1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học

150 1,9K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Tác giả Phạm Duy Nghĩa
Người hướng dẫn TS. Lê Trọng Tín
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 4,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM DUY NGHĨA

XÂY DỰNG WEBSITE CHƯƠNG NGUYÊN

TỬ, CHƯƠNG BẢNG TUẦN HOÀN CÁC

NGUYÊN TỐ HÓA HỌC VÀ ĐỊNH LUẬT

TUẦN HOÀN LỚP 10 CƠ BẢN ĐỂ NÂNG CAO

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi được sự giúp đỡ, động viên của rất nhiều người, là nguồn khích lệ lớn lao đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Trước hết, tôi xin gởi lời tri ân sâu sắc đến TS Lê Trọng Tín Thầy đã rất tận tình góp ý chuyên môn, vạch ra định hướng, ý tưởng, động viên tôi trong những lúc khó khăn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quí thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học, Phòng sau Đại học trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Phú Ngọc, THPT Điểu Cải, THPT Nguyễn Hữu Cảnh và các thầy cô đồng nghiệp khác đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Tôi xin hết lòng biết ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bạn bè Đó là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi hoàn thành luận văn này

Phạm Duy Nghĩa

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 L í do chọn đề tài

Hiện nay, trên thế giới cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đang diễn ra như vũ bão, nhiều lĩnh vực khoa học kĩ thuật mới, nhiều nghề mới đang hình thành và phát triển rất nhanh Việt Nam còn là một nước đang phát triển, nguồn nhân lực trình độ cao còn thiếu và yếu Vì vậy, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực

có trình độ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng cao, yêu cầu đào tạo thế hệ học sinh trung học phổ thông đang tăng lên rất nhanh cả

về số lượng và chất lượng

Trong những năm qua, mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục – đào tạo của nước ta đã thay đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đã đạt được những tiến bộ đáng khích lệ Tuy nhiên, những thay đổi về phương pháp còn quá ít, quá chậm Phương pháp đang được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông chủ yếu là thuyết giảng có tính chất áp đặt của thầy, coi nhẹ hoạt động tích cực, chủ động của trò Việc dạy và học chủ yếu đều gắn liền với sách giáo khoa và bảng trắng, thiếu trực quan sinh động, nhiều nội dung còn trừu tượng, khó hiểu, chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế Vì vậy, ngành giáo dục đang áp dụng nhiều biện pháp nhằm thay đổi cách học và cách dạy, khuyến khích sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, giúp học sinh có nguồn tư liệu phóng phú và trực quan để tìm hiểu và học tập

Ngoài ra, hiện nay với hình thức kiểm tra đánh giá theo hình thức trắc nghiệm khác quan đòi hỏi học sinh phải có tính thần học tập chủ động, dựạ vào những nguồn tài liệu sẵn có, thuận tiện, trực quan, đáng tin cậy Trong khi đó, hiện nay nguồn tư liệu học tập trên mạng tuy phong phú nhưng còn dàn trải, chưa tập trung, nguồn tài liệu chưa được phân loại phù hợp với việc học tập của học sinh Chưa có website nào thật sự thuận tiện cho công việc học tập của học sinh

Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “XÂY DỰNG WEBSITE CHƯƠNG NGUYÊN TỬ, CHƯƠNG BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC VÀ ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀN LỚP 10 CƠ BẢN ĐỂ NÂNG CAO

Trang 12

CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC” nhằm tạo ra nguồn tài liệu trực quan, sinh động, thuận tiện cho học sinh học tập, ôn tập, giúp nâng cao hiệu quả của quá trình học tập, tạo bước tiền đề quan trọng trong việc gây hứng thú học tập, rèn luyện năng lực học tập

cho học sinh khi mới bước vào cấp học mới

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng website phục vụ việc dạy và học chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

− Đối tượng nghiên cứu:

Việc xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để phục vụ học tập

− Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy và học hóa học ở trường trung học phổ thông

4 Nhiệm vụ của đề tài

Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

Nghiên cứu sách giáo khoa lớp 10 cơ bản

Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng các trang web vào dạy và học bộ môn hóa học ở trường trung học phổ thông

Nghiên cứu các phần mềm và cách sử dụng các phần mềm để xây dựng website

Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 (cơ bản)

Tiến hành thực nghiệm sư phạm

Tổng kết đề tài nghiên cứu và đưa ra những ý kiến đề xuất

5 Phạm vi nghiên cứu

− Xây dựng Website “chương Nguyên tử, chương Bảng tuần hoàn các nguyên

tố hóa học và định luật tuần hoàn” lớp 10 (cơ bản) trung học phổ thông

− Địa bàn nghiên cứu thử nghiệm Website: Trường THPT Phú Ngọc, THPT Điểu Cải, THPT Nguyễn Hữu Cảnh tỉnh Đồng Nai

− Thời gian nghiên cứu: học kì I năm học 2010 – 2011

Trang 13

6 Giả thuyết khoa học

Nếu website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn cho học sinh lớp 10 (cơ bản) trung học phổ thông được xây dựng tốt, có nội dung đầy đủ, hấp dẫn, giao diện đẹp sẽ kích thích hứng thú học tập, hỗ trợ tốt cho học sinh tự học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đem lại lợi ích cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, giúp học sinh hứng thú, chủ động học tập và có nguồn tư liệu học tập sinh động

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

− Đọc và nghiên cứu tài liệu

− Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa trong nghiên cứu các tài liệu lý thuyết có liên quan

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

− Điều tra tình hình thực tiễn về việc sử dụng website vào dạy và học

− Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học

− Dùng các phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu, các kết quả điều tra và các kết quả thực nghiệm để có những nhận xét, đánh giá xác thực

