Nguyễn Văn Thọ, Viết và đọc chuyên đề Mùa xuân, Nhiều tác giả, NXB Hội Nhà văn, 2021, tr.130 Từ ý nghĩa của bài thơ trên, hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em về vẻ đẹp của nhữ
Trang 1Ngày soạn: 08 03 2023
Ngày giảng: 10.03 2023
Buổi 7: Tiết 25,26,27,28
LUYỆN ĐỀ Câu 1 (8,0 điểm):
để thi nhân làm thơ
Tôi là mảnh vỡ của đời mảnh vỡ mặt trời
giọt nắng nóng làm khô đi nước mắt
Tôi là – mảnh vỡ
(Nguyễn Văn Thọ, Viết và đọc chuyên đề Mùa xuân, Nhiều tác giả, NXB Hội Nhà văn, 2021, tr.130)
Từ ý nghĩa của bài thơ trên, hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em
về vẻ đẹp của những mảnh vỡ trong cuộc sống.
Câu 2 (12,0 điểm):
Trong Lời giới thiệu cuốn sách Tự tình cùng cái đẹp của Chu Văn Sơn, nhà
phê bình Văn Gía cho rằng:
Ngòi bút chỉ có thể cất lên một cách đẹp đẽ nhất, lộng lẫy nhất khi anh đem cái lòng yêu phổ vào cảnh vật, phổ vào sự sống.
(Chu Văn Sơn, Tự tình cùng cái đẹp, NXB Hội Nhà văn, 2019, tr.10)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ đem cái lòng yêu phổ vào
cảnh vật, phổ vào sự sống qua một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn THCS.
HƯỚNG DẪN CHẤMCâu 1:
Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của những mảnh vỡ trong cuộc
sống
Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ theo những cách khác nhau nhưng phải hợp
lí, có sức thuyết phục Sau đây là một số định hướng:
* Ý nghĩa của hình tượng mảnh vỡ trong bài thơ:
- mảnh vỡ thủy tinh, gương, màu; mảnh vỡ của trăng; mảnh vỡ của đời:
những sự vật, con người không hoàn hảo, không trọn vẹn, đầy những khiếmkhuyết,
- xin làm kính vạn hoa cho trẻ chơi; để thi nhân làm thơ, làm khô đi nước mắt: những hành động, ước muốn đóng góp cho đời bằng chính những điều
không hoàn hảo ấy,
- Tôi là – mảnh vỡ: Bài thơ là một sự nhận thức về giá trị đích thực của mỗi con người Chúng ta sinh ra đều có thể là những mảnh vỡ, những khiếm khuyết
của một điều gì đó nhưng chỉ cần ta ý thức đúng về bản thân mình và sống thật
Trang 2tích cực thì chính những điều chưa hoàn hảo ấy lại tạo nên vẻ đẹp rất riêng cho
những mảnh vỡ.
* Bàn luận:
- Có rất nhiều mảnh vỡ tồn tại trong cuộc sống của chúng ta: những người
khuyết tật, những người chịu di chứng của thương tổn tinh thần, những vết sẹotrên cơ thể, những sai lầm trong quá khứ,
- Dù không có sự trọn vẹn và hoàn hảo nhưng những mảnh vỡ cũng mang
trong mình những vẻ đẹp: tạo nên sự khác biệt, nâng cao khả năng thích ứng củacon người với hoàn cảnh, nhắc nhở về những sai lầm, biểu hiện khát vọng cốnghiến và khát vọng vươn lên trong bất cứ hoàn cảnh nào,
- Mưu cầu sự hoàn hảo là nguyện vọng chính đáng của con người nhưng khikhông thể nào đạt được sự trọn vẹn đó thì sống theo cách phát huy vẻ đẹp của
- Ngòi bút cất lên một cách đẹp đẽ nhất, lộng lẫy nhất: người nghệ sĩ
viết nên những tác phẩm đặc sắc nhất, có giá trị nghệ thuật cao nhất, đem lạicảm xúc thẩm mĩ thăng hoa cho người đọc
- đem cái lòng yêu phổ vào cảnh vật, phổ vào sự sống: người nghệ sĩ chân
chính phải là người có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có tình yêu tha thiết vớithiên nhiên, cuộc sống, con người; thể hiện một cách chân thành, thiết tha,mãnh liệt trong tác phẩm của mình
-> Từ ý kiến trên, Văn Gía muốn khẳng định: Tác phẩm nghệ thuật thực
sự tỏa sáng, đạt đến đỉnh cao, phải là tác phẩm kết tinh từ tình yêu tah thiếtcùng những rung cảm sâu xa, mãnh liệt của người nghệ sĩ trước cuộc đời;tình cảm, cảm xúc ấy là nhân tố có vai trò quyết định, tác động mạnh mẽ đếnthế giới cảm xúc của người đọc, đồng thời là cơ sở của tinh thần nhân đạo,nhân văn cao cả, làm nên vẻ đẹp, sự thành công, giá trị căn cốt của một tácphẩm nghệ thuật
Trang 3- Ý kiến của Văn Gía đã nhấn mạnh đặc trưng cơ bản của tác phẩm vănchương và tư chất nghệ sĩ của nhà văn.
