có chức năng giám sát thực hiện, tham mưu đề xuất cho chính quyền về các chính sách, chủ trương của nhà nước Các Hội đều có hệ thống chân rết đến hầu hết thôn bản, nên về nguyên tắc có nhiều điều kiện thu thập, tổng hợp và phản ánh ý kiến của nhân dân và các hội viên của mình.

Dân chủ ở cơ sở là một yếu tố thiết yếu để xóa đói giảm nghèo Trong bối cảnh vùng cao đa dân tộc, đa ngôn ngữ, điều kiện đi lại và trao đổi thông tin khó khăn, đồng bào còn nhiều hạn chế về trình độ văn hóa, đa số không biết tiếng phổ thông thì phát huy cơ chế đại diện là một cách thiết thực để thực hiện dân chủ ở cơ sở, đặc biệt trong khâu giám sát - đánh giá

Thực tế khảo sát tại Lào Cai, HĐND và các đoàn thể ở cấp xã và thôn bản còn ít phát huy vai trò của mình trong thực hiện Quy chế dân chủ Khoảng trống lớn giữa chức năng, nhiệm vụ và nguồn nhân lực, năng lực, ngân sách hoạt động của các tổ chức đại diện ở cơ sở cần được lấp đầy Chương trình 135 và Chương trình XĐGN và việc làm đã có dòng ngân sách dành cho công tác đào tạo cán bộ; cần tăng dòng ngân sách này để dành thêm phần cho việc nâng cao năng lực cho các tổ chức đại diện trong thời gian tới.

3.2 Vai trò của cấp xã

Khi bàn đến sự tham gia của người dân trong việc ra quyết định ở cơ sở, câu hỏi đầu tiên thường là "cấp xã được quyết cái gì ?" Các xã khảo sát đều thuộc Chương trình 135, Hội đồng nhân dân xã được quyết định danh mục đầu tư trong Chương trình 135 (phù hợp với quy hoạch

đã được cấp trên phê duyệt), nhưng các công trình xây dựng đều do Ban quản lý dự án của huyện làm chủ đầu tư4 Các xã được thành lập ban giám sát gồm cán bộ xã và cán bộ đoàn thể

Tuy nhiên, các ban giám sát cấp xã còn hạn chế về năng lực trong việc giám sát, nghiệm thu

các công trình xây dựng Mặc dù cũng được huyện cho đi tập huấn vài ngày, nhưng thực tế các thành viên ban giám sát xã ít hiểu biết về kỹ thuật, họ cũng bận nhiều việc nên giám sát còn hình thức

Các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của xã do UBND dự thảo, có bàn trong Đảng ủy và trình HĐND quyết nghị (không đưa ra dân bàn) Một số chỉ tiêu quan trọng, ví dụ chỉ tiêu thu ngân

sách và chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo, được giao từ huyện xuống Cán bộ xã cho biết "về nguyên

tắc thì khi huyện giao nếu không họp lý thì có thể đề nghị sửa đổi", nhưng thực tế thì "xã chẳng mấy khi có ý kiến" Vấn đề là ở chỗ, chỉ tiêu kế hoạch ít liên quan đến phân bổ ngân

sách, ví dụ giao chỉ tiêu giảm nghèo một năm 3% hay 5% thì mức đầu tư vẫn như vậy

Bản thân cán bộ xã và người dân còn ít được tham gia trong các dự án, công trình nằm

ngoài Chương trình 135, mặc dù những công trình này phục vụ trực tiếp cho đời sống của bà

con trong xã Ví dụ như công trình điện ở thôn Nậm Tang xã Bản Cầm, người dân và cán bộ địa phương không được tham gia ý kiến về thiết kế luồng tuyến, nên sau khi xây dựng xong

4 Việc phân cấp thực hiện Chương trình 135 diễn ra chậm Lãnh đạo Sở KH-ĐT cho biết đến nay tỉnh mới phân cấp được cho 30% số xã làm chủ đầu tư; với các xã đã phân cấp huyện vẫn hỗ trợ về thủ tục hồ sơ Mục tiêu đến năm 2005 sẽ phân cấp hết.

Trang 26

công trình không phát huy được tác dụng, dân phàn nàn rất nhiều, ảnh hưởng đến lòng tin của

người dân đối với chính quyền ("dân đâu có biết công trình do ai thiết kế, chỉ biết kêu chính

quyền địa phương thôi ").

Đề xuất:

Sự tham gia của cấp xã trong các công trình ngoài Chương trình 135

Tháng 7/2003 Chính phủ vừa ban hành Nghị định 79/CP về Qui chế thực hiện dân chủ ở xã thay thế Nghị định 29/CP Trong Nghị định 79/CP có một qui định cụ thể:

"Điều 12: Những việc người dân ở xã giám sát, kiểm tra gồm có: 7 Các công trình của cấp trên triển khai trên địa bàn xã có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, an ninh, trật tự, văn hóa, xã hội, vệ sinh môi trường và đời sống của nhân dân địa phương."