− Sử dụng các phần mềm và công thức để xử lý kết quả thực nghiệm

8 Những đóng góp mới của đề tài

Sử dụng công nghệ thông tin xây dựng các bài học dưới dạng website, làm nguồn tư liệu hỗ trợ học sinh tự học, tự nghiên cứu, tự kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học

Website còn cung cấp nhiều thông tin lí thú và bổ ích, giúp học sinh yêu thích và có hứng thú với môn hóa học, tạo mối liên hệ giữa học và hành, ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống

− Website giúp giáo viên có thêm nguồn tư liệu phong phú để giảng dạy chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn

Trang 14

Tăng cường thông tin hai chiều giữa giáo viên và học sinh qua việc trao đổi,

thảo luận trên Website và qua Email

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, với sự phát triển của Internet chỉ cần tìm trên mạng là đã có rất nhiều các website về hoá học nhưng chủ yếu đều là tiếng Anh, điều này gây trở ngại lớn trong việc tìm kiếm tri thức của HS phổ thông Các website của các trường THPT phần lớn 10Tmới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu các thông tin chung về trường, trợ giúp phụ huynh theo dõi điểm số của HS,… mà không có các dịch vụ liên quan đến học trực tuyến 10TMột số website luyện thi trực tuyến thì lại thu phí; còn các website khác thì mức độ tin cậy lại không đảm bảo, đòi hỏi HS phải biết chọn lọc thông tin để tiếp nhận nếu không sẽ rơi vào tình trạng bội thực thông tin nhưng lại đói kiến thức Trên mạng có rất nhiều e- book nhưng chủ yếu là kênh chữ, ít sinh động

Bên cạnh đó, số lượng đề tài về nghiên cứu thiết kế website tự học trong các khóa luận và luận văn tốt nghiệp đến nay chưa nhiều Sau đây là một số khoá luận

và luận văn tốt nghiệp chuyên ngành hóa học, trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội:

1 Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chương trình

phân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

2 Cao Duy Chí Trung (2005), Thiết kế trang web phục vụ công tác giáo dục môi trường trong môn Hóa ở trường THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

3 Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia

Dreamweaver MX và Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức môn Hóa học phần Hiđrocacbon không no mạch hở dành cho học sinh THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

4 Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và

Macromedia Dreamver để thiết kế website về lịch sử hóa học 10 góp phần nâng cao chất lượng dạy học, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

5 Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế Website phục vụ việc học tập và ôn tập

chương nguyên tử cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash và Dreamweaver, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

Trang 16

6 Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver

MX và Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học môn hóa học lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí điểm,

Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

7 Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia

Dreamweaver MX 2004 và Macromedia Flash MX 2004 thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức cho học sinh môn hoá học nhóm oxi – lưu huỳnh chương trình cải cách, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

8 Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng Macromedia Flash MX 2004 và

Dreamweaver MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho hoạt động tự học hoá học của học sinh phổ thông trong chương halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp,

ĐHSP TP.HCM

9 Lương Công Thắng (2006), Lập website bằng phần mềm Dreamweaver về những thí nghiệm lượng nhỏ của hóa học hữu cơ được thiết kế bằng phần mềm Peowerpoint, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

10 Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương

Halogen lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

11 Nguyễn Trần Đông Quỳ (2007), Website giáo dục môi trường qua chương trình

hóa hoc l ớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

12 Ngô Thị Phương Bích (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học

chương nhóm oxy lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

13 Nguyễn Thị Liễu (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần hóa

hữu cơ lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

14 Thái Hoài Minh (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá môn hóa học lớp 10 THPT (chương trình nâng cao), Luận văn thạc sĩ, ĐHSP

TP.HCM

15 Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2008), Thiết kế website về phương pháp giải nhanh

các bài tập trắc nghiệm khách quan hóa học vô cơ ở trường THPT, Luận văn

thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

16 Lê Thị Thu Hà (2009), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học môn Hóa học

ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

17 Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2010), Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực

Trang 17

tự học cho học sinh giỏi hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

Các website này đều có điểm chung là giúp GV và HS có một công cụ dạy hiệu và học quả, giúp nâng cao chất lượng dạy học Mặc dù vậy, còn tồn tại một số vấn đề sau:

Tư liệu học tập còn chưa phong phú

Các bài học chưa phân rõ mục lục để thuận tiện tìm kiếm trong quá trình học

Phần bài tập còn ít, chưa phân loại bài tập và các bài mẫu hướng dẫn học sinh

Chưa có bài tập trắc nghiệm để học sinh ôn tập kiến thức

Hình ảnh, các đoạn phim minh họa còn chưa phong phú và thuận tiện

1.2 Đổi mới phương pháp dạy và học

1.2.1 Phương pháp dạy học

Theo PGS TS Trịnh Văn Biều [4], PPDH là một trong những thành tố quan trọng của quá trình dạy học Cùng một nội dung nhưng HS có hứng thú, tích cực hay không, có hiểu bài một cách sâu sắc hay không, phần lớn phụ thuộc vào PPDH của người thầy PPDH có tầm quan trọng đặc biệt nên nó luôn luôn được các nhà giáo dục quan tâm

PPDH là cách thức thực hiện phối hợp, thống nhất giữa người dạy và người học, nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học Đó là sự kết hợp hữu cơ và thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học PPDH theo nghĩa rộng bao gồm:

+ Phương tiện dạy học

+ Hình thức tổ chức dạy học

+ PPDH theo nghĩa hẹp

1.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

Định hướng đổi mới trong phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chị thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chị thị số 14 (4-1999)

Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của

Trang 18

từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [17]

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

1.2.3 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực [9]

− Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS

Trong phương pháp tổ chức, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập

do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống thực tế của đời sống, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp làm ra kiến thức, kỹ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho

họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nâng lên gấp bội

Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Lớp học là môi trường giao tiếp thầy-trò, trò-trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy cô giáo

Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trang 19

Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho

sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS

Nhìn chung từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế,

tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình

1.2.4 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [24]

Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học theo các hướng khác nhau Sau đây là một số xu hướng đổi mới cơ bản:

− Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ giáo viên sang học sinh Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sang tìm tòi, khám phá Tạo điều kiện cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo

− Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho học sinh phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời

− Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế Chuyển từ lối học nặng về tiêu hoá kiến thức sang lối học coi trong việc vận dụng kiến thức

− Cá thể hoá việc dạy học

− Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học

− Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học

− Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự

Trang 20

phát triển của học sinh, theo cấp học, bậc học)

1.2.5 Đổi mới PPDH với sự hỗ trợ của CNTT

Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của CNTT CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực trong xã hội và là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển Trong giáo dục – đào tạo, việc đổi mới PPDH bằng cách sử dụng CNTT đang là một xu thế của thời đại, được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của ICT”

Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà nước rất coi trọng Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như: Nghị quyết CP của chính phủ về chương trình quốc gia đưa CNTT vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII, Luật giáo dục (1998) và Luật giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 29 của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010,…

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khoá VIII)

về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới đã yêu cầu ngành giáo dục phải “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS” [13]

Nghị quyết được cụ thể hóa bằng chỉ thị 58 – CT/TW (17/10/2000) của Bộ Chính trị, trong đó nêu rõ là cần phải: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội”

Chỉ thị 29 của Bộ Giáo dục - Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục đã quyết định chọn năm học 2008-2009 là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” tạo bước đột phá về

Trang 21

ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề phát triển ứng dụng CNTT trong những năm tiếp theo Chỉ thị cũng nêu rõ “CNTT là một phương tiện để tiến tới một

xã hội hóa học tập” Từ năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa chỉ tiêu thi đua về ứng dụng CNTT trở thành một tiêu chí để đánh giá và biểu dương các cơ sở giáo dục và các cá nhân đã có đóng góp tích cực về ứng dụng CNTT trong giáo dục

Hằng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức đánh giá, xếp hạng và khen thưởng các đơn vị, cơ sở giáo dục, các cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc ứng dụng CNTT và đánh giá xếp hạng website của các cơ

sở giáo dục

Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Chỉ thị 55/2008/CT–BGDĐT về “Tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012 (30/09/2008)

CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT và truyền thông

Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm

kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình

1.2.6 Công nghệ thông tin và truyền thông với dạy học Hóa học [38]

1.2.6.1 Tổng quan về công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học hoá học

Công nghệ thông tin và truyền thông ICT (Information & Communication technology) là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất đã, đang và sẽ xâm nhập, làm thay đổi mạnh mẽ tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Tuy nhiên, giáo dục dường như còn là lĩnh vực rất chậm thay đổi Người ta dạy đủ mọi thứ chỉ với bảng đen, phấn trắng, sách và vở ICT còn xa lạ với nhiều thầy cô không những ở bậc Tiểu học, Trung học mà ngay cả ở các trường đại học Nguyên nhân gây ra sự chậm đổi mới trong ngành Giáo dục không những vì thiếu máy tính, thiếu cơ sở hạ tầng

Trang 22

mà còn vì sự thiếu hiểu biết của giáo viên về lĩnh vực ICT

Hoá học là một khoa học của các biểu tượng Tất cả các kết quả nghiên cứu

về các chất và sự biến đổi của chúng đều phải được biểu diễn dưới dạng các phương trình phản ứng hoá học, các đồ thị, sơ đồ, biểu bảng,… Tất cả các biểu tượng đó đều

có thể được trình bày một cách trực quan nhờ ứng dụng ICT

Chương trình bồi dưỡng giáo viên thường xuyên chu kì 3 nhằm mục đích cung cấp cho các thầy, cô giảng dạy môn Hóa học những hiểu biết ban đầu về ICT,

có thể sử dụng trong dạy học, từ các thiết kế, trình diễn bài giảng Hóa học trên đa phương tiện đến cách khai thác thông tin trên mạng Internet, trao đổi thông tin qua Email Các kĩ năng cơ bản làm việc với máy vi tính, sử dụng một số phần mềm như

MS Word, MS PowerPoint, ChemOffice, ISIS/DRAW nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Hóa học

1.2.6.2 Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông với dạy học hóa học

Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng

có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mang, dạy học qua truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm”

Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều

có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà học sinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương

Trang 23

pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý

và tạo hứng thú nơi học sinh Thông qua bài giảng điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người

Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình

1.2.6.3 Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin

Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin so với phương pháp giảng dạy truyền thống là:

− Tốc độ xử lí, truyền đạt thông tin rất lớn, tiết kiệm thời gian, công sức của thầy và trò Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera… với âm thanh, văn bản, biểu đồ… được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan

− Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong

tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường Mô phỏng các khái niệm lí thuyết trừu tượng, những thí nghiệm hoá học độc hại hoặc diễn ra quá nhanh hay quá chậm, những thí nghiệm đòi hỏi lượng mẫu lớn như các nghiên cứu về phổ IR (hồng ngoại), XRD (nhiễu xạ tia X), NMR (cộng hưởng từ hạt nhân)…

− Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau

Trang 24

− Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu

để học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

− Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

− Người học hứng thú hơn, tự chủ hơn về thời gian và không gian Thiết lập môi trường học tập mới gần hơn với môi trường làm việc tương lai của học sinh Rèn khả năng hợp tác cho học sinh, sinh viên không những ở trong nước mà còn với các bè bạn nước ngoài qua Email

