Do đó, thể chế kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa được hiểu là thể chế kinh tế thị trường, trong đó các thiết chế,công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụn
Trang 1I Thể chế kinh tế và thể chế kinh tế thị trường
- Thể chế kinh tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại bên cạnhcấc bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế giáo dục… thể chế kinh tế nóichunglà một hệ thống quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế,các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế
- Thể chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thốngcác thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch,trao đổi trên thị trường
- Kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo các quyluật của kinh tế thị trường vừa chịu sự chi phối của các yếu tố đảm bảo tínhđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, thể chế kinh
tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa được hiểu là thể chế kinh tế thị trường, trong đó các thiết
chế,công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng về phát triểnlực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2 Mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Mục tiêu cơbản của hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta là làm cho các thể chế phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tếthị trường, thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triểnnhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa Mục tiêu này yêu cầu phải hoàn thành cơ bản vào năm 2020
- Những nămtrước mắt cần đạt các mục tiêu:
+ Một là,từng bước xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, bảo đảm cho nền kinh tế thịtrường định hướng
xã hội chủ nghĩa phát triển thuận lợi Phát huy vai trò củađạo của kinh tế nhà nước đi đôi với phát triển nhanh mạnh mẽ vác thành phầnkinh tế và các loại hình doanh nghiệp Hình thành một số tập đoàn kinh tế, cáctổng công ty đa sở hữu, áp dụng mô hình quản trị hiện đại, có năng lực cạnhtranh quốc tế
+ Hai là, đổimới cơ bản mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệphành chính
+ Ba là, pháttriển đồng bộ, đa dạng các loại thị trường cơ bản thống nhất trong cả nước,từng bước liên thông với thị trường khu vực và thế giới
+ Bốn là,giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa,xã hội đảm bảo tiến
bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
Trang 2+ Năm là,năng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước và phát huy vai trò của Mặttrận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong quản lý, pháttriển kinh tế - xã hội
3 Quanđiểm về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Nhậnthức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tếthị trường, thông
lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, bảo đảm địnhhướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
- Bảođảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế, giữa các yếutố thị trường và các loại thị trường; giữa thể chế kinh tế với thể chế chínhtrị, xã hội; giữa nhà nước, thị trường và xã hội Gắn kết hài hòa giữa tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệmôi trường
- Kế thừa có chọn lọcthành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm tổng kếttừ thực tiễn đổi mới ở nước ta, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội
- Chủđộng tích cực giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, bức xúc,đồng thời phải có bước
đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệm
- Nângcao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nước, pháthuy sức mạnh của
cả hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
II.* Khái niệm kinh tế thị trường: - Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế trong đó các yếu tố đầu vào và đầu ra phải đều phải thong qua thị trường - Đại hội IX nêu lên : nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, được gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng XHCN - Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN: là một kiểu tổ chức kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa trên cơ sở được dẫn dắt và chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất CNXH thể hiện trên 3 mặt : sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối
Năm 1986, Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu mốc lịch sử quan trọng khởi xướng công cuộc đổi mới kinh tế
ở nước ta Từ mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đây tạo một bước ngoặt lớn trong nền Kinh Tế Việt Nam Đảng ta đã xác định, chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, có tác động to lớn trong việc động viên nhân dân xây dựng kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinhh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
Trang 3động theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Sau khi giành độc lập, nền kinh tế bao cấp không còn phù hợp với nước ta, trong khi đó nền kinh tế thị trường lại thể hiện rõ những ưu điểm của nó, chính vì vậy chuyển cơ chế kinh tế sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước là một tất yếu khách quan Thực tế cho thấy các chính sách cải cách kinh tế gần đây ở Việt Nam đã ảnh hưởng tích cực tới cấu trúc và sự tăng trưởng kinh tế Các biện pháp kinh tế như kiểm soát lạm phát, giảm dần thiếu hụt ngân sách, thực thi các chính sách tiền tệ thắt chặt…kết hợp với các biện pháp tự do hoá như giảm bớt sự can thiệp của chính phủ đối với các hoạt động của kinh tế, đã tạo nên những chuyển biến đáng mừng về tốc độ tăng trưởng và ổn định môi trường kinh tế Tuy nhiên nền kinh tế nước ta còn non trẻ, chưa có tiền lệ nào trong lịch sử về quá độ từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường nên công cuộc đôỉ mới còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong việc nhận thức một cách đúng đắn và có những hướng đi phù hợp
III 1-Mặt tích cực của kinh tế thị trường Hoạt động kinh doanh thương mại đã đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Thị trường thường được qui định là nơi mà người bán và người mua tiến hành trao đổi và mua bán hàng hoá, hoặc là lĩnh vực lưu thông hàng hoá Trongtrường hợp xuất phát từ yêu cầu tiếp thị doanh nghiệp để nghiên cứu thị trường, thì hạt nhân của nó là việc nghiên cứu người mua, cũng tức là việc nghiên cứu hoạt động mua sắm của khách hàng Đây là điểm xuất phát để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tiếp thị và sắp xếp các hoạt động sản xuất, kinh doanh tương ứng Căn cứ vào đặc điểm của khách hàng và mục đích mua sắm, thị trường được phân ra thành hai hình thái cơ bản là thị trường người tiêu dùng và thị trường nghành sản xuất Thị trường người tiêu dùng hợp thành bởi tất cả mọi cá nhân và gia đình mua sắm hàng hoá để thoả mãn nhu cầu cá nhân, là thị trường cung cấp hàng tiêu dùng cuối cùng, trực tiếp cho cá nhân, mà thị trường ngành sản xuất và toàn bộ hoạt động kinh tế thương mại phải hướng vào để phục vụ Qúa trình doanh nghiệp phục vụ người tiêu dùng và thực hiện kế hoạch tiếp thị, là quá trình cuối cùng thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá Nghiên cứu thị trường người tiêu dùng là cơ sở của việc nghiên cứu toàn bộ thị trường Nếu doanh nghiệp không chú trọng việc nghiên cứu hoạt động mua sắm của người tiêu dùng, mà chỉ phiến diện dùa vào số liệu thống kê tiêu thụ hàng hoá, thì kết quả của việc điều tra và dự báo thị trường sẽ khó sát hợp với thực tế, việc lập kế hoạch tiếp thị trên cơ sở này cũng rất khó có thể đạt tới thành công So với nhu cầu mua sắm trên thị trường nghành sản xuất, nhu cầu mua sắm trên thị trường người tiêu dùng có các đặc điểm đòi hỏi công tác tiếp thị doanh nghiệp phải nghiên cứu để thích ứng Nhu cầu mua sắm trên thị trường người tiêu dùng có tính đa dạng Người tiêu dùng với số lượng đông đảo và nhiều khác biệt lớn, do khác nhau về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, trình độ giáo dục, khu vực cư trú, dân téc, tôn giáo nên nhu cầu đa dạng và không ngừng biến đổi về qui mô, kết cấu và tầng líp Nhằm phục vụ tốt hơn cho những người tiêu dùng khác nhau và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần trên cơ sở tiến hành phân nhỏ thị trường người tiêu dùng và căn cứ vào đặc điểm của mình để lùa chọn thị trường mục tiêu Hoạt động mua sắm trên thị trường người tiêudùng có tính dẫn dắt cao So với nhu cầu mua sắm trên thị trường nghành sản xuất, nhu cầu mua sắm trên thị trường người tiêu dùng có tính lùa chọn tương đối lớn trong việc mua sắm sản phẩm gì, nhãn hiệu hàng hoá gì và mua sắm khi nào, nơi nào, người tiêu dùng dễ chịu sự
