1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải

54 971 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Tác giả Phạm Ngọc Vũ
Trường học Trường đại học Nha Trang
Chuyên ngành Kỹ thuật Xử lý Nước và Môi Trường
Thể loại đồ án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 415,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải Tài liệu tham khảo 1. Trịnh Xuân Lai(2000), Tính toán thiết kế các công trình xử lý nước thải, Nhà xuất bản xây dựng Hà Nội 2. Lâm Minh Triết(2004), Xử lý nước thải đô thị và công nghiệp, NXB ĐHQG Thành Phố Hồ Chí Minh . 3. Trần Văn Nhân, Ngô Thị Nga(2001), Giáo trình công nghệ xử lý nước thải, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật 4. Quy chuẩn Việt Nam 12: 2008 BTNMT

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã giúp chonền kinh tế phát triển, công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy chiếm vị trí rất quan trọngtrong nền kinh tế nước ta, cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụkhác, nhu cầu về các sản phẩm giấy ngày càng tăng, thu hút nhiều lao động tham gia,chính vì vậy ngành công nghiệp này không thể thiếu được trong đời sống của người dân.Tuy nhiên, nước thải của ngành công nghiệp này là nguồn ô nhiễm đặc biệt nghiêmtrọng đối với môi trường, nước thải thải ra mà không qua xử lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đếnmôi trường nước Độc tính của các dòng nước thải từ các nhà máy sản xuất bột giấy vàgiấy là do sự hiện diện một hỗn hợp phức tạp các dịch chiết trong thân cây bao gồm: nhựacây, các axit béo, lignin, các hợp chất cao phân tử vòng thơm, các hóa chất … và một sốsản phẩm phân hủy của lignin đã bị clo hóa có trọng lượng phân tử thấp Đây là các hợpchất rất khó bị phân huỷ nhưng nước thải từ nhà máy không được xử lý lại thải trực tiếp rasông gây ô nhiễm lớn đến nguồn nước, khi xả trực tiếp nguồn nước thải này ra kênh rạch

sẽ hình thành từng mảng giấy nổi lên trên mặt nước, làm cho nước có độ màu khá cao vàhàm lượng DO trong nước hầu như bằng không Điều này không những ảnh hưởng trựctiếp đến môi trường sống của sinh vật nước mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe củangười dân trong khu vực

Vì vậy vấn đề xử lý ô nhiễm nước thải nhà máy giấy hiện đang là vấn đề cấp bách

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIẤY

1.1 Giới thiệu về ngành giấy.

Giấy là một sản phẩm không thể thiếu đối với sự phát triển kinh tế – văn hoá - xã hội.Trình độ phát triển của một xã hội càng cao thì nhu cầu và mức tiêu thụ giấy càng lớn.Giấy được sản xuất từ bột giấy qua công nghệ cơ bản là xeo giấy Bột giấy nguyên liệu về

cơ bản là cellulose nguồn gốc thực vật như gỗ, tre, nứa, rơm, bã mía Do đó việc sản xuấtgiấy bao giờ cũng gồm những công đoạn chính sau đây:

- Chuẩn bị nguyên liệu có cellulose: tạo mảnh, rửa

- Nấu để sản xuất bột giấy: tách cellulose ra khỏi nguyên liệu

- Tẩy bột giấy để đạt độ trắng theo yêu cầu: về cơ bản là tách (oxyhoá) các tạp chấtmang màu

- Tạo bột giấy thành phẩm

- Xeo giấy và tạo giấy thành phẩm (giấy rulo hay giấy xén)

Có 3 loại hình công nghệ sản xuất giấy cơ bản tại Việt nam:

- Sản xuất bột giấy theo công nghệ sulfat Khi đó thải vào môi trường nước mộtlượng lớn BOD, COD, chất màu và SS, nhưng rất đáng quan tâm là ô nhiễm khôngkhí với các dãy hợp chất lưu huỳnh, đặc biệt là trong quá trình thu hồi hoá chất(kiềm) bằng phương pháp đốt dịch đen và trung hoà bằng vôi, khi đó thải ra mộtlượng lớn bùn vôi chủ yếu chứa CaCO3 Nồi hơi là nguồn rất lớn sinh ra chất thảikhí thông thường (SO2, NOx, CO và VOC) vì hơi nước được sử dụng rất nhiều trongcông nghiệp giấy nói chung

- Sản xuất bột giấy bằng kiềm nóng (130-160oC) hay lạnh không thu hồi hoá chất,hiện đang được sử dụng ở các cơ sở sản xuất giấy vàng mã và một số cơ sở sản xuấtgiấy thong thường khác Công nghệ này thải chủ yếu nước thải có chứa hàm lượngBOD, COD, SS và chất màu cao, tất nhiên là sử dụng nồi hơi (để nấu, để xeo và sấygiấy) sẽ thải rất nhiều các chất ô nhiễm khí thông thường

1.1.1 Sơ lược về ngành giấy tại Việt Nam

Ở Việt Nam ngành công nghiệp giấy còn rất nhỏ bé, năng lực sản xuất bột giấy chỉđạt khoảng 150 - 170 (ngàn tấn/năm), năng suất thiết kế của các cơ sơ sản xuất giấy vàokhoảng 250( ngàn tấn/năm) Gần đây, sản lượng giấy trong nước đạt khoảng 200 – 250(ngàntấn/năm), trong đó bột giấy khoảng 120 – 150 (ngàn tấn), lượng bột giấy thiếu hụtđược bù đắp bằng việc xử lý giấy cũ và nhập khẩu

Về sản phẩm, ngành đã sản xuất được các loại giấy chủ yếu là: giấy in báo, giấy in,giấy viết, giấy vệ sinh – sinh hoạt, giấy bao bì, giấy vàng mã nội địa và xuất khẩu Chấtlượng giấy nói chung chỉ đạt mức trung bình hoặc dưới trung bình so với khu vực và trên

Trang 3

thế giới Những loại giấy khác (giấy bao bì chất lượng cao, giấy kỹ thuật như: các loại giấylọc, giấy cách điện, …) được nhập khẩu Trung bình những năm qua, nước ta nhập khoảngtrên dưới 100( ngàn tấn) giấy các loại mỗi năm, tính về số giấy sản xuất trong nước thìViệt Nam mỗi năm tiêu thụ gần 300 (ngàn tấn), tính theo đầu người đạt xấp xỉ 4 (kg/năm).Đây là chỉ số rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ phát triển văn hóa Theo chỉ sốnày Việt Nam đứng cuối cùng trong khu vực và thuộc loại thấp nhất thế giới Các nướcphát triển có mức sử dụng giấy tính theo đầu người là 200 - 300 (kg /năm), các nước ĐôngNam Á cũng đạt 30 - 100 (kg/năm).