- Ý kiến trên đặt ra yêu cầu: nhà văn phải thâm nhập thực tế, trau dồi vốn sống, và trên hết phải có tấm lòng, tình yêu tha thiết, mãnh liệt đối với cuộc sống, con người; người đọc phải mở lòng lắng nghe, thấu hiểu những thông điệp thẩm mĩ đầy nhân văn mà nghệ sĩ gửi gắm
ĐỀ 2:
Câu 1: Có người cho rằng: “Ta hãy học theo cách của dòng sông, nhìn
thấy núi thì đi đường vòng” Tuy nhiên, Robert Frost lại nói: “Trong rừng cónhiều lối đi Và tôi chọn lối đi không có dấu chân người”
Gợi ý
1 Giải thích:
– “Dòng sông khi gặp núi thì đi đường vòng”: ý nói khi con người gặp khó
khăn, trở ngại nên tìm hướng đi khác dễ dàng hơn
– “Chọn lối đi chưa có dấu chân người”: dũng cảm, dám khám phá cái mới,
dám đương đầu với thử thách
– Bằng cách nói hình ảnh, hai ý kiến nêu lên những bài học về lẽ sống: cáchsống linh hoạt, khôn khéo; cách sống dũng cảm, mạo hiểm
2 Bàn luận:
– Trong cuộc sống, chúng ta luôn phải đối đầu với những khó khăn, trắc trở.Hoàn cảnh, tính cách buộc mỗi người phải có sự lựa chọn ứng xử khác nhau.– Đứng trước khó khăn, trở ngại quá lớn, con người đôi khi phải chọn đườngvòng dẫu mất nhiều thời gian, công sức Đây là cách lựa chọn linh hoạt, mềmdẻo giúp ta đạt được kết quả tốt đẹp Nếu liều lĩnh dấn tới, đâm đầu vào núi,
có thể sẽ chuốc lấy thất bại
– Nhưng trước nhiều con đường, có lúc chúng ta cũng cần phải biết mạohiểm, dũng cảm, sáng tạo, tìm cho mình một lối đi riêng Lối đi ấy có thể giúp
ta đến đích nhanh nhất, biến ước mơ thành hiện thực Nếu thất bại, đó cũng làbài học quý giá cho thành công tiếp theo
3 Phê phán:
Thật đáng trách thay, có những người không thích đi đường vòng như nhữngdòng sông vượt núi và cũng chẳng có đủ dũng khí để mở những lối đi mớiqua những khu rừng Trước nghịch cảnh, họ thường chọn cách thoái lui, chấpnhận thất bại, sống cuộc sống nhỏ bé
III Kết bài:
Bằng cách nào bạn đạt đến mục đích không quan trọng, điều quan trongnhất dó là bạn có đạt đến mục đích hay là không Chấp nhận đi đường vòngnhư những dòng sông, hay mạo hiểm mở những lối đi mới qua những khurừng rậm, cả hai cách đều rất đáng để học hỏi và làm theo
Trang 4Gợi ý c2
1 Giải thích ý kiến
- Nhìn dòng chảy của những con sông như một ứng xử của nó với những trởngại - nó luôn tìm đường vòng đề tránh núi đồi, tiếp tục chảy cho đến khi rabiển, hay hoà vào dòng sông khác
- Đây là lời khuyên con người hãy học cách ứng xử của dòng sông: gặp trởngại không chịu lùi bước, mà phải tìm con đường khác để tiếp tục thực hiệncông việc, mục đích của mình; gặp khó khăn, ngăn trở phải biết vòng tránh;cần thay đối, điều chỉnh mọi vấn đề cho phù hợp với những biến động củacuộc đời, của công việc
- Đây cũng là lời khuyên con người nên có cách ứng xử, xử lí linh hoạt, mềmmại, phù hợp trong mọi hoàn cảnh
2 Bình luận ý kiến
- Đây là một cách nhìn thiên nhiên có chiều sâu nhân bản, thể hiện quan điểmcon người gắn bó với thiên nhiên, sống hoà nhập và học tập được từ thiênnhiên nhiều điều bồ ích, trong đó có bài học nhân sinh: lối sống, cách ửng xử,hành xử ở đời
- Cách ứng xử của dòng sông vừa thể hiện sự thông minh, khôn khéo, linhhoạt vừa thế hiện bản lĩnh vững vàng, cứng cỏi trước những thử thách, khókhăn, những tình huống bất ngờ nảy sinh vì vậy nó rất đáng để chúng ta họctập - đó là ý kiến xác đáng
- Cuộc sống của con người thường gặp nhiều thử thách, ngăn trở Con ngườilàm một việc gì đó cũng thường gặp trở ngại, hay những khó khăn, những vấn
đề mới nảy sinh lúc đó con người cần học theo cách ứng xử của dòng sông:không nản lòng, không dừng lại, không quay đầu mà phải tìm cách đi tiếp, tìm
ra con đường phù hợp, cách thức mới, khôn khéo vòng tránh, thay đổi linhhoạt đề đạt được mục đích
- Trong giao tiếp, ứng xử, chúng ta cũng không nên lấy đối đầu làm nguyêntắc, không nên cứng nhắc, bất biến, mà cần linh hoạt, mềm mỏng, thay đổinhiều hình thức cho phù hợp - miễn là có hiệu quả (Kết hợp phân tích một sốdẫn chứng để thuyết phục cho các ý bình luận)
3 Bàn bạc, mở rộng vấn đề
- Cách ứng xử của dòng sông được coi là khéo léo, bền bỉ, kiên định để đi tớiđích Song từ một góc độ khác, cũng có thể có suy luận đấy là sự né tránh trớngại, không dám đối mặt với thực tại để vượt qua, sự e ngại không dám đấutranh để khẳng định cái sai, cái đúng
- Bài học rút ra: Từ việc bàn luận, hiểu ý kiến trên mà chúng ta rút ra những
bài học bố ích cho mình:
Trang 5- Cần kiên trì cho mục tiêu, mục đích của bản thân Không ngại khó khăn, thửthách, biết lựa chọn, thay đối đường hướng, phương pháp, cách thức cho phùhợp với những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau đế thành công.
- Dám đấu tranh, đối mặt với mọi trở ngại, chiến thắng chính nó, vượt quachính nó để đi lên phía trước
- Tuỳ từng hoàn cảnh, sự việc, vấn đề mà ta lựa chọn cách ứng xử, xử thế chophù hợp và mang tính tích cực nhất: hoặc là tìm mọi cách thay đổi, chọn lựagiải pháp khác để thành công; hoặc ta cần dũng cảm đối mặt với trở ngại đấutranh với chính nó, khuất phục nó, vượt lên nó, không hề né tránh Như vậy,con người sẽ có cách ứng xử đa dạng hơn, bản lĩnh hơn, mạnh mẽ hơn phùhợp với muôn vàn tình huống khác nhau của đời sống Con người cần khẳngđịnh mình là tinh hoa của sự sống trong vũ trụ n
Câu 2: (12,0 điểm) “ Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình Nhưng….tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản” (Lã Nguyên – Về tác gia và tác phẩm, NXBGD) Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua một vài tác phẩm văn học 9
mà em đã học.