Trang 4ảnh hưởng của tiếp thị doanh nghiệp, làm cho sức mua phát sinh chuyển dịch Người tiêu dùng khi mua sắm nhiều loại hàng hoá, nhất là khi mua sắm các hàng hoá phức tạp, sử dụng lâu ngày, giá trị lớn hoặc sản phẩm mới, cần được người bán tuyên truyền, giới thiệu và góp ý Sau nữa, nhiều mặt hàng tiêu dùng
có thể thay thế lẫn nhau, tính co dãn nhu cầu của các hàng hoá này lớn, yêu cầu của người tiêu dùng đối với qui cách chất lượng cũng không nghiêm khắc như nhà sản xuất, quyết định mua sắm của họ trên mức độ lớn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của người bán Và người tiêu dùng nói chung đưa ra quyết định mua sắm một cách tự phát, phân tán Vì vậy, doanh nghiệp có thể thông qua việc hoạch định chiến lược tiếp thị thích đáng để dẫn dắt hữu hiệu hành vi mua sắm của người tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta ngày nay, khi mà đại bộ phận hàng hoá cung vượt quá cầu, tiêu thụ sản phẩm trở thành một vấn đề cực kỳ quan trọng và người tiêu dùng được đặt lên vị trí hàng đầu Nhờ có
sự phát triển và sức sản xuất mới và nhu cầu mới, nền kinh tế thị trường có xu hướng vươn lên thoả mãn nhu cầu không ngừng biến đổi của các tầng líp dân cư trong xã hội cho phù hợp với lối sống luôn luôn đổi mới của họ Những năm qua ở Việt Nam cho thấy các sản phẩm có tính cạnh tranh cao ở trong
và ngoài nước chủ yếu là hàng nông sản, thuỷ sản, trái cây đặc sản, du lịch Nghĩa là dùa vào lợi thế tài nguyên thiên nhiên hoặc là dùa vào lao động dồi dào, giá nhân công rẻ hoặc dùa vào kỹ thuật cổ truyền tinh xảo
2.- Những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường 2.1- Tác động của hoạt động kinh tế tới yếu tố văn hoá Ngày nay không chỉ các nhà kinh tế mà các nhà văn hoá cũng đều thống nhất cho rằng văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế thương mại Tác động của văn hoá tới kinh tế
là hết sức rộng lớn và phức tạp Ngược lại kinh tế của một nước cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hoá của nước đó Trong thời mở cửa tiến tới hội nhập các nước, Việt Nam cũng như các nước khác mở cửa để thu nhận những tri thức, những kinh nghiệm và kiến thức khoa học kỹ thuật và dường như trong tinh thần hoà nhập nhưng không hoà tan vẫn còn một số tương đối lớn bị sự ảnh hưởng của nền văn hoá không phù hợp với văn hoá phương Đông Đó là do sự học hỏi nhưng không có chọn lọc Và cuốn theo cơn lốc đó thì tình trạng bệnh tật của Việt Nam cũng tăng lên khi du lịch phát triển đồng thời tình trạng buôn bán lậu, trái phép cũng gia tăng một cách đáng kể Một điểm đáng phải lưu ý nữa là trong giai đoạn này khi mà mục tiêu của chúng ta là xuất siêu thì hàng nhập khẩu nên được xem xét Nhưng trên thực
tế các mặt hàng nhập khẩu dường như rất dễ để có thể đưa vào thị trường Việt Nam Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến kim ngạch suất khẩu của nước ta
IV
."Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống" Sau đó, năm
2003 chương trình "Tri thức vì sự phát triển" đã đưa ra một khái niệm rộng hơn: "Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt" Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo
Trang 5ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống"
Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh tế Đó
là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển" Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh tế dựa vào công nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau"
Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21 Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là thị trường chất xám Trong đó, con người là vốn quý nhất Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, công nghệ thông tin được ứng dụng một cách rộng rãi Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức, phải biết vận dụng, quản lý tri thức mới có thể cạnh tranh và đồng thời đảm bảo phát triển bền vững
Có người còn cho rằng: Kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hóa, trong đó công thức hoạt động cơ bản Tiền-Hàng-Tiền được thay thế bằng Tiền- Tri Thức- Tiền và vai trò quyết định của Tri thức
Vậy kinh tế tri thức là gì? Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống
2 Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức:
Thứ nhất, nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó khoa học đã trở thành một lực lượng sản
xuất trực tiếp.
