LỜI CAM ĐOAN Tôi đã đọc và hiểu về hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự của mình rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không có sự vi phạm sự trung thực về học t[.]
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự của mình rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không có sự
vi phạm sự trung thực về học thuật
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Đức Hoan
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ i
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: THI HÀNH BATCĐĐ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 5
1.1 Khái niệm, ý nghĩa và các yếu tố tác động đến thi hành BATCĐĐ 5
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa thi hành BATCĐĐ 5
1.1.2 Các yếu tố tác động đến thi hành BATCĐĐ 8
1.2 Pháp luật về thi hành BATCĐĐ 11
1.2.1 Điều kiện để BATCĐĐ được thi hành 11
1.2.2 Thẩm quyền thi hành BATCĐĐ 12
1.2.3 Thủ tục thi hành BATCĐĐ 13
1.2.4 Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm BATCĐĐ 20
1.3 Đánh giá thực trạng pháp luật về thi hành BATCĐĐ 20
Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THI HÀNH BATCĐĐ TẠI HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH 26
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Quỳnh Phụ 26
2.2 Thực tiễn thi hành BATCĐĐ 26
2.2.1 Các BATCĐĐ được đưa ra thi hành 26
2.2.2 Đánh giá quá trình thi hành BATCĐĐ 33
Kết luận chương 2 51
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BẤT CẬP, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH BATCĐĐ TẠI HUYỆN QUỲNH PHỤ 52
3.1 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật 52
Trang 33.1.1 Đối với pháp luật về THA dân sự 52
3.1.2 Đối với pháp luật về đất đai 54
3.1.3 Đối với pháp luật về phí và lệ phí 54
3.2 Giải pháp trong hoạt động xét xử các vụ việc về tranh chấp đất đai 55
3.3 Giải pháp trong tổ chức thi hành BATCĐĐ 59
3.3.1 Xây dựng quy trình, quy chế phối hợp trong thi hành BATCĐĐ 59
3.3.2 Giải pháp trong tổ chức thi hành các vụ việc cụ thể 60
3.3.3 Công tác tổng kết, rút kinh nghiệm 62
3.4 Giải pháp trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật 62
Kết luận chương 3 64
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dân
STQ : Sinh trú quán
THA : Thi hành án
THADS : Thi hành án dân sự
TAND : Tòa án nhân dân
QĐTT : Quyết định tái thẩm
BLDS : Bộ luật dân sự
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số liệu các BATCĐĐ đưa ra thi hành 27 Bảng 2.2: Thống kê kết quả thi hành các BATCĐĐ 48
Trang 6TTÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
MỞ ĐẦU
Trong thời gian gầy đây, thi hành BATCĐĐ đang là vấn đề nóng trong công tác THADS Mặc dù đã huy động nhiều nguồn lực, tập trung giải quyết một cách quyết liệt, tuy nhiên hiệu quả lại không cao.Nhiều giải pháp được đưa ra nhưng cho đến nay vẫn chưa có những giải pháp mang tính tổng thể, hệ thống, có hiệu quả để các cơ quan THADS có thể vận dụng vào thực tiễn Cũng chưa có một đề án hay một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách thấu đáo chuyên đề thi hành các BATCĐĐ
Việc thi hành các bản án tranh chấp đất đai là loại việc khó khăn, phức tạp nhất trong công tác THADS Do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề "Thi hành BATCĐĐ theo pháp luật hiện hành – Thực tiễn tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình" làm đề tài nghiên cứu của mình
Thông qua đánh giá pháp luật hiện hành về thi hành BATCĐĐ và thực tiễn
áp dụng pháp luật về thi hành BATCĐĐ tại huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình thời gian từ 2012 đến 2016, Luận văn đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thi hành BATCĐĐ ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các BATCĐĐ tại địa phương
NỘI DUNG
Luận văn được chia thành 03 Chương với kết cấu logic chặt chẽ với nhau
Chương 1 có tiêu đề: “Thi hành BATCĐĐ theo pháp luật hiện hành” Ở
Chương này tác giả đi sâu nghiên cứu các vấn đề cơ bản về thi hành BATCĐĐ và pháp luật BATCĐĐ hiện nay
Tại tiểu mục 1.1 tác giả nêu: Khái niệm THADS; Khái niệm thi hành BATCĐĐ; Đặc điểm thi hành BATCĐĐ
* Các yếu tố tác động đến thi hành BATCĐĐ bao gồm: Pháp luật; Điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội;Ý thức pháp luật của đương sự, người dân; Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xét xử, THA
Trang 7Tại tiểu mục 1.2, tác giả nêu và phân tích những điểm cơ bản của pháp luật
về thi hành BATCĐĐ bao gồm:
* Điều kiện để BATCĐĐ được thi hành: Những BATCĐĐ được đưa ra thi hành là những bản án quy định tại Điều 2 Luật THADS và còn trong thời hiệu yêu cầu THA
* Thẩm quyền thi hành BATCĐĐ bao gồm: thẩm quyền của Cơ quan THADS cấp huyện (Chi cục), thẩm quyền của Cơ quan THADS cấp tỉnh (Cục)
* Các thủ tục thi hành BATCĐĐ bao gồm: thủ tục nhận đơn yêu cầu và ra quyết định thi hành BATCĐĐ; Thông báo về thi hành BATCĐĐ; Tự nguyện thi hành BATCĐĐ; Biện pháp bảo đảm thi hành BATCĐĐ; Thỏa thuận trong thi hành BATCĐĐ; Xác minh THA thi hành BATCĐĐ; Cưỡng chế thi hành BATCĐĐ
* Việc thi hành QĐGĐT, QĐTT BATCĐĐ
Tại tiểu mục 1.3, tác giả đã đánh giá pháp luật về thi hành BATCĐĐ Trong
đó đưa ra những điểm hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, thiếu đồng bộ với hệ thống pháp luật, gây khó khăn cho CHV và cơ quan THADS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Những điểm bất cập của pháp luật về thi hành BATCĐĐ bao gồm: Thời hiệu yêu cầu thi hành BATCĐĐ chưa hợp lý; Thời hạn thông báo THA quá ngắn; Quy định về áp dụng các biện pháp bảo đảm còn chung chung, chưa cụ thể; Thiếu chế định riêng về thỏa thuận THADS trong đó có thỏa thuận thi hành BATCĐĐ; Quy định cưỡng chế thi hành BATCĐĐ chưa cụ thể, chi tiết; Chưa có quy định về thi hành QĐGĐT sửa một phần hoặc toàn bộ BATCĐĐ
Chương 2 có tiêu đề: “Thực tiễn thi hành BATCĐĐ tại huyện Quỳnh Phụ,
tỉnh Thái Bình” Ở chương này, tác giả đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về thi hành BATCĐĐ, đánh giá quá trình tổ chức thi hành BATCĐĐ tại huyện Quỳnh Phụ
Tại tiểu mục 2.1 tác giả nêu những nét cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội của huyện Quỳnh Phụ ảnh hưởng, tác động đến việc thi hành BATCĐĐ tại địa phương
Tại tiểu mục 2.2, tác giả nêu lên thực tiễn thi hành BATCĐĐ tại huyện Quỳnh Phụ giai đoạn từ 2012 đến 2016 bao gồm các vấn đề:
Trang 8- Các loại BATCĐĐ được Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ đưa ra thi hành là các bản án giải quyết tranh chấp về: Hợp đồng chuyển QSDĐ, hợp đồng cho thuê, cho mượn QSDĐ, thế chấp QSDĐ, thừa kế QSDĐ, lấn, chiếm đất, tranh chấp đất trong vụ án ly hôn.Với mỗi loại bản án, tác giả đều đưa ra các ví dụ cụ thể trong thực tiễn để phân tích, minh họa, bình luận
- Đánh giá quá trình thi hành BATCĐĐ trong các thủ tục: Nhận đơn, ra quyết định thi hành BATCĐĐ, thông báo THA, tự nguyện THA, thỏa thuận THA,
áp dụng các biện pháp bảo đảm THA, cưỡng chế THA, thi hành QĐGĐT, QĐTT BATCĐĐ Tác giả đưa ra các dẫn chứng, đồng thời có những số liệu cụ thể được sưu tầm trong các báo cáo của cơ quan THADS huyện Quỳnh Phụ về việc thi hành BATCĐĐ từ 2012 đến 2016 đối với từng thủ tục trong quá trình thi hành BATCĐĐ
để phân tích, làm rõ các vấn đề cụ thể trong tổ chức thi hành BATCĐĐ tại địa phương
Trên cơ sở những số liệu, phân tích, dẫn chứng, tác giả đã đưa ra những đánh giá chung về tình hình thi hành BATCĐĐ Trong đó nêu lên những ưu điểm, hạn chế, chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế
Về ưu điểm chính là việc hoàn thành chỉ tiêu do ngành đề ra Trình tự, thủ tục nhìn chung được tuân thủ
Về những hạn chế cơ bản của việc thi hành BATCĐĐ là: Số lượng việc tồn đọng tăng lên, tiến độ giải quyết một số việc còn chậm trong đó có các việc phức tạp, kéo dài; Cá biệt có một số vi phạm về thủ tục về THA
Về nguyên nhân của hạn chế bao gồm: Pháp luật về thi hành BATCĐĐ chưa hoàn thiện, còn nhiều điểm bất cập; Chất lượng một số BATCĐĐ chưa cao, nhiều bản
án tuyên chung chung, không rõ, khó thi hành, có sai xót; Công tác tổ chức thi hành BATCĐĐ còn một số yếu kém; Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa tốt
Chương 3 có tiêu đề:“Một số giải pháp khắc phục những bất cập, nâng cao
hiệu quả thi hành BATCĐĐ tại huyện Quỳnh Phụ” Trên cơ sở những đánh giá về hạn chế, bất cập của pháp luật về thi hành BATCĐĐ được nêu ở Chương 1 và
Trang 9những nguyên nhân của hạn chế trong công tác thi hành BATCĐĐ tại huyện Quỳnh Phụ nêu trong Chương 2, Luận văn đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể, có tính khả thi cho hoạt động này
Ở tiểu mục 3.1, tác giả đưa ra các giải pháp về hoàn thiện pháp luật Những lĩnh vực pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện bao gồm: pháp luật về THADS, pháp luật về đất đai, pháp luật về phí và lệ phí Trong đó pháp luật về THADS cần sửa đổi, bổ sung các vấn đề: Xây dựng chế định thỏa thuận trong thi hành BATCĐĐ; Quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành BATCĐĐ; Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp bảo đảm THA nói chung và thi hành BATCĐĐ nói riêng; Xây dựng chế định cưỡng chế thi hành BATCĐĐ theo hướng thật cụ thể chi tiết; Bổ sung quy định về thi hành QĐGĐT sửa một phần hoặc toàn bộ BATCĐĐ Đối với pháp luật về đất đai cần sửa đổi bổ sung quy định về cấp GCNQSDĐ trong các trường hợp THA
Tiểu mục 3.2 đưa ra các giải pháp trong hoạt động xét xử các vụ việc về tranh chấp đất đai Trong đó nhấn mạnh hai nội dung quan trọng là về nhận thức
và về vấn đề áp dụng pháp luật của thẩm phán trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai
Tiểu mục 3.3 nêu các giải pháp trong tổ chức thi hành BATCĐĐ với các nội dung: Xây dựng quy trình, quy chế phối hợp trong thi hành BATCĐĐ; Giải pháp trong tổ chức thi hành các vụ việc cụ thể; Công tác tổng kết, rút kinh nghiệm
Tiểu mục 3.4 đưa ra các giải pháp trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật Trong đó nêu các văn bản pháp luật phải tuyên truyền, các chủ thể thực hiện việc tuyên truyền, các hình thức tuyên truyền sao cho thiết thực và hiệu quả
KẾT LUẬN
Nhìn chung, Luận văn đã đưa ra bức tranh tổng thể về pháp luật và việc thực thi pháp luật về thi hành BATCĐĐ tại huyện Quỳnh Phụ
Để nâng cao hiệu quả việc thi hành các BATCĐĐ đòi hỏi phải áp dụng đồng
bộ nhiều giải pháp cả về sửa đổi pháp luật, cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện
Trang 10Pháp luật phải sửa đổi bổ sung theo hướng đồng bộ giữa các quy định của Luật THADS, Luật Đất đai, Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và các đạo luật liên quan khác, đồng thời phải phù hợp với thực tiễn để đảm bảo tính khả thi Đặc biệt phải khắc phục được những bất cập trong Luật THADS để làm căn cứ cho cơ quan quan THADS áp dụng một cách có hiệu quả trong quá trình thi hành các BATCĐĐ
Thay đổi nhận thức của cán bộ và các tầng lớp nhân dân đối với công tác THADS nói chung và việc thi hành BATCĐĐ nói riêng là hết sức quan trọng đòi hỏi việc tuyên truyền pháp luật phải thường xuyên liên tục và sâu rộng
Nâng cao chất lượng xét xử để hạn chế tới mức thấp nhất những BATCĐĐ thiếu tính khả thi Điều này rất cần sự nỗ lực, phối hợp tích cực của các Thẩm phán, Kiểm sát viên có ý thức trách nhiệm cao với nghề nghiệp
Và đặc biệt hơn hết là vai trò của cán bộ, công chức làm công tác THADS Phải thực sự chuyên nghiệp trong công việc, áp dụng pháp luật chính xác và đưa ra các giải pháp, phương pháp hợp lý cho các vụ việc Phải đưa được cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc thì mới đạt hiệu quả tốt nhất cho việc thi hành BATCĐĐ
Luận văn đã nghiên cứu toàn diện pháp luật và đánh giá thực tiễn thi hành BATCĐĐ, chỉ được những bất cập, sự không thống nhất trong nhiều quy định để giải quyết cùng một vấn đề, sự không phù hợp giữa pháp luật và thực tiễn thi hành
Từ đó có các giải pháp phù hợp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác thi hành BATCĐĐ tại địa phương
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa, tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vấn đề thi hành BATCĐĐ hiện nay đang là vấn đề nóng trong công tác THADS Đây là một lĩnh vực huy động rất nhiều nguồn lực, giải pháp của các cơ quan THADS để tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, tập trung giải quyết một cách quyết liệt, tuy nhiên hiệu quả lại không cao Số lượng các BATCĐĐ được đưa ra thi hành xong đạt tỉ lệ thấp so với tổng số các việc THADS Rất nhiều nguyên nhân được đưa ra phân tích mổ xẻ trong các kỳ tổng kết rút kinh nghiệm của các cơ quan THADS, từ nguyên nhân khách quan như đặc thù của loại việc BATCĐĐ, tác động của cơ chế thị trường, pháp luật, chính sách về đất đai của nhà nước, nhận thức của người dân cho đến những nguyên nhân chủ quan về năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác THADS, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những giải pháp mang tính tổng thể, hệ thống, có hiệu quả để các cơ quan THADS có thể vận dụng vào thực tiễn Cũng chưa
có một đề án hay một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách thấu đáo chuyên
đề thi hành các BATCĐĐ
Tranh chấp đất đai từ khi nước ta thực hiện chính sách mở cửa chuyển sang nền kinh tế thị trường đã trở lên ngày càng phức tạp với nhiều hình thức đa dạng Nhu cầu sử dụng đất của người dân ngày một lớn, các giao dịch về đất đai ngày một nhiều, giá nhà đất ngày một tăng cao Ngày càng có nhiều đơn khởi kiện ra tòa về các
vụ tranh chấp đất đai Các vụ việc tranh chấp đất đai được tòa thụ lý và giải quyết ngày càng tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp
Hầu hết các vụ việc khi khởi kiện ra tòa thì mâu thuẫn giữa các bên đã trầm trọng không thể hòa giải được Do vậy khi bản án được tuyên chuyển qua giai đoạn THA thì tính chất căng thẳng của vụ việc vẫn giữ nguyên, thậm chí còn đẩy lên cao hơn nữa
Hầu hết các BATCĐĐ sau khi có hiệu lực pháp luật thì đương sự có quyền lợi đều làm đơn yêu cầu THA Việc thụ lý và tổ chức thi hành các bản án này đòi
Trang 12hỏi phải sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau Cơ quan THA, CHV phải vận dụng tất cả các biện pháp cần thiết mới hy vọng đem lại kết quả tích cực
Có thể nói rằng, việc thi hành các BATCĐĐ hiện nay là loại việc khó khăn, phức tạp nhất trong công tác THADS Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về thi hành BATCĐĐ, thực trạng thi hành BATCĐĐ của cơ quan THADS (qua thực tiễn ở huyện Quỳnh Phụ) trong những năm gần đây, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đất đai, THADS có liên quan đến đất đai và xác lập cơ chế thi hành các BATCĐĐ thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác BATCĐĐ là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực
tiễn hiện nay.Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề "Thi hành BATCĐĐ theo pháp luật hiện hành – Thực tiễn tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình" làm
đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về đề tài pháp luật thi hành BATCĐĐ Một số công trình nghiên cứu như:
- Luận án tiến sĩ Luật học: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế THADS ở Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn, Luận văn thạc sĩ luật học: "Các biện pháp cưỡng chế THADS, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công Long làm rõ quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS; Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy đánh giá tổng quát và đưa ra các hướng hoàn thiện về pháp luật THADS nói chung; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam" tập trung nghiên cứu một giải pháp của việc nâng cao hiệu quả công tác THADS nói chung là xã hội hóa công tác THADS; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về
"Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam" đi sâu nghiên cứu
về mô hình tổ chức, bộ máy của hệ thống THADS; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam" nghiên cứu tổng thể trình tự, thủ tục THADS nói chung; Luận văn thạc sĩ luật học: “Thỏa thuận
Trang 13về thi hành án dân sự theo pháp luật về thi hành án dân sự hiện hành” của tác giả Lê Thùy Linh nghiên cứu một chế định cụ thể là thỏa thuận về THADS; Luận văn thạc
sĩ luật học: “ Xác minh điều kiện thi hành án dân sự” của tác giả Đinh Thanh Hương làm rõ các vấn đề về xác minh THADS
Các đề tài trên tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực trạng thi hành pháp luật THADS nói chung đối với tất cả các loại việc THADS hoặc về một trình tự, thủ tục nhất định trong dân sự như xác minh, thỏa thuận, cưỡng chế THADS hoặc công tác tổ chức, công tác xã hội hóa THADS ở Việt Nam Chưa có đề tài nào phân tích, đánh giá và đưa ra một bức tranh tổng thể về pháp luật và thực trạng thi hành BATCĐĐ trong phạm vi cả nước và từng địa phương, làm rõ nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục trong lĩnh vực này
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Trên cơ sở đó tìm các giải pháp khắc phục hạn chế, bất cập đó
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật hiện hành của Việt Nam về thi hành BATCĐĐ theo đơn yêu cầu, thực tiễn áp dụng tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Thời gian: Thu thập, phân tích, sử dụng dữ liệu trong thời gian 05 năm từ 2012- 2016 và đề xuất các giải pháp cho đến năm 2022
5 Dự kiến đóng góp của luận văn
Trên cơ sở luận giải những vấn đề cơ bản của pháp luật về thi hành BATCĐĐ, thực tiễn áp dụng tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập và đưa ra những giải pháp đồng bộ, khả thi cho hoạt động thi hành BATCĐĐ tại địa phương
6 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp mà tác giả sử dụng trong nghiên cứu các vấn đề trong Luận văn là: phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp
điều tra, khảo sát, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp
Trang 15CHƯƠNG 1 THI HÀNH BATCĐĐ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1.1.1.1 Khái niệm
* Khái niệm THADS
THADS là hoạt động đưa những bản án và quyết định của Tòa án, Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế, bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp, nghĩa vụ của các bên đương sự, người liên quan được tôn trọng và thực thi
THADS là hoạt động hành chính - tư pháp, mang tính quyền lực nhà nước,
do cơ quan THADS, CHV và những người được nhà nước giao quyền thực hiện việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được pháp luật quy định nhằm bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và mang tính cưỡng chế nhà nước Thể hiện ở những đặc điểm:
Một là, hoạt động THADS là giai đoạn sau của quá trình tố tụng để giải quyết các vấn đề phát sinh về dân sự trong các bản án, quyết định hình sự, các việc
về tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động Đặc trưng của quan hệ THADS luôn có ba chủ thể khác nhau về địa vị pháp lý tham gia giữa người phải THA, người được THA và CHV Trong đó CHV là chủ thể trung tâm, bắt buộc, không thể thay thế
Hai là, CHV tham gia trong quan hệ THADS với tư cách đại diện cho quyền lực nhà nước, có nhiệm vụ đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật Để đảm bảo cho CHV có cơ sở pháp lý thực hiện nhiệm vụ của mình, pháp luật đã quy định về quyền hạn, trách nhiệm của CHV CHV giữ vai trò trung gian thỏa thuận về nội dung vụ việc, CHV với tư cách đại diện cho quyền lực nhà nước, sử dụng các
Trang 16biện pháp cưỡng chế theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định nhằm buộc người phải THA thực hiện nghĩa vụ THA
Ba là, quan hệ pháp luật về THADS không tự phát sinh mà là kết quả của các giai đoạn tố tụng trước đó, trực tiếp là giai đoạn xét xử Vì thế, kết quả của các giai đoạn tố tụng, nhất là giai đoạn xét xử có ảnh hưởng lớn đến kết quả THA
Bốn là, trong quan hệ THADS, Nhà nước là một chủ thể đặc biệt, sử dụng quyền lực để đảm bảo THA Thông qua cơ quan THADS và CHV, Nhà nước thực hiện quyền lực của mình để đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện
Năm là, công tác THADS hiện nay do các cơ quan THADS của Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp, cơ quan THA của Bộ Quốc phòng đảm nhiệm, Chính phủ - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thống nhất quản lý Trình tự, thủ tục THADS vừa mang đặc điểm của tố tụng, vừa mang tính hành chính (Nguyễn Đình Lộc, 2006)
* Khái niệm thi hành BATCĐĐ
Thi hành BATCĐĐ là một trong các việc THADS, đó là việc đưa các BATCĐĐ có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế theo trình tự, thủ tục THADS
BATCĐĐ được đưa ra thi hành là bản án có hiệu lực pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền
và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Chúng rất đa dạng, phong phú bao gồm:
-Các bản án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp QSDĐ;
-Bản án giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ;
-Bản án giải quyết tranh chấp do lấn, chiếm đất;
-Bản án giải quyết tranh chấp về cản trở việc thực hiện QSDĐ;
-Bản án giải quyết tranh chấp về việc làm thiệt hại đến việc sử dụng đất; -Bản án giải quyết tranh chấp QSDĐ;
Trang 17-Bản án giải quyết tranh chấp đất trong vụ án ly hôn;
-Các bản án giải quyết tranh chấp đất đai khác
Trước hết thi hành BATCĐĐ cũng giống như các việc THADS khác, nó cũng phải tuân theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định về THADS
Tuy nhiên nó có những đặc điểm riêng do tính chất đặc thù của loại việc này:
- Đất đai là một loại tài sản đặc biệt với tính chất cố định không thể di dời, QSDĐ thường có giá trị cao, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội
Là nơi làm ăn sinh sống, là công cụ phương tiện để sản xuất kinh doanh, là nơi gắn
bó với người dân, là nơi chôn rau cắt rốn của nhiều thế hệ, là nơi thờ cúng (trên đất
có đình chùa, miếu mạo, nhà thờ họ…), là di sản của ông bà, tổ tiên để lại cho con cháu Tóm lại lãnh thổ thiêng liêng đối với mỗi quốc gia như thế nào thì đất đai cũng gắn bó máu thịt đối với mỗi người dân như thế Do đó tranh chấp đất đai vô cùng phức tạp, nhất là những tranh chấp không thể hòa giải được phải đưa ra giải quyết tại tòa án