1/ Mở bài: - Giới thiệu vấn đề, trích dẫn ý kiến - Giới thiệu tác phẩm cần chứng minh 2 Thân bài: 2.1 Giải thích: – Con đường riêng: chỉ cách thức khác nhau trong lao động sáng tạo văn học nghệ thuật của người nghệ sĩ – Quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản:
là những giá trị văn học (nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ….) có khả năng nhân đạo hóa con người Đó là bản chất mang ý nghĩa nhân văn muôn đời của văn học – Ý kiến khẳng định vai trò của hướng đi riêng trong khám phá, sáng tạo nhưng đích đến muôn đời của văn chương vẫn là chân thiện mĩ, nhân bản 2.2 Bàn luận: – Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình, bởi vì: + Vì đời sống là đối tượng khám phá của nghệ thuật, của văn chương Cuộc đời là nơi xuất phát của văn học Đứng trước hiện thực cuộc sống phong phú, mỗi nhà nghệ sĩ có những cảm xúc, suy ngẫm, lí giải khác nhau, lựa chọn những mảng đề tài khác nhau, cách xử lí đề tài khác nhau để đặt ra những vấn đề khác nhau Và đó là con đường riêng họ tạo ra cho mình Đó cũng là yêu cầu xuất phát từ đặc trưng của văn học nghệ thuật: lĩnh vực của sự sáng tạo Đó cũng là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi người nghệ sĩ Nam Cao tâm niệm: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay…” + Đặc trưng của văn học là lĩnh vực sáng tạo Đứng trước hiện thực phong phú, mỗi nghệ sĩ có những cảm xúc, suy ngẫm, lí giải khác nhau, chọn những mảng đề tài khác nhau, cách xử lí khác nhau + Lựa chọn con đường riêng sẽ tạo ra
sự đa dạng, mới lạ trong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định được vị trí, phong cách của nhà văn – Tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa cũng không thể vượt ra ngoài quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản, bởi vì: + Chân thiện mĩ, nhân bản là đích hướng đến, tâm điểm của mọi khám phá sáng tạo nghệ thuật Nếu không tạo ra con đường riêng của mình thì tác phẩm của họ sẽ trở thành sự sao chép, sẽ chết, dẫm lên vết chân của người
đi trước + Quy luật chân thiện mĩ, nhân bản có khả năng soi rọi cho người đọc ánh sáng của lí tưởng, khơi gợi tình yêu cuộc sống, nuôi dưỡng sự đồng cảm, bồi đắp và thanh lọc tâm hồn con người….làm cho người gần người hơn – Tác dụng: Tạo ra con đường riêng của mình người nghệ sĩ sẽ tạo ra sự đa dạng trong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định sức sống của mỗi tác phẩm, vị trí, phong cách của nhà văn, cái lí để nhà văn đứng được với cuộc đời * Tư duy nghệ thuật… quy luật chân thiện mĩ, quy luật nhân bản: – Đây là vấn
đề đổi mới tư duy nghệ thuật – một vấn đề đặt ra như một nhu cầu bức thiết, sống còn của nghệ thuật Nhà văn luôn phải tự làm mới mình góp phần đổi mới nghệ thuật Đổi mới cái gì? Đổi mới đề tài, chủ đề, cảm hứng, văn phong… Quan trọng là đổi mới tư duy, cách
Trang 6nhìn nhận của nhà văn trước cuộc đời – Nhưng mọi sự đổi mới đều không vượt ra ngoài quy luật chân, thiện, mĩ Cái chân, cái thiện, cái mĩ, cái nhân bản vẫn là cái đích hướng đến của mọi khám phá, sáng tạo nghệ thuật Quy luật chân thiện mĩ, nhân bản giống như sợi dây neo giữ, là giới hạn mà bán kính sáng tạo nhà văn quay chiều nào cũng không thể vượt qua Nói cách khác, nó cũng là một tâm điểm của mọi khám phá sáng tạo nghệ thuật – Văn học sở dĩ là nhu cầu, là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người, vì nó là lĩnh vực đáp ứng nhu cầu sống của con người Văn học có nhiều chức năng (nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, dự báo, giải trí…); có nhiều quan niệm cổ kim đông tây, nhưng điểm giao thoa gặp gỡ vẫn cứ là cái chân – thiện – mĩ, những vấn đề mang tính nhân bản nhân văn của đời sống con người Cái chân, là muốn nói đến chức năng nhận thức của văn học; văn học phải chân thực Cái thiện là nói đến chức năng giáo dục, cảm hóa của văn học Cái mĩ,
là nói đến chức năng thẩm mĩ, chức năng cơ bản nhất, chất keo kết dính các chức năng khác Khi đạt tới chân thiện mĩ là văn học đạt tới chiều sâu nhân bản, hướng về con người,
vì con người * Sứ mệnh nhà văn chân chính… đại dương nhân bản mênh mông: – Đây là vấn đề trăn trở của nhiều cây viết Chữ dùng có thể khác nhau, nhưng thực chất vẫn là một.
Đó là vấn đề cái tâm của người cầm bút Ở đây người nói đặt vấn đề: “khơi nguồn dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông” – ý tưởng độc đáo Mọi dòng sông đều đổ về biển rộng, cũng như mọi khám phá sáng tạo đều có đích hướng về, những vấn đề thuộc về con người, nhân sinh, nhân bản Bởi lẽ, con người là một trung tâm khám phá của văn học nghệ thuật Văn học có thể viết về mọi vấn đề của đời sống, mọi hình thức sáng tạo, nhưng đều hướng tới là để đặt ra và cắt nghĩa những vấn đề của nhân sinh Văn học chân chính phải là thứ văn chương vị đời, nhà văn chân chính phải là nhà văn vì con người, tác phẩm mới đạt tới tầm nhân bản 2.3 Chứng minh qua một vài tác phẩm * Truyện Kiều – Nguyễn Du: – Truyện Kiều có nguồn gốc từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân, nhưng bằng tài năng và sự sáng tạo của mình, Nguyễn Du đã khoác lên cho cốt truyện ấy một gương mặt hoàn toàn mới mẻ Đó là sự thay đổi, cách tân cả về hình thức và nội dung – Tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du khiến con người ta biết: + Yêu thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của Thúy Kiều, vì cứu cha, cứu gia đình mà phải bán mình, chịu nỗi khổ 15 năm phiêu dạt nơi đất khách quê người Đồng thời cũng cảm thông cho số phận của những người phụ nữ sống dưới chế độ phong kiến + Không chỉ vậy, tác phẩm cũng khiến ta căm ghét, phẫn nộ trước sự tàn ác của chế độ phong kiến, cướp đi quyền sống, hạnh phúc, quyền được tự do,… của con người Đẩy con người ta đến đường cùng * Ánh trăng – Nguyễn Duy: – Viết về trăng không phải điều mới mẻ trong văn học, nhưng đến với Nguyễn Duy ông đã phú cho nó một hình thức mới: + Thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu + Bài thơ chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi khổ và không sử dụng dấu câu khi kết thúc câu, chỉ dùng dấu câu khi kết thúc khổ thơ đó Với hình thức như vậy
đã giúp bài thơ được liền mạch cảm xúc, thể hiện quan điểm, tư tưởng của tác giả – Đồng thời tác phẩm còn là những bài học về chân – thiện – mĩ cho người đọc: bài học về sự thủy chung, tình nghĩa, là nối tiếp truyền thống dân tộc “uống nước nhớ nguồn” Không được quên đi nghĩa tình quá khứ + Khép lại bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã thể hiện rất rõ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng và từ đó tác giả nêu ra bài học triết lí gợi nhắc thái độ sống đối với mỗi người “Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình.” + Trăng xưa vẫn vậy, vẫn tròn đầy, vẹn nguyên thủy chung, từ “cứ”, “kể chi” còn cho thấy thái độ bao dung, độ lượng của vầng trăng nhưng đối lập với hình ảnh trăng tròn vành vạnh là con người vô tình, đổi thay + Trăng như một người bạn với ánh nhìn im phăng phắc, đó là cái nhìn nghiêm nghị dù rất bao dung, không một lời trách cứ + Đến đây “Vầng trăng” đã được thay bằng “Ánh trăng” để nhấn mạnh về ánh sáng Ánh sáng của lương tri con người soi rọi những góc khuất tối trong tâm hồn người Ánh sáng soi đường cho con người trở về về với con đường thủy chung, tình nghĩa + Trước cái nhìn nghiêm nghị, bao dung của người bạn thủy chung, ân tình, trước ánh sáng
kì diệu của vầng trăng, con người phải “giật mình” Giật mình để nhìn lại chính mình Giật mình để tự vấn lương tâm, để soi vào chính mình, để thấy những tháng ngày qua mình đã
vô tình bạc bẽo, để hoàn thiện bản thân Đây là cái giật mình vô cùng đáng quý, đáng trân
Trang 7trọng => Như vậy, qua khổ thơ cuối, hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng sâu xa Trăng là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, trăng là đồng chí, đồng đội, là tấm lòng bao dung, nhân hậu của nhân dân Trăng là quá khứ vất vả, gian lao nhưng tình nghĩa Trăng là cội nguồn, là quê hương, đất nước Từ hình ảnh vầng trăng, tác giả gợi nhắc người đọc một bài học triết lí sâu xa, đó là thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung * Bến quê – Nguyễn Minh Châu – Bến quê là một tác phẩm giàu triết lí của nhà văn Nguyễn Minh Châu, tác phẩm đã thức tỉnh hàng triệu con người, hàng triệu trái tim về lối sống, cách ứng xử: + Nhĩ đã cho ta thấy quê hương là nơi ấm áp gần gũi nhất với chúng ta Nơi
có người vợ luôn tảo tần, hi sinh thầm lặng, có những đứa trẻ tay chua lòm mùi dưa nhưng
vô cùng đáng yêu… Nơi đó mới là bến đỗ bình yên của cuộc đời mà chúng ta phải trân trọng + Tác phẩm cũng cho ta thấy, trong cuộc đời này có nhiều cái chùng chình, vòng vèo chúng ta cần phải tỉnh táo để không sa vào những cái chùng chình đó Và cũng là để biết trân quý những giá trị đích thực của cuộc sống * Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long – Tác phẩm là bài ca ca ngợi về anh thanh niên với nhiều phẩm chất đẹp đẽ, đáng quý: + Quan niệm đúng đắn về hạnh phúc, hạnh phúc đối với anh là được làm việc, được phục vụ cộng đồng + Anh thanh niên là người trung thực, biết quan tâm chăm sóc người khác và
là người rất khiêm tốn + Có lý tưởng nghề nghiệp đúng đắn + Xây dựng cuộc sống ngăn nắp, khoa học, tự làm giàu tri thức bản thân và làm phong phú đời sống tinh thần – Hình ảnh của anh thanh niên cũng chính là một bài học về chân – thiện – mĩ cho người đọc Anh thanh niên hướng con người đến với lối sống giản dị, hòa mình vào thiên nhiên Hướng chúng ta đến với quan điểm đúng đắn về nghệ nghiệp, lao động để cống hiến cho đất nước.