Mặc dù trước kia khoa học cũng đã tác động vào quá trình sản xuất nhưng đó mới chỉ là gián tiếp Tri thức chỉ góp phần tạo ra các công cụ lao động ngày càng tinh xảo, từ thấp đến cao, từ công cụ cầm tay đến công cụ cơ khí, điện tử Bằng công cụ con người làm ra sản phẩm Còn ngày nay khoa học đã tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất bằng việc tạo ra công nghệ cao, tạo ra phương pháp tổ chức quản lý khoa học ngày một hiện đại nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, đổi mới sản phẩm.
Đặc biệt là khoa học có thể trực tiếp làm ra sản phẩm hoàn toàn mới, như sản phẩm phần mềm trong công nghệ thông tin Ngay trong kỹ thuật điện tử tuy đã có trong cách mạng công nghiệp, nhưng chưa trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì hiện nay công nghệ thông tin với mạng Internet, siêu xa lộ thông tin thật sự đã do khoa học trực tiếp làm ra
Trong sinh học, công nghệ gien đã trực tiếp tạo ra sinh vật như cho ra đời chú cừu Dolly, tạo ra những bộ phận cơ thể của con người để thay thế những bộ phận đã hư hỏng, thậm chí công nghệ gien còn có thể tạo ra cả một con người nhân tạo cụ thể mà nhân loại đang lo ngại và ngăn ngừa.
Thứ hai, nếu trong các nền kinh tế trước, vốn và lao động là quan trọng nhất thì trong kinh tế tri
thức, tri thức và tài nguyên thông tin (yếu tố tinh thần) là quan trọng nhất Nói về tầm quan trọng
Trang 6của tri thức trong sản xuất, so với sự chuyển biến về nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, thì sự chuyển biến từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức là có ý nghĩa sâu sắc và trọng đại hơn Trước hết, đó là sự chuyển biến từ một nền sản xuất dựa vào vốn, tài nguyên, lao động là chính, sang nền sản xuất dựa vào trí tuệ con người là chính, cũng tức là từ lực lượng sản xuất vật chất là chủ yếu sang lực lượng sản xuất tinh thần là chủ yếu Trước kia, người ta cho rằng chỉ có lao động
và vốn là các yếu tố của sản xuất, còn tri thức, công nghệ, giáo dục là các yếu tố bên ngoài của sản xuất, chỉ có ảnh hưởng tới sản xuất Nay nhiều nhà kinh tế thừa nhận tri thức là yếu tố bên trong của hệ thống kinh tế, coi tri thức là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của sản xuất(vốn, lao động và tri thức) Vì vậy mà về đầu tư, trước kia đầu tư vào vốn là quan trọng hơn cả thì nay đầu tư vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế Trong các nước công nghiệp phát triển đầu tư vô hình như giáo dục, đoà tạo, vào khoa học công nghệ, văn hoá, việc tạo ra nguồn lực con người đã tăng nhanh hơn đầu tư hữu hình.
Đặc biệt trong nền kinh tế tri thức, khi tri thức đã trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất thì
nó lại có đặc điểm khác là các yếu tố vốn và lao động ở chỗ: người có kiến thức nếu trao cho người khác thì kiến thức của anh ta không bị mất đi mà còn được sử dụng tốt hơn Càng trao cho nhiều người thì khả năng sử dụng của nó để tạo ra của cải, lợi ích càng nhiều hơn Mặt khác chi phí cho việc phổ biến tri thức ra công chúng để làm tăng số lượng người sử dụng lại là không đáng kể Không phải như các nguồn lực khác đã bị mất đi khi được sử dụng, còn tri thức và thông tin lại có thể được chia sẻ mà không bị mất đi, trên thực tế lại tăng lên khi sử dụng Nền kinh tế tri thức do
đó là một nền kinh tế dư dật chứ không phải khan hiếm.