- Quá trình thi hành thường liên quan đến nhiều người, tác động đến nhiều chủ thể, có tác động nhất định đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương Ngoài các bên đương sự, việc tổ chức thi hành còn liên quan đến những người có quyền và nghĩa vụ liên quan như những người của gia đình có diện tích đất tranh chấp, các đồng chủ sử dụng đất, vợ chồng, con cái, các đồng thừa kế, các thành viên của dòng
họ, cộng đồng làng xóm (nếu là tranh chấp đất thờ cúng) Chính vì có liên quan đến nhiều người nên nó có ảnh hưởng nhất định tới tình hình an ninh, trật tự của địa phương nơi có vụ việc thi hành Nhất là khu vực nông thôn, tính cộng đồng của dân
cư rất lớn
- Việc tranh chấp đất thường gắn liền với công trình xây dựng, nhà cửa, cây cối hoa lợi… vì vậy việc THA cũng phải giải quyết đồng thời với việc xử lý công trình xây dựng, tài sản trên đất, xử lý chỗ ở, đồ dùng sinh hoạt của con người nên hết sức phức tạp
Trang 18- Việc thi hành các BATCĐĐ thường kéo dài, chi phí lớn Với những đặc điểm của BATCĐĐ, việc tổ chức thi hành cần phải có thời gian để vận động, giáo dục, thuyết phục đương sự, không chỉ một mà nhiều người, Cần thời gian đủ để các bên có thể bàn bạc, thỏa thuận và đi đến thống nhất phương án THA với sự hướng dẫn của cơ quan THADS Nếu phải cưỡng chế thì thủ tục cho việc cưỡng chế THA
về đất đai cũng mất rất nhiều thời gian, kèm với nó là chi phí cũng rất lớn vì liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều công việc phải làm
1.1.1.3 Ý nghĩa thi hành BATCĐĐ
Hoạt động THADS nói chung và thi hành BATCĐĐ
Nó đảm bảo cho những phán quyết của Tòa án về tranh chấp đất đai
ông có ý nghĩa,
, xã hội sẽ bất ổn, niềm tin của người dân với chính quyền giảm sút Ngược lại, nếu thi hành
của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật
Thi hành BATCĐĐ góp phần làm cho các quan hệ pháp luật về đất đai ổn định trong hành lang pháp lý, nó hỗ trợ tích cực cho hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường chuyển nhượng QSDĐ
Việc thi hành BATCĐĐ chính là hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về đất đai nói riêng thiết thực, hiệu quả nhất
Qua hoạt động thi hành BATCĐĐ cũng phát hiện những vấn đề bất cập với thực tiễn của pháp luật về đất đai, pháp luật về THADS, pháp luật có liên quan để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống
1.1.2.1 Pháp luật
Trang 19Pháp luật có tác động trực tiếp đến việc thi hành BATCĐĐ bao gồm: pháp luật về đất đai, các hướng dẫn xét xử và thi hành các BATCĐĐ Về hướng dẫn xét
xử và THADS thì không có các văn bản quy định riêng giải quyết các việc về tranh chấp đất đai mà đều áp dụng theo quy định của BLDS, BLTTDS, Luật THADS Những văn bản luật này đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thực tiễn, đặc biệt Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014, BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 được ban hành dù còn một số hạn chế tuy nhiên cũng đã giải quyết cơ bản những bất cập trong thực tiễn thi hành BATCĐĐ
Về pháp luật đất đai, nhà nước ta đã ban hành qua các thời kỳ các đạo luật: Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tranh chấp Theo Điều 203 Luật đất đai 2013 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nếu đương sự lựa chọn hình thức giải quyết này nhưng theo luật đất đai năm 2003 không thuộc thẩm quyền của tòa án Như vậy làm cho số lượng các vụ việc thi hành BATCĐĐ cũng tăng lên
Về hướng dẫn xét xử, Theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều 23 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không bị hạn chế thời hạn khởi kiện
1.1.2.2 Điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Đây là yếu tố quan trọng tác động lớn tới việc thi hành BATCĐĐ
- Về kinh tế
Trước đây với nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, không có thị trường bất động sản, các giao dịch nhà đất ít Đất đai chủ yếu được nhà nước phân cấp căn cứ vào nhu cầu của cơ quan, tổ chức, công dân Ví dụ: khi một thành viên trong gia đình lập gia đình riêng có nhu cầu tách hộ, làm nhà ra ở riêng , nếu chưa
có đất để làm nhà sẽ làm đơn gửi chính quyền địa phương xem xét cấp đất đểlàm
Trang 20nhà Nguồn đất đai trước đây còn phong phú, áp lực về nhà đất chưa cao, giá đất nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa không lớn Tất cả những điều trên làm cho các tranh chấp đất đai phát sinh không nhiều, tính chất phức tạp không cao dẫn đến số lượng các việc thi hành bản án tranh chấp đất đai không nhiều
Hiện nay với nền kinh tế thị trường, giá trị nhà đất tăng cao kể cả khu vực nông thôn, quỹ đất ngày một thu hẹp, nhu cầu của người dân về nhà đất lớn, giao dịch nhà đất ngày một nhiều, làm cho việc kiện tụng về đất đai tăng lên, chuyển sang cơ quan THADS khối lượng công việc ngày một lớn
- Về văn hóa xã hội
Sự phát triển của văn hóa xã hội cũng tác động lớn đến việc THA nói chung
và việc tranh chấp đất đai nói riêng Với văn hóa truyền thống của người dân Việt nam trước đây, tâm lý “Vô phúc đáo tụng đình” ăn sâu vào trong tiềm thức của mọi người Quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, làng xóm mang đậm dấu ấn thời kỳ phong kiến: gia trưởng, sự gắn kết, ràng buộc chặt chẽ và coi trọng dư luận Do vậy việc đưa ra tòa kiện tụng nhau là việc rất hãn hữu ngay cả để tranh giành đất đai là tài sản có giá trị lớn đi nữa
Hiện nay sự tác động của nền kinh tế thị trường, của hội nhập, của nền văn hóa hiện đại, những tâm lý trên của người dân cũng phần nào thay đổi Họ không còn quá nặng nề với việc kiện nhau ra tòa Thậm chí nhiều việc còn rất gay gắt ngay trong những thành viên của gia đình, dẫn tới khi chuyển qua giai đoạn THA, các bên đương sự tranh chấp đất đai đã có tư tưởng một mất một còn
1.1.2.3Ý thức pháp luật của đương sự, người dân
Nhận thức về việc chấp hành pháp luật về THADS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thi hành BATCĐĐ Nếu đương sự nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, tự giác thực hiện thì việc THA sẽ dễ dàng hơn Nếu người dân hiểu và ủng hộ việc THA thì sẽ tạo được áp lực nhất định về tâm lý của người phải THA, tạo điều kiện cho việc tổ chức thi hành BATCĐĐ hiệu quả hơn Tuy nhiên đa
số các vụ việc tranh chấp đất đai chuyển qua THA, đương sự có thể nhận thức được
Trang 21nhưng ý thức chấp hành thì không cao Điều này làm cho cơ quan THA phải mất rất nhiều thời gian, công sức, chi phí để áp dụng mọi biện pháp mới có thể giải quyết được vụ việc
1.1.2.4 Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xét xử, THA
Đây là yếu tố quyết định cho chất lượng việc thi hành BATCĐĐ
Đối với việc xét xử phải thấu lý và đạt tình thì vụ việc mới ít vấp phải
sự phản đối của đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan khi cơ quan THADS tổ chức thi hành Điều này đòi hỏi các Thẩm phán khi giải quyết các
vụ việc tranh chấp đất đai phải nắm chắc không những kiến thức vềpháp luật,
mà còn là kiến thức về văn hóa xã hội, có đầy đủ những tố chất cần thiết để có thể nắm bắt bản chất vụ việc đưa ra những phán quyết thuyết phục đối với đương sự
CHV phải là người có đủ kinh nghiệm, kiến thức, bản lĩnh nghề nghiệp trong giải quyết các bản án tranh chấp đất đai thì mới có thể đưa ra các phương án giải quyết tốt nhất, hiệu quả nhất, đỡ tốn thời gian công sức và chi phí Một việc thi hành bản án tranh chấp đất đai, với tính chất phức tạp mang tính đặc thù, giá trị phải thi hành lớn, thường không chỉ là vấn đề đất đai, thường liên quan đến nhiều người
Vì vậy mà CHV phải đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ, nghiên cứu thật kỹ vụ việc, tìm ra những biện pháp phù hợp để áp dụng thì mới có thể mang lại hiệu quả tốt
