Tóm tắt bản án số 08 Nguyên đơn ông Trần Văn Hòa Bị đơn anh Trần Hoài Nam; chị Trần Thanh Hương Nội dung Ông Hòa và vợ là bà Mai có 2 người con là anh Nam và chị Hương Trong thời kỳ hôn nhân, 2 ông bà[.]
Trang 1Tóm tắt bản án số 08:
Nguyên đơn: ông Trần Văn Hòa
Bị đơn: anh Trần Hoài Nam; chị Trần Thanh Hương
Nội dung: Ông Hòa và vợ là bà Mai có 2 người con là anh Nam và chị Hương Trong thời kỳ hôn nhân, 2 ông bà tạo lập được khối tài sản chung gồm 1 ngôi nhà 3 tầng được xây dựng trên phần đất bao quanh (gồm một phần đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu và một phần còn lại chưa được cấp giấy nhưng sử dụng ổn định, không có tranh chấp) và một lán bán hàng Bà Mai chết đi nhưng không có để lại di chúc nên ông Hòa đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế với các con Phần tài sản bị tranh chấp gồm phần tiền cho thuê lán đất bán hàng, phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận sở hữu và căn nhà 3 tầng Về sự tranh chấp phần tiền cho thuê lán bán hàng giữa ông Hòa
và chị Hương, Tòa án xác định rằng đề nghị của chị Hương về việc số tiền thuê nhà lên tới 14 triệu đồng/ tháng và đề nghị của ông Hòa về số tiền mà chị Hương đang quản lý là không có căn cứ, không được HĐXX chấp nhận Anh Nam và chị Hương yêu cầu Tòa án xác định phần diện tích đất chưa được cấp giấy xác nhận quyền sở hữu là tài sản chung của gia đình không được HĐXX chấp nhận vì phần tài sản này hình thành từ khi 2 anh chị đều còn nhỏ, phải sống phụ thuộc gia đình nên phần tài sản này được xác định là tài sản chung của ông Hòa và bà Mai Về phần căn nhà 3 tầng, tại biên bản hòa giải ghi nhận rằng anh Nam đi công tác có gửi tiền về để trả nợ xây dựng ngôi nhà nên Tòa án xác định khoản tiền anh Nam đóng góp xây dựng ngôi nhà là ½ giá trị,còn lại là tài sản chung của vợ chồng ông Hòa bà Mai Cuối cùng, Tòa án xác định di sản của bà Mai là 1/2 tài khối tài sản chung, phân chia di sản thành 3 phần cho hàng thừa kế thứ nhất của bà Mai là chồng và và 2 con (do bố mẹ bà đã mất từ trước)
Tóm tắt án lệ số 16:
Nguyên đơn: chị Phùng Thị H1, chị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị H2
Bị đơn: anh Phùng Văn T
Nội dung: ông N và vợ là bà G có khối tài sản chung là một mảnh đất khoảng 400m² do ông cha để lại Ông N chết đi không để lại di chúc nên phần tài sản này được bà G và vợ chồng con trai quản lý, sử dụng Tiếp theo, bà G nhượng lại một phần mảnh đất cho ông K để lo cho các con và sau đó 2 bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Bà G muốn chia lại một phần đất cho chị H1 nhưng anh T không đồng ý Bà G lập di chúc để lại một phần đất cho chị H1 và được UBND phường M chứng thực Sau đó,
bà G mất và các con gái của bà là chị H1, N1, P, H2 khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản của bà G theo di chúc Tòa án cấp giám đốc thẩm nhận thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đưa toàn bộ phần tài sản chung trở thành di sản của bà G là không đúng, Tòa án cấp phúc thẩm không đưa phần đất mà bà G đã bán cho ông K thành di sản là hợp lý và cho rằng bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt đối với ½ diện tích đất trong khối tài sản chung Cuối cùng, Tòa án nhân dân tối cao quyết định rằng hủy toàn bộ bản án
sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án xét xử sơ thẩm lại theo quy định pháp luật
Câu 1: Ở Việt Nam, di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trang 2-Điều 612 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần
tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác ”
-Di sản của người chết không bao gồm nghĩa vụ của người quá cố, quy định tại Điều 105 BLDS 2015
“ 1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Theo trên, nghĩa vụ của người chết không được xem là tài sản và di sản thừa kế Nếu người chết còn có nghĩa vụ tài sản chưa hoàn thành thì những người thừa kế sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người
chết trong phạm vi di sản theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 “Thực hiện nghĩa vụ do người
chết để lại:
1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
3 Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4 Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”