1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao trinh dien lanh full

83 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ Thống Điều Hòa Không Khí Trên Ô Tô
Tác giả Đinh Thế Chinh
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ Giao Thông Vận Tải
Chuyên ngành Công Nghệ Ô Tô
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 6,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nền công nghiệp ôtô đã và đang rất phát triển. Những xe ra đời sau này được cải tiến tiện nghi, an toàn và hiện đại hơn những chiếc xe đời cũ. Trên ôtô hiện đại đều được trang bị hệ thống điều hòa không khí, hệ thống này góp phần đáng kể vào việc tạo ra sự thoải mái, dễ chịu và khỏe khoắn cho hành khách trong xe.

Trang 1

CHƯƠNG II: NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG VÀ CẤU TẠO CỦA ĐIỀU HÒA

1 NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN LOẠI ĐIỀU HÒA KHÔNG KHÍ

CHƯƠNG III : HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN ĐIỀU HÒA TRÊN Ô TÔ 40

1 CÁC TÍN HIỆU ĐIỀU KHIỂN TRÊN HỆ THỐNG ĐIỀU HÒA THƯỜNG

1.1 Relay nhiệt ngắt lạnh (công tắc ngắt lạnh) 44

Trang 2

1.2 Công tắc áp suất: 44

2 CÁC TÍN HIỆU ĐIỀU KHIỂN HỆ THỐNG ĐIỀU HÒA TỰ ĐỘNG

(AUTO) 49

2.1 Các Cảm biến trên hệ thống điều hòa tự động 512.2 Các cơ cấu chấp hành trên hệ thống điều khiển tự động 55

3.1 Khi sử dụng môi chất cần tuân theo các chú ý sau: 653.2 Khi thay thế các chi tiết trên đường dẫn môi chất 65

3.5 Khi bật điều hoà và môi chất đang được nạp thêm 66

Trang 3

4.4 Bổ sung dầu 674.5 Lắp ráp và kiểm tra rò rỉ các khớp nối hệ thống 68

2.4 Khắc phục hư hỏng và kiểm tra lại tính năng 83

Trang 4

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG

1.LỊCH SỬ

Willis H.Carrier (1876 – 1950) là người đưa ra định nghĩa điều hoà không khí là sự kết hợp sưởi ấm, làm lạnh, gia ẩm, hút ẩm, lọc và rửa không khí, tự động duy trì khống chế trạng thái không khí không đổi phục vụ cho mọi yêu cầu về tiện nghi hoặc công nghệ Năm 1902, Tiến Sĩ Willis Carrier phát minh ra máy điều hòa không khí kiểu ly tâm đầu tiên trên thế giới, có khả năng kiểm soát được cả nhiệt độ và độ ẩm Phát minh này đã tạo ra môi trường làm việc tiện nghi trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp

Năm 1911 Carrier đã lần đầu tiên xây dựng ẩm đồ của không khí ẩm và cắt nghĩa tính chất nhiệt của không khí ẩm và các phương pháp xử lý để đạt được các trạng thái không khí yêu cầu (Trans Amer Soc mech Engineers Bd 33 (1911)) Ông chính là người đi đầu cả trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cũng như trong phát minh, sáng chế, thiết kế và chế tạo các thiết bị và hệ thống điều hoà không khí

1915, Ông thành lập Công Ty Carrier và không ngừng phát triển để trở thành nhà cung cấp máy điều hòa không khí hàng đầu và nổi tiếng trên thế giới

Ông đã cống hiến trọn đời mình cho ngành điều hoà không khí và cũng đã trở thành ông tổ vĩ đại nhất của ngành này

Năm 1939 Packard (một công ty chế tạo ô tô ở Mỹ) đã ứng dụng hệ thống điều hòa dân dụng để phát minh ra chiếc xe chạy máy lạnh đầu tiên trên thế giới, sau đó nó đã được lắp đặt hàng loạt cho những chiếc xe của hãng này Đến năm 1942 Packard đã trang bị máy lạnh cho 1.500 xe Vào năm 1954 đã có khoảng 36.000 xe có hệ thống điều hòa không khí được lắp đặt ở các nhà máy Trong năm 1966 đã có khoảng 3,560,000 bộ điều hòa được lắp đặt trên ô tô ở Mỹ Những xe được trang bị máy lạnh lúc đó được bán rất chạy Năm

1987 số lượng xe được lắp điều hòa không khí là 19,571,000 Và ước tính rằng hiện nay trên 80% số xe ô tô và xe tải nhẹ hoạt động có điều hòa không khí

2.CHỨC NĂNG ĐIỀU HÒA KHÔNG KHÍ

Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nền công nghiệp ôtô đã và đang rất phát triển Những xe ra đời sau này được cải tiến tiện nghi, an toàn và hiện đại hơn những chiếc xe đời cũ Trên ôtô hiện đại đều được trang bị hệ thống điều hòa không khí,

hệ thống này góp phần đáng kể vào việc tạo ra sự thoải mái, dễ chịu và khỏe khoắn cho hành khách trong xe

Chức năng của hệ thống điều hòa không khí là để:

- Điều khiển nhiệt độ trong xe phù hợp với cơ thể (mát mẻ hoặc ấm áp)

- Điều khiển lưu thông và phân phối không khí

Trang 5

Không khí trong ôtô thích hợp nhất là khi sự trao đổi nhiệt giữa người trong xe với môi trường xung quanh tiến hành ở điều kiện cường độ cực tiểu của hệ thống tự điều chỉnh thân nhiệt của người Để tạo sự thích hợp trên, có thể bằng biện pháp tự nhiên hoặc bằng thiết bị Biện pháp đầu gắn liền với môi trường không khí bên ngoài, nên không khí bên trong ôtô sẽ bị thay đổi theo vùng xe chạy, tốc độ của xe, điều kiện thời tiết khi chạy xe và điều kiện phát nhiệt máy móc cũng như sự hấp thụ nhiệt của vỏ xe Biện pháp sau sẽ tạo được vùng tiểu khí hậu trong xe thích hợp với người trên xe Do vậy, hệ thống điều hòa không khí được sử dụng rộng rãi và ngày càng hoàn chỉnh hơn trên ôtô hiện đại

Biện pháp tự nhiên

Biện pháp sử dụng thiết bị

Trang 6

3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Để có thể biết và hiểu được hết nguyên lý làm việc, đặc điểm cấu tạo của hệ thống điều hòa không khí trên ôtô, ta cần phải tìm hiểu kỹ hơn về cơ sở lý thuyết căn bản của hệ thống điều hòa không khí

Qui trình làm lạnh được mô tả như là một hoạt động tách nhiệt ra khỏi vật thể - đây cũng chính là mục đích chính của hệ thống làm lạnh và điều hòa không khí

Vậy nên, hệ thống điều hòa không khí hoạt động dựa trên những nguyên lý cơ bản sau:

- Dòng nhiệt luôn truyền từ nơi nóng đến nơi lạnh

- Khi bị nén chất khí sẽ làm tăng nhiệt độ

- Để làm lạnh một người hay một vật thể, phải lấy nhiệt ra khỏi người hay vật thể đó

- Một số lượng lớn nhiệt lượng được hấp thụ khi một chất lỏng thay đổi trạng thái biến thành hơi

Tất cả các hệ thống điều hòa không khí ôtô đều được thiết kế dựa trên Cơ sở lý thuyết của ba đặc tính căn bản: Dòng nhiệt, sự hấp thụ nhiệt, áp suất và điểm sôi

Chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu các đặc tính đó để hiểu hệ thống điều hòa không khí trên

ô tô lấy nhiệt từ cơ thể chúng ta như thế nào

3.1 Dòng nhiệt và đơn vị đo nhiệt độ

3.1.1 Dòng nhiệt

“Nhiệt” truyền từ những vùng có nhiệt độ cao hơn (các phần tử có chuyển động mạnh hơn) đến những vùng có nhiệt độ thấp hơn (các phần tử có chuyển động yếu hơn) Ví dụ một vật nóng 30o C được đặt kề bên vật nóng 80o C, thì nhiệt sẽ truyền từ vật nóng 80oC sang vật nóng 30oC – chênh lệch nhiệt độ giữa hai vật càng lớn thì dòng nhiệt lưu thông càng mạnh Sự truyền nhiệt có thể được truyền bằng: Dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ hay kết hợp giữa ba cách trên

Trang 7

- Thang chia o K = o C + 273,15

- Mối quan hệ giữa o C và o F:

o C = 5/9 x ( o F – 32); o F = 9/5 x o C + 32

Dẫn nhiệt: Là sự truyền có hướng của nhiệt trong một vật hay sự dẫn nhiệt xảy ra

giữa hai vật thể khi chúng được tiếp xúc trực tiếp với nhau Ví dụ, nếu nung nóng một đầu

thanh thép thì đầu kia sẽ dần dần ấm lên do sự dẫn nhiệt

Sự đối lưu: là sự di chuyển của những nhóm phân tử trong chất lỏng hoặc chất khí

- Sự đối lưu nhiệt: là sự truyền nhiệt sinh ra bởi sự chuyển động của dòng chất khí

(hoặc lỏng) đã được làm nóng Khí nóng luôn di chuyển lên trên và khí lạnh chìm xuống

(gọi là đối lưu tự nhiên) hoặc di chuyển theo sự tác động cưỡng bức bởi gió hay quạt,

(gọi là đối lưu cưỡng bức)

- Lấy ví dụ sự đối lưu nhiệt khi đun sôi ấm nước: khi nhiệt được cấp tại phần đáy một

ấm nước, các phần tử nước đã được làm nóng lên sẽ chuyển động lên phía trên, phần nước

lạnh từ những vùng xung quanh sẽ chìm xuống và tiếp tục quy trình cho đến khi toàn bộ

phần nước trong ấm sôi hết

Sự bức xạ: Là sự phát và truyền nhiệt dưới dạng các tia hồng ngoại, mặc dù giữa các

vật không có không khí hoặc không tiếp xúc nhau Ta cảm thấy ấm khi đướng dưới ánh

sáng mặt trời hay cả dưới ánh đèn pha ôtô nếu ta đứng gần nó Đó là bởi nhiệt của mặt trời

hay đèn pha đã được biến thành các tia hồng ngoại và khi các tia này chạm vào một vật nó

sẽ làm cho các phần tử của vật đó chuyển động, gây cho ta cẩm giác nóng Tác dụng truyền

nhiệt này gọi là bức xạ

3.1.2 Đơn vị đo nhiệt độ

Gồm có 3 đơn vị đo nhiệt độ thường hay sử dụng nhất để đo giá trị của nhiệt độ đó là

: oK, oC, oF

Trang 8

thể thay đổi trạng thái, và nó sẽ hấp thụ từ xung quanh, đó gọi là sự hấp thụ nhiệt

Có 2 trạng thái của sự hấp thụ nhiệt tiêu biểu mà chúng ta xét tới ở đây, đó là: sự hóa hơi và sự ngưng tụ

3.2.1.Sự hóa hơi:

Sự hóa hơi là sự chuyển từ thể lỏng sang thể hơi, có thể xảy ra dưới 2 hình thức:

sự tự bay hơi và sự sôi

Đầu tiên ta nói về cơ sở khoa học để hình thành sự bay hơi, điều này cũng giải thích

lý do tại vì sao khái niệm "sự bay hơi" chỉ có ở chất lỏng mà không có ở các vật thể rắn:

 Ở các chất rắn: các nguyên tử không thể di chuyển, vị trí của các nguyên tử là cố định (tức là hai nguyên tử nằm kề nhau không thể hoán đổi vị trí cho nhau) Lưu ý là mặc dù nguyên tử không thể di chuyển nhưng nó vẫn dao động nhỏ xung quanh vị trí cân bằng của nó, điều này dẫn đến một số tính chất của chất rắn như cứng, đặc, v.v

 Ở các chất lỏng: vị trí của các nguyên tử là không cố định, chúng có thể di chuyển

vô định hướng và hoán đổi vị trí cho nhau, làm cho chất lỏng có một số tính chất như mềm, lỏng, dễ xuôi theo trọng lực, v.v

Bình thường, các phân tử trong một chất lỏng không có đủ

động năng để thoát khỏi chất lỏng Nhưng khi các phân tử va chạm

với nhau, chúng chuyển hóa năng lượng cho nhau ở nhiều mức độ

đa dạng, phụ thuộc vào cách các phân tử va chạm vào nhau Đôi

khi, sự chuyển hóa này là một chiều đối với những phân tử gần bề

Trang 9

Ngoài ra sự bay hơi phụ thuộc vào động năng mà nó hấp thụ, trong khi động năng của một phân tử tỷ lệ thuận với nhiệt độ của nó, sự bay hơi diễn ra nhanh hơn ở nhiệt

độ cao

Sự bay hơi diễn ra nhanh nhất là khi chất lỏng hấp thụ đủ động năng (nhiệt độ) để vượt qua được lực liên kết phân tử, khi đó chất lỏng có thể bay hơi ở cả bên trong và trên bề mặt, đó gọi là sự sôi

Tuy nhiên mỗi chất lỏng có lực liên kết khác nhau nên cần một động năng (nhiệt

độ) khác nhau để hóa hơi và người ta gọi đó là điểm sôi của chất lỏng (nước sôi ở

100oC)