Đặc điểm nổi bật của ngành giấy Việt Nam là rất phân tán với tổng sản lượng (trên

200 ngàntấn/năm) tương đương một xí nghiệp trung bình ở các nước phát triển, ngành giấyViệt Nam có tới hơn 100 cơ sở sản xuất qui mô vô cùng đa dạng và phân bố khắp ba miềnBắc, Trung, Nam

Về nguyên liệu, ngành sản xuất giấy Việt Nam sử dụng hai loại nguyên liệu chủ yếu

là tre nứa và gỗ lá rộng (bồ đề, mỡ, keo, bạch đàn, khuynh diệp, …) Một vài cơ sở sửdụng bã mía nhưng không đáng kể Để sản xuất khoảng 130 - 150 (ngàn tấn) bột giấy mộtnăm như hiện nay, ngành giấy sử dụng khoảng 700 (ngàn tấn) nguyên liệu quy chuẩn (độ

ẩm 50%) Nếu tính sinh khối rừng nguyên liệu tăng trưởng mỗi năm khoảng 12 - 15 (tấn)

và sản lượng rừng nguyên liệu giấy đến kỳ khai thác của Việt Nam dưới 100 tấn/ha, thìdiện tích rừng bị khai thác cho ngành giấy không phải nhỏ Lượng giấy cũ sử dụng để táisinh trong sản xuất ở nước ta còn thấp, tuy chưa có thống kê chính xác nhưng được đánhgiá khoảng 10 – 15% so với tổng lượng bột giấy sử dụng Đó là con số quá khiêm tốn vì ởnhiều nước trên thế giới chỉ số này đạt trên dưới 50% Nhiều vùng trong khu vực (HànQuốc, Đài Loan) nhập khẩu rất nhiều giấy cũ để chế biến và tái sử dụng rất có hiệu quả vìvừa không phải khai thác rừng tự nhiên, lại vừa không phải tổ chức sản xuất bột giấy vừatốn kém, vừa ô nhiễm môi trường

Về công nghệ, ngành giấy Việt Nam còn lạc hậu và ở trình độ rất thấp, bột giấy ởnước ta được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp nấu kiềm, sản xuất bột giấy là khâu cóảnh hưởng mạnh nhất tới môi trường

Công đoạn sản xuất giấy bao gồm nghiền bột, pha chế với các chất phụ gia, xeo giấy

và hoàn thiện sản phẩm Tải trọng môi trường ở giai đoạn này không lớn vì nước sản xuấtđược quay vòng sử dụng theo chu trình khép kín, nước thải chỉ đem theo một lượng nhỏhóa chất không độc hại, có pH thường là 5,5 - 6,0 và một tỷ lệ rất nhỏ sợi sơ vụn, ngắnthoát qua lưới xeo Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sử dụng quay vòngnước trắng (nước trong chu trình) như sử dụng chất tuyển nổi thu hồi xơ sợi và chất phụgia, tận thu xơ sợi trên tuyến nước thải đã làm giảm đáng kể tình trạng ô nhiễm môitrường

Trang 4

Tuy nhiên, nhiều xí nghiệp giấy sản xuất theo phương pháp công nghệ rất lạc hậu,gây ô nhiễm môi trường trầm trọng đó là nấu bột giấy từ những loại nguyên liệu khác nhaubằng dung dịch xút (NaOH) ở nhiệt độ cao (130 - 1700C) và không thu hồi hóa chất, toàn

bộ dịch đen sau nấu (hỗn hợp của các hóa chất và các thành phần nguyên liệu đã hòa tan)được thải ra môi trường Các xí nghiệp sản xuất giấy theo công nghệ như vậy có nước thảivới hàm lượng BOD và COD rất cao, vượt quá tiêu chuẩn cho phép

Một số nhà máy giấy còn sản xuất giấy vàng mã, các cơ sở này sử dụng tre nứangâm với dung dịch xút và dịch ngâm được thải ra môi trường có độ ô nhiễm rất cao vìchứa nhiều xút cũng như các chất hữu cơ hòa tan Nước thải có nồng độ BOD, COD vàmàu rất cao, đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần

Ở hầu hết các địa phương có các cơ sở sản xuất giấy thì đó chính là các điểm nóng về

ô nhiễm môi trường công nghiệp

Ngoài nguyên nhân công nghệ sản xuất có độ ô nhiễm cao, một nguyên nhân quantrọng là khâu xử lý chất thải còn rất hạn chế, một số nhà máy chỉ xử lý sơ bộ, hầu hết các

cơ sở không có hệ thống trang thiết bị xử lý chất thải, các chất thải tạo thành trong sản xuấthoàn toàn tự do đi ra môi trường nước và không khí

Trong bối cảnh sản xuất kinh doanh khó khăn hiện nay các doanh nghiệp hầu nhưkhông có khả năng đầu tư trang thiết bị xử lý chất thải cũng như đổi mới công nghệ đểgiảm thiểu ô nhiễm Thậm chí có cơ sở sản xuất đã được tài trợ quốc tế xây dựng hệ thống

xử lý nước thải nhưng cũng không đủ khả năng về mặt kinh tế để vận hành hệ thống đó.Qui mô sản xuất giấy của nước ta không lớn nên vấn đề ô nhiễm môi trường do nógây ra chưa đến mức nguy hiểm Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là các xí nghiệp sảnxuất giấy vô can, điều quan trọng là cần có sự đánh giá chính xác và khách quan ảnhhưởng của sản xuất giấy tới môi trường và ngành giấy cũng như các ngành các cấp có liênquan cần tìm ra những giải pháp, bước đi thích hợp, tránh được những hậu quả cũng như

sự bùng nổ nào đó về ô nhiễm môi trường khi ngành giấy phát triển

1.1.2 Sơ lược về nhà máy giấy Rạng Đông

Giới thiệu chung:

Tên đầy đủ: CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY RẠNG ĐÔNG

Tên giao dịch: CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY RẠNG ĐÔNG

Địa chỉ: Thôn Phước Tuy - Xã Diên Phước - Diên Khánh - Khánh Hoà

Điện thoại: (84.58) 780121, 780123, 780129

Fax: (84.58) 780123

Email: cophanrd@ dng.vnn.vn

Chức năng – nhiệm vụ:

Trang 5

Lĩnh vực hoạt động chủ yếu: sản xuất giấy các loại, kinh doanh nguyên liệu giấy, bộtgiấy.