− Giá các thiết bị ICT ngày càng giảm Do vậy, ngày càng nhiều người có khả năng sở hữu được một máy tính cá nhân và kết nối internet toàn cầu

1.2.6.4 Một số khó khăn khi áp dụng ICT vào dạy học hóa học

Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ thông tin và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn

đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:

− Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với phần nhiều bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn

Trang 25

cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho học sinh

− Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn

né tránh Mặt khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, lối áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó

− Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó

− Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ

− Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu;

sử dụng không thường xuyên Công tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả

− Trở ngại về nhận thức của cán bộ quản lí giáo dục và của giáo viên

− Tình trạng hỗn loạn, không thể kiểm soát được của thông tin trên mạng Internet

Trang 26

− Giá các thiết bị ICT ngày càng giảm, nhưng vẫn còn cao so với thu nhập của người Việt Nam

1.3 Tự học qua mạng và lợi ích

1.3.1 Khái niệm tự học

Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001, tự học là:

“…quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo.”

8T Tự học là hoạt động có mục đích của con người, là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của Người

GS-TS Chu Hảo, thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ môi trường trả lời thẳng vào câu hỏi về kinh nghiệm của riêng ông trong việc tự học: “Mỗi khi muốn hiểu sâu đề tài nào, tôi tự yêu cầu mình phải viết một bài về vấn đề đó Vậy là tôi phải tìm tài liệu đọc, hỏi han, lắng nghe và phải đào sâu, nắm vững mới viết ra mạch lạc được Đó là chưa kể còn phải chuẩn bị các phụ lục tài liệu cho những chỗ khúc mắc, phức tạp phòng khi cần trình bày có thể bị chất vấn”

Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triễn lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện,… Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn,

các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao

1.3.2 Tự học qua mạng

Ngày nay cùng với sự bùng nổ của CNTT thì việc học qua mạng ngày càng trở nên phổ biến và vô cùng cần thiết Với hình thức học này người học sẽ chủ động tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm,…với sự hỗ trợ của máy tính và

Trang 27

mạng Internet

1.3.3 Lợi ích của tự học qua mạng

Bill Gates, ông chủ tập đoàn Microsoft, đã khẳng định: “Một trong những điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là sự xuất hiện của Internet Chính Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách địa lý đã bị san phẳng,… Một điều tuyệt vời khác là ngày càng có nhiều trường đại học trên thế giới đưa bài giảng lên Internet Người học có thể ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới để chọn bài giảng, chủ đề…, thậm chí là những giáo sư danh tiếng để học tập mà không phải trả tiền Đây sẽ là một sự thay đổi gốc rễ hệ thống giáo dục trong thời gian tới”

Với tác động của Internet, môi trường dạy học đã thay đổi rất nhiều:

− Yếu tố thời gian không bị ràng buộc chặt chẽ, xuất hiện khả năng giáo dục không đồng bộ

− Yếu tố không gian sẽ không còn ràng buộc, xuất hiện các lớp học ảo có quy

mô lớn

− Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu nữa Người học phải tìm cách truy tìm thông tin họ cần, đáng giá và xử lý thông tin để biến tri thức qua giao tiếp

− Thị trường giáo dục sẽ được toàn cầu hóa

− Mối quan hệ giữa người dạy và người học theo chiều dọc sẽ được thay thế bởi mối quan hệ theo chiều ngang Người dạy trở thành chuyên gia, hướng dẫn hay đồng nghiệp, người học phải thật sự chủ động thích nghi Nhóm trở nên rất quan trọng vì là môi trường để đối thoại, tư vấn và hợp tác

− Việc tự học qua mạng sẽ giúp người học không bị ràng buộc vào thời khóa biểu chung, một kế hoạch chung, có thời gian để suy nghĩ sâu sắc một vấn

đề, phát hiện ra những khía cạnh xung quanh vấn đề đó và ra sức tìm tòi học hỏi thêm Dần dần, cách tự học đó trở thành thói quen, giúp người học phát triển được tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo

− Việc đánh giá không còn dựa nhiều vào thi cử như trước nữa, mà dựa vào quá trình tiêu hóa tri thức, biểu hiện ở năng lực tiến hành nghiên cứu, thích nghi, giao tiếp, hợp tác,…

Trang 28

− Sự khác biệt giữa các loại hình và cấp bậc giáo dục sẽ ít quan trọng hơn trước đây vì giáo dục thường xuyên sẽ quan trọng nhất

− Với tính năng siêu liên kết và giao diện thân thiện, website sinh động, hấp dẫn, tiện dụng cho người học góp phần nâng cao hứng thú học tập

ự học qua mạng giúp người học có thể tìm kiếm nhanh chóng và dễ dàng một khối lượng lớn thông tin bổ ích Về mặt này, người học hoàn toàn thuận lợi

so với việc tìm kiếm trên sách báo

Tóm lại, có thể nói tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề”

(Thủ tướng Phạm Văn Đồng-1969) GV cần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự học

thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả Dạy cho HS biết cách tự học qua mạng chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại

1.4 Website

1.4.1 Khái niệm website [57]

Website còn gọi là trang web, trang mạng, là một tập hợp trang web, thường chỉ nằm trong một tên miền hoặc tên miền phụ trên World Wide Web của Internet Một trang web là tập tin HTML hoặc XHTML có thể truy nhập dùng giao thức HTTP Website có thể được xây dựng từ các tệp tin HTML (website tĩnh) hoặc vận hành bằng các CMS chạy trên máy chủ (website động)

Lịch sử phát triển của internet và www

Vào cuối những năm 60, Bộ Quốc phòng Mỹ đã tài trợ cho một nhóm sinh viên từ nhiều trường Đại học và Viện nghiên cứu của Mỹ để tham gia chương trình nghiên cứu về một cách thức truyền thông mới Kết quả nghiên cứu là sự ra đời của mạng ARPA (The Advanced Research Project Agency – tên của tổ chức tài trợ chi