Hầu hết công trình sử dụng vốn tài trợ đều áp dụng cách tiếp cận "quản lý thủy nông có sự tham gia" - PIM hoặc "phát triển hạ tầng dựa vào cộng đồng" Các công trình sử dụng vốn Chương trình 135 và công trình huy động dân đóng góp đã có các qui định riêng của Chính phủ nhấn mạnh sự tham gia của người dân trongg khâu giám sát kiểm tra

Còn các công trình khác (ngoài chương trình 135) hiện áp dụng Nghị định 52/CP về Qui chế quản lý đầu tư và xây dựng.Tuy nhiên, trong Nghị định 52/CP và các văn bản hướng dẫn kèm theo chưa có điều khoản nào qui định rõ ràng về cơ chế, trách nhiệm, kinh phí, các bước tiến hành để đảm bảo quyền giám sát kiểm tra của người dân địa phương như Nghị định 79/CP yêu cầu.

Thời gian tới, cần bổ sung vào Qui chế quản lý đầu tư và xây dựng một số điều khoản cụ thể

về sự giám sát, kiểm tra của người dân đối với mọi công trình triển khai trên địa bàn xã từ mọi nguồn vốn - đáp ứng Điều 12 Nghị định 79/CP Đây có thể coi là một hành động cụ thể đóng góp vào ý tưởng lồng ghép hài hòa giữa tăng trưởng và giảm nghèo của CPRGS.

3.3 Vai trò của cấp thôn bản

Đợt khảo sát lần này ở Lào Cai khẳng định vai trò cực kỳ quan trọng của cấp thôn bản trong

việc đảm bảo sự tham gia của người dân Thôn bản không phải là một cấp hành chính nhà nước, nhưng là nơi giao tiếp giữa người dân và chính quyền, là nơi thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của người dân:

Tất cả mọi việc cấp xã triển khai đến dân đều thông qua Trưởng thôn; và hầu hết

người dân cũng đều thông qua Trưởng thôn để nắm thông tin và đề đạt ý kiến lên chính quyền Ở các thôn vùng cao, trưởng thôn gần như làm tất cả mọi việc đại diện cho dân:

từ việc đăng ký và đi lấy giống/phân; đến làm đơn từ cho con đi học; đến làm thủ tục

vay vốn, thu lãi và gốc ("dân không cần biết thủ tục vay vốn ngân hàng như thế nào,

chỉ biết nếu muốn vay vốn thì đến gặp trưởng thôn") Sự tham gia của người nghèo phụ

thuộc nhiều vào sự nhiệt tình và năng lực của Trưởng thôn

Ở vùng cao, họp thôn gần như là kênh duy nhất để phổ biến thông tin cho dân và

lấy ý kiến của dân trong mọi việc

Qua phỏng vấn, đại đa số người dân cả năm trời không đến trụ sở xã Do đó những biện pháp phổ biến thông tin ở cấp xã kiểu như "công khai quyết toán ngân sách" hay

"bảng tin khuyến nông" ở trụ sở xã có ít ý nghĩa thiết thực với bà con, nhất là với đa số

bà con dân tộc vùng cao Lào Cai không biết đọc.

Tuy nhiên, hiện nay cấp thôn bản cũng đang là khâu 'thắt cổ chai" đối với sự tham gia của

người dân:

• Trình độ văn hóa và năng lực của trưởng thôn - nhất là ở vùng cao - còn rất hạn chế Mọi thông tin đều đi qua trưởng thôn nhưng nhiều trưởng thôn không nắm được, không hiểu hết Hầu hết trưởng thôn ở vùng cao mới có văn hóa (chưa hết) cấp 1 Lãnh

Trang 27

đạo huyện Mường Khương cho biết "30% trong tổng số 302 trưởng thôn của huyện

chưa đọc thạo tiếng phổ thông".5

Trong khi đó phụ cấp cho trưởng thôn quá thấp - chỉ có 90.000 đ/tháng, "không đủ

tiền mua dép đi báo mọi người đi họp" (mà thực tế việc báo đủ cho mọi người đi họp

cũng đã là rất khó khăn ở vùng cao; có thôn muốn báo đủ phải mất cả ngày đi bộ)

• Mặc dù có bầu ra "thanh tra nhân dân" ở mỗi thôn bản (báo cáo cho Mặt trận tổ quốc xã), nhưng thực tế khảo sát cho thấy thanh tra nhân dân (không có phụ cấp) ít phát huy tác dụng

Thực tế, với mức độ triển khai các công việc như hiện nay, làm thôn trưởng là vất vả và yêu

cầu cao hơn ngày xưa nhiều, trong khi phụ cấp thì quá thấp Có một số ý kiến bình luận "làm

thôn trưởng ở đây còn khó hơn làm chủ tịch xã, còn phải thạo 2-3 ngoại ngữ" trong khi đó

"cách đây mấy năm phụ cấp hàng tháng của cán bộ xã 100.000 đ thì phụ cấp thôn trưởng 50.000đ, nay cán bộ xã đã nâng lên 3-4 lần còn phụ cấp thôn trưởng mới chỉ được 90.000đ"

Có lãnh đạo xã được phỏng vấn cho biết "việc thì nhiều, mà anh em ở thôn trình độ có hạn, đi

lại thì xa mà phụ cấp thì quá thấp, nên mình cũng phải nói nhẹ nhàng thôi, nói nặng họ bảo