Sản phẩm chủ yếu gồm có: giấy Medium, giấy Duplex, giấy Kraff, giấy bao gói,giấy vệ sinh, giấy lau miệng, giấy màu các loại…

Lịch sử hình thành và phát triển:

Công ty cổ phần Giấy Rạng Đông được thành lập theo quyết định số:

2571/QĐUB ngày 02 tháng 10 năm 1995 của Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Khánh Hoà Giấyphép thành lập số: 003331 GP/TLDN – 03, ngày 02 tháng 10 năm 1995 do UBND TỉnhKhánh Hoà cấp Sau khi nhận quyết định thành lập Công ty tiến hành sang nhượng, thuêmướn mặt bằng xây dựng nhà máy, từ tháng 12/1995 tiến hành lắp ráp dàn máy xeo 1 vớicông suất thiết kế 4.000 (tấn/năm) và dây chuyền được đưa vào vận hành không tải vàotháng 04/1996, đến tháng 05/1996 bắt đầu sản xuất thử sản phẩm

Trong quá trình sản xuất kinh doanh đơn vị tiếp tục tìm kiếm, cũng cố, mở rộng thịtrường và huy động vốn cổ phần, vốn vay để đầu tư xây lắp dây chuyền máy xeo 2 vớicông suất thiết kế 6.000 (tấn/năm) Xây dựng và lắp đặt hoàn chỉnh công trình xử lý nướcthải công suất 150(m3/h) Thời gian huy động vốn, tổ chức xây lắp (máy xeo 2 & côngtrình xử lý nước thải), vận hành không tải và chạy thử sản phẩm kéo dài đúng 12 tháng(01/1997-12/1997)

Xây dựng và lắp đặt hoàn chỉnh dây chuyền máy xeo giấy vệ sinh với công suất thiết

kế 1.500(tấn/năm) Thời gian thực hiện từ tháng 02/1998 đến tháng 10/1998, sản phẩmgiấy vệ sinh của Công ty đã có mặt trên thị trường trong Tỉnh và một số tỉnh lân cận.Nghiên cứu và ứng dụng thành công quy trình sản xuất các loại giấy: Duplex, giấymedium, giấy Kraff, giấy bao bì các loại

Trang bị thêm một số máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng và đa dạng chủng loạisản phẩm nhất là các sản phẩm giấy phục vụ tiêu dùng

Nghiên cứu cải tạo và nâng cấp hệ thống nghiền bột giấy, đã làm giảm đáng kể chiphí điện từ 850(đ/kg sản phẩm) đến tháng 10/2001 chi phí điện bình quân chỉ còn 500(đ/kgsản phẩm)

Lắp đặt và đưa vào sử dụng hệ thống thu hồi bột thải đã góp phần làm giảm chất thải

ra môi trường và hạ thấp tỉ lệ hao hụt đối với nguyên liệu xô tạp từ 1,37 xuống còn 1,20

Tự lắp đặt và đưa vào sử dụng công trình tẩy bột có công suất 1,5 (tấn/ngày)

Đến tháng 04/2003 đã nghiên cứu và thực hiện đưa 02 lò hơi đốt bằng nguyên liệu võhạt điều và than đá thay thế cho lò hơi đốt bằng dầu FO, công suất 02 (tấn/giờ/lò) Với việcthay đổi nguyên liệu đốt đã làm góp phần làm giảm chi phí 7 (triệu đồng /ngày) góp phần

Trang 6

làm giảm giá thành sản phẩm và tăng thị phần cạnh tranh của sản phẩm trong khu vựccũng như trong Toàn quốc.

Qua gần 09 năm hoạt động sản xuất kinh doanh mặc dù gặp rất nhiều khó khăn tháchthức, tập thể Ban Lãnh đạo Công ty và toàn thể công nhân đã bền bỉ phấn đấu, cố gắngkhắc phục khó khăn từng giai đoạn để giúp đơn vị tồn tại và đứng vững

Trong quá trình hoạt động Công ty luôn nhận được sự hổ trợ động viên rất kịp thờicủa các cấp chính quyền trên nhiều lĩnh vực.Đây cũng là nguồn lực chính giúp Công ty đạtđược những thành tựu trong mở rộng SXKD và phát triển công nghệ

1.2 Công nghệ sản xuất giấy và bột giấy.

1.2.1 Giai đoạn sản xuất bột giấy.

1.2.1.1 Nguyên liệu.

Sợi cellulose là nguyên liệu thô chính cho công nghệ sản xuất giấy và bột giấy Các

tế bào thực vật, đặc biệt là tế bào gỗ, chứa rất nhiều sợi cellulose Trong công nghiệp sảnxuất giấy và bột giấy, sợi cellulose chủ yếu được cung cấp từ các nguồn sau:

- Các loại gỗ: Bạch đàn, bồ đề, mỡ, keo,…

- Các thực vật ngoài gỗ: Tre nứa, bã mía, rơm rạ,…

- Các vật liệu tái sinh: Vải vụn, giấy vụn, giấy đã sử dụng,…

Trong đó, gỗ là nguồn cung cấp sợi quan trọng nhất Thành phần hóa học cơ bản của

gỗ bao gồm:

Cellulose

Cellulose là một carbohydrate, thành phần phân tử bao gồm các nguyên tố carbon,hydrogen và oxygen Phân tử cellulose do nhiều phân tử đường glucose tạo thành nên cònđược gọi là polysaccharide

Công thức hóa học của cellulose là (C6H10O5)n, trong đó n thay đổi tùy theo loại gỗ.Thông thường các sợi cellulose dùng trong sản xuất giấy có giá trị n nằm trong khoảng 600– 1500

Cellulose rất dễ thủy phân thành đường glucose (C6H10O5) trong môi trường axit.Tính chất của các vật liệu bằng cellulose phụ thuộc nhiều vào khối lượng phân tử của nó.Khối lượng phân tử càng thấp thì độ bền của sợi cellulose càng giảm

Hemicellulose

Các chuỗi cellulose dạng dài được gọi là alpha cellulose Các chuỗi cellulose ngắn hơn thường được gọi chung là hemicellulose Thông thường, người ta chia hemicellulose thành 02 loại :

- Beta cellulose (giá trị n nằm trong khoảng 15 – 90)

- Gamma cellulose (giá trị n nhỏ hơn 15)

Trang 7

Trái với cellulose – là polymer của một đường đơn duy nhất (glucose), hemicellulose

là các polymer của 05 loại đường khác nhau :

- Hexose : Glucose, mannose, galactose

- Pentose : Xylose, arabinose

Một số hemicellulose liên kết với các cellulose, số còn lại chủ yếu là liên kết với lignin

Trong quá trình sản xuất bột giấy từ gỗ bằng phương pháp hóa học, số lượng, vị trí

và cấu trúc của hemicellulose thường thay đổi đáng kể Thông thường, hemicellulose dễ bịphân hủy và hòa tan hơn cellulose nên hàm lượng của chúng trong bột giấy luôn thấp hơn trong gỗ

Lignin

Thuật ngữ holocellulose dung để chỉ tổng lượng carbohydrate có trong sợi gỗ

(cellulose và hemicellulose) Ngoài holocellulose, trong gỗ còn chứa một chất cao phân tử,không có hình dạng xác định gọi là lignin Lignin đóng vai trò là cầu nối các sợi với nhau

Về cấu tạo hóa học, lignin là một polymer thơm bao gồm các đơn vị phenyl propane

liên kết với nhau trong không gian 03 chiều

Extractive

Ngoài holocellulose và lignin, trong các sợi gỗ còn có chứa một số chất khác như acid béo, nhựa cây, phenol, rượu, protein,…Hầu hết các chất này tan trong nước và được gọi chung là extractive

1.2.1.2.Quy trình công nghệ sản xuất.