Khi các phân tử chuyển động nhanh hơn thoát ra, các phân tử còn lại sẽ có động năng trung bình thấp hơn, và nhiệt độ của chất lỏng giảm xuống Hiện tượng này gọi là

sự bay hơi để làm mát và đó chính là nguyên lý làm lạnh

Đây là lý do tại sao việc làm bay hơi mồ hôi làm mát cơ thể con người Tương tự như vậy chúng ta cũng cảm thấy lạnh khi chúng ta bôi cồn vào tay: Cồn đã lấy nhiệt của tay chúng ta khi bay hơi Hay nước thường đọng lại trên ly nước đá vì khi nước đá bay hơi

đã lấy nhiệt ở bề mặt ly Chúng ta có thể làm cho các vật lạnh đi bằng cách sử dụng các hiện tượng tự nhiên này: chất lỏng bay hơi có thể lấy nhiệt từ các chất

Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bay hơi:

 Nhiệt độ (Với chất có nhiệt độ cao hơn, thì các phân tử của nó sẽ có động năng trung bình cao hơn, do đó bay hơi sẽ nhanh)

 Áp suất (càng cao thì điểm sôi càng cao)

 Diện tích bề mặt (Một chất có diện tích bề mặt lớn hơn sẽ bay hơi nhanh hơn, vì có nhiều phân tử bề mặt có khả năng thoát đi)

 Khối lượng riêng (Chất lỏng có khối lượng riêng càng lớn thì sẽ bay hơi càng chậm)

 Nhiệt hóa hơi riêng (là nhiệt lượng cần truyền cho một đơn vị khối lượng chất lỏng

để nó chuyển thành hơi ở một nhiệt độ xác định)

Trang 10

 Nồng độ các chất bay hơi trong không khí (nếu không khí đã bão hòa với các chất khác, khả năng tiếp nhận chất bay hơi sẽ thấp hơn)

Ngưng tụ thường xảy ra khi chất khí được làm lạnh hoặc nén đến giới hạn bão hòa của nó khi mật độ phân tử trong pha khí đạt đến ngưỡng tối đa

Vùng xảy ra các quá trình ngưng hơi có thể ở trong thể tích khối hơi khi nhiệt độ nhỏ

hơn nhiệt độ bão hòa ở áp suất tương ứng hoặc cũng có thể xảy ra trên bề mặt vật được

làm lạnh

Khi bay hơi và khi ngưng tụ, bản thân môi chất sẽ hấp thụ hoặc bị hấp thụ một lượng

nhiệt (động năng) để chuyển đổi trạng thái Lượng nhiệt này người ta gọi là ẩn nhiệt (ẩn

nhiệt hóa hơi và ẩn nhiệt ngưng tụ)

3.3 Áp suất và sự ảnh hưởng tới điểm sôi

Áp suất giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động của hệ thống điều hòa không khí

Trang 11

ở áp suất bình thường Ngược lại nếu giảm áp suất tác động lên một vật chất thì điểm sôi của vật chất ấy sẽ hạ xuống Ví dụ điểm sôi của nước ở áp suất bình thường là 100oC Điểm sôi này có thể tăng cao hơn bằng cách tăng áp suất trên chất lỏng đồng thời cũng có thể hạ thấp điểm sôi bằng cách giảm bớt áp suất trên chất lỏng hoặc đặt chất lỏng trong chân không

Đối với điểm ngưng tụ của hơi nước, áp suất cũng có tác dụng tương đương như thế Trong hệ thống điều hòa không khí, cũng như hệ thống điện lạnh ôtô đã ứng dụng hiện tượng này của áp suất đối với sự bốc hơi và ngưng tụ của một số loại chất lỏng đặc biệt để tham gia vào quá trình sinh lạnh và điều hòa của hệ thống Những chất lỏng này được gọi

là môi chất lạnh hay còn gọi là tác nhân lạnh, gas lạnh, chất sinh hàn

3.4 Giới thiệu về môi chất lạnh

- Môi chất lạnh còn gọi là gas lạnh: là chất tuần hoàn trong hệ thống điều hòa có tác dụng làm lạnh bằng cách hấp thụ nhiệt từ việc giãn nở và bay hơi

- Gas lạnh phải đảm bảo: Không cháy, không nổ, không độc, không ăn mòn, không mùi

Trên ôtô sử dụng hai loại môi chất lạnh:

Môi chất lạnh R-12

Môi chất lạnh R-134a

Trang 12

Máy nén hút môi chất dạng khí ở áp suất, nhiệt độ thấp từ giàn lạnh về và nén lên tới

áp suất cao nhiệt độ cao Môi chất được máy nén đẩy đi ở dạng khí có áp suất, nhiệt độ cao

đi vào giàn nóng (bộ ngưng tụ)

Khi tới giàn nóng, môi chất sẽ được giải nhiệt nhờ không khí (được dẫn động bởi quạt gió) nó lấy đi một phần năng lượng của môi chất thông qua các nan tản nhiệt Khi môi chất mất năng lượng, nhiệt độ của môi chất sẽ bị giảm xuống cho đến khi bằng với nhiệt độ

Trang 13

Sau khi ra khỏi giàn nóng môi chất sẽ đi tới bình lọc hút ẩm Trong bình lọc hút ẩm

có lưới lọc và chất hút ẩm Môi chất sau khi đi qua bình lọc sẽ tinh khiết và không còn hơi

độ trong không khí giảm (khả năng bốc hơi càng nhanh thì lấy nhiệt càng lớn, làm lạnh không khí càng nhanh) Sau khi môi chất bốc hơi sẽ quay lại máy nén và tiếp tục quy trình làm lạnh Đây là quy trình tuần hoàn kín

Sơ đồ hoạt động của hệ thống điều hòa không khí trên ô tô

1.2 Phân loại :

Hệ thống điều hòa trên ô tô có nhiều kiểu khác nhau, dưới đây là một số cách phân loại sự khác biệt giữa các hệ thống

a phân loại theo vị trí của giàn lạnh trên xe

- Kiểu đặt phía trước: giàn lạnh được đặt phía trong taplo

Trang 14

- Kiểu kép (2 giàn lạnh): giàn lạnh được đặt phía trước và sau trong cabin xe Kiểu kép cho năng suất lạnh cao hơn và nhiệt độ đồng đều ở mọi nơi trong xe

- Kiểu kép treo trần: kiểu này thường sử dụng cho xe từ 7 chỗ trở lên, và đặc biệt hay dùng cho xe khách Hệ thống lạnh được đặt phía trước kết hợp với giàn lạnh treo trên trần

Trang 15

Sơ đồ của hệ thống điều hòa 2 giàn lạnh (có loại 1 hoặc 2 giàn nóng)

b Phân loại theo phương pháp điều khiển

- Hệ thống điều hòa với phương pháp điều khiển bằng tay

Trang 16

Với phương pháp này cho phép điều khiển bằng tay các công tắc nhiệt và nhiệt độ ngõ ra bằng cần gạt Ngoài ra còn có cần gạt hoặc công tắc điều khiển tốc độ quạt, điều khiển lượng gió và hướng gió Mọi cơ cấu còn thô sơ và mang tính chất cơ khí cao