Hơn nữa, nền kinh tế tri thức có sự thay đổi trên mọi lĩnh vực, trước hết là lĩnh vực khoa học và công nghệ Từ những năm 1980 đến nay, toàn bộ kho tri thức của nhân loại cứ 5 năm lại tăng gấp đôi Từ cuối những năm 70 đến nay, hằng năm có khoảng 300.000 phát minh khoa học-công nghệ, trung bình mỗi ngày có tới 800-900 phát minh Khoảng cách giữa nghiên cứu, phát minh khoa học với sáng chế công nghệ, sản xuất ra được sản phẩm công nghệ mới ngày càng rút gọn Các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hết sức dồn dập, thập kỷ sâu nhanh hơn thập kỷ trước
Những nước phát triển có hướng đi vào kinh tế tri thức cũng không thể chậm trễ được Sự phát triển này có cái khác hai cuộc cách mạng trước ở chỗ, mọi nước đều có thể cùng nhau khởi động từ đầu
và song song cùng tiến Các nước đang phát triển vừa phải hoàn thành các nhiệm vụ của cuộc cách mạng công nghiệp lần hai, vừa có thể “đi tắt, đón đầu” tiến vào cuộc cách mạng lực lượng sản xuất lần thứ ba này.với sự tích cực, năng động, sáng tạo của mình Đây cũng chính là ưu thế của nền kinh tế tri thức: Nó có thể tạo ra cơ hội tương đối bình đẳng trong mọi quốc gia dân tộc, bởi vì ở đây sức cạnh tranh chủ yếu tạo nên bởi trí thông minh và tinh thần sáng tạo mà dân tộc nào cũng có thể phát huy được.
Đặc trưng thứ ba đó là: Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng
cao, lao động chất xám có tầm quan trọng hơn cả mọi yếu tố khác của sản xuất Trong nền kinh tế tri thức, sản phẩm có hàm lượng chất xám càng cao thì có giá trị càng cao, càng được quý giá Giá
cả và giá trị của sản phẩm tri thức thay đổi rất nhiều tuỳ vào người sử dụng ở các thời điểm khác
Trang 7nhau Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng nhất, hơn cả sở hữu vốn và tài nguyên, đất đai Pháp luật về sở hữu trí tuệ trở thành nội dung chủ yếu trong quan hệ dân sự cũng như trong quan hệ thương mại quốc tế Tri thức và thông tin luôn luôn đi tới những nơi có nhu cần cao nhất và có ít rào cản nhất.
Nói sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, trước hết phải kể đến những loại máy mới có tính năng cao của thời đại cách mạng thông tin như: máy điều khiển bằng số, hợp nhất giữa mấy công cụ với mấy điều khiển quá trình sản xuất(numerically controlled machine tools), người máy công
nghiệp(industrial robots) được sử dụng trong các công đoạn sản xuất nguy hiểm, nặng nhọc , máy thiết kế kết hợp với mấy chế tạo( computer aided manufacturing) Riêng về số người máy công nghiệp, năm 1995, ở Nhật đã có 441.000, ở Mỹ có 62.000, ở Tây Âu có 125.000 người máy Còn tất
cả các ngành sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, bưu điện và vô tuyến viễn thông, giao thông vận tải, ngân hàng, dịch vụ đều được cải tạo bằng công nghệ cao, công nghệ thông tin gồm cả công nghiệp phần cứng lẫn công nghiệp phần mềm Cụ thể như, cũng những ngành sản xuất ô tô truyền thống, nhưng nếu áp dụng công nghệ cao thì sẽ sản xuất ra những loại ô tô có tính năng cao, ô tô thông minh, không cần người lái lại có độ an toàn cao
Đặc trưng thứ tư của nền kinh tế tri thức đó là: Trong nền kinh tế này, các công nghệ cao, truớc hết
là công nghệ thông tin là nguồn gốc mọi sự biến đổi lớn lao trong sản xuất xã hội, góp phần đẩy mạnh cả sự đổi mới tư duy và tất yếu dẫn tới nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá.