Phạm Ngọc Vũ MSSV: 5118282

Nước thảiNước

Nước, bột giấyNướcBột giấy thành phẩmNguyên liệu thô( lồ ô,Chặt, băm nhỏ thànhKhuấy trộn, rửaTách nướcNghiền nhãoRửa Nước thải rửa nấuDịch đen

Trang 8

Hình 1: Các dòng nước vào và ra trong công nghệ sản xuất bột giấy.

Nghiền bột từ sợi tái chế

Trong nhiều năm qua, việc sử dụng sợi tái chế để sản xuất bột giấy và xeo giấy đã trởnên phổ biến Việc sử dụng loại vật liệu này trong thời gian gần đây đã tăng lên đáng kể.Các phát triển công nghệ hiện đại tập trung chủ yếu vào việc nâng cấp chất lượng bột giấy

từ các vật liệu tái chế và chính do thành công trong lĩnh vực này đã dẫn đến việc sử dụngrất rộng rãi loại bột giấy từ sợi tái chế

Bột giấy để sản xuất các vật liệu làm hộp và giấy gói có thể làm từ bất kì loại sợi thứcấp nào mà không cần phân loại nhiều Giấy thải được thu gom rời và đôi khi được bó

thành kiện để dễ dàng vận chuyển Giấy thải được lưu kho, thành đống.

Trang 9

Máy nghiền bột cơ học được sử dụng để nghiền giấy, trộn nước và chuyển hóa thànhmột hỗn hợp đồng nhất, có thể bơm như nước Các chất nhiễm bẩn nặng như cát, sỏi,…được thải bỏ khi chảy lơ lửng trong hệ thống máng Tại đây các chất nặng sẽ lắng xuống

và lấy ra khỏi hệ thống theo định kì

Sợi được phân loại riêng dưới dạng huyền phù nhẹ, sau đó được chảy qua một loạtcác sàng lọc có lớp tấm đục lỗ Ở đây các chất nhiễm bẩn nhẹ hơn, nhưng lớn hơn sợi sẽ bịloại ra

Trong một số qui trình công nghệ cần phải có sản phẩm thật sạch, thì phải có mộtloạt các cyclon làm sạch đặt sau các sàng lọc Ở công đoạn này, người ta phải sử dụng mộtmáy lọc tinh cơ học hoặc khử mảnh vụn nhằm đảm bảo sao cho các sợi tách rời nhau và

có thể tạo ra đủ độ bền liên kết giữa các sợi trong giấy

Cách sản xuất này rất phù hợp trong việc sản xuất các loại bao gói

Nghiền bột cơ học

Trong nghiền bột cơ học, các sợi chủ yếu bị tách rời nhau do lực cơ học trong máynghiền hoặc trong thiết bị tinh chế Qui trình công nghệ nguyên thủy là gia công gỗ trònbằng đá – gỗ được ép bằng đá nghiền quay tròn Công nghệ này làm ra loại bột giấy có độdai tương đối thấp

Ở các máy tinh chế TMP (Thermal Mechanical Pulping) và các máy nghiền áp lựccách xử lý cơ học được tiến hành ở áp lực và nhiệt độ cao, do vậy bột giấy có các thuộctính, độ dai tốt hơn bột giấy cơ học truyền thống Thực hiện qui trình công nghệ này ở cácmáy tinh chế có độ linh hoạt cao hơn trong việc lựa chọn nguyên liệu, vì sau đó có thể tậndụng vụn gỗ, cũng như các nguyên liệu sợi ngoài gỗ

Trong nghiền bột CTMP (Chemical Thermal Mechanical Pulping) chất làm nguyênliệu sợi được ngâm tẩm với các hóa chất trước khi tinh chế Và do vậy có thể làm tăng độdai và độ sáng của bột giấy

Có thể tẩy các loại bột giấy cơ học bằng máy tinh chế hoặc bằng hệ thống tẩy riêng,hydrogen dioxide là hóa chất được sử dụng phổ biến nhất Trước công đoạn tẩy, bột giấyđược xử lý để loại bỏ các kim loại nặng, chúng là xúc tác cho các phản ứng phân hủy tácnhân tẩy

Trang 10

Nghiền bột hóa học và bán hóa học

Trong nghiền bột hóa học và bán hóa học, nguyên liệu sợi được xử lý với hóa chất ởnhiệt độ và áp lực cao (nấu) Mục đích của quá trình xử lý này là nhằm hòa tan hoặc làmmềm thành phần chính của chất lignin liên kết các sợi trong nguyên liệu với nhau, đồngthời lại gây ra sự phá hủy càng ít càng tốt đối với thành phần cellulose (tăng độ dai củasợi) Cách xử lý này được tiến hành trong nồi áp suất (nồi nấu), có thể vận hành theo chế

độ liên tục hoặc theo từng mẻ

Có hai loại công nghệ nghiền bột hóa học chính : các quy trình kiềm hóa (quy trìnhsulphate, quy trình xút) và quy trình sulphite

Trong quy trình sulphate, dịch nấu có độ kiềm cao và các thành phần hoạt tính là cácion hydroxyl, sulphite và hydrogen sulphite Các thành phần hoạt tính quá trình nghiền bộtgiấy bằng xút là hydroxyl và carbonate Nghiền bột giấy sulphate tạo ra loại bột giấy dainhất trong khi nghiền bột giấy xút thích hợp hơn với các nguyên liệu chứa lignin thấp nhưcác loại cây một năm, tre nứa,…

Các chất hoạt tính trong quy trình sulphite là sulphur dioxide tự do, sulphite hoặc ionhydrogen sulphite Bột giấy sulphite có độ sáng không tẩy cao nhất nên thường chỉ cần íthóa chất để tẩy hơn so với bột giấy sulphate và bột giấy xút

Tẩy bột

Mục đích của tẩy bột giấy hóa học là làm sáng màu lignin tồn dư trong bột giấy saukhi nấu Để khử được lignin người ta dùng chlorine, hypochlorite, chlorine dioxide,oxygen hoặc ozone và đặc biệt là peroxide Một cách truyền thống, có thể nói rằng quytrình tẩy trắng bao gồm 03 giai đoạn chính :

- Giai đoạn clo hóa, oxy hóa trong môi trường axit để phân hủy phần lớn lignin cònsót lại trong bột

- Giai đoạn thủy phân kiềm sản phẩm lignin hòa tan trong kiềm nóng được tách rakhỏi bột

- Giai đoạn tẩy oxy hóa để thay đổi cấu trúc các nhóm mang màu còn sót lại

1.2.2 Giai đoạn làm giấy.

Quá trình làm giấy bao gồm trước tiên là chọn lựa sự xáo trộn thích hợp của bột giấy,hỗn hợp bột giấy bị phân hủy và xáo trộn trong máy nhà trộn hay những loại thiết bị nhồivới thuốc nhuộm, để sản phẩm giấy sau cùng đạt chất lượng tốt người ta cho hồ vào để lấpđầy những lỗ rỗng do bọt khí có trong bột giấy

Bột giấy được tinh chế trong phễu hình nón lõm cố định, bên trong và bên ngoài mặthình nón có gắn các dao cùn, máy có tốc độ quay điều chỉnh đước với mục đích xáo trộn

và điều chỉnh đồng dạng quá trình làm giấy Cuối cùng bột giấy được lọc qua lưới chắn để

Trang 11

loại bỏ những dạng vón cục và những bùn tạo vết làm giảm chất lượng của giấy Kế tiếpbột giấy được chuyển qua những dây đai của những lưới chắn và mang vào đai cán Nướcđược loại bỏ trong giai đoạn này chủ yếu là nước thải xeo, do màu của nước nên người tagọi là nước thải dòng trắng.

