Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Tác động đồng thời của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến các biến kinh tế vĩ mô ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
Trang 1- -
NGUYỄN MINH TÂN
TÁC ĐỘNG ĐỒNG THỜI CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ Ở
Trang 22 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 3- -
NGUYỄN MINH TÂN
TÁC ĐỘNG ĐỒNG THỜI CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN CÁC BIẾN KINH
TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 42
Trang 5Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Tác động đồng thời của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến các biến kinh tế vĩ mô ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của
cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày tháng năm 2018
Nguyễn Minh Tân
Trang 6MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do thực hiện nghiên cứu này 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 6 2.1 Khung lý thuyết về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 6
2.1.1 Chính sách Tài Khóa 6
2.1.2 Chính sách tiền tệ 8
2.1.3 Tương tác giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 11
2.2 Bằng chứng thực nghiệm 21
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 21
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 29
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 30
3.1 Mô hình nghiên cứu 30
3.2 Phương pháp ước lượng 35
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 7CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH 42
4.1 Kết quả ước lượng các hệ số ma trận 𝑩𝟎: 42
4.2 Phân tích hàm phản ứng xung (IRF) 45
4.2.1 Cú sốc chính sách tiền tệ 45
4.2.2 Cú sốc chính sách tài khóa 47
4.3 Phân rã phương sai 51
4.4 Phân tích dài hạn – Mô hình VECM 54
4.4.1 Kiểm định đồng liên kết 54
4.4.2 Kết quả Mô hình VECM 56
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SVAR Mô hình vector tự hồi quy cấu trúc Structural Vector Autoregress
VECM Mô hình vector hiệu chỉnh sai số Vector Error Correction Model
NEER Tỷ giá hối đoái có hiệu lực danh nghĩa đa
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Đường Rahn 33
Hình 4.1: Modulus và vòng tròn đơn vị - độ trễ 2 44
Hình 4.2: Phản ứng xung của các biến số vĩ mô đến cú sốc lãi suất (shock 11) 46
Hình 4.3: Phản ứng xung của các biến vĩ mô đến cú sốc chi tiêu chính phủ G (shock 4) 47
Hình 4.4: Phản ứng xung của các biến vĩ mô đến thuế TAX (Shock 5) 49
Hình 4.5: Phản ứng xung của các biến vĩ mô đến cú sốc nợ DEBT (Shock 6) 50
Hình 4.6: Kiểm định tính ổn định của mô hình VECM: 58
Hình 4.7: Kiểm định phần dư VECM 58 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Ước lượng hệ số ma trận Bo 45
Bảng 4.2: Phân rã phương sai của GDP 51
Bảng 4.3: Phân rã phương sai lạm phát 52
Bảng 4.4: Phân rã phương sai lãi suất 53
Bảng 4.5: Kiểm định đồng liên kết -Kiểm định Trace 55
Bảng 4.6: Kiểm định đồng liên kết - Kiểm định Max – Eigen 55
Bảng 4.7: Ước lượng mô hình VECM 56
Bảng 4.8: Hệ số hiệu chỉnh mô hình VECM 59
Bảng 4.9: Phân rã phương sai biến GDP - mô hình VECM 60
Bảng 4.10: Phân rã phương sai biến lãi suất - Mô hình VECM 61 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 11CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do thực hiện nghiên cứu này
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng, đóng vai trò to lớn trong việc thực thi chính sách kinh tế ở các quốc gia
Mỗi chính sách có mỗi mục tiêu riêng nhưng cả hai đều hướng đến thực hiện một mục tiêu chung của nền kinh tế là ổn định, tăng trưởng và phát triển Mỗi chính sách được thực hiện bởi những cơ quan khác nhau, bằng những công cụ khác nhau, nhưng đều tạo ra những tác động ảnh hưởng tương hỗ qua lại để cùng thực hiện mục tiêu chung của nền kinh tế, hay nói cách khác, hai chính sách này luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Chính sách tài khóa tác động lên định hướng của nền kinh tế thông qua hệ thống thuế và chi tiêu của Chính phủ, trong khi đó chính sách tiền tệ là công
cụ của Ngân hàng Nhà Nước, thực hiện điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng cho nền kinh tế
Việc quản lý kinh tế tốt hay không phụ thuộc vào sự hiểu biết bản chất của những cú sốc tác động đến nền kinh tế và tác động kinh tế hỗ tương sau đó của chúng Đó là sự tương tác hỗ tương của các cú sốc chính sách tiền tệ đối với chính sách tài khóa và các biến khác; của các cú sốc chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các biến khác; và của các cú sốc kinh tế vĩ mô với cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Các nhà làm chính sách cần phải hiểu và nắm bắt được bản chất các cú sốc sinh ra từ hai chính sách này cùng với các yếu tố khác, chúng gây ra những tác động gì, ở mức
độ như thế nào đối với nền kinh tế?