Và anh thanh niên cũng giúp chúng ta nhận thấy cần sống chân thành, yêu thương với mọi người và sống thành thực, khiêm tốn,… 3 Kết bài: Tổng kết vấn đề – Văn học khuyến khích người nghệ sĩ đổi mới, cách tân nhưng cần có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống
và hiện đại, giữa dấu ấn riêng và giá trị chung – Yêu cầu đối với người nghệ sĩ trong sáng tác phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy, phải có sự trải nghiệm sâu sắc, đứng trên lập trường nhân sinh vì con người.
Trang 8ĐỀ BÀI Câu 1 (8,0 điểm): Trình bày suy nghĩ của em về thái độ sống được thể hiện
trong câu “Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.”
Câu 2 (12,0 điểm)
“Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng đến những vùng trời đẹp hơn, nhân tính hơn…”
(Theo Lê Đạt, “Đối thoại với đời và thơ”, NXB Trẻ, 2008, tr.115)
Em hiểu gì về ý kiến trên? Qua bài thơ “Bếp lửa” của tác giả Bằng Việt, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên Liên hệ với bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy
để thấy được khả năng tác động đến bạn đọc của mỗi bài thơ
GỢI Ý Câu 1:
1 Giải thích câu nói:
- Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên: Sống là không chờ đợi, lúc nào cũng phải
nhanh, nỗ lực đến đích
2 Bàn luận
- Vì sao phải sống nhanh? Vì cuộc đời ngoài kia trôi đi hối hả, không chờ đợi
ai, nhất là trong cuộc sống xã hội hiện nay Bởi vậy mỗi chúng ta cần biết tậndụng thời gian chí ít cũng bỏ rở, bỏ lỡ cơ hội Vì vậy, phải sống sao cho cómặt của chúng ta trong cuộc sống, cuộc đời
+ Liên hệ: “Con người có thể sống vô danh nhưng không được sống vônghĩa”
- Sống nhanh lên như thế nào? Trân trọng từng giây phút của cuộc đời, tăng
cường độ sống cho một khoảng thời gian ngắn nhất, sống và làm việc mộtcách có ích, không nên sống hoài sống phí cho những mục đích, những dựđịnh vô bổ Sống có ý nghĩa với mình và những người xung quanh chứ khôngphải là sống thử, sống đốt cháy giai đoạn như một bộ phận thanh niên hiệnnay
- Sống nhanh để làm gì ? Để trở thành người có ích, để “in dấu trên mặt đất
và in dấu trên trái tim người khác” Sống nhanh để trao gửi yêu thương và đónnhận yêu thương, sống nhanh để tận hưởng thiên đường ngay trên mặt đất
3 Bàn luận mở rộng vấn đề: Nhanh hay chậm là do suy nghĩ chủ quan của
mỗi người Cũng có đôi khi nhanh một chút lại là “nhanh ẩu đoảng”, chậmmột chút lại là “chậm mà chắc” Khó khăn và cơ hội luôn song hành cùng vớinhau Con người cần có đủ bản lĩnh, nghị lực, cả sự kiên định và một chútnhanh nhạy để chủ động vượt qua khó khăn và nắm bắt cơ hội của chínhmình
4 Bài học nhận thức và hành động
Câu 2 (12,0 điểm)
* Mở bài: Dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận ->Trích dẫn ý kiến, nêu phạm vi dẫn chứng.
Trang 9* Giải thích ý kiến, nhận định:
- Giải thích:
+ Câu thơ hay: Là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ kết tinh những tư
tưởng, tình cảm mà nhà thơ muốn gửi gắm qua hình thức phù hợp
+ Đọc một câu thơ hay: Tiếp nhận, cảm thụ những tác phẩm thơ có giá trị về
+ Sang sông, lên đường hướng đến những vùng trời đẹp hơn, nhân tính hơn:
Tác phẩm văn học thôi thúc con người hành động, thay đổi theo chiều hướngmạnh mẽ hơn, cao quý hơn, nhân bản hơn, giúp con người biết khao khát, biếtước mơ, biết đấu tranh để bảo vệ và để tiến đến những bến bờ đích thực củachân – thiện – mĩ
-> Quan niệm của nhà thơ Lê Đạt khẳng định giá trị, thiên chức của thơ nóiriêng, văn học nói chung Với chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, đốithoại…văn chương giúp con người hướng thiện, giúp con người tìm ra ýnghĩa và đích đến của cuộc đời
+ Thông qua việc đọc, người đọc không chỉ tiếp nhận được vẻ đẹp của ngôn
từ và hình tượng nghệ thuật mà còn giải mã được những khát khao, ước mơ,nỗi niềm, mong muốn…của tác giả Từ sự đồng cảm với những điều cao quýnày, người đọc sẽ sống một cuộc đời thật trọn vẹn, thật ý nghĩa, vượt lên trêncuộc đời tẻ nhạt hằng ngày
Để hiểu đầy đủ hơn về ý kiến này ta đến với bài thơ “Bếp lửa” của BằngViệt
Trang 10+ Hình ảnh người bà nhân hậu với tấm lòng chi chút của người nhóm lửa chợt
ùa về trong tiềm thức người cháu khi nhìn thấy bếp lửa
+ Bếp lửa được nhóm lên trong thời khắc xa xứ đã làm thức dậy nỗi niềm nhớthương về người bà tần tảo, chịu thương chịu khó
- Bếp lửa gợi lại kỉ niệm của tuổi thơ khi ở bên bà.