"mày đi mà làm"

Một số xã vùng cao kiến nghị nên bổ sung chế độ "thôn phó" để đỡ việc cho thôn trưởng, đảm bảo cầu nối từ xã đến người dân và ngược lại, và để đào tạo cán bộ trẻ vùng cao

Đề xuất

Bổ sung chức danh "Phó Thôn"

Trưởng thôn là người được dân bầu ra, do đó phải là người có uy tín, có kinh nghiệm trong thôn, và thường là người đứng tuổi (nhiều khi già làng kiêm luôn trưởngg thôn) Nhưng trưởng thôn ở vùng cao cũng thường bị hạn chế về trình độ văn hóa, do đó gặp khó khăn khi làm cầu nối giữa các chính sách, chủ trương của nhà nước với người dân Hơn nữa một mình Trưởng thôn nhiều khi làm không xuể các việc trong thôn do địa bàn thôn ở vùng cao vừa rộng vừa dốc đứng, dân cư lại thưa thớt (có nơi đa dạng 3-4 dân tộc trong 1 thôn).

Một biện pháp được đề xuất lầ bổ sung chức danh "Phó thôn" Phó thôn có thể là người trẻ tuổi hơn, có học vấn hơn, nhanh nhẹn hơn Phó thôn có thể do dân bầu ra, hoặc do xã chỉ định Phó thôn sẽ giúp Trưởng thôn trong các công việc chuyên môn, tiếp nhận và phổ biến thông tin hai chiều, tổ chức người dân tham gia các công việc cộng đồng Về phụ cấp, có thể qui định cho Phó Thôn một mức nhỏ nào đó có tính chất động viên (có thể theo chế độ "cán bộ

dự nguồn" ở cơ sở, bằng một nửa Trưởng thôn, ví dụ 50.000 đ/tháng) Thực tế hiện nay, ở một số thôn vùng cao huyện Mường Khương bà con đã chủ động bầu ra phó thôn mặc dù tỉnh chưa có quy định chính thức, và "tháng nào phó thôn hay phải đi họp thay trưởng thôn, thì trưởng thôn trích một phần công tác phí của mình cho phó thôn".

3.4 Giám sát - đánh giá

Qua thảo luận với cán bộ và người dân địa phương, giám sát - đánh giá việc thực hiện qui chế dân chủ cũng như giám sát những tiến bộ trong sự tham gia của người dân vào việc ra quyết

định tại địa phương trước hết cần tập trung vào cấp thôn bản Một số tiêu chí giám sát ở cấp

thôn bản được đề xuất là:

• Mức độ họp thôn có đều không (dân đề nghị họp thôn ít nhất 1 lần/tháng), tỷ lệ dân

đi họp có cao không (tại các thôn khảo sát, tỷ lệ dân đi họp thường là 70-80%, nhưng còn tùy vào chủ đề họp có thiết thực với dân hay không)

5 Tỉnh Lào Cai phấn đấu đến 2005 toàn bộ trưởng thôn vùng cao phải tốt nghiệp tiểu học, còn trưởng thôn vùng thấp phải tốt nghiệp trung học cơ sở

Trang 28

• Việc thực hiện hương ước - qui ước trong thôn bản

• Mức độ huy động người dân tham gia các hoạt động công ích

• Tổ chức được các hoạt động cho phụ nữ và người nghèo tham gia

Ở cấp xã, cán bộ xã thường phàn nàn là họ phải lập quá nhiều báo cáo, phải thu thập và tổng hợp quá nhiều số liệu, bảng biểu về rất nhiều chủ để trong thời gian ngắn theo yêu cầu của cấp trên; trong khi đó không có kinh phí cho việc điều tra thu thập số liệu Do đó không tránh khỏi nhiều số liệu là "hình thức", "chính xác tương đối" Về thông tin từ trên xuống, cán bộ xã cũng cho rằng họ nhận quá nhiều văn bản, nhiều khi cán bộ cũng không "tiêu hóa" hết (nhiều người đọc còn chậm), nói gì đến việc phổ biến lại cho dân

Về giám sát - đánh giá sự tham gia, cán bộ xã đề xuất:

thực ra, mức độ thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là chỉ tiêu

giảm nghèo hàng năm, chính là chỉ báo tốt nhất về sự tham gia của người dân

(theo cán bộ xã, có phát huy dân chủ, có sâu sát dân thì mới XĐGN tốt được)

• việc gửi các "phiếu điều tra về thực hiện qui chế dân chủ" về xã (như cách Lào Cai đang làm - điều tra 5% số hộ dân, phiếu hỏi 1 trang không ghi tên) không tránh khỏi hình thức, vì nhiều khi giao xuống thôn chỉ có cán bộ và một số hộ "hiểu biết" điền hết

số phiếu nên không chính xác và không khách quan (nếu đưa phiếu cho người dân bình thường thì họ không hiểu để điển, mà xã thì không có người và không có kinh phí để cử cán bộ đi phỏng vấn từng người trong một thời gian ngắn)