Trang 29

phí nghiên cứu cho chương trình này) Sau đó, mạng này được các trường Đại học cùng nhau phát triển để trở thành một mạng chung cho các trường Đại học, gọi là ARPAnet – ông tổ của Internet ngày nay Ban đầu, mạng này được các trường Đại học sử dụng, sau đó Quân đội cũng bắt đầu tận dụng, và cuối cùng Chính phủ Mỹ quyết định mở rộng việc sử dụng mạng cho mục đích thương mại và cộng đồng Mạng Internet ngày nay đã trở thành một mạng liên kết các mạng máy tính nội bộ

và các máy tính cá nhân trên khắp toàn cầu

Cho đến ngày nay, mọi người đều công nhận rằng sự phát minh ra Internet là một trong những phát minh vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ XX và sự phát minh này có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế toàn cầu Sự ảnh hưởng của Internet lên nền kinh tế thế giới, lên cuộc sống của mỗi người trên thế giới sẽ còn tiếp tục trong nhiều năm tới, đặc biệt là ở các nước đang và chưa phát triển

World Wide Web là một hệ thống siêu văn bản có thể liên kết nhiều loại văn bản ở nhiều nguồn khác nhau World Wide Web được một kỹ sư người Anh là Tim Berners–Lee phát minh và hoàn thiện vào năm 1991 Xuất phát từ nhu cầu hệ thống lại những ghi chép lộn xộn của mình, nhanh chóng tìm ra và liên kết được với những tài liệu tham khảo tại bất cứ chỗ nào trên một văn bản, Tim Berners-Lee đã phát minh ra một phần mềm trên một giao diện văn bản có thể tạo ra các liên kết với các file dữ liệu trong máy tính của mình, sau đó phát triển tính năng này có thể liên kết với bất cứ file dữ liệu nào trong các máy tính trên mạng Internet Từ đó ra đời khái niệm trang Web là một loại siêu văn bản có địa chỉ cụ thể và duy nhất, trên trang web có thể đặt các liên kết tới các trang web khác một cách đơn giản và tiện lợi Tập hợp các trang web ở khắp nơi trên thế giới thông qua mạng Internet tạo thành World Wide Web

Ưu thế của website so với sách giấy và sách điện tử (e–book):

+ Truy cập được mọi lúc, mọi nơi có máy tính và có kết nối internet + Nhiều hình ảnh, phim minh họa rõ nét, hấp dẫn

+ Khả năng lưu trữ lớn, có thể chứa rất nhiều thông tin, hình ảnh, phim,… + Có sự liên kết với các trang web học tập khác

Trang 30

+ Có thể tạo ra sự tương tác học tập cao giữa thầy – trò, trò – trò, từ đó việc học tập trở nên chủ động, sáng tạo, thầy trò có thể chia sẻ tài liệu một cách dễ dàng và thuận tiện

+ Muốn truy cập được internet phải có máy tính và mạng internet, điều này hơi bất tiện và khó khăn đối với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa và những nơi chưa có internet

+ Việc sử dụng hiệu quả hay không còn phụ thuộc và trình độ tin học của mỗi người vì vậy cần tốn nhiều thời gian để hướng dẫn học sinh cách sử dụng internet cho thật hiệu quả

1.4.2 Các phần mềm thiết kế website

1.4.2.1 Macromedia Dreamweaver 8

Dreamweaver là một chương trình Visual Editor chuyên nghiệp để tạo và quản lý các trang web Dreamweaver cung cấp các công cụ phác thảo trang web cao cấp, hỗ trợ các tính năng DHTML (Dynamic HTML) mà không cần viết các dòng lệnh giúp chúng ta không biết lập trình web cũng có thể thiết kế được các trang web động một cách dễ dàng, trực quan Với Dreamweaver chúng ta có thể dễ dàng nhúng các sản phẩm của các chương trình thiết kế web khác như Flash, Fireworks, Shockwave, Generator, Authorwave vv

Các tính năng biên soạn hình ảnh của Dreamweaver cho phép ta nhanh chóng bổ sung các mã thiết kế và các tính năng vào các trang mà không cần viết một dòng mã Với Dreamweaver chúng ta có thể bổ sung các đối tưọng Flash mà chúng ta trực tiếp tạo ra trong Dreamweaver như: Flash button, Flash Text, Flash Movie

Dreamweaver hỗ trợ rất mạnh việc đưa các tập tin Flash lên trang Web, cụ thể ta có thể đưa tập tin SWF lên trang Web một cách dễ dàng và thuận tiện Ngoài

Trang 31

ra chúng ta có thể tạo và chỉnh sửa hình ảnh trong Macromedia Firework, sau đó nhập trực tiếp vào Dreamweaver và mã nguồn HTML tự động cập nhật

Với Dreamweaver chúng ta có thể quản lý các Local và Remote site giúp cho việc quản lý các trang web trong các site cục bộ và các website điều khiển từ xa có thể đồng bộ Ngoài ra Dreamweaver còn cho phép chúng ta chỉnh sửa trực tiếp HTML Với Quick Tag Editor chúng ta có thể nhanh chóng bổ sung hoặc xóa bỏ một HTML mà không cần thoát khỏi cửa sổ tài liệu Chế độ soạn thảo trang web bằng HTML giúp chúng ta có thể thiết kế trang trực tiếp bằng ngôn ngữ HTML