+ Kỉ niệm tuổi thơ gian khó, thiếu thốn, nhọc nhằn: Nạn đói năm 1945 “đói
mòn đói mỏi”, gợi sự ám ảnh về nạn đói khủng khiếp và quá khứ khổ đau của
dân tộc Mối lo giặc giã xóm làng “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi” – chiến
tranh gây ra đau thương cho con người Hoàn cảnh chung của mọi gia đìnhViệt Nam: Mẹ và cha công tác bận không về, cháu ở cùng bà, được bà cưumang, nuôi nấng dạy dỗ…
+ Kỉ niệm về bà và tình bà cháu gắn liền với bếp lửa: Tuổi thơ cháu đã gắn
liền với bếp lửa từ khi “lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói…tám năng dòng
cháu cùng bà nhóm lửa” Vì vậy nhớ về bếp lửa ấn tượng nhất là cảm giác
“khói hun nhèm mắt cháu – sống mũi còn cay” -> Cảm giác chân thực, sống
động Cay đâu phải vì khói bếp của quá khứ mà còn là cái cay của cồn càothương nhớ bà ở hiện tại Nhớ về bà người cháu nhớ nhất là hình ảnh bà ngồibên bếp lửa mỗi sớm chiều Bà kể chuyện cho cháu nghe, bà bảo cháu, dạycháu làm, chăm cháu học – dặn cháu đinh ninh
=> Tuổi thơ của người cháu là chuỗi ngày thiếu thốn nhưng nhờ có bà, cuộcsống của cháu luôn tràn ngập tình yêu thương, đầm ấm Bà trở thành chỗ dựavững chắc cho cháu, lấp đầy những thiếu thốn về vật chất và tinh thần củangười cháu
- Từ những hoài niệm về bà, người cháu suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời bà.
+ Hình ảnh của bà luôn gắn chặt với hình ảnh bếp lửa ấm áp, thân thuộc.+ Trong lòng bà luôn có một “ngọn lửa” ủ sẵn, đây là ngọn lửa của niềm tin, ýchí, nghị lực và khát vọng sống
+ Ngọn lửa đó thắp lên niềm tin, tình yêu và nghị lực sống tin tưởng vào ngàymai cho đứa cháu
- Hình ảnh người bà tần tảo khuya sớm, là người thắp lửa, giữ lửa truyền tớithế hệ trẻ
+ Mặc dù cuộc đời bà trải qua “nắng mưa” lận đận, nhưng bà luôn lạc quan,tin tưởng và dành những tình cảm tốt đẹp cho con cháu
+ Động từ “nhóm” được lặp lại nhằm khẳng định: bà chính là người khơi dậynhững giá trị sống tốt đẹp trong cuộc đời mỗi con người Bà đã truyền hơi ấmtình người, khơi dậy trong tâm hồn cháu tình yêu thương ruột thịt, sự cảmthông chia sẻ
- Khổ thơ cuối là lời tự bạch của người cháu khi trưởng thành, xa quê.
+ Dù xa quê hương, xa bà nhưng người cháu vẫn luôn nhớ và hướng về bà vớiniềm yêu thương, sự biết ơn vô hạn
-> Với hình tượng bếp lửa, hình tượng người bà cùng những kỉ niệm của cháuvới bà qua những dòng hồi tưởng, bài thơ “Bếp lửa” đã khơi dậy trong lòngmỗi người đọc tình cảm bà cháu đẹp đẽ, tình cảm gia đình thiêng liêng Tìnhcảm của nhân vật trữ tình, của tác giả đã làm sâu sắc, đẹp đẽ, bền vững thêmtình cảm gia đình trong mỗi người đọc
Trang 111.2 Tình cảm gia đình gắn bó hài hòa trong tình yêu quê hương, đất nước.
- Tình cảm bà cháu là cội nguồn của tình cảm gia đình, tình cảm với quêhương, đất nước: Mỗi kỉ niệm của cháu với bà gắn với những thời kì lịch sửkhó quên của đất nước, dân tộc; gắn với tình làng nghĩa xóm (Phân tích –
chứng minh khổ 4, những dòng thơ “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”.
- Người cháu nhớ về bà, biết ơn bà, nhờ hiểu bà mà hiểu nhân dân, đất nước,dân tộc mình Bếp lửa và bà trở thành biểu tượng của quê hương, xứ sở (Phân
tích – chứng minh câu thơ “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”.
2 Thông qua việc đọc, người đọc tiếp nhận được những cảm xúc, tình cảm tốt đẹp mà bài thơ “Bếp lửa” đem đến qua những thành công nghệ thuật.
- Thể thơ 8 chữ có những dòng thơ 7 chữ, 9 chữ phù hợp với việc diễn tảdòng cảm xúc và suy ngẫm về bà
- Những dòng kỉ niệm tuổi thơ của nhân vật trữ tình là sự kết hợp, đan xennhuần nhuyễn giữa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự, nỗi nhớ của ngườicháu thể hiện tình yêu thương vô hạn đối với bà Đây cũng là bút pháp quenthuộc của nhà thơ Chính sự kết hợp nhuần nhị, độc đáo đó khiến hình ảnhngười bà thật gần gũi, những mảng tuổi thơ lại hiện về sống động, chân thực
và giản dị
- Tác giả đã sử dụng ngôn từ mộc mạc, giản dị, hàm súc
- Sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ: điệp ngữ, ẩn dụ, so sánh,…
- Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chân thành
- Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa biểutượng
Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
….Dân chài lười làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm…
+ Bài thơ làm thức dậy trong ta một tình yêu quê hương da diết, nồng nàn:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng vượt ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”
- Điểm tương đồng:
Cả hai bài thơ đều thể hiện tình cảm đối với quê hương, đều khắc họa nhữnghình ảnh mộc mạc, dung dị, gắn bó với kỉ niệm của mỗi nhà thơ Qua đó, cáctác giả đều bộc lộ tình cảm yêu quý gắn bó sâu nặng và nỗi nhớ da diết đối
Trang 12với quê hương trong hoàn cảnh xa cách, khơi gợi ở người đọc tình yêu giađình, quê hương đất nước, trân quý những kỉ niệm tốt đẹp.
- Điểm khác biệt:
+ Hoàn cảnh – thời đại: Bếp lửa sáng tác năm 1963, nhà thơ đang xa Tổ
quốc Quê hương sáng tác năm 1939, nhà thơ cũng xa quê.