• nếu dựa vào số đơn khiếu kiện để đánh giá việc thực hiện qui chế dân chủ thì cũng chưa thật chính xác; vì trong bối cảnh người dân vùng cao ít hiểu biết về pháp luật, học vấn còn thấp (họ hoặc chẳng bao giờ khiếu kiện bằng văn bản, hoặc đôi khi lại khiếu kiện vô lý) cần phải có thêm nhiều thời gian và nỗ lực tuyên truyền cho dân

nên kiểm tra việc thực hiện QCDC thông qua cuộc họp tiếp xúc cử tri của HĐND (6

tháng/lần), vì bây giờ "dân nói rất hăng, thẳng thắn" Vấn đề ở chỗ cuộc họp tiếp xúc

cử tri của HĐND hiện nay vẫn là những "sự kiện" đơn lẻ, chưa có cơ chế thực hiện những việc "trước" (tìm hiểu,tổng hợp ý kiến người dân) và "sau" (thực hiện các lời hứa trước dân, trả lời/giải quyết các thắc mắc ) cuộc họp

Đề xuất:

Tăng cường giám sát, công bố các chỉ tiêu nói lên hiệu quả, tác động

Hiện nay, các báo cáo trong hệ thống chính quyền từ xã lên huyện lên tỉnh thường nặng về các chỉ tiêu quản lý đầu vào và các chỉ tiêu kết quả hiện vật (ví dụ: tiêu hết bao nhiêu tiền, làm được bao nhiêu công trình ) Các thông tin thông báo cho người dân cũng quá phức tạp, quá nhiều chi tiết không cần thiết mà người dân ít quan tâm (ví dụ, có rất nhiều chi tiết trong dự thảo kế hoạch hay trong bản quyết toán ngân sách hàng năm mà người dân không quan tâm) Trong khi đó những chỉ tiêu đơn giản, dễ hiểu nói lên hiệu quả, tác động thì hoặc không được giám sát thường xuyên, hoặc nếu có thì chỉ được thông báo theo ngành dọc chuyên môn mà không được thông báo rộng rãi cho người dân và cán bộ địa phương Ví dụ người dân sẽ hiểu ngay các chỉ tiêu "tỷ lệ hộ dân trong xã có điện", hoặc "tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi", hoặc "tỷ

lệ hộ được vay vốn", hoặc tốt hơn nữa là "tỷ lệ hộ trả vốn vay đúng hạn" (nếu theo dõi được

sự thay đổi qua các năm thì càng tốt)

Để người dân được thông tin tốt hơn, đang có một nhu cầu điều chỉnh lại hệ thống chỉ tiêu giám sát từ dưới lên trên theo hướng tăng cường các chỉ tiêu nói lên hiệu quả, tác động (kiểu như 12 nhóm chỉ tiêu giám sát về xã hội và XĐGN trong CPRGS)

Trang 29

4 Cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo

4.1 Giáo dục

Mấy năm qua, ngân sách dành cho ngành giáo dục tỉnh Lào Cai tăng mạnh Chi cho lương giáo viên tăng mạnh, đầu tư nhiều vào các công tác phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ, phát triển giáo dục mầm non, mở thêm và kiên cố hóa trường học, phòng học, cấp phát sách vở và

học bổng cho học sinh vùng đặc biệt khó khăn Sự nghiệp giáo dục Lào Cai đã đạt rất

2 % ngân sách dành cho lương và

các khoản phụ cấp theo lương

3 Chi xây dựng trường lớp (từ tất

4 Chi xây dựng trường lớp (từ tất

9 Tỷ lệ giáo viên tiểu học là người

dân tộc

10 Tỉ lệ học sinh DTTS trong tổng số

học sinh tốt nghiệp tiểu học

Nguồn: Sở GD-ĐT tỉnh Lào Cai, 8/2003

4.1.1 Giáo dục tiểu học

Đại đa số trẻ ở tuổi tiểu học đã đến trường, kể cả trẻ nghèo ở vùng cao

Tỉnh Lào Cai đã hoàn thành phổ cập tiểu học từ năm 2000 Thống kê của ngành giáo dục cho thấy tỷ lệ giáo viên là người dân tộc đang tăng, còn tỷ lệ học sinh dân tộc trong tổng số học sinh tốt nghiệp tiểu học đã ngang bằng với tỷ lệ dân số đồng bào dân tộc trong tổng số dân toàn tỉnh Phỏng vấn cán bộ, giáo viên và người dân tại các địa bàn khảo sát đều cho thấy tỉ lệ ra lớp của trẻ trong độ tuổi 6-14 tuổi ra lớp hầu hết trên 95% (các xã vùng thấp đạt tỷ lệ 96-98%) Kể

cả những thôn xa xôi nhất ở vùng cao (thôn Lao Chải-xã Tả Gia Khâu), tỷ lệ trẻ ở hộ nghèo đi

học tiểu học không thua kém so với trẻ hộ không nghèo Có nhóm phụ nữ nói: "nhà nghèo con

đi học nhiều hơn nhà khá, vì nhà nghèo không có trâu chăn" (thôn Tân Hồ - xã Phong Niên)

Thành tựu này là kết quả của tổng hợp nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là:

Quan trọng nhất là công tác vận động Ngành giáo dục đã vô cùng nỗ lực vận động

trẻ đi học Khi lương bổng đã tạm đủ sống và điều kiện làm việc tốt hơn (trường học, nhà giáo viên, đồ dạy học ), các giáo viên đã nhiệt tình và có trách nhiệm hơn với công việc của mình Các trường giao nhiệm vụ cho giáo viên phải theo dõi từng thôn,

Trang 30

biết từng hộ có bao nhiêu trẻ, ở độ tuổi nào, dựa trên cơ sở đó để đi vận động tuyển

sinh trước khi vào năm học, "giáo viên đi làm giấy khai sinh cho các em vào lớp"

Chính quyền cấp xã, các cơ quan đoàn thể, bộ đội nhiệt tình hỗ trợ nhà trường trong việc vận động trẻ (thông qua ban phát triển giáo dục xã) Đặc biệt trưởng thôn có vai trò rất quan trọng, là đầu mối giúp giáo viên vận động trẻ trong thôn ra lớp đầu năm,

cũng như vận động trẻ bỏ học ra lại lớp Có thể nói, ở vùng cao mối quan hệ nhà

trường - gia đình chủ yếu là quan hệ trực tiếp giữa giáo viên với từng gia đình, với

sự hỗ trợ của cán bộ địa phương và trưởng thôn; trong đó nổi bật là sự chủ động tích cực của giáo viên; phía cha mẹ thường thụ động, vai trò của hội phụ huynh còn mờ nhạt

Việc mở rộng trường lớp đến các thôn, bản đã giúp trẻ đi học dễ dàng hơn Cán

bộ giáo dục cho biết cứ nơi nào đủ số học sinh cho một lớp (15 em trở lên) là mở lớp tại thôn để các em không phải đi xa, nhất là khi trời mưa đường dốc trơn Xã Tả Gia Khâu năm vừa rồi có đợt di dân đưa một số hộ đến một khu vực xa, khiến việc học của trẻ gián đoạn, thì vào năm học mới này, sẽ mở thêm lớp tại khu vực đó để các em được đi học Ở thôn Xín Chải, trước kia có trẻ không đi học được vì tuổi nhỏ mà phải đi ra xã quá xa, nhưng năm nay đã có ngôi trường khang trang ngay tại thôn

Quan niệm của người dân về việc cho con đi học có chuyển biến tích cực Trước

đây, các gia đình Hmông, Phù Lá, Thu Lao ở các thôn vùng cao ít coi trọng việc học; nhưng suy nghĩ của họ đã thay đổi dần Qua thảo luận, nhiều hộ nói rằng nay cho cả con trai con gái đi học để biết tiếng Kinh và biết tính toán Có những hộ nghèo muốn

cho con học để mai sau hơn mình: "mình muốn cho con học hết cấp 3 Nhà mình vì

bố đã không biết nên muốn con học để hơn bố" (anh Lù Seo Kho, thôn Tân Hồ).

Cấp phát sách, vở, bút, đồ dùng học tập tạo thuận lợi cho trẻ dân tộc vùng cao tới trường Với tình trạng nghèo còn phổ biến ở vùng cao, nhiều thày cô giáo cho rằng nếu

không cấp phát thì sợ học sinh sẽ không đi học Đã có nhiều trường hợp học sinh viết hết vở được phát, cô giáo phải cho học sinh thêm vở chứ bố mẹ không mua

Tỷ lệ chuyên cần chưa cao, và vẫn còn trẻ không đi học hoặc bỏ học

Tỷ lệ chuyên cần chưa cao là một hạn chế lớn nhất hiện nay của ngành giáo dục Lào Cai ở vùng cao Giáo viên ở xã Pha Long và Tả Gia Khâu cho biết khi ra lớp rồi thì vẫn có một số em

"đi buổi đực buổi cái, mưa không đi, ngày đi nương không đi", có lớp "có 31 em mà thường

xuyên nghỉ mất 5-10 em" Tình trạng này do tác động của nhiều yếu tố, phổ biến là:

Ở nhà làm giúp cha mẹ Ở các thôn khảo sát, trẻ bắt đầu giúp cha mẹ từ lúc nhỏ

(từ 5-6 tuổi) các việc chăn trâu bò, lấy rau lợn, cắt cỏ ngựa, trông em, lớn lên một chút các em biết nấu cơm, gánh nước, đến 11-12 tuổi các em có thể đã là nguồn lao động quan trọng trong gia đình, biết làm ruộng, đi nương Giúp cha mẹ là yếu tố quan trọng khiến trẻ đi học không đều, bỏ học, hoặc không được đi học Vấn đề này tác động nhiều hơn đến các em là con lớn trong nhà (đặc biệt nhà đông con), vì bố mẹ cần người chăn trâu bò và người trông em, và tác động nhiều hơn ở các thôn vùng cao Khảo sát tại các thôn vùng cao cho thấy trẻ em hầu hết không học ở nhà

Sài và Pao (con chị Ly Seo Sóa, thôn Thải Giàng Sán)