Dreamweaver còn hỗ trợ các HTML Styles và Cascading Style Sheet giúp chúng ta định dạng trang web nhằm tăng tính hấp dẫn khi duyệt các trang web này Vùng làm việc của chương trình Deamweaver rất linh động và dễ sử dụng gồm các thành phần như sau: Document, Launcher, Object Palette, Property Inspector, Floating Palette và các context menu(menu ngữ cảnh) để mở các thành phần này chúng ta có thể vào menu Window →chọn tên của thành phần cần hiển thị

Hình 1.1 Giao diện Macromedia Dreamweaver 8

1.4.2.2 1TMacromedia Flash Professonal 8

Macromedia Flash MX 2004 là một phần mềm ứng dụng bao gồm các công

cụ được sử dụng để tạo ra các hoạt hình, đồ hoạ vectơ… và các Website Flash tạo

Trang 32

ra các tập tin swf có kích thước nhỏ và tương thích với nhiều môi trường và người dùng có thể xuất ra các tập tin với nhiều phần mở rộng nhau để thuận tiện cho người

sử dụng như: exe, gif, mov…

Flash là một ứng dụng được thiết kế tốt để xây dựng các tập tin đa phương

tiện Có thể đưa vào nhiều loại media vào trong Flash bao gồm: văn bản, đồ hoạ, video, pdf và âm thanh…

Flash là một phần mềm chuyên dụng để thiết kế hoạt hình động cho các trang web Flash cho phép thiết kế hoạt hình với những kĩ thuật đơn giản, ít tốn thời gian

và cho hình ảnh đẹp vì vậy ngoài việc được dùng trong các thiết kế hoạt hình cho web thì Flash còn được dùng vào nhiều mục đích khác nhau

Một mặt mạnh nữa của Flash là Flash xử dụng một ngôn ngữ kịch bản để lập trình có tên là ActionScript Đây là một ngôn ngữ lập trình khá mạnh cho phép tạo

ra những ứng dụng tương đối phức tạp Vì vậy Flash được dùng nhiều trong web nhờ có khả năng tích hợp rất mạnh với Dreamweaver

Trong hoá học Flash cho phép thiết kế nhiều dạng ứng dụng khác nhau Từ việc tạo ra các hoạt hình minh hoạ các thí nghiệm khó hoặc là không có điều kiện làm thí nghiệm, làm các ứng dụng nhỏ, các hình động… Tập tin swf còn có thể tích hợp được vào trong Powerpoint nên rất thuận tiện cho giáo viên khi thiết kế bài giảng bằng giáo án điện tử

Trang 33

Hình 1.2 Giao diện Macromedia Flash Professonal 8

1.4.4.3 Adobe photoshop

Adobe Photoshop là một phần mềm đồ họa chuyên dụng của hãng Adobe Systems ra đời vào năm 1988 trên hệ máy Macintosh Photoshop được đánh giá là phần mềm dẫn đầu thị trường về sửa ảnh bitmap và được coi là chuẩn cho các ngành liên quan tới chỉnh sửa ảnh Từ phiên bản Photoshop 7.0 ra đời năm 2002, Photoshop đã làm lên một cuộc cách mạng về ảnh bitmap Phiên bản mới nhất hiện nay là Adobe Photoshop CS5 (Version 12.0)

Ngoài khả năng chính là chỉnh sửa ảnh cho các ấn phẩm, Photoshop còn được sử dụng trong các hoạt động như thiết kế trang web, vẽ các loại tranh (matte painting và nhiều thể loại khác), vẽ texture cho các chương trình 3D gần như là mọi hoạt động liên quan đến ảnh bitmap

Adobe Photoshop có khả năng tương thích với hầu hết các chương trình đồ họa khác của Adobe như Adobe Illustrator, Adobe Premiere, After After Effects và Adobe Encore

Hình 1.3 Giao diện 1TMacromedia Flash Professonal 8

Hình ảnh

Do hình ảnh được tạo từ nhiều nguồn khác nhau nên Photoshop có thể nhận diện được nhiều dạng thức file khác nhau (dạng thức file được thể hiện thông qua

Trang 34

phần mở rộng của tên file) Đồng thời sản phẩm được tạo ra từ Photoshop cũng có thể lưu lại dưới những dạng thức file khác nhau để các chương trình ứng dụng khác

sử dụng được

+ psd là file được tạo bởi chương trình Photoshop

+ jpg (Joint Photographic Experts Group) là dạng thức file nén có tổn thất (hình ảnh được phục hồi không được đầy đủ như hình ảnh ban đầu), loại file này được dùng khá nhiều trong Photoshop và cũng thường được dùng trong trang Web)

+ png là dạng thức file nén không tổn thất “lossless” và có thể hiện thị dần khi tải xuống

+ gip (Graphic Interchange Format) là một dạng thức file nén thường dùng trong trang Web)

+ bmp thường là sản phẩm của chương trình Paint trong Microsoft Windows

+ tif (Tagged Image File Format) là loại file dùng được trên máy Macintosh và máy PC

1.4.4.4 Tester 1.0

Ngoài tính năng làm bài trắc nghiệm, Tester còn nổi bật với tính năng tạo và sửa đề thi Để thực hiện việc này, chúng ta nhấp nút “Tạo và sửa bài tập trắc nghiệm”, tại cửa sổ này, để sửa một bộ đề đã có sẵn trên máy, chúng ta nhấp “Mở File” và chọn tập tin cần sửa Tại đây, chương trình cho phép chúng ta sửa nội dung câu hỏi, câu trả lời đến đáp án của nó, chúng ta có thể cập nhật thêm, xóa câu hỏi Ngoài ra, Tester còn cho phép xuất file làm trắc nghiệm dưới dạng HTML, ta có thể dùng file này để đưa lên web, giúp học sinh có thể làm bài trực tiếp trên web