+ Về nội dung: Nếu Quê hương của Tế Hanh khơi gợi bạn đọc bằng vẻ đẹp
khung cảnh làng chài ra khơi đánh cá trở về trong buổi sớm mai hồng đẹp đẽ,
tươi sáng, bình dị…thì Bếp lửa của Bằng Việt lại gợi nhắc vẻ đẹp tuổi thơ
cháu sống bên bà gắn với hình ảnh bếp lửa, qua đó nhà thơ thể hiện tình yêu,lòng kính trọng, biết ơn bà sâu sắc Đó cũng là biểu hiện cho tình cảm quê
hương, đất nước Nếu Quê hương của Tế Hanh khơi gợi trong ta tình yêu, sự gắn bó với những vẻ đẹp bình dị của quê hương, đất nước thì Bếp lửa của
Bằng Việt ngoài bài học ấy còn có cả bài học triết lí thầm kín về lẽ sống thủychung ân nghĩa đối với bạn bè, đồng đội, đồng chí, với nhân dân, đất nước
+ Về nghệ thuật: Với bài thơ “Quê hương”, ngôn ngữ bình dị mà gợi cảm,
giọng thơ khỏe khoắn hào hùng Hình ảnh thơ phong phú, giàu ý nghĩa
Nhiềuphép tu từ được sử dụng đạt hiệu quả nghệ thuật Còn bài thơ “Bếp lửa”
đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm và miêu tả, tự sự và bìnhluận.Thể thơ tám chữ kết hợp với 7 chữ,9 chữ phù hợp với việc diễn tả dòngcảm xúc và suy ngẫm về bà Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chânthành Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa biểutượng Mỗi nhà thơ có một phong cách, cá tính riêng đã tạo nên những tácphẩm thật sự có sức tác động, khơi gợi bao rung động, cảm xúc, những tìnhcảm tốt đẹp ở người đọc
* Đánh giá, tổng hợp:
- Ý kiến của nhà thơ Lê Đạt đã chỉ ra sức ảnh hưởng của văn chương đối vớingười đọc Một tác phẩm thực sự giá trị phải chiếu rọi một ánh sáng tốt đẹpvào tâm hồn độc giả, giúp họ vượt lên trên cuộc sống thường nhật, khao khát
sống một cuộc đời rộng mở, huy hoàng hơn Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
và Quê hương của Tế Hanh đã tác động và mang đến cho bạn đọc những giá
trị đó
- Để thúc đẩy người đọc sang sông, lên đường hướng đến những vùng trờiđẹp hơn, nhân tính hơn người nghệ sĩ cần có những tác phẩm có giá trị nộidung và hình thức, đặc biệt phải giàu tình cảm, cảm xúc Nhà thơ phải có thếgiới quan, nhân sinh quan lành mạnh, vững bền
- Người đọc cần biết đồng điệu và xây đắp cho mình những tình cảm tốt đẹp
mà các tác phẩm văn học mở ra
Trang 13ĐỀ BÀI 1
Câu 1 (8,0 điểm)
Chỉ có trái tim yêu thương mới gieo mầm hạnh phúc.
Hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên
Câu 2 (12,0 điểm)
Nhà thơ Pháp Andre Chanien cho rằng:
“Nghệ thuật chỉ làm nên những câu thơ, trái tim mới làm nên thi sĩ”.
Trang 14Em hiểu quan niệm trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ quan niệm đó
qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải (Ngữ văn 9, tập hai,
NXB Giáo dục)
HƯỚNG DẪN CHẤM
1
Chỉ có trái tim yêu thương mới gieo mầm hạnh phúc.
Hãy viết một bài văn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên
2,0
Yêu cầu chung:
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Bố cục sáng rõ; luận điểm chính xác, hợp lí, làm nổi rõ vấn
đề nghị luận; lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục; dẫnchứng phù hợp
- Diễn đạt trong sáng, thể hiện rõ quan điểm, suy nghĩ của cánhân, mang tính nghị luận
a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:
Mở bài khái quát được vấn đề cần nghị luận, thân bài triển khaiđúng vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề
0,25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: trái tim yêu thương
là cơ sở, là nền tảng để tạo nên và nuôi dưỡng hạnh phúc
0,25
c Triển khai vấn đề cần nghị luận:
Thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách nhưng phảilàm rõ được vấn đề Có thể triển khai theo các ý cơ bản sau:
* Giải thích:
- “Trái tim yêu thương”: trái tim/ tâm hồn biết thấu hiểu, đồngcảm, sẵn sàng sẻ chia
- “gieo mầm”: cơ sở, nền tảng để nảy sinh, tồn tại và phát triển
- “hạnh phúc”: cảm giác mãn nguyện, sung sướng khi đạt đượcđiều mong muốn (về vật chất hoặc về tinh thần)
=> Với cách nói nhấn mạnh (chỉ có), ý kiến đã khẳng định:
hạnh phúc chỉ được nảy sinh, tồn tại và phát triển từ một tráitim yêu thương, biết thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia
* Bàn luận:
- Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề:
+ Khi ta thấu hiểu, đồng cảm, sẻ chia với người khác, họ sẽ
cảm nhận được tình yêu thương ấy và lấy đó làm điểm tựa tinh
thần, sức mạnh để đứng vững và vượt qua những nghịch cảnh
của cuộc sống; tạo cho họ cơ hội để thay đổi/ phát triển bản
thân Yêu thương ấy đã “gieo mầm hạnh phúc” cho những
1,0
Trang 15người quanh ta
+ Khi mang trong mình trái tim yêu thương và sẵn sàng trao đi
những yêu thương ấy, ta cũng sẽ nhận lại được hạnh phúc cho
riêng mình
+ Mỗi người đều đối xử với nhau bằng yêu thương thì xã hội
sẽ trở nên ấm áp tình người, ngập tràn hạnh phúc và phát triển
thịnh vượng, vững bền
(Thí sinh lấy các dẫn chứng về niềm hạnh phúc khi nhận và
trao đi yêu thương để làm rõ vấn đề)
- Luôn biết yêu mình, yêu người để nuôi dưỡng hạnh phúc cho
mình và cho người xung quanh
- Sẵn sàng trao đi yêu thương
d Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp
tiếng Việt
0,25
e Sáng tạo: Thể hiện hiểu hiết sâu sắc về vấn đề nghị luận; có
cách diễn đạt mới mẻ, liên hệ sâu sắc…
0,25
2
Nhà thơ Pháp Andre Chanien cho rằng:
“Nghệ thuật chỉ làm nên những câu thơ, trái tim mới làm
nên thi sĩ”.
Em hiểu quan niệm trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ
quan niệm đó qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà
thơ Thanh Hải (Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục).