Sài (con gái, 11 tuổi, vừa học hết lớp 4) và Pao (con trai, 9 tuổi, vừa học hết lớp 3) là hai con lớn trong gia đình 4 con Chị Sóa, mẹ các em, còn có hai con nữa là Chênh (con gái, 6 tuổi, vừa học hết mẫu giáo, năm nay lên lớp 1) và một con trai mới 3 tuổi Chồng chị Sóa, bố các

em mất vào năm 2001 Sài và Pao đã giúp mẹ được rất nhiều việc Sài trông em, gánh nước,

Trang 31

nấu cơm, làm rau lợn, biết trông em từ năm 6 tuổi Pao chăn trâu cũng từ năm 6 tuổi Lúc ở nhà 2 đứa hầu như không học bầi Chị Sóa rất muốn con đi học, chị nói cho các em học hết lớp 5 ở trường trong bản, rồi nếu xã có trường cấp 2 chị sẽ cho đi học tiếp Vậy nhưng vì nhà neo người nên hai con lớn của chị đi học không đều Có những ngày mẹ phải đi nương sớm, thì buổi sáng dậy Sài phải cho các em ăn, nên không đi học được.

Một số cha mẹ chưa thấy việc học có nhiều ích lợi Ở các thôn vùng cao khảo sát,

người dân giao tiếp hàng ngày bằng tiếng của dân tộc họ và tiếng Quan hỏa, hầu như không dùng tiếng phổ thông, nhất là các thôn vùng sâu vùng xa chưa có điện Quan niệm của người dân về việc cho con đi học đã có chuyển biến tích cực, nhưng một số hộ gia đình DTTS (cả ở vùng thấp và vùng cao) vẫn cảm nhận rằng biết chữ không có nhiều ích lợi Phỏng vấn hộ cho thấy nhiều người muốn con đi học, nhưng đồng thời cũng muốn con giúp gia đình; nên khi con "chán" học (do học không theo kịp, thích đi chơi, phật ý với thày cô giáo ) thì bố mẹ cũng cho con nghỉ luôn Nhóm đánh giá

nhiều lần được nghe gia đình giải thích: “nó không thích đi học thì cho nó nghỉ, không

thích thì không đuổi nó đi được.” (“đuổi" có nghĩa là bắt con đến lớp học).

Trong một số trường hợp, các khoản phải chi cho trẻ đi học cũng là trở ngại Ở

các thôn khảo sát, điểm trường tiểu học đã có ngay ở thôn, hầu hết các chi phi học tiểu học đều được miễn Huyện Bảo Thắng và huyện Mường Khường đều có phong trào quyên góp để tặng quà học sinh nghèo vùng xa Cha mẹ học sinh chỉ phải đóng góp vài nghìn tiền nước, chổi, và lâu lâu mua thêm vở cho con Tuy vậy, vẫn còn những trường hợp mà chi phí có thể cản trở việc đi học của trẻ ở tiểu học, như tiền quần áo, dép ủng cho trẻ vùng cao vào mùa rét (50.000 đ/ bộ quần áo rét, hoặc 20.000 đ/đôi ủng đi trời mưa)

Tình hình đi học của trẻ gái so với trẻ trai vẫn còn chênh lệch

Theo báo cáo tổng kết năm học 2002-2003 của Phòng Giáo dục huyện Mường Khương, trong năm học này, học sinh nữ chiếm 45% học sinh bậc mầm non, 46,69% học sinh bậc tiểu học Có thể thấy trẻ gái vẫn đi học ít hơn trẻ trai Tại hai thôn, chúng tôi đã nhờ những thông tin viên chủ chốt kể ra những trẻ chưa đi học bao giờ (Tân Hồ), và trẻ chưa đi học hoặc bỏ học (Xín Chải) Kết quả cho thấy trong 14 em chưa đi học bao giờ của thôn Tân Hồ có 13 em là nữ - có

cả các em lớn tuổi (13-14 tuổi) và tầm 7-10 tuổi Ở thôn Xín Chải 100% các em chưa học hoặc bỏ học ở tiểu học là nữ Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trẻ gái thiệt thòi hơn so với trẻ trai về việc học là con gái có thể giúp bố mẹ nhiều thứ việc hơn con trai Anh Hẳng Seo

Phù (thôn Thải Giàng Sán) giải thích rất rõ việc này: "Con gái 7-8 tuổi biết chăn trâu, biết

trông em Con trai 7-8 tuổi thì chỉ chăn trâu, chứ không chăm sóc em cẩn thận Đông em thì phải có đứa chăn trâu và đứa trông em."

Khó khăn về ngôn ngữ tác động đến chất lượng học tập

Trong thời gian gần đây, ngành giáo dục tỉnh Lào Cai đã đặc biệt quan tâm đến chất lượng dạy và học Có những giáo viên phải ở lại dạy thêm trong hè khi kiểm tra học sinh cuối năm không đạt yêu cầu Tuy nhiên, chất lượng học tập của trẻ DTTS ở vùng cao vẫn còn thấp hơn trẻ người Kinh ở các vùng thấp Một nguyên nhân cơ bản là do trẻ không biết tiếng Kinh khi đến

lớp Chị Lù Thị Chỉnh, phó Phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Mường Khương bày tỏ: “Các

DTTS ở trên cao thường giao tiếp bằng tiếng Quan hỏa, nên trẻ đến trường hầu như không biết tiếng phổ thông Những học sinh học qua mẫu giáo thì còn tàm tạm Không học mẫu giáo thì vào lớp 1 không học được bao nhiêu Trẻ về nhà không sử dụng tiếng Việt, chỉ nghe giáo viên nói, nên học tiếng Việt rất khó.”