Khuôn in giấy bao gồm những máy cán sau: máy cán gạn lọc để loại bỏ những giấykhông chất lượng, cán hút để loại bỏ nước ép và cán khô khử phần nước còn lại trước khicho ra giấy, cuối cùng là cán hoàn tất để định hình ra sản phẩm giấy Sản phẩm cuối cùngdung với nhiều mục đích như giấy in, báo, giấy gói, giấy viết, giấy thấm, giấy gói thựcphẩm không thấm…

Nguyên liệu thô( giấyvụn, bột giấy )

Nghiền tinh

Nước thảiNước thảiPhèn, nhựa thông, màu

Cắt cuộnXeo giấyCán ép, tạo hình giấyPhối liệu

Lắng lọc

Hình 2: Các dòng nước vào

Trang 12

1.3 Các loại nước thải.

Dòng thải rửa nguyên liệu bao gồm các chất hữu cơ hòa tan, đất, đá, hóa chất bảo vệthực vật, vỏ cây…

Dòng thải của quá trình nấu và rửa sau nấu chứa phần lớn các chất hữu cơ hòa tan,các hóa chất sử dụng trong quá trình nấu và một phần sơ sợi Dòng thải có màu sậm nênthường gọi là dịch đen, nồng độ chất khô khoảng 25 – 35%, tỷ lệ chất hữu cơ và vô cơ70:30

Thành phần hữu cơ chủ yếu trong dịch đen là lignin hòa tan và dung dịch kiềm 35% khối lượng chất khô), ngoài ra là những sản phẩm phân hủy của hydratcacbon, axithữu cơ Ngoài ra, trong nước thải còn chứa những chất nấu, một phần nhỏ là NaOH, Na2S,

(30-Na2 SO4, Na2CO3, nhiều nhất là natrisunfal liên kết với những chất hữu cơ trong kiềm Ởnhững nhà máy lớn dòng thải này được xử lý để thu hồi tái sử dụng lại kiềm bằng phươngpháp cô đặc – đốt cháy các chất hữu cơ – xút hóa Đối với những nhà máy nhỏ thườngkhông có hệ thống thu hồi dịch đen, dòng thải này được thải cùng các dòng thải khác củanhà máy, gây tác động xấu tới môi trường

Dòng thải từ công đoạn tẩy của các nhà máy sản xuất bột giấy bằng phương pháp hóahọc và bán hóa học chứa các hợp chất hữu cơ, lignin hòa tan và các hợp chất tạo thành củanhững chất đó với chất tẩy ở dạng độc hại có khả năng tích tụ sinh học trong cơ thể sốngnhư các hợp chất clo hữu cơ Dòng này có độ màu, giá trị BOD5 và COD cao

Dòng thải từ quá trình nghiền bột và xeo giấy chủ yếu chứa xơ mịn, bột giấy ở dạng

lơ lửng và các chất phụ gia như: phẩm màu, cao lanh…

Dòng thải từ các khâu rửa thiết bị, rửa sàn, dòng chảy tràn có hàm lượng các chất lơlửng và các hóa chất rơi vãi Dòng này không liên tục

Nước ngưng của quá trình cô đặc trong hệ thống thu hồi hóa chất từ dịch đen, mức độ

ô nhiễm của nước ngưng tụ phụ thuộc vào loại gỗ, công nghệ sản xuất

Nước thải sinh hoạt

Nước thải từ công nghệ xeo giấy:

- Dòng thải từ công nghệ xeo giấy chứa chủ yếu bột giấy và các chất phụ gia, gọi lànước trắng Nước này được tách ra từ các công đoạn của máy xeo giấy như khửnước, ép giấy Phần lớn dòng thải này được sử dụng trực tiếp cho giai đoạn tạo hìnhgiấy hay cho công đoạn chuẩn bị nguyên liệu vào máy xeo hoặc có thể gián tiếp saukhi nước thải được qua bể lắng để thu hồi giấy và xơ sợi

Trang 13

- Nước thải công đoạn này đôi khi có thể chiếm tới 90% lưu lượng tổng cộng của nhàmáy nhưng tương đối sạch, nồng độ chất nhiễm bẩn không cao, BOD trung bình, độmàu thấp, pH gần trung tính, không chứa lignin, hàm lượng chất lơ lửng cao chủyếu do bột giấy và chất độn thất thoát Lượng chất rắn này có thể dễ dàng thu hồibằng các phương pháp lắng.

Ngoài nước thải, quá trình sản xuất giấy còn sinh ra các chất thải khác như:

- Nhiệt và hơi quá nhiệt từ công đoạn sản xuất năng lượng

- Dầu khoáng thải ra từ các hoạt động bảo dưỡng và sửa chữa

- Các loại khí thải chủ yếu chứa các hợp chất sulphua như H2S, mercaptan (các loạimetyl sulphua) từ quá trình nấu bột và đặc biệt là quá trình trong lò đốt dịch đen thuhồi xút; và khí thải thông thường do đốt than: CO, SO2, NOx.