Trang 35

Hình 1.4 Giao diện Tester 1.0

1.4.4.5 Sothink SWF Quicker 4.5

Phần mềm này có tính năng chỉnh sửa file SWF tuyệt vời nhất, trình tạo Flash đa năng để tối ưu hoá khả năng của chúng ta! Sothink SWF Quicker cho chúng ta tạo Flash (*.swf) với giao diện người dùng thân thuộc và sự phong phú của những tính năng hữu ích Nó hỗ trợ định hình thiết kế, tạo chuyển động giữa sáng tác, chỉ dẫn, lớp mặt nạ, lớp và tác động âm thanh, khung nhãn, xác lập tên mẫu phim và hơn thế nữa Chương trình bao gồm hơn 80 hiệu ứng động tích hợp sẵn, được tuỳ biến hơn và lưu lại như những hiệu ứng mới

Những tính năng của SWF Quicker:

+ Cung cấp cơ chế tách đối tượng, tách Điểm và Canh chỉnh để canh chỉnh các đối tượng

+ Hỗ trợ tạo hiệu ứng chuyển vị hình dạng (chuyển từ dạng này sang dạng khác)

Trang 36

+ Hỗ trợ tạo hiệu ứng chuyển ảnh (chuyển một ảnh này sang ảnh khác) + Cung cấp các mẫu Slide Show, Nút nhấn đường, biểu ngữ, album flash được xây dựng khác nhau

+ Cung cấp một nhóm các công cụ cho chúng ta tạo đồ hoạ và chữ dạng vector theo cách nghĩ sao làm vậy

+ Hỗ trợ nhập các định dạng media khác nhau như AI, MP3, MPEG, AVI, MOV, vvv…

+ Hỗ trợ đầy đủ cú pháp của Flash ActionScript 2.0 để quản lý các

Trang 37

Hình 1.6 Giao diện Math Type 6.0

8T

Tính năng và sự tiện lợi:

− 8TNhiều ký tự, Khuôn mẫu, và Font

Nhiều font hơn: MathType có hơn trăm biểu tượng và khuôn mẫu trong trình soạn công thức toán học Bên cạnh font toán học độc quyền Euclid™, chúng ta có thể sử dụng tới 1000 font ký tự toán học sẵn có trong máy tính, cũng nhiều như khi chúng ta download từ Internet

Tìm kiếm ký tự: Hộp thoại chèn ký tự MathType cho phép chúng ta khám phá những ký tự cho phép và thêm chúng với một cú click hay gõ phím

− 8TLàm việc với nhiều ứng dụng

Nhiều ứng dụng: Đối với Microsoft Word và PowerPoint, sử dụng MathType

để thêm phương trình vào QuarkXPress và sự xếp đặt của Adobe InDesign, bảng công tác Excel, trang HTML, nhiều ứng dụng và loại tài liệu

Làm việc với Wikipedia: Wikipedia, từ điển bách khoa toàn thư phổ biến, chứa đựng 1000 trang với phương trình toán học Nếu có dịp chúng ta tìm kiếm trong Wikipedia, chúng ta có thể sao chép phương trình có liên quan để sử dụng trong công việc của riêng mình Chúng ta có thể sử dụng MathType để tạo ra những phương trình mới vào Wikipedia

Trang 38

Có nhiều cách để làm: MathType có thể thêm nhiều phương trình để bất cứ ứng dụng vào có một dòng Insert Object hay phía trong và chúng ta có thể dán hay thả một đối tượng đồ họa

− 8TTiết kiệm thời gian

Lưu biểu thức vào trong Toolbar: Thả phương trình hay biểu thức sử dụng gần đây vào thanh công cụ MathType và chúng ta có thể chèn sau với chỉ một cú click hay một phím bấm

Phím tắt: MathType cho chúng ta tinh chỉnh phím tắt cho việc ảo hóa mọi ký

tự, khuôn mẫu và lệnh nào đó

Kết quả tốt hơn

Màu sắc: Tô màu một phương tình có thể làm cho chúng nổi bật Sử dụng màu để đánh dấu phần của một phương trình và chú trọng tới sự chú ý của sinh viên vào chúng Chỉ ra những thay đổi trong từng bước trong thủ tục đa bậc.1.4.4.7 CuteFTP 8.0 Professional

CuteFTP Professional 8.0 là một trong những trình FTP Client số một hiện nay mà ít có trình nào theo kịp với các tính năng và hiệu quả làm việc khá hay:

− Kết nối: hỗ trợ nhiều kết nối khác nhau như FTP, FTPS, HTTP, HTTPS, SFTP, Sock 4, Sock 5, hay EPSV và EPRT (IPv6) Chúng ta có thể kết nối vào nhiều server cùng một lúc hay nhiều kết nối đến cùng một server (vào Tools – Global Connections để tăng số lần kết nối cùng một lúc tuỳ ý) và dễ dàng lưu lại thông tin của nhiều server để quản lý với Site Manager

− Truyền tải: Hỗ trợ nhiều dạng nén khác nhau như ZIP, CAB, GZIP/TARBALL CuteFTP Pro có rất nhiều tuỳ chọn để người dùng chọn lựa như chế độ tự động, tự động đổi tên, tự động dò tìm chế độ truyền tải dữ liệu (PASV/PORT) hay kiểu dữ liệu (ASCII / Binary) Khi truyền tải nhiều tập tin hay thư mục, CuteFTP cho phép chúng ta quản lý việc truyền tải (upload/download) trên từng tập tin hay tất cả, hoặc chế độ resume để việc truyền tải không bị gián đoạn nếu ngưng giữa chừng, chúng ta có thể tiếp tục upload/download tập tin đó vào tuần sau cho đến khi hoàn tất