Trang 32

Khó khăn về huy động trẻ đi học mẫu giáo

Tỷ lệ trẻ đi học mẫu giáo 5 tuổi còn thấp ở vùng cao (tỉ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi của huyện Mường Khương mới đạt 85%, tỷ lệ này ở huyện Bảo Thắng cao hơn nhiều - đạt hơn 98%) Giáo viên đều công nhận rằng việc đi học mẫu giáo giúp trẻ vùng cao vào lớp 1 dễ dàng hơn, trẻ quen với nề nếp lớp, và quen nghe cô giáo nói tiếng Kinh Khó khăn là một số thôn vùng cao chưa có lớp mẫu giáo tại thôn (5/6 thôn khảo sát có lớp mẫu giáo) Ở vùng thấp,một

số gia đình nghèo không có tiền đóng học lớp mẫu giáo (mỗi tháng 15.000 đồng tiền học và một lần tiền đồ chơi 45.000 đồng) cũng là nguyên nhân khiến nhiều trẻ không đi học (nhiều trẻ không học mẫu giáo thì cũng không vào lớp 1)

Việc dạy tiếng ở mẫu giáo cũng gặp những khó khăn Chị Nguyễn Thị Tâm, giáo viên mẫu giáo ở Pha Long cho biết khi học sư phạm, trường không dạy cho giáo sinh biết cách dạy tiếng Chương trình mẫu giáo mà chị thực hiện cũng không có nội dung dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS, mà chỉ có những hoạt động chung của mẫu giáo Chị phải tự nghĩ cách dạy tiếng Việt cho trẻ dựa vào thực tế, bằng cách "hỏi phụ huynh, hỏi học sinh trước xem cái này cái kia tiếng địa phương nói như thế nào, rồi từ đó dạy học sinh tiếng Việt"

Khó khăn về ngôn ngữ ở tiểu học

Ngoài chương trình tiểu học được giao, giáo viên tiểu học dạy trẻ DTTS ở vùng cao, vùng sâu còn phải dạy tiếng Việt cho học sinh, nhất là ở các lớp nhỏ Chương trình học thống nhất trong cả nước, cho nên trẻ DTTS thiệt thòi nhiều so với trẻ người Kinh, vì các em phải học ngay những nội dung trong chương trình (đánh vần, đọc, viết, tính toán, kiến thức tự nhiên xã hội ) bằng tiếng Việt khi các em chưa biết (hoặc ít biết) tiếng Việt Băn khoăn chung của giáo viên là: "khó nhất là giúp học sinh hiểu nội dung; đọc có khi vanh vách nhưng không hiểu" (hiệu trưởng Trường tiểu học Tả Gia Khâu)

Để dạy tiếng Việt cho học sinh, các thày cô giáo đã có nhiều sáng tạo Tuy nhiên, khó khăn lớn của các giáo viên là không có thời gian dạy tiếng, mà phải dạy ngay vào chương trình Một số nơi có sử dụng một chương trình 2 tuần đầu lớp 1 dạy lồng tiếng địa phương, nhưng chúng tôi được biết chương trình này cũng không giúp học sinh biết thêm nhiều tiếng Việt, vì chỉ dạy có hai tuần, "kết quả không thể bằng học mẫu giáo"

Giáo viên còn gặp khó khăn về tiếng Việt ở các nội dung học khác, ở các lớp trên Khi nói đến môn toán, anh Lù Seo Sềnh, người Hmông (Trường tiểu học Pha Long) cho biết vì bất đồng ngôn ngữ nên khi có khi giáo viên người Kinh giảng học sinh khó hiểu Một ví dụ là phép cộng trừ có ngoặc, như 3 + (6-2), giáo viên người Kinh khó giải thích cho học sinh, vì học sinh không hiểu từ "trong ngoặc" Hoặc những bài toán tìm x, giáo viên người Kinh giải thích về việc chuyển vế đổi dấu thì học sinh khó hiểu

Khuyến nghị : Dạy ngôn ngữ

Có 2 khuyến nghị liên quan đến vấn đề dạy ngôn ngữ tiếng Việt ở vùng cao.

Có chương trình dạy ngôn ngữ tiếng Việt ở mẫu giáo cho trẻ dân tộc thiếu số

Trước khi vào học chương trình tiểu học là chương trình thống nhất trong cả nước, lớp mẫu giáo là cơ hội duy nhất để trẻ DTTS học thêm tiếng Việt, giảm thiệt thòi so với trẻ người Kinh

Do vậy, lớp mẫu giáo nên có chương trình biên soạn để dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS chưa thạo tiếng Việt, để tăng hiệu quả học tiếng Việt của các em, giúp các em học tiểu học tốt hơn Chương trình này cần theo hướng dạy tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai (tương tự như người Việt học tiếng nước ngoài), chứ không giống như môn tiếng Việt trong chương trình phổ thông hiện nay.