- Hệ thống điều hòa không khí với phương pháp điều khiển tự động

Với phương pháp này thì mọi thứ được tinh chỉnh một cách tự động, người sử dụng chỉ cần bấm nút lựa chọn chế độ, hệ thống sẽ tự động điều khiển các cơ cấu chấp hành để phù hợp với nhu cầu người sử dụng

Trang 17

2 CÁC BỘ PHẬN CỦA HỆ THỐNG ĐIỀU HÒA

2.1 Máy nén

Máy nén có tác dụng nén môi chất đã bay hơi ở giàn lạnh thành môi chất dạng hơi có nhiệt độ và áp suất cao Từ dó giàn nóng có thể dễ dàng hóa lỏng môi chất, cả khi môi trường xung quanh có nhiệt độ cao Máy nén còn có tác dụng tuần hoàn môi chất trong hệ thống Máy nén được dẫn động bởi pulley trục khuỷu động cơ bằng dây đai (dây curoa) Một máy nén hoạt động theo chu kỳ hút – nén – xả Tức là sẽ hút môi chất vào xy lanh, sau

đó nén lại và xả (đẩy) đi tuần hoàn trên hệ thống

Máy nén được chia ra làm 2 loại: Loại chỉ sử dụng ly hợp điện từ và loại sử dụng van điều khiển (van đuôi lốc)

Khi bật công tắc A/C, dòng điện chạy qua cuộn dây của bộ ly hợp và sinh ra từ trường lớn Lực điện từ kéo ly hợp vào pulley và nối chặt chúng lại với nhau, khi đó trục của máy nén quay cùng với pulley của máy nén

Khi không khí trong xe đủ lạnh, cảm biến nhiệt độ giàn lạnh sẽ thông báo về hộp điều khiển và ngắt nguồn điện ra cuộn từ, ly hợp sẽ tách ra và lúc này máy nén sẽ không quay

và dừng điều tiết môi chất

Trang 19

piston chuyển động sang phải, van hút bên phải đóng lại để nén môi chất Áp suất của môi chất làm mở van xả và đẩy môi chất ra Van hút và van xả cũng ngăn không cho môi chất chảy ngược lại

- Hành trình hút: Khi piston chuyển động về phía bên trái, sẽ tạo nên sự chênh lệch

áp suất trong khoảng không gian phía bên phải của piston; lúc này van hút mở ra cho môi chất lạnh có áp suất, nhiệt độ thấp từ bộ bay hơi nạp vào trong máy nén qua van hút Và van xả phía bên phải của piston đang chịu lực nén của bản thân van lò xo lá, nên được đóng kín Van hút mở ra cho tới khi hết hành trình hút của piston thì được đóng lại, kết thúc hành trình nạp

- Hành trình xả: Khi piston chuyển động về phía bên trái thì tạo ra hành trình hút phía bên phải, đồng thời phía bên trái của piston cũng thực hiện cả hành trình xả hay hành trình bơm của máy nén Đầu của piston phía bên trái sẽ nén khối hơi môi chất lạnh đã được nạp vào, nén lên áp suất cao cho đến khi đủ áp lực để thắng được lực tỳ của van xả thì van xả

mở ra và hơi môi chất lạnh có áp suất, nhiệt độ cao được đẩy đi tới bộ ngưng tụ Van hút phía bên trái lúc này được đóng kín bởi áp lực nén của hơi môi chất Van xả mở ra cho đến hết hành trình bơm, thì đóng lại bằng lực đàn hồi của van lò xo lá, kết thúc hành trình xả

Và cứ thế tiếp tục các hành trình mới

b Máy nén loại cánh gạt

Máy nén cánh gạt gồm một rotor gắn chặt với 2 cánh gạt đối xứng nhau và được bao quanh bởi xy lanh máy nén Khi rotor quay, hai cánh gạt quay theo và chuyển động tịnh tiến trong rãnh của rotor, trong khi đó hai đầu cuối của cánh gạt tiếp xúc với mặt trong của

xy lanh và tạo áp suất nén môi chất

- Hành trình hút: Khi roto quay, lực li tâm bắn các cánh gạt tỳ kín vào vách máy nén, giữa 2 cánh van và vách trong của vỏ máy nén sẽ tạo ra một thể tích lớn (buồng bơm) Chuyển động này hút hơi môi chất lạnh vào phần thể tích vừa tạo ra khi phần tích này quay

Trang 20

ngang qua lỗ nạp môi chất được bố trí trên thân vỏ máy nén Kết thúc hành trình hút là khi cánh van quay qua khỏi lỗ nạp

- Hành trình nén: Sau khi hoàn thành quá trình hút khối thể tích giữa van và vách vỏ bơm có chứa hơi môi chất lạnh sẽ giảm xuống, bắt đầu hành trình nén Hành trình nén được thực hiện ở phía mặt trong của vỏ bơm, áp suất hơi môi chất lạnh tăng lên khi thể tích buồng bơm co lại

- Hành trình xả: Khi cánh van quay qua khỏi lỗ xả thì máy nén bắt đầu hành trình xả Lúc này hơi môi chất lạnh đã được nén lên áp suất cao, nên tạo ra áp lực cao mở van xả và tuôn dòng hơi môi chất lạnh có áp suất, nhiệt độ cao ra khỏi máy nén đi đến giàn ngưng tụ Lúc này dầu bôi trơn đã được tách ra khỏi hơi môi chất lạnh và lắng xuống buồng chứa

c Máy nén loại cánh văng

Về cơ bản máy nén loại cánh văng cũng có nguyên lý hoạt đông tương tự như máy nén loại cánh gạt, nó chỉ khác nhau về cấu tạo của cánh van và xy lanh

Trang 21

d Loại xoắn ốc

Đường xoắn ốc quay chuyển động tuần hoàn, 3 khoảng trống giữa đường xoắn ốc quay (động) và đường xoắn ốc cố định sẽ dịch chuyển để làm cho thể tích của chúng nhỏ dần Khi đó môi chất được hút vào qua cửa hút bị nén do chuyển động tuần hoàn của đường xoắn ốc và mỗi lần vòng xoắn ốc quay thực hiện quay 3 vòng thì môi chất được xả ra từ cửa xả Trong

thực tế môi chất

được xả ngay sau

mỗi vòng

2.1.2 Máy nén sử dụng van điều khiển (van đuôi lốc) : Là loại máy nén điều khiển

lưu lượng môi chất tuần hoàn trong hệ thống dựa vào van điều khiển nằm phía đuôi lốc

Nó sẽ quyết định máy nén sẽ đưa bao nhiêu môi chất đi để phục vụ cho công việc làm lạnh không khí trong xe

Cấu tạo của máy nén :

Trang 22

Máy nén sử dụng van điều khiển có cấu tạo cũng tương tự máy nén thường (chủ yếu

có cấu tạo giống máy nén sử dụng đĩa chéo) nhưng có thêm bộ phận đặt trên thân máy nén

có nhiệm vụ điều tiết lưu lượng môi chất đó là Van điều khiển máy nén (hay còn gọi là van đuôi lốc – thường nằm ở vị trí đuôi trên thân lốc)