Tri thức và công nghệ thông tin làm chuyển đổi rất nhanh cơ cấu kinh tế xã hội và cơ cấu giai tầng
xã hội.
Sự gia tăng công nghệ cao trong công nghiệp chế tạo khiến sản phẩm và dịch vụ của nó góp phần đẩy mạnh sự cải tạo và hiện đại hoá các lĩnh vực kinh tế khác Các doanh nghiệp đều có sản xuất
công nghệ, đồng thời nhiều doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghệ có thể gọi là “doanh nghiệp
tri thức” Hiện nay ở Bắc Mỹ và một số nước Tây Âu, nơi kinh tế tri thức bắt đầu hình thành thì kinh
tế thông tin (bao gồm mọi ngành chủ yếu dựa và công nghệ thông tin) đã chiếm khoảng 45-50% GDP Trong các nước OECD, kinh tế tri thức đã chiếm hơn 50% GDP Việc dứng dụng công nghệ thông tin được tiến hành trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp đất nước, nối với hầu hết các tổ chức và gia đình cũng chính vì vậy mà nhiều người gọi kinh
tế tri thức là nền “kinh tế số" hay “kinh tế mạng”.
Cơ cấu kinh tế chuyển đổi dẫn đến sự thay đổi của cơ cấu xã hội Trước hết nói về các doanh nghiệp thì các doanh nghiệp phát triển rất nhanh Chỉ trong khoảng 5-10 năm, từ chỗ tay không, một số người đã trở thành chủ doang nghiệp có tài sản khổng lồ hàng chục tỷ USD, như Nescape, Deell, Ciso vượt xa các doanh nghiệp lâu đời Nổi tiếng như Bill Gates chủ hãng Microsoft chỉ mới hơn 20 năm đã trở thành một trong những người giàu nhất thế giới.
Còn về lao động, trong các doanh nghiệp tri thức, khoa học và sản xuất được nhất thể hoá Những người làm việc trong đó đa số là công nhân tri thức Họ là những người vừa nghiên cứu vừa sản xuất Hiện nay ở Mỹ, 93 triệu người lao động (tức 80% lực lượng lao động) không phải dành ra thời gian để làm ra vật phẩm mà họ chuyển sang làm các công việc như di chuyển vật phẩm, xử lý
Trang 8thông tin, cung cấp dịch vụ Tại các nước thuộc OECD hiện nay công nhân tri thức chiếm tới 60-70% lực lượng lao động Ngay cả ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, ấn Độ, nơi kinh tế tri thức đang hình thành, cũng cho thấy kinh tế tri thức có thể góp phần rất tốt vào việc giải quyết công ăn,
việc làm Theo cuốn sách “Kinh tế tri thức’ do Trung Quốc xuất bản thì : “Dù ở các nước phát triển
hay đang phát triển, công nghệ kỹ thuật cao đều tạo ra cơ hội việc làm” Các khu khai thác kỹ thuật
ở Trung Quốc đã tạo ra hơn 2 triệu việc làm cho công nhân Còn ở ấn Độ, công nghệ phần mềm đã tạo ra 50 vạn cơ hội việc làm có lương cao cho người Ấn Độ ở cả trong và ngoài nước.
Cuộc cách mạng thông tin cũng góp phần đẩy mạnh sự đổi mới tư duy của con người để theo kịp thời đại mới Trong khi công nghệ thông tin thẩm thấu vào các ngành kinh tế tạo ra công nghệ cao cho các ngành kinh tế sẽ hỗ trợ, thúc đẩy quá trình đổi mới tư duy, tạo ra cả quá trình cách mạng trong các quan niệm và các cách tiếp cận Nó đòi hỏi con người phải đổi mới cách nghĩ, cách làm thích nghi và làm chủ sự phát triển của chính mình lẫn của xã hội.