5,0
Yêu cầu chung:
- Thực hiện đúng yêu cầu bài văn nghị luận về một ý kiến bàn
về văn học, xác định đúng vấn đề nghị luận
- Bố cục sáng rõ; luận điểm chính xác, hợp lí, làm nổi rõ vấn
đề; lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục; biết chọn dẫn
chứng phù hợp để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
- Diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh, cảm xúc; thể hiện rõ cách
lập luận
a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:
Mở bài giới thiệu được vấn đề cần nghị luận, trích dẫn ý kiến;
thân bài triển khai được vấn đề bằng hệ thống luận điểm, lí lẽ
kết hợp dẫn chứng từ bài thơ; kết bài đánh giá được vấn đề
0,25
Trang 16b Xác định đúng vấn đề nghị luận: Yếu tố cần thiết làm nên
một nhà thơ chân chính là tài năng và hơn hết là một trái tim
giàu tình cảm, cảm xúc
0,5
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Trên cơ sở hiểu đúng vấn đề, thí sinh chia vấn đề thành các
luận điểm để bàn luận; lựa chọn dẫn chứng phân tích để chứng
minh, làm nổi rõ vấn đề Thí sinh có thể trình bày bài viết theo
nhiều cách khác nhau, đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
* Giới thiệu khái quát vấn đề và trích dẫn ý kiến; giới thiệu
bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”
* Giải thích:
- Nghệ thuật: là những sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh trong
tác phẩm, thể hiện tài năng của người nghệ sĩ
- Nghệ thuật chỉ làm nên những câu thơ: tài năng giúp người
nghệ sĩ sáng tạo được những câu thơ, bài thơ với hình thức đẹp
đẽ, trau chuốt về ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu…
- Trái tim: là thế giới tâm hồn người nghệ sĩ với những tình
cảm, cảm xúc nồng cháy, những rung động thẩm mĩ
- Trái tim mới làm nên thi sĩ: tình cảm, cảm xúc là cội nguồn
sáng tạo của thơ ca; là yếu tố quan trọng làm nên hồn thơ thi sĩ
và thế giới linh diệu, nhiệm màu của bài thơ
=> Ý kiến khẳng định hai yếu tố cần thiết làm nên một nhà thơ
chân chính là tài năng và một trái tim giàu cảm xúc Trong đó,
tình cảm, cảm xúc, những rung động mãnh liệt của trái tim mới
là điều quan trọng nhất làm nên linh hồn của thi phẩm cũng
như tầm vóc của một nhà thơ
* Cơ sở lí luận:
- “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson)
Đó là thứ ngôn ngữ được chưng cất công phu vì bài thơ là tổ
chức ở trình độ cao, chặt chẽ, tinh tế của ngôn ngữ Vì thế, giá
trị của một bài thơ trước hết được đánh giá ở tài năng sử dụng,
sáng tạo ngôn từ của người nghệ sĩ để làm nên hình ảnh, nhạc
tính, âm điệu cho thơ
- “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc” (Xuân Diệu) Tình
là gốc của thơ, “thơ là sự sung mãn của tình cảm mãnh liệt”
(Ban-zắc), là sự thăng hoa của người nghệ sĩ trước cái đẹp của
hiện thực, là những suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc
đời Nhưng sáng tạo nghệ thuật cũng cần xuất phát từ chân tâm
thực ý, từ tâm sáng mới có tình sâu để gắn kết trái tim người
nghệ sĩ với triệu tâm hồn giữa cuộc đời Khi đó, người viết thơ
0,25
0,5
0,5
Trang 17thực sự là thi sĩ
* Làm sáng tỏ vấn đề qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”
(Thanh Hải)
Trên cơ sở hiểu nội dung ý kiến, thí sinh có thể lựa chọn các
nội dung, hướng phân tích khác nhau, cơ bản đảm bảo các ý
sau:
- Mùa xuân nho nhỏ là bài thơ có nhiều sáng tạo về nghệ
thuật:
+ Kết cấu chặt chẽ theo kiểu đầu cuối tương ứng: sự chuyển
đổi cách xưng hô (tôi – ta); đón nhận (tôi đưa tay tôi hứng) –
dâng hiến (ta làm )
+ Hình ảnh thơ tự nhiên, giản dị, tươi mới, giàu sức sống
+ Nghệ thuật ẩn dụ, điệp, đảo ngữ
+ Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm; giọng thơ nhỏ
nhẹ, khiêm nhường, tha thiết
- Chiều sâu của tác phẩm lại là những tình cảm chân
thành, sâu sắc:
+ Tình yêu quê hương, đất nước:
Những cảm nhận tinh tế: vừa ngạc nhiên khi phát hiện
tín hiệu, sức sống của mùa xuân, vừa say sưa, ngây ngất
đón nhận, giao hòa với vẻ đẹp của đất trời;
Hào hứng, tin tưởng, lạc quan trước mùa xuân đất nước
Cảm xúc lắng sâu trong câu ca xứ Huế
+ Khát khao hòa nhập với cuộc sống của nhân dân, đất nước,
đem cái riêng hòa nhập với cái chung
+ Từ những cảm xúc trên, nhân vật trữ tình lựa chọn lẽ sống
cao đẹp: thầm lặng, bền bỉ cống hiến Nhà thơ nguyện đem
phần nhỏ bé nhưng đẹp đẽ nhất, tinh túy nhất để cống hiến cho
đất nước, cho cuộc đời chung Đó là lẽ sống giản dị, đáng quý,
đáng trân trọng; càng đáng quý hơn vì lẽ sống ấy bền bỉ theo
thời gian, bất chấp những thử thách, thăng trầm trong cuộc đời
* Đánh giá:
- Hình thức và nội dung của một tác phẩm nghệ thuật luôn gắn
bó khăng khít và chuyển hóa lẫn nhau Một tác phẩm thật sự có
giá trị phải hoàn hảo ở cả nội dung và hình thức
- Nhà thơ cần có cả tâm lẫn tài mới có thể tạo nên những tác
phẩm thật sự giá trị Nếu chỉ có trái tim dạt dào tình cảm mà
câu chữ vụng về thì tình cảm dù có chân thành, tha thiết đến
đâu cũng không thể lay động được tâm hồn người đọc
2,0
0,25
Trang 18- Người đọc khi đến với thơ ca nói riêng, tác phẩm văn chươngnói chung, phải đi từ câu chữ, từ hình thức bên ngoài để thấuhiểu, đồng cảm và trân trọng những xúc cảm, những tâm sựsâu kín bên trong của người nghệ sĩ
c Chính tả, ngữ pháp:
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
0,25
d Sáng tạo: Thể hiện hiểu hiết sâu sắc về vấn đề nghị luận; có
cách diễn đạt mới mẻ, giàu hình ảnh, cảm xúc; lập luận sắcbén, lựa chọn dẫn chứng phù hợp,…
K.Pauxtopxki cho rằng: “Không có chi tiết thì tác phẩm không sống
được Ý nghĩa của chi tiết ở chỗ, sao cho cái vặt vãnh không dễ nhận thấy lại trở thành to lớn, lấp lánh trước mọi người”.
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích chi tiết “vết thẹo” trêngương mặt người cha và chi tiết “cây lược ngà” mà người cha làm tặng controng đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng để thấy sự
“to lớn, lấp lánh” của những chi tiết đó
1 Lựa chọn tìm kiếm sự an toàn khi “đi theo dấu
chân của người khác” hay làm “người mở đường” để tìm kiếm lối đi riêng?
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự lựa chọn đó.
2.5
1.1 Đảm bảo cấu trúc của đoạn văn 400 chữ. 0.25
1.2.Vấn đề nghị luận:
HS nêu được sự lựa chọn của bản thân:
- Hoặc tìm kiếm sự an toàn khi “đi theo dấu chân củangười khác”
- Hoặc làm “người mở đường” để tìm kiếm lối điriêng
- Hoặc vừa chọn tìm kiếm sự an toàn khi “đi theo dấuchân của người khác”, vừa làm “người mở đường” đểtìm kiếm lối đi riêng
- Hoặc đưa ra ý kiến khác
0.25
1.3.Triển khai vấn đề nghị luận mạch lạc, lưu loát.