Luận văn nghiên cứu “Tác động đồng thời của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến các biến kinh tế vĩ mô ở Việt Nam” sẽ nhận diện và định lượng những cú
sốc như vậy
Bài nghiên cứu tập trung nhận diện các cú sốc của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các yếu tố khác thông qua khuôn khổ mô hình SVAR, kết hợp việc nhận diện qua ba yếu tố: Sự giới hạn dấu hiệu (sign restrictions), mối quan hệ đồng liên kết (cointegration) và sự giới hạn loại trừ truyền thống (traditional exclusion
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 12restrictions) trong một hệ thống mà mô phỏng rõ ràng các biến dừng và không dừng, đồng thời giải thích cho các cú sốc nhất thời và vĩnh viễn Ngoài ra sử dụng mô hình VECM để phân tích mối quan hệ dài hạn giữa các cú sốc, thực hiện phân tích hàm phản ứng xung và phân rã phương sai để làm rõ sự tác động đồng thời giữa các cú sốc trong nền kinh tế Kết quả bài nghiên cứu cho thấy: Các cú sốc chính sách tài khóa tác động khá mạnh đến sản lượng và lạm phát Lãi suất – công cụ của chính sách tiền tệ chưa phát huy được vai trò to lớn của nó Cú sốc nợ dường như không đáng kể bằng sốc thuế và chi tiêu chính phủ
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, một quốc gia dù lớn hay nhỏ cũng không thể tồn tại một cách tách biệt với phần còn lại của thế giới mà phải hội nhập với “nhịp đập” chung của nền kinh tế toàn cầu Việc hội nhập ấy không thể tránh khỏi ảnh hưởng từ những
cú sốc trong và ngoài nước Nền kinh tế phải thường xuyên đối mặt với những sự kiện không lường trước được, mà chính nó là những cú sốc gây tác động cho nền kinh
tế như sự sụt giảm giá dầu trong thời gian qua, hay việc Ngân hàng Trung ương thay đổi lãi suất, tăng thu thuế, giảm chi tiêu chính phủ hay việc sụt giảm chỉ số giá tiêu dùng trong những tháng cuối năm 2014, đầu năm 2015… Từ lâu, các nhà kinh tế học
đã có khá nhiều nghiên cứu về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Các nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các công cụ để điều hành, quản lý tốt nền kinh tế Đặc biệt là việc xác định nguyên nhân, nhận diện các cú sốc sinh ra từ việc quản lý các chính sách và ảnh hưởng của chúng Những cú sốc có thể trở thành những kim chỉ nam cho những biến động sắp xảy ra trong nền kinh tế Nhận diện những cú sốc như vậy mang đến cho các nhà hoạch định chính sách cái nhìn ngắn hạn và dài hạn về tương lai nền kinh tế của đất nước mình
Sử dụng phương pháp SVAR, có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đã được thực hiện, mang lại nhiều đóng góp
cả về mặt lý thuyết và thực tiễn Đây là một phương pháp hiệu quả để phân tích chính sách vĩ mô ở nhiều quốc gia Tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào lý giải và làm sáng tỏ các cú sốc hoặc chính sách tiền tệ, hoặc chính sách tài khóa, hoặc
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 13tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR của GS.TS Trần Ngọc Thơ (Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí minh) và Nguyễn Hữu Tuấn (Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn) thiết lập các hạn chế của ma trận cấu trúc trong SVAR để ước lượng các cú sốc chính sách tiền tệ; nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam theo phương pháp SVAR của PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa & ThS Trần Đặng Dũng thiết lập các hạn chế ngắn hạn dựa trên lý thuyết kinh tế và các nghiên cứu trước đó để làm rõ các yếu tố tác động đến lạm phát và ảnh hưởng của các cú sốc chính sách đến lạm phát; truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh giá tài sản tài chính của TS Nguyễn
Phúc Cảnh (Trường Đại học Kinh tế TP.HCM ) xây dựng ma trận hệ số với các hạn
chế cho mô hình SVAR biến đổi từ nghiên cứu của Stefano (2002) Các nghiên cứu chủ yếu thiết lập các hạn chế để xác định các cú sốc Trong bài nghiên cứu dưới đây, vẫn phương pháp SVAR nhưng trong đó kết hợp cả ba nhân tố để nhận diện các cú sốc cả tài khóa và tiền tệ, đó là các hạn chế dấu hiệu, đồng liên kết và hạn chế dài hạn Do đó bài nghiên cứu được thực hiện để làm rõ sự kết hợp đó như thế nào - đây chính là điểm mới của đề tài
1.2 Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Đề đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu này phải trả lời được câu hỏi sau:
Các cú sốc chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các cú sốc khác tác động đồng thời đến các biến kinh tế vĩ mô ở Việt Nam như thế nào?