Trang 33

Bồi dưỡng giáo viên mẫu giáo và giáo viên tiểu học về cách dạy ngôn ngữ

Hiện nay, vì chương trình chưa chú trọng vấn đề dạy tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, nên giáo viên chủ yếu tự mầy mò tìm cách dạy tiếng Việt Họ cần được đào tạo bồi dưỡng về cách dạy ngôn ngữ, để làm việc thuận lợi hơn, và dạy học sinh tốt hơn Nếu có chương trình dạy tiếng Việt ở mẫu giáo, thì dĩ nhiên giáo viên mẫu giáo cần được bồi dưỡng cách dạy Ngoài ra, giáo viên tiểu học cũng cần học để biết cách trẻ học ngôn ngữ thứ hai và phương pháp dạy cho trẻ như thế nào là tốt, bởi việc trẻ DTTS học tiếng Việt là một quá trình dần dần qua nhiều năm, mà sau mẫu giáo, nhưng năm tiểu học vẫn là những năm đầu, rất quan trọng.

Một số khó khăn khi thực hiện chương trình tiểu học mới

Đợt đánh giá này được thực hiện ngay sau khi cả nước đã thực hiện chương trình lớp 1 mới được một năm, nên đã nhận được nhiều ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về việc thực hiện chương trình mới đối với học sinh DTTS Cán bộ, giáo viên cho rằng chương trình mới có nhiều điểm hay, như có thêm nội dung giao tiếp trong môn tiếng Việt, kênh hình kênh chữ to hơn, đẹp hơn, rõ ràng hơn, và có bộ đồ dùng học tập, là những điểm mạnh so với chương trình cũ Tuy nhiên, việc áp dụng chương trình mới đối với học sinh DTTS ở vùng xa, vùng sâu có nhiều khó khăn

 Chương trình quá nặng Lượng kiến thức của chương trình nhiều, dung lượng bài học

trong một tiết nhiều hơn, nên khó khăn cho giáo viên - đặc biệt là vì trẻ ít biết tiếng Việt và mức độ tiếp xúc xã hội hạn chế Nhìn chung cán bộ và giáo viên thống nhất ý kiến rằng chương trình rất phù hợp với "thị trấn thị xã", "vùng trung bình", "vùng phát triển", chứ thực hiện với trẻ DTTS ở vùng cao, vùng sâu thì rất khó khăn Một giáo

viên chỉ ra một khó khăn liên quan đến sách: "Sách giáo khoa có những trang luyện

tập, còn có sách bài tập nữa, nhưng sách mượn, học sinh không được viết vào sách, nên giáo viên phải hướng dẫn trên bảng chính và bảng phụ, rất tốn thời gian thao tác Chương trình cũ thì dung lượng ít, không đòi hỏi thời gian nhiều, nên có thời gian để làm bài tập ra vở, nên không khó như bây giờ" Ở xã xa nhất là Tả Gia Khâu, hiệu

trưởng trường tiểu học rất băn khoăn vì các em phải học nặng khi chưa biết tiếng Việt:

"80% các em đến lớp chưa biết tiếng phổ thông nên khó tiếp thu Chương trình 120

tuần trước kia còn có một kỳ để dạy nói tiếng Việt Bây giờ vào học phải học kiến thức của chương trình ngay, mà chương trình thì nặng."

Việc học hai buổi có nhiều bất cập Tại các xã khảo sát, năm học vừa rồi đã có

một số lớp 1 học hai buổi, và năm học này sẽ có một số lớp 2 học hai buổi Với xu hướng xây dựng thêm phòng học, sẽ có thêm nhiều lớp học hai buổi Cán bộ, giáo viên đều cho rằng hai buổi nâng cao chất lượng học tập, nhưng thực hiện thì rất khó khăn,do học sinh cần phải lao động giúp gia đình Có lớp ở Trường tiểu học Pha Long "sáng đi 100% thì chiều chỉ được 50%" Anh Lù Seo Sềnh, giáo viên của trường giải thích:

"Học sinh cùng tuổi nhưng có em cao em thấp Em nào cao, chăn trâu được thì hay bỏ học chiều Có ngày giáo viên đi gọi, bố mẹ đi vắng, trâu ở nhà Học trò phải thả trâu, không thả hôm sau bố mẹ không cho đi học nữa Học hai buổi chỉ em nào không chăn trâu thì học được."

Học sinh nếu ở xa trường thì khó học hai buổi Theo hiệu trưởng Trường tiểu học Bản

Cầm kể lại thì năm ngoái, có một số học sinh lớp 1 đi học xa, sáng đi, trưa về, chiều đi, tối về thì rất vất vả nên buổi chiều hay vắng Cô giáo đã phải nấu ăn cho một số học sinh ở xa ăn trưa, để các em ở lại học

Ngày đăng: 30/01/2013, 16:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy, dịch vụ cung cấp vật tư sản xuất của nhà nước tăng dần từ vùng thấp  (<10%) đến vùng cao (~100%) - PPA_Lao_cai-1stdraft-vietnamese
Bảng tr ên cho thấy, dịch vụ cung cấp vật tư sản xuất của nhà nước tăng dần từ vùng thấp (<10%) đến vùng cao (~100%) (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w