- Nếu chọn tìm kiếm sự an toàn khi “đi theo dấu chân
2.0
Trang 19của người khác”:
+ “Đi theo dấu chân của người khác” là nhìn nhận,
suy nghĩ, đánh giá và làm theo cách làm của đa số người
trong xã hội
+ Tìm kiếm sự an toàn khi “đi theo dấu chân của người
khác” giúp con người có cái nhìn đúng đắn , tránh
những sai lầm thất bại vì số đông là sự kết hợp của trí
tuệ tập thể dẫn đến chân lí đáng tin cậy
+ Cần học hỏi, tiếp thu, tránh có cách suy nghĩ, hành xử
trái ngược để không gặp phải hậu quả đáng tiếc nhưng
cũng cần có tinh thần phản biện có chính kiến để đi theo
cái đúng, cái tích cực, không giẫm lên sai lầm của số
đông
- Nếu chọn làm “người mở đường” để tìm kiếm lối đi
riêng:
+ “Người mở đường” là người khai phá và đặt những
bước chân đầu tiên trên con đường mới; người tiên
phong đi đầu, người đặt nền móng cho sự phát triển của
một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống
+ Khi lựa chọn làm “người mở đường” để tìm kiếm
lối đi riêng, mỗi người sẽ phát huy được năng lực sở
trường, tạo dựng giá trị, khẳng định cá tính riêng của
bản thân, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của
xã hội…
+ Muốn làm “người mở đường” cần phải có tư duy
độc lập, khả năng sáng tạo và bản lĩnh để đương đầu
trước mọi khó khăn, thử thách của cuộc sống nhưng
cũng cần phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ người
khác để tạo nên những đóng góp tích cực có ý nghĩa với
cộng đồng
- Nếu chọn vừa tìm kiếm sự an toàn khi “đi theo dấu
chân của người khác” vừa làm “người mở đường” để
tìm kiếm lối đi riêng: có thể kết hợp 2 cách lí giải trên
- Nếu đưa ra ý kiến khác: lí giải một cách hợp lí,
thuyết phục
Lưu ý:
- Giải thích/ hiểu đúng: 0.25 điểm
- Cắt nghĩa lí giả vì sao: 0.75 điểm
1.5 Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị
luận, có cách diễn đạt mới mẻ
0.25
Trang 20Cách cho điểm:
- Điểm 2.0 -> 2.5: Đảm bảo các yêu cầu trên, có sức
thuyết phục cao với lí lẽ và đãn chứng phong phú, lập
luận chặt chẽ, diễn đạt có giọng điệu
- Điểm 1.25 -> 1.75: Đảm bảo tương đối đầy đủ các
yêu cầu trên, có sức thuyết phục, diễn đạt mạch lạc
- Điểm 0.5 -> 1.0: Đảm bảo các yêu cầu trên ở mức độ
sơ sài, lập luận chưa thực sự thuyết phục, còn có một
vài lỗi chính tả
- Điểm dưới 0.5: Chưa hiểu đúng vấn đề, thiếu sức
thuyết phục, mấc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, diễn đạt
- Điểm 0: Không làm hoặc làm lạc đề
2 K.Pauxtopxki cho rằng: “Không có chi tiết thì tác
phẩm không sống được Ý nghĩa của chi tiết ở chỗ,
sao cho cái vặt vãnh không dễ nhận thấy lại trở
thành to lớn, lấp lánh trước mọi người”.
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích chi tiết
“vết thẹo” trên gương mặt người cha và chi tiết “cây
lược ngà” mà người cha làm tặng con trong đoạn
trích truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang
Sáng để thấy sự “to lớn, lấp lánh” của những chi tiết
đó.
5.0
* Yêu cầu chung: Biết cách tạo lập một bài văn nghị
luận văn học về một ý kiến bàn về văn học Văn viết có
cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết,
không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
0.25
* Yêu cầu cụ thể:
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
Trình bày đủ 3 phần: Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu
được vấn đề; Than bài biết tổ chức thành nhiều đoạn
văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề;
Kết bài khái quát được vấn đề
0.25
b Triển khai vấn đề nghị luận: Chia vấn đề nghị luận
thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, có sức thuyết
phục; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa
nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng
HS có thể triển khai theo những cách khác nhau,
nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
1 Giới thiệu vấn đề nghị luận:
Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận, dẫn ý kiến, giới
hạn phạm vi dẫn chứng ( Nếu không trích dẫn ý kiến
không cho điểm)
0.25
2 Giải thích ý kiến:
- “Chi tiết” là những tiểu tiết của tác phẩm có ý nghĩa
quan trọng làm nên sự sống cho truyện ngắn
Trang 21- “ Cái vặt vãnh không dễ nhận thấy” là cái vụn vặt, bé
nhỏ
- “Trở thành to lớn, lấp lánh trước mọi người” là giá trị
của tư tưởng, tình cảm và tài năng sáng tạo của người
nghệ sĩ
-> Ý kiến của Pauxtopxki đã khẳng định vai trò quan
trọng của chi tiết nghệ thuật trong văn học nói chung và
truyện ngắn nói riêng: chỉ là những tiểu tiết bé nhỏ
nhưng mang tới những ý nghĩa lớn lao với người đọc
3 Chứng minh ý kiến:
3.1 Giới thiệu tác giả tác phẩm:
(Trường hợp học sinh làm ở phần giới thiệu vấn đề
nghị luận hoặc trước phần giải thích ý kiến vẫn cho
điểm tối đa)
0.5
3.2 Phân tích, chứng minh:
* Thuật dựng chi tiết: vị trí, lí do xuất hiện chi tiết:
- Chi tiết “vết thẹo” xuất hiện ba lần trong tác phẩm:
Lần thứ nhất, phút đầu bé Tu gặp lại ba; lần thứ hai, qua
cuộc trò chuyện với bà ngoại; lần thứ ba, Thu nhận ra
ba, hôn cùng khắp, hôn cả vết thẹo
- Chi tiết “cây lược ngà” xuất hiện hai lần trong tác
phẩm lần thứ nhất, khi ông Sáu “cầm khúc ngà” cẩn
thận, tỉ mỉ làm cây lược cho con; lần thứ hai là trước lúc
hi sinh, ông đã rút “cây lược ngà” nhờ bác Ba trao lại
cho con gái
0.5
* Ý nghĩa “to lớn, lấp lánh trước mọi người” của chi
tiết:
- Tạo nên sự hoàn chỉnh, chặt chẽ cho cốt truyện thúc
đẩy sự phát triển của cốt truyện
+ “Vết thẹo” trên mặt ông Sáu là chi tiết nghệ thuật đặc
sắc, kết nối các tình tiết trong truyện, tạo nên kịch tính
cho tình huống truyện với nghệ thuật thắt nút, mở nút
bất ngờ, hợp lí
+ Chỉ vì “vết thẹo” “đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ
sợ” mà bé Thu không nhận ra ba, đối xử với ba một
cách lạnh lùng, cự tuyệt
+ Khi được bà ngoại giải thích về “vết thẹo” trên gương
mặt ba, mối nghi ngờ của bé Thu về ông Sáu đã được
giải tỏa, khiến bé Thu nhận ra ba
+ Khi nhận ra ba, tình cảm, thái độ của em đã thay đổi
hoàn toàn: “Nó hôn ba cùng khắp Nó hôn tóc, hôn cổ,
hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”
+ Chi tiết “cây lược ngà”thúc đẩy sự phát triển của cốt
truyện: trước lúc hi sinh, ông Sáu đã rút “cây lược ngà”
nhờ bác Ba trao lại cho con gái.Đó là ước nguyện của
(2.25)0.5
1.0