Có 2 loại máy nén sử dụng van điều khiển: loại dùng van cơ khí và loại điều khiển điện

Ngyên lý chung :

Đây là loại máy nén hoạt động theo kiểu điều tiết lưu lượng gas để duy trì nhiệt độ trong xe như mong muốn Máy nén có thể tích làm việc biến đổi là do hành trình của piston thay đổi dựa vào góc nghiêng (so với trục) của đĩa lắc (đĩa cam), thay đổi tùy theo lượng môi chất cần thiết cung cấp cho hệ thống Góc nghiêng của đĩa lắc lớn thì hành trình của piston dài hơn, môi chất lạnh sẽ được bơm đi nhiều hơn Khi góc nghiêng nhỏ, hành trình của píton sẽ ngắn, môi chất lạnh sẽ được bơm đi ít hơn Điều này cho phép máy nén có thể chạy liên tục nhưng chỉ bơm đủ lượng môi chất lạnh cần thiết

a Máy nén sử dụng van điều khiển cơ

Máy nén sử dụng van điều khiển cơ sử dụng 1 màng xếp có sẵn môi chất với áp suất mặc định, và nó điều khiển bằng sự chênh lệch áp suất giữa đường hồi từ giàn lạnh về và màng xếp để đóng mở van, điều khiển áp suất của buồng điều khiển Khi không khí trong

xe đã đạt độ lạnh, tức áp suất môi chất hồi về sẽ thấp hơn áp suất trong màng xếp và điều khiển van khi đó van sẽ mở và buồng xả sẽ thông với buồng điều khiển làm cho áp suất buồng điều khiển cao hơn áp suất nạp, khi đó đĩa lắc sẽ nghiêng 1 góc nhỏ hơn và hành trình piston cũng sẽ nhỏ hơn, lưu lượng môi chất đưa đi cũng ít hơn

Trang 23

Tương tự như thế với trường hợp không khí trong xe bắt đầu cao hơn nhiệt độ mặc định, áp suất hồi sẽ cao hơn áp suất trong màng xếp và đẩy màng xếp đi lên, đóng khe hở van lại ngăn không cho buồng áp suất cao thông sang buồng điều khiển, lúc này áp suất buồng điều khiển sẽ thấp hơn buồng nạp nên đĩa lắc sẽ nghiêng 1 góc lớn hơn, hành trình piston cũng lớn hơn và lưu lượng môi chất nén để điều tiết đi để làm lạnh nhiều hơn, trong

xe sẽ lạnh hơn

Loại máy nén nén này vẫn sử dụng ly hợp điện từ, nhưng lúc này ly hợp chỉ có tác dụng để dẫn động cho máy nén quay khi bật công tắc A/C và không sử dụng cảm biến giàn lạnh để ngắt ly hợp từ nữa Máy nén sẽ luôn quay cho đến khi tắt công tắc A/C

Trang 24

Hoạt động của máy nén sử dụng van điều khiển cơ

b Máy nén sử dụng van điều khiển điện

Trang 25

Nguyên lý hoạt động:

Góc nghiêng của đĩa lắc được điều khiển bởi một van điều khiển Khi công tắc A/C bật sẽ cấp điện theo dạng duty (dải điện áp) xuống van điều khiển để điều khiển van thu hẹp khe hở làm giảm áp suất buồng xả thông với buồng điều khiển Sự chênh lệch

áp suất giữa piston và đĩa lắc sẽ tác động làm đĩa lắc thay đổi góc nghiêng qua đó điều khiển lưu lượng của môi chất lạnh để duy trì nhiệt độ trong xe theo ý muốn của người sử dụng

Điện áp xuống van điều khiển sẽ được duy trì theo dải điện áp để điều chỉnh khe hở van thông giữa buồng xả và buồng điều khiển Van mở lớn hay nhỏ phụ thuộc vào các cảm biến đầu vào đưa về hộp để hộp cấp điện áp xuống van, điện áp càng cao thì mở nhỏ, điện áp thấp thì mở lớn, điện áp 12V thì đóng hoàn toàn Vì thế sẽ không có khái niệm máy nén có ngắt hay là không ngắt nữa mà nó sẽ luôn quay khi động cơ nổ máy chỉ quan trọng hành trình của piston lớn hay nhỏ, lượng gas điều tiết nhiều hay ít Nó chỉ ngắt điện xuống van điều khiển khi gặp sự cố như nhiệt độ trong xe quá thấp, áp suất gas quá cao hoặc quá thấp, nhiệt độ môi trường quá thấp, nhiệt độ nước quá cao để không cho máy nén hoạt động Còn khi bình thường van điều khiển sẽ được hộp điều khiển bằng dải điện

áp biến thiên để thay đổi hành trình của piston trong máy nén giúp duy trì nhiệt độ trong

xe, vì thế khi ta đo nhiệt độ trong xe sẽ thấy khi đã đủ lạnh nhiệt độ sẽ dao động ở một mức độ nhất định và không có hiện tượng bị ngắt máy nén nữa

Sơ đồ điều khiển máy nén sử dụng van điều khiển điện

Trang 26

Sơ đồ hoạt động của máy nén sử dụng van điều khiển điện

Chúng ta có thể quan sát hình ảnh dưới đây để biết được quá trình hoạt động của máy nén Ở đây chúng ta lấy hình ảnh nhiệt kế để thể hiện sự thay đổi nhiệt độ trong xe và van điều khiển sẽ hoạt động theo các mức nhiệt độ đó:

Trang 27

Qua quan sát hình ảnh ở trên ta có thể thấy khi nhiệt độ trong xe cao hơn mức nhiệt

độ ta chọn trên bảng điều khiển ( nó nhận biết qua cảm biến nhiệt độ giàn lạnh và nhiệt độ trong xe ) thì hộp AC sẽ cấp nguồn điện áp lớn hơn để điều khiển van đóng lại , khi đó áp suất buồng điều khiển sẽ thấp hơn áp suất buồng nạp (áp môi chất cao sẽ đẩy lá van hút và môi chất sẽ được đưa vào trong xi lanh) và như vậy piston sẽ bị đẩy lên tác động làm đĩa lắc nghiêng (một bên của đĩa lắc được giữ lại nhờ chốt hãm piston, chốt này tác dụng như một bản lề) dẫn đến lượng môi chất được piston nén sẽ nhiều hơn, việc làm lạnh sẽ cao và nhanh hơn

Tương tự như vậy khi nhiệt độ trong xe (quan sát qua nhiệt kế ở hình trên) thấp và dần đạt đến nhiệt độ cài đặt thì hộp sẽ cấp dải điện áp thấp dần tới van điều khiển, khi đó van sẽ dần mở ra dẫn môi chất ở buồng áp suất cao thông sang buồng điều khiển dẫn đến