Quá trình hình thành nền kinh tế tri thức cũng là quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế, bởi vì bản chất của kinh tế thông tin là đã có tính quốc tế, có tính toàn cầu Trong nền kinh tế tri thức, thị trường và sản phẩm đều mang tính chất toàn cầu Với tính chất là kinh tế số, kinh tế mạng nên một sản phẩm ra đời ở bất kỳ một nơi nào cũng có thể nhanh chóng có mặt trên toàn thế giới Hơn nữa, rất ít sản phẩm chỉ do một nước làm ra mà phần lớn là do kết quả của sự tập hợp các phần việc được thực hiện từ nhiều nước trên thế giới Đó là kết quả của các công ty ảo, xí nghiệp ảo, hình thức sản xuất từ xa.
Ngựơc lại quá trình toàn cầu hoá cũng là quá trình chuyển hoá sang nền kinh tế tri thức Cả hai thúc đẩy lẫn nhau, gắn quyện lẫn nhau, toàn cầu hoá tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh kinh tế tri thức đồng thời cũng đặt ra những thách thức, rủi ro Thách thức chủ yếu là ở chỗ khoảng cách giàu nghèo đang tăng nhanh giữa các nước do chênh lệch nhiều về tri thức Việt Nam đang đi vào nền kinh tế toàn cầu hoá cũng phải đối đầu với các thách thức này và tất nhiên là phải kiên quyết vượt qua nếu không chịu tụt hậu.
V.Mục tiêu:
Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ XHCN, phát huy đầy
đủ quyền làm chủ của nhân dân Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Quan niệm:
Một là, Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính trị
Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng , hiệu lực quản lí của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động hôn, có hiệu quả hơn, phù hợp với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước; đặc biệt là phù hợp với yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN, của sự CNH, HĐH gắn với kinh tế tri
Trang 9thức, với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp
Bốn là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với nhau và với xã hội, tạo
ra sự vận động cùng chiều theo hướng tiềm năng, thúc đẩy xã hội phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Chủ trương:
Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị
Đại hội X xác định : “Đảng Cộng sản VN là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc VN, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị Nghị quyết trung ương 5 khoá X về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” đã chỉ rõ các mục tiêu giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân; nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải trên cở sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất
là của những người đứng đầu
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt các nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính thực tế, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện có kiểm tra, giám sát tính hợp hiến hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội
Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại
Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người
Nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiêm của
Trang 10chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.
Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội trong hệ thống chính trị
Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội
Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức CT- XH, khaéc phục tình trạng hành chính hoá, nhà nước hoá, phô trương, hình thức; nâng cao chất lượng hoạt động; làm tốt công tác dân vận theo phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin
VI.- Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, v́ nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân v́ dân là chủ”;
“Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” Với Hồ Chí Minh nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ư chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể
là các ông quan cách mạng mà là công bộc của nhân dân Là nhà nước của dân, do chính nhân dân lập qua thông qua chế độ bầu cử dân chủ Bầu cử dân chủ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước đă được xác lập trong nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyền khi tiếp nhận sự uỷ quyền quyền lực từ nhân dân
Tư tưởng về một nhà nước của dân, do dân, v́ dân đă được thể chế hoá thành một mục tiêu hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của chính thể dân chủ cộng hoà ở nước ta - Hiến pháp 1946: “Xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu - Hiến pháp 1946) Đặc điểm này của Nhà nước ta tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992
- Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp
Trong Nhà nước pháp quyền, ư chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến pháp Chính v́ lẽ đó mà Hiến pháp được coi là Đạo luật
cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lư cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xă hội, quốc pḥng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xă hội và sự
an toàn của người dân
Những quan điểm lớn, những nội dung cơ bản của Hiến pháp là cơ sở pháp lư quan trọng cho sự duy tŕ quyền lực nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân Và đó chính là nền tảng có tính chất hiến định để xem xét, đánh giá sự hợp hiến hay không hợp hiến của các đạo luật, cũng như các quyết sách khác của Nhà nước và của cá tính chất chính trị, tính chất xă hội
Hiến pháp có một vai tṛ quan trọng như vậy trong việc duy tŕ quyền lực của nhân dân, cho nên,