1.4 Tác động của nước thải nhà máy giấy đến môi trường.

Với thành phần phức tạp và chứa nhiều tác nhân gây ô nhiễm, nước thải của nhàmáy giấy có ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến môi trường, nước thải không được xử lý lạithải trực tiếp ra hồ, gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến đời sống của người dân vàmôi trường xung quanh

Trong nước có hàm lượng hợp chất hữu cơ cao, làm tăng BOD do đó làm giảm oxihòa tan trong nước Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho các sinh vật trongnước chết vì không đủ oxi, nước thải nhà máy giấy có thể gây ra tác hại đến hầu hết cácloài vi sinh vật trong nước sống cách mặt nước khoảng 56km, mật độ và chủng loại cá ởnhững nơi này do đó cũng giảm, đồng thời hoạt động của cá cũng bị thay đổi và suy yếu

Xơ sợi, các hợp chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng trong nước thải có thể làm ngộ độc thức

ăn của cá trong nước sông Khi con người ăn phải những con cá này sẽ bị ngộ độc

Đối với thực vật sống dưới nước, sự tăng độ đục do có mặt nhiều chất huyền phùlàm tăng nhiệt độ nước, làm giảm khả năng xuyên qua của ánh sáng do đó làm giảm tỉ lệquang hợp và khả năng sản xuất oxi của chúng, và sẽ hạn chế sự phát triển của các loàithực vật này

Ngoài ra, sự phân hủy các xơ sợi , các hợp chất hữu cơ bằng vi khuẩn là nguyên nhâncủa sự thối rữa, làm thay đổi màu và mùi của nước Đây là môi trường tốt cho các vi sinhvật phát triển mạnh, trong đó có cả loài vi sinh vật có hại gây bệnh truyền nhiễm cho người

và động vật

Trong nước thải nhà máy giấy có cả các kim loại nặng trong đó có một số kim loạiđộc hại như Hg, As, Pb… chúng có hại với các sinh vật trong nước và với sức khỏe conngười Khi nước được thải ra sông, những chất này có thể được tích lũy trong cơ thể sinh

Trang 14

vật nước, gây hại cho sinh vật nước và khi con người sử dụng nguồn nước đó cũng sẽ bịảnh hưởng.

Đa số thực vật, động vật ở trong nước chỉ sống được ở pH môi trường trong khoảng5-8, trong khi đó nước thải nhà máy giấy đa số vẫn còn một phần kiềm dư làm cho pHnước thải cao trong khoảng 8 – 11 Khi thải ra sông sẽ làm ảnh hưởng đến động vật thủysinh

Ảnh hưởng của các chất độc trong nước thải nhà máy giấy đến các loài sinh vật nước,đến môi trường xung quanh và đến sức khỏe con người có thể là ngay lập tức hoặc lâu dài.Các hợp chất vòng thơm ở trong dịch đen nước thải có thể theo chuỗi thức ăn vào cơ thểsinh vật và tích lũy, có thể gây biến dị gen Tỷ lệ nở trứng của cá giảm nhiều do sự pháttriển của các chất nhờn xung quanh màng trứng làm ngăn cản sự trao đổi chất qua màng.Như vậy, nước thải nhà máy giấy có mức độ ô nhiễm khá cao, gây ảnh hưởng đếnmôi trường sinh thái và từ đó có ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe con người.Do đóvấn đề xử lý nước thải nhà máy giấy nói chung và xử lý nước thải nhà máy giấy RạngĐông nói riêng là vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay

Các biện pháp giảm thải.

- Giảm lượng nước thải và tải lượng chất bẩn trong sản xuất giấy và bột giấy táiIsinh

- Tuần hoàn nước xeo giấy Khoảng 80% lượng nước đến máy xeo giấy được sửdụng lại trong chu trình ngắn , ứng với 80-400 (m3/tấn giấy)

- Thu hồi bột giấy, thu hồi xơ sợi chảy theo nước thải bằng các phương pháp lắng

- Thu hồi bột giấy trong nước vệ sinh và tuần hoàn nước vệ sinh

Trang 15

CHƯƠNG II: LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHÀ MÁY GIẤY

RẠNG ĐÔNG.

2.1 Thông số đầu vào và yêu cầu nước thải sau xử lý:

Thông số thiết kế đầu vào như đã lựa chọn ở trên và yêu cẩn nước thải sau xử lý phảiđạt QCVN 12 2008 cột B1

Bảng 1 Thông các thông số nước thải đầu vào và yêu cầu đầu ra

Lưu lượng (m3/ngày

Đây là dòng thải tổng của nhà máy không có thu hồi xơ sợi ở công đoạn xeo do đó

mà ta đưa ra một số phương án xử lý với phương pháp chính vẫn là phương pháp sinh học.Các phương pháp phổ biến để xử lý nước thải giấy:

Trang 16

- Phần cặn vô cơ (cát, sạn, sỏi…) và được tách ra khỏi dòng nước thải tại bể điều hòa.

- Chất rắn lơ lửng được tách ra khỏi nước thải bằng phương pháp đông keo tụ

- Các phần chất hữu cơ hòa tan trong nước thải và một phần chất rắn lơ lửng chưatách hết được xử lý tại bể Aeroten

Phương pháp này sử dụng các chất keo tụ là phèn sắt hay phèn nhôm tương đối rẻđồng thời thiết bị đông keo tụ không tốn kém quá nhiều nếu thiết kế hợp lý

Tuy nhiên ở phương pháp này phần sơ sợi còn lại trong nước thải vẫn lớn, khi đưavào bể Aeroten quá trình sục khí mạnh gây hiện tượng bột nổi làm giảm hiệu quả xử lý của

bể aeroten do các sơ sợi này làm giảm sự tiếp xúc pha giữa các vi sinh vật và các chất hữu

cơ ở dạng hòa tan trong nước thải Không thu hồi và tận dụng được phần sơ sợi thấp thoátsau công đoạn xeo làm tăng lượng bùn cần xử lý

Vậy ta thấy được phương án này không hợp lý

Phương án 2

Hình 4 Phương án xử lý thứ 2

Trong sơ đồ trên ta sử dụng hệ thống tuyển nổi để xử lý nước thải trước khi đưa vào

bể aeroten Với thông số đầu vào như trên đưa vào hệ thống tuyển nổi rồi đến aeroten thì rất tốt tuyển nổi là phương án giúp giảm hàm lượng SS đáng kể hơn so với keo tụ

Ngoài ra thu hồi lại lượng sơ sợi trong nước thải để sử dụng trong quá trình sản xuất

2.3 Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý nước thải nhà máy giấy và thiết minh sơ đồ công nghệ

Với đặc trưng của nước thải nhà máy giấy và nước thải sau xử lý phải có chất lượng đảm bảo thải trực tiếp ra môi trường Các giải pháp công nghệ được đưa ra và lựa như các phương án đã nêu ra ở trên, ta thấy phương án 3 là tối ưu nhất đảm bảo thực hiện được cácyêu cầu về xử lý phải đạt QCVN 12 2008 cột B1 Do đó, ta có thể có các công đoạn xử lý sau:

Trang 17

Nước thải vào

Trang 18

song chắn rác để giữ lại các tạp chất rắn có kích thước lớn như nylon, chai lọ,

rác Lượng rác này sẽ được thu gom bằng thủ công hay tự động Nước từ hố thu gom sẽ được bơm sang bể điều hòa lưu lượng

2.3.1.2 Bể điều hòa lưu lượng.

Thông thường lượng nước thải chảy vào hệ thống với một tỷ lệ không ổn định, tỷ

lệ này thường thay đổi giữa các giờ trong ngày tùy thuộc vào điều kiện sản xuất Sự daođộng lưu lượng và nồng độ nước thải sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại về chế độ công tác của mạng lưới và công trình xử lý đồng thời gây tốn kém nhiều về xây dựng và quản lý