áp suất buồng điều khiển sẽ cao hơn áp suất buồng nạp, nó tác động lên đĩa lắc và đỉnh piston làm hành trình piston giảm, lượng môi chất được điều tiết sẽ giảm đi và duy trì để đạt mức nhiệt độ như mong muốn

Một số hiện tượng phát hiện hư hỏng đối với loại máy nén này:

- Khi bật A/C , kiểm tra đã có điện ra van điều khiển (hoặc ly hợp từ vẫn đóng), mà

áp suất trên đồng hồ đo gas báo 2 bên cao áp và thấp áp gần bằng nhau hoặc quan sát bằng máy chẩn đoán trong dữ liệu data thấy van điều khiển có tín hiệu mở (hoặc ly hợp từ ON) mà áp suất không thay đổi thì là van điều khiển hỏng, cần thay thế van

- Khi bật A/C điều hòa vẫn mát sau 1 hồi lại mất mát, kiểm tra điện vẫn có ở van điều khiển (hoặc ly hợp từ vẫn đóng), áp suất thấp áp cao và áp suất cao áp thấp, sau đó

ta tắt đi bật lại thì điều hòa lại mát, áp suất lại bình thường, và hiện tượng này cứ tiếp diễn là hiện tượng của máy nén đã bị hư hỏng ( thường là piston và xi lanh của máy nén đã bị xước)

Đó là 2 trường hợp hay gặp nhất của loại máy nén này, và để chắc chắn khi kiểm tra ta nên xả 1 chút gas ra để xem gas có mùi thối hoặc dầu đã tối màu chưa, nếu có thì chắc chắn bạn cần phải thay máy nén

Một số điều lưu ý khi sửa chữa

Và với loại máy nén này thì khi thay chúng ta cần vệ sinh hệ thống thật sạch, thay lọc gas, van tiết lưu và cần xem xét thay dàn nóng (dàn ngưng tụ) vì loại máy nén này khá là kén nên chỉ cần vệ sinh hệ thống không sạch sẽ , dàn nóng tản nhiệt kém (do đã bị lão hóa, lâu ngày hoạt động đóng cặn bẩn bên trong không thể vệ sinh hết được vì khi máy nén

Trang 28

hỏng sẽ có mạt và cặn bẩn lẫn với dầu kết lại trên bề mặt trong dàn nóng) thì chỉ một thời gian ngắn nó sẽ lại bị hỏng

Lưu ý : khi thay thế loại máy nén này cần thay thế loại máy nén tốt, không nên thay loại máy nén bãi (nghĩa địa) hay máy nén rẻ tiền kém chất lượng nếu không bạn sẽ phải thay nhiều máy nén cho một chiếc xe đó

Lưu ý: Dầu máy nén sử dụng trong hệ thống sử dụng gas R-134a không thể thay thế cho dầu máy nén dùng trong gas R-12 Nếu dùng sai dầu bôi trơn có thể làm cho máy nén

bị hỏng

b Lượng dầu bôi trơn máy nén

Như vậy, một lượng dầu bôi trơn luôn tồn tại và lưu thông qua giàn nóng, giàn lạnh, bình lọc hút ẩm Về mặt kỹ thuật, đòi hỏi loại dầu bôi trơn này phải được tinh lọc và tuyệt đối không lẫn lộn chất ẩm ướt Nếu lượng dầu bôi trơn nhiều quá hoặc ít quá cũng đều ảnh hưởng đến năng suất lạnh của hệ thống: nếu lượng dầu bôi trơn nhiều hơn quy định (thừa), khi lưu thông qua giàn nóng và giàn lạnh thì sẽ ngăn cản sự trao đổi nhiệt của các thiết bị,

do đó làm suy giảm hiệu suất lạnh; nếu lượng dầu bôi trơn ít hơn quy định (thiếu) trong máy nén, có thể là nguyên nhân làm cho máy nén sớm bị mài mòn, ma sát lớn, sẽ bị quá nhiệt và cuối cùng là bị kẹt ở các bộ phận bên trong, khiến cho máy nén không hoạt động bình thường được

c Bổ sung dầu sau khi thay thế các chi tiết

Khi tháo rã hệ thống điều hòa, môi chất sẽ bay hơi và được xả ra khỏi hệ thống Tuy nhiên vì dầu máy nén không bay hơi ở nhiệt độ thường, hầu hết dầu còn ở lại trong hệ thống và chỉ thất thoát 1 lượng nhỏ do quá trình xả môi chất dầu sẽ bị đưa cùng ra ngoài

Do đó khi thay thế một bộ phận trên hệ thống như : giàn nóng, giàn lạnh, máy nén, bình lọc cần phải bổ sung một lượng dầu tương đương với lượng dầu ở lại trong bộ phận mới Hoặc khi vệ sinh xúc rửa lại toàn bộ hệ thống cần phải thêm đúng lượng dầu của cả

hệ thống

Lượng dầu của hệ thống thường sẽ được ghi trên thân máy nén Hoặc trong tài liệu

Trang 29

Chi tiết thay thế Giàn nóng Giàn lạnh

Bình lọc hút

Lượng dầu bổ

Lượng dầu ước lượng khi thay thế chi tiết trên các dòng xe 4 - 7 chỗ

2.2 Giàn nóng (giàn ngưng tụ)

Có 2 loại: giàn nóng liền lọc gas và giàn nóng riêng

a Công dụng và vị trí lắp đặt :

- Công dụng: Thiết bị ngưng tụ của hệ thống điều hòa không khí ôtô (hay còn gọi là giàn nóng) là thiết bị trao đổi nhiệt để biến

môi chất lạnh ở thế khí (có áp suất và

nhiệt độ cao sau quá trình nén) thành

trạng thái lỏng trong chu trình làm lạnh

Đây là một thiết bị cơ bản trong hệ thống

điều không khí, có ảnh hưởng rất lớn đến

các đặc tính năng lượng của hệ thống

- Vị trí lắp đặt: Trên ôtô, bộ ngưng

tụ được ráp ngay trước đầu xe, phía trước

két nước làm mát của động cơ, ở vị trí này

bộ ngưng tụ tiếp nhận tối đa luồng không

khí mát thổi xuyên qua khi xe đang lao tới

và do quạt gió tạo ra

a Nguyên lý hoạt động

Trang 30

Quá trình môi chất lạnh ngưng tụ thành thể lỏng được mô tả như sau: Trong quá trình hoạt động bộ ngưng tụ tiếp nhận môi chất lạnh ở thể khí dưới áp suất và nhiệt độ rất cao

do máy nén bơm vào, qua cổng nạp được bố trí phía trên giàn nóng Dòng khí này tiếp tục lưu thông trong ống dẫn đi dần xuống phía dưới, nhiệt của khí môi chất lạnh truyền qua các cánh tỏa nhiệt và được luồng gió mát (quạt giàn nóng) thổi đi Quá trình trao đổi khí này làm tỏa một lượng nhiệt rất lớn vào trong không khí; do bị mất nhiệt, môi chất giảm nhiệt độ, đến nhiệt độ bằng nhiệt độ bão hòa (hay nhiệt độ sôi) ở áp suất ngưng tụ thì bắt đầu ngưng tụ thành thể lỏng