Trang 39

− Quản lý: CuteFTP Pro dành cho cả người dùng chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư

vì chúng ta có thể sử dụng thông qua giao diện thân thiện của chương trình hoặc dùng tập lệnh Các tùy chọn khá nhiều trong phần Tools – Options Sau khi đăng ký với các nhà cung cấp dịch vụ hosting, chúng ta sẽ nhận được các thông số cấu hình thường gọi là account Nhìn chung gồm ba thông số cơ bản sau:

+ Host name: là địa chỉ do nhà cung cấp dịch vụ đặt ra, thông thường nằm trong phần Help của một account Ví dụ: vietnamnet.net hay hoahoc.somee.com, lbvmvt.web1000.com,

+ User Name: tên đăng nhập mà chúng ta đăng ký với nhà cung cấp + Passoword: mật khẩu tương ứng

Để upload dữ liệu lên hosting thì chúng ta nhấn chọn menu Net và chọn mục FTP connect Chúng ta sẽ thấy tên của account đã cấu hình ở phần trên, hãy chọn

nó Sau đó nhấn nút Connect để Total Commander kết nối với nhà cung cấp Nếu thành công chúng ta sẽ thấy được các dữ liệu trên hosting ở một nữa giao diện của chương trình Với cách sử dụng giống hệt như chương trình NC (Norton Commander) sẽ tạo cho chúng ta cảm giác như đang thao tác trên ổ cứng của mình Rất đơn giản, chúng ta hãy chọn thư mục hay tập tin cần upload và nhấn F5, Total Commander sẽ chuyển chúng lên host của nhà cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng

Hình 1.7 Giao diện CuteFTP 8.0 Professional

Trang 40

1.4.4.8 Ultra Video Splitter 5.2

Ultra Video Splitter là một công cụ giúp chúng ta cắt, tách một đoạn video lớn ra thành các đoạn video nhỏ, hoặc chúng ta có thể lựa chọn điểm bắt đầu và kết thúc bất kỳ trong một cuốn film dài để xem lại đoạn film yêu thích

Hình 1.8 Giao diện Ultra Video Splitter 5.2

Hỗ trợ rất nhiều định dạng video như AVI, Divx, XviD, MPEG, WMV, ASF, RM, MOV, 3GP, MP4 Sử dụng phần mềm phát video lèm theo, chúng ta có thể cắt đoạn video ra và lưu chúng thành các định dạng AVI, DivX, MPEG, VCD, SVCD, DVD, WMV

Cách sử dụng Ultra Video Splitter cũng cực kỳ dễ dàng Nhấp vào nút

“Open” để chọn file video cần cắt, sử dụng thanh trượt để đi đến đầu đoạn video cần cắt và nhấp vào nút “Mark Start Point” để đánh dấu đầu đoạn video, sau đó chuyển thanh trượt đến cuối đoạn video cần cắt và nhấp vào nút “Mark End Point”

để đánh dấu điểm cuối cần cắt, lựa chọn định dạng xuất, dài rộng của khung hình, tốc độ thể hiện khung hình/giây và cuối cùng là nhấp vào nút “Split” để hoàn tất quá trình cắt Ultra Video Splitter sẽ tự động đặt tên và lưu file video vừa cắt xong vào

thư mục của file video gốc

Ngày đăng: 30/01/2013, 11:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.4 . Giao diện Tester 1.0  1.4.4.5. Sothink SWF Quicker 4.5 - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 1.4 Giao diện Tester 1.0 1.4.4.5. Sothink SWF Quicker 4.5 (Trang 35)
Hình 1.6. Giao diện Math Type 6.0 - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 1.6. Giao diện Math Type 6.0 (Trang 37)
Hình 2.5.  Giao diện thẻ Advance trong Dreamweaver - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 2.5. Giao diện thẻ Advance trong Dreamweaver (Trang 69)
Hình 2.19. Layer đầu tiên trong phần mềm orbitan - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 2.19. Layer đầu tiên trong phần mềm orbitan (Trang 79)
Hình 2.25 . Giao diện bảng tuần hoàn hoàn chỉnh - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 2.25 Giao diện bảng tuần hoàn hoàn chỉnh (Trang 85)
Hình 2.27 . Giao diện phần Video dạy học trong trang Bài tập - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 2.27 Giao diện phần Video dạy học trong trang Bài tập (Trang 87)
Hình 2.37. Giao diện trang Liên hệ - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 2.37. Giao diện trang Liên hệ (Trang 95)
Hình 3.2. Đồ thị đường lũy tích 2 bài kiểm tra lớp TN2 và ĐC2 - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 3.2. Đồ thị đường lũy tích 2 bài kiểm tra lớp TN2 và ĐC2 (Trang 116)
Hình 3.6. Đồ thị đường lũy tích 2 bài kiểm tra lớp TN6 và ĐC6 - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 3.6. Đồ thị đường lũy tích 2 bài kiểm tra lớp TN6 và ĐC6 (Trang 118)
Hình 3.9. Đồ thị tổng hợp kết quả 2 bài kiểm tra lớp TN1 và ĐC1 - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 3.9. Đồ thị tổng hợp kết quả 2 bài kiểm tra lớp TN1 và ĐC1 (Trang 120)
Hình 3.11 . Đồ thị tổng hợp kết quả 2 bài kiểm tra lớp TN3 và ĐC3 - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 3.11 Đồ thị tổng hợp kết quả 2 bài kiểm tra lớp TN3 và ĐC3 (Trang 121)
Hình 3.13. Đồ thị tổng hợp kết quả 2 bài kiểm tra lớp TN5 và ĐC5 - Xây dựng website chương nguyên tử, chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học
Hình 3.13. Đồ thị tổng hợp kết quả 2 bài kiểm tra lớp TN5 và ĐC5 (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w