Khi lưu lượng dao động thì rõ ràng phải xây dựng mạng lưới bên ngoài với tiết diện ống hay kênh lớn vì phải ứng với lưu lượng giờ lớn nhất, đồng thời nước thải chảyđến trạm bơm thay đổi thì dung tích bể chứa, công suất máy bơm và chế độ làm việc không ổn định, chi phí xây dựng đắt hơn

Vì vậy để công trình xử lý nước thải làm việc bình thường với hiệu suất cao và kinh tế phải xây dựng các bể điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải Bể điều hòa lưu lượng có tác dụng pha loãng các chất ô nhiễm trong nước thải và điều hòa lưu lượng nước thải Sau đó nước thải tự chảy sang bể phối trộn bằng đường ống dẫn

2.3.1.3 Bể tuyển nổi:

Sau khi qua song chắn rác, qua bể điều hòa, nước thải được đưa vào bể tuyển nổi để tách các tạp chất (ở dạng hạt rắn hay lỏng) phân tán không tan, tự lắng kém ra khỏi pha lỏng mà chủ yếu sơ sợi mịn Các sơ sợi này sau khi tách được thu hồi và đưa lại quy trình sản xuất

Các quá trình tuyển nổi:

Trên thực tế, các phương pháp của quá trình tuyển nổi chỉ khác nhau là phương thức bão hòa các bọt khí với kích thước cần thiết trong nước người ta phân biệt các biện pháp tuyển nổi để xử lý nước thải như sau:

- Tuyển nổi nổi với tách bọt khí từ dung dịch: tuyển nổi chân không, tuyển nổi áp lực(tuyển nổi bằng khí hòa tan )

- Tuyển nổi với phân tán không khí bằng cơ giới

- Tuyển nổi với không khí nén qua tấm xốp hay ống có lỗ

- Tuyển nổi điện

2.3.1.4 Bể Aeroten.

Nước thải sau quá trình xử lý hóa học chủ yếu loại được các hạt cặn lơ lửng nên còn một hàm lượng lớn các chất hữu cơ chưa được xử lý không đạt tiêu chuẩn để thải

Trang 19

ra môi trường do đó cần được xử lý tiếp Với hàm lượng chất hữu cơ như đã cho thì rất thích hợp cho xử lý hiếu khí bằng Aeroten.

Có thể phân loại các dạng bể Aeroten như sau:

- Phân loại theo chế độ thủy động: Aeroten đẩy, Aeroten khuấy trộn và Aeroten hỗn hợp

- Phân loại theo chế độ làm việc của bùn hoạt tính: Aeroten có ngăn tái sinh bùn và Aeroten không có ngăn tái sinh bùn

- Phân loại theo tải trọng BOD trên 1g bùn trong ngày ta có: Aeroten tải trọng cao, Aeroten tải trọng trung bình và Aeroten tải trọng thấp

- Phân loại theo số bậc cấu tạo trong Aeroten tao có: Aeroten 1 bậc, 2 bậc, 3 bậc Đối với hệ thống này ta chọn bể Aeroten truyền thống 1 bậc, không có ngăn tái sinhbùn, có dạng hình chữ nhật và được xây bằng bêtông cốt thép

2.2.1.5 Bể lắng 2.

Bể lắng 2 có nhiệm vụ chắn giữ các bông bùn hoạt tính đã qua xử lý ở bể Aeroten và các thành phần chất không hòa tan chưa được giữ lại trong bể lắng 1 đồng thời cô đặc bùn hoạt tính đến nồng độ nhất định ở phần dưới của bể để bơm tuần hoàn lại ở bể Aeroten.Như ta đã biết nồng độ cặn trong hỗn hợp nước + bùn từ bể Aeroten sang bể lắng đợt

2 thường >1000 mg/l Với nồng độ này các bông cặn tiếp xúc với nhau tạo thành những

đám bông cặn và lắng xuống đáy bể trong quá trình xử lý

Bể lắng 2 thường có dạng hình tròn(bể lắng đứng, bể radial) hay hình chữ nhật

CHƯƠNG III: TÍNH TOÁN CÁC HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH

Trang 20

3.1 Tính toán mương dẫn.

Nước thải từ các quá trình sản xuất trong nhà máy được dẫn vào mương, qua songchắn rác và đi vào hệ thống xử lý

Tốc độ dòng nước qua song chắn lấy bằng 0,8- 1,0 m/s (với lưu lượng tối đa), do

đó ta chọn tốc độ dòng nước chảy trong mương dẫn là 0.8 m/s

Lưu lượng nước thải không đều nhau theo từng giờ trong ngày và thường dao động

so với lưu lượng trung bình giờ

Do đó, lưu lượng max vào hố gom có thể tính như sau:

k Q

Q max = ×Trong đó

Q: lưu lượng trung bình của dòng thải, m3/s

Q = 600 m3/ngày.đêm = 0,0069 m3/s ≈0,007 m3/s

K : hệ số không điều hòa phụ thuộc vào lưu lượng nước thải

Theo ta có k = 2,3

s m s

m k

Trong đó:

V: vận tốc dòng chảy trong mương, m/s V = 0.8 m/s

W: diện tích mặt cắt ướt trong mương dẫn (m2)

02,08,0

016,0

=

V

Q W

m2Chọn kênh tiết diện hình chữ nhật có B= 2h sẽ cho tiết diện tốt nhất về mặt thuỷ lực, vớiB: chiều rộng mương dẫn (m)

h : chiều cao mực nước trong mương, (m)

Trang 21

Do đó ta có:

02,02hh2hhB

W= × = × = 2 =

Suy ra: h = 2

02,0

= 0,1 m = 10 cm

B = 0,2 m = 20 cmKhi đó, độ dốc tối thiểu của mương dẫn sao cho tránh được quá trình lắng cặn trongmương được tính như sau:

3.2 Tính song chắn.

Số lượng khe hở song chắn:

0 max k b h V

Q n

×

×

=

Trong đó

Trang 22

Qmax: lưu lượng tối đa của nước thải, m3/s Qmax= 0,016 m3/s

V: tốc độ nước chảy qua song chắn, m/s V = 0,8 m/s

h: độ sâu nước ở chân song chắn, m h = 0,1 m

b: Chiều rộng khe hở song chắn, m

k0: hệ số tính đến sự thu hẹp dòng chảy, thường lấy k0= 1,05

Chọn song chắn rác bằng kim loại, tiết diện hình chữ nhật 10x10 mm và đặtnghiêng 600 so với phương ngang

Đối với song chắn tinh khoảng cách giữa các thanh từ 10- 25mm

Ta chọn b= 15mm

1405,1015,01,08,0

016,

S

B s = ( −1)+ ×

Trong đó

S: chiều dày thanh chắn rác, m S = 10 mm = 0,01 m

n: số khe hở song chắn, n = 14 kheb: chiều rộng khe hở song chắn, m b = 15 mm = 0,015m