Những BATCĐĐ được đưa ra thi hành là những bản án được quy định tại Điều 2 Luật THADS và còn trong thời hiệu yêu cầu THA, đương sự có đơn yêu cầu THA
* Thời hiệu yêu cầu thi hành BATCĐĐ:
Thời hiệu yêu cầu thi hành BATCĐĐ là trong vòng 05 năm, kể từ ngày bản
án tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật Trường hợp bản án ấn định thời hạn
Trang 22thực hiện nghĩa vụ thì 05 năm được tính từ ngày mà bản án ấn định thực hiện nghĩa
* Cơ quan THADS cấp huyện (Chi cục) có thẩm quyền thi hành:
Bản án sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan THADS có trụ sở;
Bản án phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với BAST của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan THADS cấp huyện có trụ sở;
QĐGĐT, QĐTT đối với bản án có hiệu lực của Tòa cấp huyện nơi có trụ sở của cơ quan THA;
Bản án do cơ quan THADS cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan THA cấp quân khu ủy thác
* Cơ quan THADS cấp tỉnh (Cục) có thẩm quyền thi hành:
Bản án sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh trên cùng địa bàn;
Bản án, quyết định của TAND cấp cao;
Quyết định của TAND tối cao giao cho cơ quan THADS cấp tỉnh;
Bản án của Tòa, quyết định Trọng tài nước ngoài công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do cơ quan THADS nơi khác hoặc cơ quan THA cấp quân khu ủy thác;
Bản án rút từ THADS cấp huyện lên để thi hành;
Trang 23Bản án, quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật THADS mà cần ủy thác tư pháp hoặc có tài sản, đương sự ở nước ngoài
BATCĐĐ thuộc diện thi hành theo đơn yêu cầu.Tòa án cấp cho đương sự bản án được đóng dấu “Để thi hành” để đương sự làm đơn yêu cầu THA gửi cơ quan THDS Người yêu cầu THA gửi kèm theo BATCĐĐ có hiệu lực tới cơ quan THADS có thẩm quyền
Thời hạn ra quyết định thi hành BATCĐĐ là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu THA (Luật THADS, Khoản 1, Điều 36)
Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định THA thi hành BATCĐĐ khi có yêu cầu THA Phạm vi quyết định thi hành BATCĐĐ chỉ trong phạm vi yêu cầu THA của người có đơn yêu cầu THA và đồng thời phải trong phạm vi phần quyết định của bản
án tuyên.Phần nội dung quyết định THA thi hành BATCĐĐ phải có đầy đủ các yếu tố: Người phải THA, người được THA – địa chỉ cụ thể của họ; các khoản phải THA, nêu
rõ tình trạng diện tích đất phải bàn giao ( số đo, số thửa, tờ bản đồ số, vị trí thửa đất, kích thước, ranh giới thửa đất), các vấn đề khác có liên quan được ghi trong bản án, đơn yêu cầu THA
Các giấy tờ về THA phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật Việc tống đạt các giấy tờ về thi hành BATCĐĐ được thực hiện theo Điều 39 Luật THADS
Việc thông báo trong THA nói chung và thi hành BATCĐĐ nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền được thông tin, quyền được biết và tham gia vào việc THA của các đương sự, tránh tình trạng tùy tiện, quan liêu, dẫn đến vi phạm pháp luật trong quá trình tổ chức THA của cơ quan THADS
Trang 24Về nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ tự nguyện thi hành BATCĐĐ có hiệu lực pháp luật Theo đó họ phải tự nguyện thực hiện đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ được ghi nhận trong bản án Việc tự nguyện THA có các dạng sau:
- Tự nguyện THA trước khi có quyết định THA: Đây là việc đương sự tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo bản án với nhau mà không cần có sự can thiệp của cơ quan THADS
- Tự nguyện THA sau khi có quyết định THA: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật THADS thì người phải THA có thời hạn tự nguyện THA là 10 ngày,
kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA
Pháp luật quy định tự nguyện THA là biện pháp bắt buộc các CHV phải thực hiện CHV chỉ được lựa chọn biện pháp khác ( các biện pháp cưỡng chế) sau khi hết thời gian tự nguyện mà người phải THA không tự nguyện THA
Khi thấy người phải thi hành BATCĐĐ có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc THA thì CHV có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm
Biện pháp bảo đảm có thể được thực hiện ngay trong thời gian tự nguyện THA
Các biện pháp bảo đảm thi hành BATCĐĐ theo quy định tại Khoản 3 Điều
66 Luật THADS gồm:
- Tạm giữ giấy tờ về nhà đất
- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về nhà đất
Theo quy định tại Điều 6 Luật THADS thì đương sự có quyền thỏa thuận THA thi hành BATCĐĐ Thỏa thuận THA là thỏa thuận giữa các bên đương sự về các quyền, nghĩa vụ ghi nhận trong quyết định THA và việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó Kết quả THA theo thỏa thuận được công nhận
Trang 25CHV sẽ chứng kiến việc thỏa thuận THA nếu đương sự yêu cầu
Trường hợp các bên không thực hiện đúng thỏa thuận thì việc THADS thực hiện theo đúng nội dung bản án
- Nguyên tắc của thỏa thuận THA:
+ Thỏa thuận đó không được trái pháp luật:VD: Theo Quyết định THA thì A
có nghĩa vụ trả cho B và C lô đất tại phường N Trong quá trình THA, B và A đã thỏa thuận A sẽ trả cho B phần đất mà B được nhận theo bản án đồng thời bịt lối đi của nhà C lại (hiện nhà C ở trong phần đất của B) Thỏa thuận của A và B sẽ không được chấp nhận vì đã vi phạm BLDS, Luật đất đai, luật nhà ở…
+ Thỏa thuận không được trái đạo đức xã hội:VD: Theo quyết định THA của huyện K thì D phải trả cho M diện tích 200m2 đất D và M là hai anh em ruột có bố
đẻ là I Trong quá trình thi hành án, D và M thỏa thuận D sẽ trả M diện tích đất trên nếu M giúp D ngăn cản không cho ông I trở về nhà D chơi với các cháu nội (con của D) Thỏa thuận này không được công nhận vì trái với quy tắc đạo đức được xã hội thừa nhận
+ Sự thỏa thuận phải xuất phát từ sự tự nguyện của các bên đương sự, Các bên đương sự tự mình quyết định nội dung thỏa thuận Mọi thỏa thuận do bị cưỡng ép, đe dọa, ép buộc… ngoài ý chí của đương sự sẽ không được CHV chấp nhận
+ Việc thỏa thuận của các bên đương sự không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của một người khác VD: Theo quyết định THA thì Q phải trả P 01 lô đất tại quận X Do P đang nợ Y 1.000.000.000đ nên P và Q thỏa thuận P không nhận lô đất trên Thỏa thuận này không được công nhận vì việc từ chối nhận lô đất của P là nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ với Y
- Việc thỏa thuận thi hành BATCĐĐ có các dạng sau:
+ Thỏa thuận về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ THA: Đây là các thỏa
thuận mà đương sự chỉ thỏa thuận về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện Ví dụ: Thỏa thuận lùi thời gian bàn giao QSDĐ so với thời hạn ghi trong bản án
Trang 26Trường hợp này CHV chỉ ghi nhận và đôn đốc các bên thực hiện đúng thỏa thuận Nếu thỏa thuận không được thực hiện thì CHV sẽ tổ chức thi hành theo bản án
+ Thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ THA: Có các trường hợp:
Trường hợp 1: Các bên đương sự thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ thấp hơn đối
với phần nghĩa vụ được ghi trong quyết định THA Ví dụ: Theo quyết định THA thì
A phải trả B 300m2 đất Các bên thỏa thuận A chỉ phải trả B 200m2 thay vì trả 300m2 đất theo quyết định THA Trường hợp này có 02 quan điểm: Quan điểm 01 cho rằng CHV đôn đốc A trả B 200m2 như thỏa thuận các bên và ra quyết định đình chỉ 100m2 đất còn lại theo Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS
Quan điểm 02 cho rằng CHV ghi nhận thỏa thuận của đương sự mà không ra quyết định đình chỉ 100m2 đất, biên bản thực hiện thỏa thuận là căn cứ THA xong
và là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cho đương sự
Quan điểm của tác giả là nhất trí với quan điểm 02 vì đương sự không thỏa thuận yêu cầu đình chỉ phần 100m2 đất này mà chỉ thỏa thuận thực hiện một nghĩa
vụ thấp hơn thay cho nghĩa vụ phải THA
Trường hợp 2: Thỏa thuận khác hoàn toàn với nội dung quyết định THA Ví
dụ: Bản án ly hôn giữa A và B tuyên A phải giao đất cho B, B trả tiền cho A Khi THA do B không có tiền trả, hai bên thỏa thuận ngược lại giao nhà đất cho A và A trả tiền cho B Vấn đề này có 02 quan điểm:
Quan điểm 01 cho rằng các đương sự phải thỏa thuận không trái pháp luật và phù hợp với nội dung bản án Vì vậy không chấp nhận thỏa thuận của đương sự và hướng dẫn đương sự làm thủ tục rút yêu cầu THA và tiến hành đình chỉ THA
Quan điểm 02 cho rằng Luật không quy định là thỏa thuận THA của các bên đương sự phải phù hợp với nội dung của bản án mà chỉ cần không trái pháp luật, đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác là được (Luật THADS Điều 6 Khoản 1) Nên vẫn chấp nhận thỏa thuận này
Tác giả nhất trí với quan điểm 02 vì: Nguyên tắc của quan hệ dân sự là tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên Quan hệ giữa bên được THA và bên phải
Trang 27THA là quan hệ dân sự nên các bên có quyền tự định đoạt thông qua thỏa thuận THA Một vấn đề nữa là theo quy định về thủ tục GCNQSDĐ thì biên bản thỏa thuận THA và biên bản thực hiện thỏa thuận THA là căn cứ để cấp GCNQSDĐ Nếu không chấp nhận thỏa thuận của A và B trong ví dụ trên sẽ không có biên bản thỏa thuận, không có biên bản thực hiện thỏa thuận THA, sẽ không có cơ sở để cấp GCNQSDĐ cho bên nào Nếu A muốn được cấp GCNQSDĐ thì phải làm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và phải nộp thuế theo quy định Như vậy sẽ làm thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của người dân
Xác minh THA là công việc hết sức quan trọng đối với việc thi hành BATCĐĐ Kết quả xác minh là căn cứ để xây dựng các phương án thi hành, căn cứ
để ra các quyết định về THA
CHV tiến hành xác minh trong hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện hoặc thực hiện ngay nếu là thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Việc xác minh thi hành BATCĐĐ cần được tiến hành tại các địa điểm: nơi
có đất tranh chấp, nơi cư trú của người phải THA, nơi có tài sản của người phải THA, những nơi khác nếu CHV xét thấy cần thiết như nơi sinh sống của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan…
Nội dung xác minh phải xác định rõ tình trạng nhân thân của đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, tình trạng diện tích đất phải bàn giao, hiện trạng tài sản trên đất, thời điểm phát sinh tài sản trên đất, điều kiện kinh tế, tình trạng tài sản khác của người phải THA
Các biện pháp cưỡng chế được áp dụng là:
+ Buộc thực hiện công việc công việc nhất định theo điều 118 Luật THADS
Trang 28Biện pháp này được áp dụng khi người phải thi hành BATCĐĐ có nghĩa vụ:
Dỡ nhà, công trình xây dựng trên đất trái phép, ngăn chia ranh giới nhà đất, mở lối đi, khôi phục nguyên trạng như trước khi xâm phạm QSDĐ…
+ Thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định theo điều 119 Luật THADS
Biện pháp này được áp dụng trong các trường hợp thi hành các khoản: Chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện QSDĐ hợp pháp , chấm dứt hành vi sử dụng đất bất hợp pháp…
+ Biện pháp cưỡng chế chính đối với BATCĐĐ thường được áp dụng là biện pháp được quy định tại Điều 117 Luật THADS: Cưỡng chế chuyển giao QSDĐ
Để áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao QSDĐ thì phải đảm bảo các điều kiện sau:
Người phải THA có nghĩa vụ chuyển giao QSDĐ; Đã hết thời hạn tự nguyện THA mà CHV ấn định cho người phải THA; Người phải THA có điều kiện THA nghĩa là kết quả xác minh thực trạng diện tích đất phải chuyển giao phù hợp với phần quyết định của bản án về vị trí mốc giới, diện tích, sơ đồ thửa đất, số hiệu thửa đất
Các bước tiến hành bao gồm: Ra quyết định cưỡng chế chuyển giao QSDĐ; Lập kế hoạch cưỡng chế; Chuẩn bị cưỡng chế; Thông báo cưỡng chế; Tổ chức cưỡng chế
Quyết định cưỡng chế chuyển giao QSDĐ ngoài việc đảm bảo thể thức theo mẫu quy định thống nhất phải đảm bảo tính chính xác, cụ thể họ tên, địa chỉ người phải THA, người được THA, thời gian, địa điểm cưỡng chế, diện tích đất phải bàn giao, số đo, mốc giới, tờ bản đồ, địa chỉ thửa đất
Kế hoạch cưỡng chế giao QSDĐ phải được gửi ngay cho VKS, Cơ quan công an cùng cấp, UBND cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế, cơ quan tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế
Trên cơ sở việc xác minh nắm bắt tình hình, dự liệu các tình huống chống đối,
Trang 29CHV xác định các lực lượng tham gia cưỡng chế và lực lượng bảo vệ cưỡng chế Cơ quan công an căn cứ vào kế hoạch cưỡng chế để lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi cản trở, chống đối việc cưỡng chế giao QSDĐ
CHV phải dự trù chi phí cưỡng chế Trên cơ sở Kế hoạch cưỡng chế và Kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, CHV dự trù các khoản chi trong buổi cưỡng chế trình thủ trưởng cơ quan THADS phê duyệt, thông báo cho đương sự, và làm căn cứ thu tiền chi phí cưỡng chế từ đương sự, cơ sở thanh quyết toán sau khi cưỡng chế
Trên cơ sở các phương án đặt ra trong quá trình cưỡng chế CHV phải chuẩn
bị đầy đủ các công cụ, phương tiện cho việc cưỡng chế
Thành phần tham gia Hội đồng cưỡng chế giao QSDĐ bao gồm: CHV – làm Chủ tịch Hội đồng, Đại diện các cơ quan: Tài nguyên môi trường, Văn phòng đăng
ký QSDĐ, Công thương, Tài chính, Tư pháp, Công an, Chính quyền địa phương Các lực lượng tham gia khác như các cán bộ chuyên môn của địa phương, lực lượng công an bảo vệ, lực lượng vận chuyển, phá dỡ Đại diện VKSND thực hiện chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật quá trình cưỡng chế
Việc tổ chức cưỡng chế giao đất phải đảm bảo theo kế hoạch cưỡng chế đã phê duyệt Sau khi công bố quyết định cưỡng chế, CHV yêu cầu người phải THA, những người khác tự nguyện giao QSDĐ cho người được THA Trường hợp trên đất có tài sản thì yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khởi diện tích đất phải giao
Nếu người phải THA không tự nguyện thực hiện thì CHV yêu cầu lực lượng cưỡng chế cắm mốc, xác định ranh giới Trường hợp trên đất có tài sản thì CHV yêu cầu lực lượng cưỡng chế kiểm kê và chuyển toàn bộ ra khỏi diện tích đất phải giao
Sau khi đã chuyển xong tài sản của người phải THA và gia đình họ ra khỏi diện tích đất thì CHV làm thủ tục giao đất cho người được THA
Ngoài ra nếu người phải THA trong BATCĐĐ có các nghĩa vụ khác như: giao nhà, trả vật, trả tiền … thì tùy từng trường hợp CHV áp dụng các biện pháp
Trang 30cưỡng chế theo Điều 71 Luật THADS gồm Tuy nhiên đây không phải là những biện pháp cưỡng chế điển hình của việc thi hành BATCĐĐ
Chi phí cưỡng chế thi hành BATCĐĐ theo Điều 73 Luật THADS Chi phí cho việc cưỡng chế thi hành BATCĐĐ thường là rất lớn vì một việc THA loại này tranh chấp đất đai thường có nhiều khoản phải thi hành như: tháo dỡ công trình xây dựng trên đất, dịch chuyển tài sản, giao nhà đất…
cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa án đã ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự
Điều 135 Thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