Môi chất lạnh thể lỏng, áp suất cao này tiếp tục chảy đến bộ bốc hơi (giàn lạnh) Sự trao đổi nhiệt ở giàn nóng nếu xảy ra không

đầy đủ sẽ làm tăng áp suất trong hệ thống

và gây ra sự ngưng tụ không hoàn toàn của

môi chất lạnh Đồng thời, nếu không ngưng

tụ hoàn toàn thì lúc này trong môi chất lạnh

còn ở thể hơi, làm cho thể tích của môi chất

lạnh lớn sẽ không qua hết được thiết bị tiết

lưu để vào giàn lạnh Do đó, điều này sẽ làm

giảm đáng kể công suất của hệ thống vì

không đủ môi chất lạnh quy định tuần hoàn

trong một chu trình làm lạnh

Trang 31

2.3 Phin lọc gas/hút ẩm

Bộ lọc là một thiết bị để chứa môi chất được hoá

lỏng tạm thời bởi giàn nóng và cung cấp một lượng môi

chất theo yêu cầu tới giàn lạnh Bộ lọc có chất hút ẩm và

lưới lọc dùng để loại trừ các tạp chất hoặc hơi ẩm trong

chu trình làm lạnh Nếu có hơi ẩm trong chu trình làm

lạnh, thì các chi tiết sẽ bị mài mòn hoặc đóng băng ở van

giãn nở dẫn đến bị nghẹt Phin lọc gas thường nằm phía

sau giàn nóng, hoặc nằm liền bên sườn giàn nóng (với

loại giàn nóng liền phin lọc)

Một số dòng xe trên bình lọc còn có thêm kính quan

sát Kính này dùng để quan sát lưu lượng gas để đánh giá

sơ qua về lượng gas trong hệ thống và khả

năng hóa lỏng của giàn nóng

Vị trí phin lọc gas trên xe (nối tiếp sau giàn nóng)

2.4 Van tiết lưu (van giãn nở)

a/ Công dụng và vị trí lắp đặt

* Vị trí lắp đặt: Trên ôtô, thiết bị giãn nở nhiệt được lắp đặt tại ống vào của giàn lạnh, nối tiếp sau giàn nóng, phin lọc gas

* Công dụng: Môi chất lạnh ở thể lỏng áp suất cao, sau khi ra khỏi bình lọc hút ẩm

và theo ống dẫn môi chất đến thiết bị giãn nở (hay còn gọi là thiết bị định lượng dòng chảy; van tiết lưu hay van giãn nở) Tại thiết bị này, môi chất lạnh ở thể lỏng được phun thành một lớp sương mù có nhiệt độ thấp, áp suất thấp nạp vào giàn bay hơi Thiết bị giãn nở hay van giãn nở nhiệt là một loại van biến đổi, nó có thể thay đổi độ mở của van để đáp ứng được với các chế độ tải trọng làm lạnh của bộ bốc hơi Thiết bị giãn nở được điều khiển bằng áp suất vào của bộ bốc hơi, van này sẽ mở để lưu thông nhiều môi chất lạnh hơn khi trong cabin ôtô yêu cầu độ lạnh nhiều hơn Hoặc khi chế độ tải lạnh yêu cầu ít hơn, thì van giãn nở sẽ giảm dòng chảy củamôi chất lạnh xuống

Trang 32

* Phân loại: Có 3 kiểu van giãn nở được sử dụng trong HTĐHKK trên Ôtô:

- Kiểu van giãn nở có áp suất không đổi (hay còn gọi là ống mao dẫn; ống định cỡ OT)

- Kiểu van vuông điều khiển bằng áp suất

- Kiểu van giãn nở trang bị bầu cảm biến nhiệt độ, (được sử dụng rộng rãi) kiểu này

có hai loại:

+ Loại van giãn nở nhiệt có bầu cảm biến nhiệt cân bằng trong

+ Loại van giãn nở có ống cân bằng ngoài (hay còn gọi là van tiết lưu cụm)

b Cấu tạo và nguyên lý hoạt động

- Kiểu van giãn nở trang bị bầu cảm biến nhiệt :

* Cấu tạo : Bầu cảm ứng nhiệt của van tiết lưu được đặt ở bên ngoài đầu ra giàn lạnh,

1 đầu nối với đỉnh van tiết lưu bên trong có chứa một môi chất mặc định Áp suất của môi chất thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ đầu ra của giàn lạnh Áp suất môi chất ở đầu ra của giàn lạnh tác động vào đáy màng xếp Sự cân bằng giữa lực đẩy màng lên (áp suất môi chất

ở bên ngoài của giàn lạnh F2 + lò xo F3) và áp suất môi chất của bầu cảm ứng nhiệt F1

Trang 33

Khi độ lạnh thấp, nhiệt độ xung quanh đầu ra của giàn lạnh giảm xuống và do đó áp suất môi chất bên trong bầu cảm ứng nhiệt cũng giảm xuống làm cho màng xếp co lại Kết quả là van kim bị đẩy bởi áp lực môi chất ở cửa ra của giàn lạnh và áp lực của lò xo nén chuyển động lên trên Van đóng bớt lại làm giảm dòng môi chất và làm giảm khả năng làm lạnh

Khi độ lạnh cao, nhiệt độ xung quanh đầu ra của giàn lạnh tăng lên và áp suất môi chất bên trong bầu cảm ứng nhiệt cũng tăng lên làm cho màng xếp giãn ra Kết quả là van kim dịch chuyển đi xuống đẩy vào lò xo Độ mở của van tăng lên làm tăng lượng môi chất tuần hoàn trong hệ thống và làm cho khả năng làm lạnh tăng lên

- Kiểu van vuông điều khiển bằng áp suất

*Cấu tạo: Một van trực tiếp phát hiện nhiệt độ của môi chất ở đầu ra của giàn lạnh bằng một thanh cảm nhận nhiệt và truyền tới môi chất mặc định ở bên trong màng ngăn làm thay đổi áp suất môi chất đó Sự thay đổi áp suất của môi chất trong màng ngăn và áp suất đầu ra của giàn lạnh cộng với áp lực lò xo sẽ đẩy kim van lên xuống để điều chỉnh lượng môi chất

Trang 34

* Nguyên lý hoạt động :

Khi độ lạnh nhỏ nhiệt độ môi chất ở đầu ra của giàn lạnh giảm xuống và do đó nhiệt

