Tóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấpTóm tắt bản án tranh chấp tóm tắt bản án tranh chấp
Trang 1NHÓM 1 Tóm tắt bản án 9 (V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản)
1 Thành phần tham gia xét xử:
a Thành phần hội đồng xét xử:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà, Ông Nguyễn Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Trâm - Kiểm sát viên
b Các bên đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Trọng N, Bà Phạm Ngọc L
Người đại diện nguyên đơn: ông Huỳnh Hoài N
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Kim K, Ông Trần Ngọc K
2 Tóm tắt vụ án:
a Tóm tắt vụ việc dẫn đến kiện tụng
- Năm 2011, bị đơn (ông bà K) đặt vấn đề với nguyên đơn (ông N, bà L) vay tiền để đầu tư kinh doanh Ông N, bà L đã đồng ý mà không cần lập bất cứ giấy tờ, văn bản nào.Số tiền vay mỗi lần sẽ được chuyển qua tài khoản mở tại Ngân hàng
- Từ ngày 07/9/2011 đến ngày 16/8/2012, nguyên đơn đã lần lượt chuyển tiền vào tài khoản của bà K tổng số tiền là 19.205.336.000 đồng
- Trong thời gian từ ngày 05/10/2011 đến ngày 07/6/2012, bị đơn cũng đã chuyển tiền trả lại cho nguyên đơn vào tài của bà L tổng số tiền là
8.311.000.000 đồng
- Đến tháng 9/2012, hai bên có thêm thỏa thuận tính lãi kể từ đầu tháng 9/2012 trên số tiền dư nợ gốc theo mức lãi suất 01% mỗi tháng cho đến khi trả xong nợ
- Sau đó, bị đơn hoàn trả tiền không đúng hạn như thỏa thuận, chỉ hứa hẹn
Trang 2mà vẫn không trả thêm được số tiền nào nữa + được làm thủ tục bảo lãnh qua Hoa Kỳ định cư
→ khởi kiện yêu cầu ông, bà K phải thanh toán số tiền nợ còn lại là
16.680.000.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 12.000.000.000 đồng và tiền lãi là 4.680.000.000 đồng
c Tại phiên tòa sơ thẩm
Đại diện nguyên đơn:
- Không chứng minh được ông K có liên quan đến giao dịch vay tiền với ông N và bà L nên nguyên đơn rút yêu cầu về nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền đối với ông K
- Không chứng minh được giao dịch vay có lãi nên nguyên đơn rút yêu cầuvề khoản trả lãi với số tiền lãi là 4.680.000.000 đồng
- Đã đối chiếu xác định được số tiền bà K đã thanh toán cho ông N, bà L
là 8.311.000.000 đồng nên nay ông N, bà L yêu cầu bà K thanh toán số tiền gốc còn lại là 10.894.336.000 đồng
Bị đơn bà Hồ Thị Kim K, trình bày:
- Từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 8 năm 2012, giữa bà K và bà L có hỗ trợ nhau tiền làm ăn; tuy nhiên, hai bên không có ký kết giấy tờ, văn bản liên quan nào
- Tiền giao dịch đều được chuyển thông qua tài khoản của bà K và bà L
mở tại Ngân hàng; bà L đã có hỗ trợ chuyển tiền cho bà nhiều lần với tổng số tiền 12.000.000.000 đồng; không có lãi Sau đó bà đã chuyển trả lại cho bà L gần hết số tiền này, theo Giấy chuyển tiền về lại tài khoản của bà L, bà có gửi kèm theo giấy photo đã chuyển tiền giao dịch về tài khoản bà L
- Đối với ông K hiện đang ở nước ngoài nên không thể triệu tập được nhưng giao dịch về tiền nói trên là giữa bà K và bà L, còn ông K không
hề biết việc này nên bà nghĩ ông K không liên quan; cá nhân bà K sẽ chịu trách nhiệm với bà L và sẽ trả đủ nếu còn thiếu nợ bà L
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông K không có văn bản phản hồi cho Tòa án, cũng như không đến tham gia tố tụng tại Tòa án
3 Nhận định của tòa án:
- Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 466, Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 147 và Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án
Trang 3- Vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng theo quy định tại các Điều 37, Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông K là đương sự ở nước ngoài, theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự
- Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền đối với ông K; giữ lại yêu cầu đối với bị đơn bà K, xét đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương
sự theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng Dân sự, nên cần được chấp nhận
- Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu về khoản tiền lãi, xét yêu cầu rút một phần yêu cầu này của nguyên đơn là
tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân
sự, nên cần được chấp nhận để đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu về khoản tiền lãi của nguyên đơn
- Ngoài ra, tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn thay đổi xác định lại số tiền gốc yêu cầu đối với bị đơn, do đã đối chiếu xác định được chính xác số tiền bà K đã hoàn trả cho ông N, bà L, xét đây là yêu cầu thay đổi đúng với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự và
có lợi cho bị đơn nên cần chấp nhận
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về buộc bà Hồ Thị Kim K thực hiện nghĩa
vụ thanh toán nợ vay, thanh toán số tiền 10.894.336.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự, nên cần được chấp nhận
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bà K không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho lời khai đã trả gần hết số tiền vay khoảng
12 tỷ, theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng Dân sự, nên không được chấp nhận
- Án phí dân sự sơ thẩm bà K phải chịu trên số tiền phải thực hiện nghĩa
vụ thanh cho ông N, bà L, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án
4 Phán quyết của tòa án:
Căn cứ vào Điều 466, Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự; Điều 5, Điều 37, Điều 40, Điều 91, Điều 147, Điều 244 Điều 474, Điều 475, Điều
477 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án
Trang 4→ Chấp nhận yêu cầu tranh chấp về hợp đồng vay tài sản của ông N và bà L đối với bà K
Xử:
1 Buộc bà K phải thanh toán cho ông N và bà L số tiền 10.894.336.000 đồng
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
2 Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu về khoản tiền lãi của ông N và bà
L đối với bà Hồ Thị Kim K
3 Về án phí:
- Bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 118.894.336 đồng
- Ông N và bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông
N và bà L 62.300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
4 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự
5 Về quyền kháng cáo: Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của
nguyên đơn và nguyên đơn ông N, bà L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn bà Hồ K không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật
Trang 5Tóm tắt bản án 10 (Vụ án Đòi tài sản)
1 Đối tượng
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Lan
- Bị đơn: Bà Phan Thị Kim Liên
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : ( vắng mặt)
Bà Dương Thị Bạch Phượng và Ông Lê Thanh Qui
2 Nội dung
- Nguyên đơn và Bị đơn thỏa thuận về việc chuyển nhượng nhà tại Úc nhưng không có hợp đồng mua bán nhà và hợp đồng đặt cọc.
- Nguyên đơn đã đưa bị đơn 2.000.000.000 đ được ghi nhận là tiền đặt cọc mua bán nhà.
- Đại diện bà Lan cho rằng 2.000.000.000 đ là tiền làm thủ tục kết hôn giả ; Bà Liên cho rằng đây là tiền đặt cọc mua bán nhà.
- Bà Lan mãi không hoàn tất hợp đồng mua bán nhà nên
bà Liên đã khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà.
- Vì 2 bên không tiếp tục hợp đồng mua bán nhà trên nữa nên bà Liên đồng ý trả 2 tỷ đồng cho bà Lan.
- Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 110.500.000 đ mua ô tô cho con ở Úc.
- Bị đơn đề nghị bán được nhà ở Úc sẽ trả toàn bộ.
- Nguyên đơn không chấp nhận, yêu cầu trả đủ trước 15/12/2018.
3 Nhận định của tòa
- Vì bà Lan không thừa nhận việc mua bán nhà và căn nhà không thuộc quyền sở hữu của bà Liên theo luật của Úc nên không đủ cơ sở xác định đây là hợp đồng đặt cọc mua bán nhà.
Trang 6- Chấp nhận yêu cầu đổi địa vị tố tụng của đại diện bà Lan.
- Chấp nhận yêu cầu trả ngay toàn bộ số tiền 2.110.500 đ của nguyên đơn.
- Bà Liên chịu án phí 73.910.000 đ.
4 Bài học rút ra
- Bàn bạc và thỏa thuận với nhau trước, không nên kiện
ra tòa vội như bà Liên.
- Minh bạch về tiền bạc, thống nhất mục đích chuyển và nhận tiền giữa 2 bên.