1 Trường hợp quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa thì việc thi hành được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm và bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
2 Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới không bị hủy, bị sửa
mà chưa được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án; nếu đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự thông báo cho Tòa án đã ra quyết định giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp
và đương sự
Trang 313 Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản
Trường hợp tài sản thi hành án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng chế trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu
Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản
Trường hợp có yêu cầu về bồi thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị hủy, sửa giải quyết theo quy định của pháp luật
Điều 136 Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
1 Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại thì việc thi hành án được thực hiện theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm mới
2 Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ
án mà phần tài sản trong bản án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc
đã thi hành xong thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật này”
Nhìn chung, pháp luật về thi hành BATCĐĐ hiện hành đã hoàn thiện hơn so với trước đây, quy định tương đối toàn diện từ các nguyên tắc chung đến trình tự, thủ tục thực hiện, từ giai đoạn nhận đơn đến thi hành xong một việc thi hành BATCĐĐ
Trang 32Trước đây, nhất là trước khi có pháp lệnh THADS năm 1993, pháp luật về THADS nói chung và thi hành BATCĐĐ nói riêng chỉ quy định chung chung, chủ yếu là các quy định mang tính nguyên tắc dẫn tới việc thực hiện phụ thuộc rất nhiều vào sự suy đoán mang tính chất chủ quan của cán bộ làm công tác THA, vận dụng tùy tiện, thiếu thống nhất
Hiện nay, đã quy định cụ thể hơn từng thủ tục, từng giai đoạn, từng khâu của quá trình giải quyết một việc THADS giúp cho CHV và cán bộ THADS tác nghiệp
dễ dàng, thuận lợi hơn, hạn chế những sai xót trong quá trình thi hành BATCĐĐ
Tuy nhiên nhìn vào tổng thể, pháp luật về thi hành BATCĐĐ nói riêng vẫn còn nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, thiếu đồng bộ với hệ thống pháp luật, gây khó khăn cho CHV và cơ quan THADS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chưa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp một cách tốt nhất cho đương sự
Cụ thể:
*Về quy định thời hiệu yêu cầu THA:
Pháp luật hiện hành quy định thời hiệu yêu cầu thi hành BATCĐĐ cũng giống như thời hiệu yêu cầu THADS các việc khác Vướng mắc trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu THA, vậy thì cấp GCNQSDĐ cho ai VD: Bản án tuyên A phải chuyển giao cho B 200m2 đất mà A đang quản lý, vì một lý do nào đó mà B không làm đơn yêu cầu THA trong hạn luật định 200m2 đất không được bàn giao cho B mà vẫn do A quản lý và sử dụng Cơ quan quản lý đất đai không thể sang tên thửa đất cho B vì B chưa được nhận đất, cũng không thể cấp GCNQSDĐ cho A vì bản án đã tuyên trả cho B (Theo Khoản 3 Điều 100 Luật đất đai năm 2013)
*Về quy định thời hạn thông báo THA:
Thời hạn thông báo là 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản theo quy định tại Khoản 2 Điều 39 Luật THADS là ngắn trong các trường hợp có khó khăn về việc thông báo Ví dụ thông báo tại địa bàn vùng sâu vùng xa, đương sự hay đi làm
ăn xa, khó tìm được địa chỉ cụ thể Nhất là các việc tranh chấp đất đai vốn dĩ rất phức tạp, đương sự phải THA thường cố tình tìm mọi cách trốn tránh việc nhận các giấy tờ về THA nhằm gây khó khăn cho cơ quan THADS và CHV
Trang 33*Về quy định áp dụng các biện pháp bảo đảm:
Hiện nay luật chưa có quy định cụ thể về quy trình áp dụng biện pháp bảo đảm THADS nói chung và thi hành BATCĐĐ nói riêng dẫn tới hai khả năng: Một
là các cơ quan THADS không dám áp dụng biện pháp bảo đảm, hai là áp dụng một cách tùy tiện, không thống nhất
Hiện nay các văn bản pháp luật chỉ quy định nhiệm vụ của ngành công an là bảo vệ việc cưỡng chế THA mà chưa quy định bảo vệ việc thực hiện các biện pháp bảo đảm (quy định tại Khoản 2 Điều 169 Luật THADS, Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an quy định việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế THADS) Đây cũng là bất cập vì trong nhiều trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm cũng rất cần sự hỗ trợ của lực lượng công
an
*Về quy định thỏa thuận THADS:
Đây là phương pháp hết sức quan trọng trong việc THADS, đặc biệt là thi hành các BATCĐĐ Tuy nhiên pháp luật về THADS chưa quy định cụ thể, rõ ràng về việc thỏa thuận THA trong đó có việc thỏa thuận thi hành các BATCĐĐ dẫn đến cách hiểu
và việc vận dụng thiếu thống nhất Gây khó khăn cho người dân khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ về THADS của mình
*Về quy định cưỡng chế thi hành các BATCĐĐ:
- Các quy định về cưỡng chế thi hành BATCĐĐ, đặc biệt là biện pháp cưỡng chế giao QSDĐ hiện còn rất chung chung, sơ sài, không bao quát hết các khía cạnh của việc cưỡng chế đất đai vốn hết sức phức tạp
- Bất cập tại Điều 117 Luật THADS, đó là điều luật mới chỉ đề cập đến đến việc xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao hình thành trước khi có bản án
sơ thẩm và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, còn tài sản hình thành trong thời gian từ khi có bản án sơ thẩm đến khi bản án có hiệu lực pháp luật thì luật không đề cập tới Điều này gây khó khăn cho CHV khi giải quyết tình huống trên
Trang 34- Bất cập trong quy định về việc xử lý tài sản khi cưỡng chế giao nhà, đất
không có người nhận thì giao người quản lý và thông báo
nhận tiền
BATCĐĐ khi thực hiện việc , thời gian tổ
loại việc này căn cứ quy định trên thì CHV thực hiện việc
t từ việc bán tài sản mà không có người nhận
dân rất dễ phát sinh việc
* Về thi hành QĐGĐT sửa một phần hoặc toàn bộ BATCĐĐ:
Theo Khoản 5 Điều 343 Bộ luật TTDS năm 2015 thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của tòa án Tuy nhiên Luật THADS chưa quy định việc thi hành QĐGĐT về sửa bản án Do đó các
cơ quan THADS không có căn cứ để thực hiện loại quyết định này
Trang 35Kết luận chương 1
Nghiên cứu các vấn đề về thi hành BATCĐĐ dưới góc độ khoa học pháp lý cho ta thấy đây là loại việc THADS mang tính đặc thù, có tính chất phức tạp, thuộc loại khó thi hành Có nhiều yếu tố tác động đến việc thi hành BATCĐĐ, trong đó pháp luật về thi hành BATCĐĐ giữ vai trò đặc biệt quan trọng Đây là hành lang pháp lý để mọi người thực hiện các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc thi hành BATCĐĐ
Những năm gần đây pháp luật về THA nói chung và thi hành các BATCĐĐ nói riêng đã có nhiều sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn làm căn
cứ cho các cơ quan THADS tổ chức thi hành các vụ việc tranh chấp đất đai Tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm hạn chế, bất cập ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả quá trình tổ chức THA
Rất nhiều vấn đề về THADS chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh, nhất là trong lĩnh vực thi hành BATCĐĐ như thỏa thuận THA thi hành BATCĐĐ; Nhiều vấn đề quy định chung chung, không cụ thể như về chế định cưỡng chế THA; Một