B s =0,01(14−1)+0,015×14=0,34m

Ta thấy chiều rộng của buồng đặt song chắn rác Bs> chiều rộng mương dẫn B, do

đó cần phải mở rộng mương dẫn tại vị trí đặt song chắn Tuy nhiên việc mở rộng songchắn như vậy có thể làm lắng cặn trước song chắn vì tốc độ dòng chảy giảm lại

Đối với song chắn mở rộng cần đảm bảo tốc độ nước chảy qua không nhỏ hơn 0,6m/s

Cần kiểm tra tốc độ dòng chảy tại vị trí mở rộng

Trang 23

Ta có:

S v

Trong đó

Bs: chiều rộng mương tại chỗ đặt song chắn, m Bs = 0,34 m

h : chiều cao nước trong mương, m h = 0,12 m

s m h

B

Q S

Q v

s

/ 4 , 0 47 , 0 1 , 0 34 , 0

016 , 0

Vậy vận tốc nước tại chổ mở rộng vẫn đảm bảo để không lắng cặn

- Chiều dài buồng đặt song chắn rác

+ Góc mở rộng của buồng đặc song chắn lấy bằng 20o Chiều dài đoạn mở rộng L1tính theo công thức :

)(

73,120

C tg

B B

Trong đó

Bs: chiều rộng mương tại chỗ đặt song chắn, m Bs = 0,34 m

B: chiều rộng mương dẫn, m B = 0,2 m

L1 = 1,73 (0,34– 0,2) = 0,242 + Chiều dài đoạn thu hẹp sau song chắn

Trang 24

L2 = 0,5L1Trong đó

L1: chiều dài đoạn mở rộng góc 200C, m L1 = 0,242 m

L2 = 0,5 x 0,242 = 0,121 (m)

Chiều dài buồng đặt song chắn rác lấy không nhỏ hơn 1m

Chọn L = 1,2 mChiều dài buồng đặt song chắn rác

Ls = L1 + L2 + L = 0,24+ 0,12 + 1,2 = 1,56 m

- Tổn thất áp suất của dòng thải khi đi qua song chắn có thể tính như sau:

g

p v

h p

×

×

=2

αβ

v : vận tốc dòng chảy trước song chắn, m/s v = 0,8 m/s

p : hệ số tính đến tăng trở lực do song chắn bị bịt kín bởi vật thải

(thường lấy p = 3)ε

: trở lực cục bộ của song chắn

g : gia tốc trọng trường, g= 9,8 m/s2

S : chiều dày thanh chắn, m S = 10mm =0,01m

b : khoảng cách giữa các thanh, m b= 15mm = 0,015m

Trang 25

: góc nghiêng của thanh chắn so với mặt phẳng ngang, α

= 600β

: yếu tố hình dạng của song chắn β

= 2,42

2206 , 1 60 )

015 , 0 01 , 0 ( 42 , 2 sin )

4 3

m m

g

p v

8,92

38,02206,12

2 2

(m3)Trong đó

Qmax: lưu lượng nước thải, m3/s Qmax = 0,016 m3/s

t : thời gian lưu của nước thải trong hố gom

chọn t = 20 phút

3 max t 0 , 016 20 60 19 , 2m

Q

Chọn hố gom hình chữ nhật có các kích thước sau:

Trang 26

Nước thải phát sinh từ hoạt động của dây chuyền sản xuất giấy có nồng đồ và lưu

lượng không ổn định Trong thời gian mà nhà cơ sở hoạt động thì tạo ra lượng nước thảilớn Do đó cần phải đưa qua bể điều hòa nhằm điều hòa lưu lượng ổn định chọn thời gianlưu khoảng 4h trước khi vào các công đoạn xử lý nước thải tiếp theo Trong bể điều hòa

có thiết bị làm thoáng và sục khí nhằm tránh hiện tượng lắng cặn ở đáy bể

Dung tích bể điều hòa được tính như sau:

t Q

V = tb×Trong đó:

Qtb: lưu lượng trung bình nước thải, m3/s Qtb= 25 m3/h

T : thời gian lưu của nước thải trong bể điều hòa, giờ Chọn t = 4giờ

Vậy, dung tích bể điều hòa là:

3

100 4

t Q

V = tb× = × =Chọn chiều cao làm việc h = 4m, chiều cao bảo vệ hbv = 0,3m

Chiều cao xây dựng

m h

h

H = + bv =4+0.3=4,3Diện tích bề mặt

2

3

22,225

,

4

100

m m

m H

W

Trang 27

Chọn bể điều hòa dạng hình chữ nhật gồm các kích thước cơ bản sau:

+ Chiều sâu bể : 4,3m+ Chiều rộng bể : 4m+ Chiều dài bể : 6m

3.5 Tính toán bể tuyển nổi

Thông số đầu vào tính toán

Lưu lượng nước thải vào : Q = Qr + q = 15 + 25 = 35 m3/h

Thời gian nước lưu trong bể tuyển nổi: chọn t2 = 30 phút = 0,5 h (Quy phạm 20 –

40 phút)

Tải trọng chất rắn : chọn vr = 1,5 (kg/m2.h)

Tính toán

Thể tích cần thiết của bể tuyển nổi là: V2 = Q x t2 = 35 x 0,5 = 17,5 m3

Chọn bể hình trụ có tiết diện hình tròn, xây bằng bê tông cốt thép

Tính toán kích thước của bể tuyển nổi :

Ta có tải trọng chất rắn của bể tuyển nổi là:

Vr =

SS F

(kg/m2.h)Trong đó: SS: Hàm lượng chất rắn lơ lửng có trong nước thải, kg/m3

15,751,5

= 10,5 m2 → Bán kính của bể tuyển nổi là :

Ngày đăng: 17/06/2014, 21:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Các dòng nước vào và ra trong công đoạn làm - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Hình 2 Các dòng nước vào và ra trong công đoạn làm (Trang 11)
Hình 3. Phương án xử lý thứ 1 - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Hình 3. Phương án xử lý thứ 1 (Trang 15)
Hình 4. Phương án xử lý thứ 2 - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Hình 4. Phương án xử lý thứ 2 (Trang 16)
Hình 5: Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý nước thải nhà máy giấy - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Hình 5 Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý nước thải nhà máy giấy (Trang 17)
Bảng 2. Các thông số đầu vào của bể Aeroten - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Bảng 2. Các thông số đầu vào của bể Aeroten (Trang 28)
Hình 1. Bể lắng II. - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Hình 1. Bể lắng II (Trang 38)
Hình vuông - Cao 0,2m - Rộng 0,2m - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Hình vu ông - Cao 0,2m - Rộng 0,2m (Trang 50)
Hình chữ nhật Ngăn tuần hoàn - Cao 1,5m - Rộng 1,2m - Dài 2m - Đồ án thiết kế công trình xử lý nước thải
Hình ch ữ nhật Ngăn tuần hoàn - Cao 1,5m - Rộng 1,2m - Dài 2m (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w