độ được truyền từ thanh cảm nhận nhiệt tới môi chất ở bên trong màng ngăn cũng giảm xuống làm cho áp suất môi chất này giảm Kết quả là van kim bị đẩy bởi áp lực môi chất ở cửa ra của giàn lạnh và áp lực của lò xo nén chuyển động lên trên Van sẽ đóng bớt lại làm giảm dòng môi chất và làm giảm khả năng làm lạnh

Khi độ lạnh lớn, nhiệt độ xung quanh cửa ra của giàn lạnh tăng lên và môi chất trong màng ngăn giãn nở Kết quả là van kim dịch chuyển xuống bởi áp lực của màng ngăn lúc này thắng lực đẩy của lò xo và áp suất môi chất đầu ra của giàn lạnh Độ mở của van tăng lên làm tăng lượng môi chất tuần hoàn trong hệ thống và làm cho khả năng làm lạnh tăng lên

- Kiểu van giãn nở có áp suất không đổi (hay còn gọi là ống mao dẫn; ống định cỡ

OT, Ống tiết lưu) Đối với thiết bị giãn nở kiểu ống định cỡ OT là ống có lỗ định cỡ đường kính cố định, chất làm lạnh phải lưu thông qua ống này Loại này chế tạo đơn giản và rẻ

Trang 35

không phản ứng được với nhiệt độ của bộ bốc hơi Nên tại thời điểm chế độ tải làm lạnh yêu cầu thấp, nhưng lưu lượng môi chất lạnh cấp vào bộ bốc hơi vẫn không đổi (nhiều hơn yêu cầu), dẫn đến tình trạng “ngập lỏng” trong bộ bốc hơi

Sơ đồ hệ thống điều hòa sử dụng ống tiết lưu và bầu ngưng

*** Bầu Ngưng: Trong hệ thống sử dụng ống định cỡ OT phải thêm vào một bộ tách lỏng (bầu ngưng) ở phía thấp áp, nằm giữa bộ bốc hơi và máy nén để giữ lại và lưu trữ môi chất lạnh ở thể lỏng (nếu không có bộ tách lỏng này, khi môi chất lạnh hút về máy nén sẽ có có lẫn môi chất lạnh ở trạng thái lỏng, điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng làm việc và tuổi thọ của máy nén trong hệ thống) Bộ tách lỏng thường được gắn ở phía cửa ra của bộ bốc hơi và được nối với máy nén bằng một ống mềm

Trang 36

Van tiết lưu ống Bầu ngưng

2.5 Giàn lạnh (giàn bay hơi)

Trang 37

-1 – 0 độ C) gặp luồng không khí

có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ sôi

của môi chất Khi môi chất bay

hơi sẽ lấy đi một lượng nhiệt lớn

xung quanh nó qua các cánh lan

tản nhiệt dẫn tới nhiệt độ của

không khí đi qua giàn lạnh sẽ

giảm đi rất nhiều Môi chất bay

hơi càng nhanh thì khả năng lấy

nhiệt càng lớn Không khí qua

giàn lạnh bị làm lạnh, hơi ẩm

trong không khí đọng lại và dính

vào các lan tản nhiệt giàn lạnh

Hơi ẩm tạo thành các giọt nước

nhỏ xuống và được chứa ở trong khay sẽ được xả ra khỏi xe thông qua ống thoát nước

Vị trí giàn lạnh trên hệ thống điều hòa

Trang 38

2.6 Ống dẫn gas

Ống dẫn gas thường có ống nhôm và ống

cao su Nhiệm vụ của ống dẫn gas là đưa

dòng môi chất tới các bộ phận khác trên hệ

thống điều hòa

- Ống nhôm để cố định đường đi của

ống và không chịu va đập

- Ống cao su có 4 lớp: lớp làm kín nylon,

lớp cao su Nitrile , cốt ống và lớp cao su bên

ngoài Ống cao su thường nằm ở 2 phía thấp

áp và cao áp gần máy nén vì có tác dụng chống rung giật, va đập khi máy nén hoạt động

2.7 Quạt giàn lạnh

Quạt giàn lạnh gồm một motor chạy bằng chổi than và cánh quạt (dạng lồng sóc với các cánh xếp thành 1 vòng tròn) Được điều khiển tốc độ bằng công tắc quạt gió Có tác dụng điều tiết lượng gió đi qua giàn lạnh để làm lạnh không khí trong xe Thường nằm trước giàn lạnh (với loại quạt đẩy) và nằm sau giàn lạnh (với loại quạt hút)

2.8 Quạt giàn nóng

Quạt giàn nóng gồm một motor điện và cánh quạt , được cố định bằng lồng quạt Nó được điều khiển tốc độ bằng hộp điều khiển tùy vào nhu cầu không khí cần để giải nhiệt giàn nóng giúp cho khả năng hóa lỏng của môi chất được tốt nhất Thường nằm phía trước giàn nóng (loại quạt đẩy) hoặc phía sau giàn nóng và két nước (loại quạt hút) Quạt giàn nóng bị hỏng, kém hoặc quay ngược (do đấu sai cực motor) sẽ gây ra hiện tượng áp suất

hệ thống cao do giải nhiệt giàn nóng kém

Trang 39

2.9 Lọc gió điều hòa

Lọc gió điều hòa là lớplọc than hoạt tính nằm trước quạt gió giàn lạnh để lọc sạch không khí trước khi được điều tiết đi qua

giàn lạnh giúp cho luồng không khí trong

xe luôn trong lành Lọc gió này cần phải

được thường xuyên kiểm tra định kỳ mỗi

lần sau khi thay dầu máy Để đảm bảo

không khí trong xe luôn được làm sạch tốt

nhất và lượng không khí lưu thông qua lọc

được thông thoáng vì khi lọc gió bị bẩn sẽ

làm lượng gió lưu thông qua bị giảm dẫn

tới không đáp ứng được lượng không khí

đi qua giàn lạnh để làm lạnh và khả năng

làm lạnh không khí trong xe sẽ kém

Trang 40

CHƯƠNG III : HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN ĐIỀU HÒA TRÊN

Ngày đăng: 13/09/2023, 20:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ điều khiển máy nén sử dụng van điều khiển điện - Giao trinh dien lanh full
i ều khiển máy nén sử dụng van điều khiển điện (Trang 25)
Sơ đồ hệ thống điều hòa sử dụng ống tiết lưu và bầu ngưng - Giao trinh dien lanh full
Sơ đồ h ệ thống điều hòa sử dụng ống tiết lưu và bầu ngưng (Trang 35)
Sơ đồ nguyên lý điều khiển hệ thống điều hòa thường - Giao trinh dien lanh full
Sơ đồ nguy ên lý điều khiển hệ thống điều hòa thường (Trang 43)
Sơ đồ mạch điện sử dụng cảm biến nhiệt độ giàn lạnh - Giao trinh dien lanh full
Sơ đồ m ạch điện sử dụng cảm biến nhiệt độ giàn lạnh (Trang 51)