số quy định không phù hợp chưa bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thi hành BATCĐĐ: thời hiệu THA; Luật THADS chưa đồng bộ với các ngành luật khác như: BLDS 2015, BLTTDS 2015 phần thi hành QĐGĐT
Một số quy định của các ngành luật khác có liên quan đến đến thi hành BATCĐĐ còn bất cập chưa đồng bộ với Luật THADS như vấn đề cấp GCNQSDĐ quy định trong Luật đất đai
Việc nghiên cứu tổng thể pháp luật về thi hành BATCĐĐ nhằm tìm ra các điểm khiếm khuyết, cung cấp các thông tin quan trọng trong quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn hoạt động thi hành BATCĐĐ
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THI HÀNH BATCĐĐ TẠI HUYỆN QUỲNH
PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Quỳnh Phụ
Huyện Quỳnh Phụ nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Bình Phía Đông giáp Hải Phòng, Phía Tây giáp huyện Hưng Hà Phía Nam giáp huyện Đông Hưng và huyện Thái Thuỵ của tỉnh Thái Bình, Phía Bắc giáp tỉnh Hải Dương Diện tích 209,6 km2 Có quốc lộ 10 chạy qua 04 xã Toàn huyện có 38 xã, thị trấn Dân số khoảng 250.000 người trong đó 140.000 người đang tuổi lao động Với diện tích nhỏ trong khi dân số đông cũng tạo lên sức éo về nhu cầu sử dụng đất và là một trong những nguyên nhân tranh chấp đất đai tăng, việc thi hành BATCĐĐ tăng, tuy nhiên việc THA cũng thuận lợi trong quá trình xác minh thực địa và tổ chức giao đất
Quỳnh Phụ nhiều năm trước đây là huyện nông nghiệp, tuy nhiên hiện nay
đã quy hoạch một số khu, cụm công nghiệp thu hút đầu tư vào huyện tương đối lớn,
vì vậy mà sức ép lên nhu cầu về đất đai tăng cao, tình trạng tranh chấp đất đai tại tòa án tuy không lớn nhưng có chiều hướng gia tăng dẫn tới việc thi hành BATCĐĐ tăng Tuy nhiên kinh tế của huyện vẫn còn rất khó khăn, thu ngân sách không nhiều dẫn tới việc hỗ trợ tài chính của địa phương cho công tác THADS nói chung và thi hành BATCĐĐ nói riêng không có
Về mặt xã hội, Quỳnh Phụ vẫn là một vùng quê có tính cộng đồng làng xã tương đối lớn Vì vậy, nếu công tác tuyên truyền, công tác dân vận làm tốt sẽ thuận lợi cho việc thi hành BATCĐĐ và ngược lại
Các BATCĐĐ trừ phần án phí thuộc diện chủ động THA, còn lại được giải quyết khi có yêu cầu THA Thực tế gần như đa số các BATCĐĐ đều được đương
sự nộp đơn yêu cầu THA Rất ít bản án đương sự tự mình thực hiện không qua thủ
Trang 37tục THA tại cơ quan THADS
Trước đây tại địa bàn huyện Quỳnh Phụ số lượng các BATCĐĐ rất ít, tính chất phức tạp không cao Tuy nhiên thời gian gần đây các vụ việc này có xu hướng gia tăng
Bảng 2.1: Thống kê số liệu các BATCĐĐ đƣa ra thi hành
Bản án giải quyết tranh
*Bản án giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ:
Thường là những tranh chấp về đối tượng của hợp đồng Diện tích đất trên thực tế thường là dôi ra so với diện tích ghi trên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ Hợp đồng ghi không đúng về loại đất, rất nhiều hợp đồng ghi chuyển nhượng đất ở nhưng trên thực tế là đất nông nghiệp Hợp đồng có sự lừa dối Nội dung của các hợp đồng chuyển nhượng không cụ thể, hình thức của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không tuân thủ quy định của pháp luật Thường hợp đồng tranh chấp là các giấy viết tay với nội dung rất sơ sài Tòa án thường hay có những sai xót dẫn đến
Trang 38phải cải sửa, phần quyết định tuyên không rõ dẫn đến phải đính chính, giải thích bản án Những ví dụ điển hình:
VD1: Bản án 10/2012/DS-ST ngày 17/06/2012 của TAND huyện Quỳnh Phụ, bản án 36/2012/DSPT ngày 07/11/2012 của TAND tỉnh Thái Bình giải quyết
về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Vũ Huy Tr ở thôn Bương Hạ - xã Quỳnh Ngọc –huyện Quỳnh Phụ, bị đơn là ông Ông Nguyễn Đức L – tổ 11-TT.Quỳnh Côi-huyện Quỳnh Phụ Theo nội dung vụ việc, tháng 3/2008 ông Lê đã
ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ 300m2 tại Khu 4, Thị trấn Quỳnh Côi ông
Tr với mục đích làm nhà ở Tuy nhiên thực tế diện tích đất này là đất vườn tạp (đất nông nghiệp) chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ Vì vậy ông Tr yêu cầu ông L phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở Do mâu thuẫn về phí chuyển nhượng mục đích sử dụng đất nên ông Tr khởi kiện
VD2: Bản án số: 11/DSST ngày 18/5/2012 của TAND huyện Quỳnh Phụ, Bản án số 31/DSPT ngày 15/8/2012 của TAND tỉnh Thái Bình quyết định về việc
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và mua bán tài sản trên đất” giữa nguyên đơn anh Nguyễn Trung T – Tư môi, An Bài và bị đơn anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị D – Vũ Hạ, An Vũ Hợp đồng tranh chấp chỉ là giấy viết tay với nội dung không cụ thể, rõ ràng về ranh giới đất và tài sản trên đất Quá trình thụ lý đơn yêu cầu THA của anh T, cơ quan THADS Quỳnh Phụ đã nhiều lần yêu cầu Tòa xem xét giải thích bản án Tòa các cấp đã 03 lần giải thích bản án Tuy nhiên đến nay vẫn chưa nhận được sự trả lời thỏa đáng của tòa án
* Bản án giải quyết tranh chấp về hợp đồng cho thuê, cho mượn QSDĐ:
Những hợp đồng bị tranh chấp chủ yếu là do nội dung sơ sài, không tuân thủ
về hình thức của hợp đồng (thậm chí có hợp đồng bằng miệng) Đối tượng của hợp đồng không chính xác (thường là diện tích đất cho thuê, cho mượn trên thực tế dôi
ra so với diện tích ghi trên hợp đồng) Qua trình thực hiện hợp đồng một thời gian dài phát sinh tranh chấp Ví dụ:
VD3: Bản án số 31/DSST ngày 14/12/2013 của TAND huyện Quỳnh Phụ về
Trang 39hợp đồng thuê đất Nguyên đơn là Ủy ban nhân dân xã An Khê, bị đơn là ông Nguyễn Duy Đ sinh năm 1941, STQ: Thôn Lộng Khê 3, xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ Hợp đồng thuê đất thầu khoán tranh chấp giữa UBND xã An Khê với ông Nguyễn Duy Đ thì ghi diện diện tích đất cho thuê là 6.120m2 đất tại thôn An Quý-
xã An Khê, vì vậy Tòa đã tuyên ông Đ phải trả UBND xã An Khê 6.120m2 Tuy nhiên sau khi thụ lý THA, cơ quan THADS xác minh trên thực tế thì diện tích khu đất cho thuê mà lại là 7.811m2, dôi ra rất nhiều so với bản án tuyên
* Bản án giải quyết tranh chấp về thế chấp QSDĐ:
Thủ tục thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng và của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Quỳnh Phụ nói riêng thời gian qua ở một số vụ việc không được chặt chẽ Hợp đồng thế chấp ghi rất chung chung, sơ sài Việc kiểm tra đối chiếu tài sản thế chấp trên thực tế không chính xác Do vậy khi tranh chấp xảy ra, các bản án chỉ ghi nhận xử lý tài sản trên cơ sở Hợp đồng thế chấp Chỉ đến khi THA, CHV xác minh thực địa thì mới phát hiện nhiều vụ việc diện tích, số đo, mốc giới đất, tài sản trên đất được tuyên trong bản án chênh lệch so với thực tế Một số vụ việc tòa án không đưa đồng chủ sở hữu tài sản vào
tố tụng vì hợp đồng thế chấp chỉ có vợ, chồng ký, không có những người khác của
hộ gia đình ký, trong khi GCNQSDĐ mang tên hộ gia đình
VD4: Bản án số 59/2014/DSST ngày 18/4/2014 của TAND huyện Quỳnh Phụ Nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Quỳnh Phụ, bị đơn là ông Nguyễn Hữu N và bà Định Thị T – Địa chỉ:
An Vũ, Quỳnh Phụ Bản án tuyên kê biên xử lý là 115m2 QSDĐ và tài sản trên đất của ông N và bà T theo hợp đồng thế chấp để thanh toán hợp đồng vay vốn quá hạn của ông N, bà T với ngân hàng Hợp đồng thế chấp chỉ ghi là 115m2 đất và nhà ở cấp 4 Tuy nhiên khi CHV xác minh cụ thể thì diện tích lô đất thế chấp thực tế là 137m2, trên đất ngoài nhà ở cấp 4 diện tích khoảng 45m2 còn các công trình phụ, khu chăn nuôi và một số cây cối hoa lợi khác Ngoài ông N, bà T thì hộ gia đình có diện tích đất thế chấp trên còn 02 người con