Mục tiêu nghiên cứu
Trong luận văn thạc sĩ này, tôi nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các cú sốc kinh tế khác trong một khuôn khổ SVAR
Xây dựng một mô hình có chứa các biến tài khóa, tiền tệ và các biến vĩ mô khác, trong đó áp đặt các hạn chế ngắn hạn cho các biến phi tài khóa thông qua các hạn chế SVAR truyền thống Các cú sốc chính sách tài khóa được nhận diện bằng cách sử dụng một tập hợp tối thiểu các hạn chế dấu hiệu Những hạn chế này được áp dụng
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 14trong sự liên kết với các thông tin từ các mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến kinh tế vĩ mô để mô phỏng dài hạn, cho phép cho cả hai thành phần vĩnh viễn và tạm thời và một tập hợp các biến dừng và không dừng Điều này tạo ra sự kết hợp của ba phương pháp nhận diện trong một SVAR: Đầu tiên là thông qua sự tiêu chuẩn hóa và hạn chế truyền thống về mối quan hệ tức thời giữa các biến Thứ hai là phương pháp nhận diện hạn chế dấu hiệu mới hơn, đặt ra các giới hạn trên một tập hợp các phản ứng xung với những cú sốc chấp nhận được từ sự lựa chọn có thể có của hệ trực giao
Phương pháp thứ ba quan tâm đến các thuộc tính dài hạn của mô hình cho phép việc
sử dụng các mối quan hệ đồng liên kết như những công cụ nhận diện Từ đó, sử dụng hàm phản ứng xung (IRF) và phân rã phương sai để đánh giá các cú sốc được bóc tách và phân tích được tác động đồng thời của chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ đến các biến kinh tế vĩ mô ở Việt Nam từ phương pháp định lượng trên
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Tôi sử dụng phương phap nghiên cứu định lượng, xử lý các phương pháp trong mô hình Structural Vector Autoregression (SVAR) cho ngắn hạn Trên cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian, sử dụng phương pháp kiểm định ADF (Augemented Dickey – Fuller test) để kiểm tra tính dừng; kiểm định đồng liên kết (Cointegrated Test) bằng phương pháp của Johansen và Juselius để xem xét có tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến đang nghiên cứu Khi các dữ liệu không dừng (non – stationary) và tồn tại mối quan hệ đồng liên kết thì sử dụng mô hình VECM để phân tích mối quan hệ dài hạn giữa các biến, xem xét quá trình điều chỉnh từ ngắn hạn đến cân bằng dài hạn giữa chúng
Bài luận văn sử dụng phân tích xung qua hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai cho các biến trong mô hình để nhận diện rõ các cú sốc chính sách
1.4 Bố cục của luận văn
Luận văn được chia thành 4 chương Chương 1 là phần mở đầu với lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Chương 2 trình bày khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm Chương 3 trình bày rõ hơn về mô hình nghiên cứu, phương
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 15tích Sau cùng là phần kết luận, nêu những hạn chế và đề ra hướng nghiên cứu mở rộng để hoàn thiện, phát triển đề tài
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 16CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM
2.1 Khung lý thuyết về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của quốc gia, trong đó mỗi chính sách theo đuổi một mục tiêu cụ thể và tuân thủ những quy luật riêng, song đều hướng tới mục đích chung là ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời cả hai chính sách có mối quan hệ tương tác lẫn nhau cả trong ngắn và dài hạn
2.1.1 Chính sách Tài Khóa
Chính sách tài khóa (CSTK) là hệ thống các chính sách của Chính phủ về tài chính, được hoạch định và thực hiện trong một niên khóa tài chính CSTK thể hiện các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn lực tài chính hình thành nên ngân sách nhà nước (NSNN), các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước để thực hiện các khoản chi của NSNN trong từng thời kỳ Mục tiêu của CSTK sẽ được thiết lập dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nhằm ổn định nền kinh tế bằng những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ qua
đó tác động đến tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế, kiểu phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập
CSTK do chính phủ thực hiện mà nhiệm vụ trực tiếp thường là Bộ Tài chính CSTK
có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát Như vậy, việc thực thi CSTK sẽ do chính phủ thực hiện liên quan đến những thay đổi trong các chính sách thuế và chi tiêu chính phủ Cần phải lưu ý rằng, chỉ chính quyền trung ương (chính phủ) mới có quyền và chức năng thực thi chính sách tài khóa, còn chính quyền địa phương không có chức năng này Đây cũng chính là một trong những yếu tố giúp phân biệt giữa một CSTK với một chính sách chi tiêu thuộc phạm vi ngân sách theo phân cấp của chính quyền địa phương Để thực thi CSTK thì chính phủ sẽ cần phải
sử dụng các công cụ của nó
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 17nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội là tiền thu được của Ngân sách nhà nước từ các hoạt động kinh tế của nhân dân (như mua bán, sản xuất kinh doang, tiền lương, hoạt động xuất nhập khẩu…) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu, quản lý, điều hành của nhà nước Hệ thống thuế hiện nay ở Việt Nam gồm nhiều loại thuế khác nhau nhằm quản lý đầy đủ và toàn bộ hoạt độ của nền kinh tế Vì vậy Chính phủ khi cần phải điều tiết, khuyến khích, bảo hộ… việc sản xuất, tiêu dùng thì hoàn toàn có thể dùng công cụ thuế để thực hiện mục tiêu mong muốn của mình; ngoài ra Chính phủ còn cần phải cân nhắc để đáp ứng tăng thu thu thuế để d0ap1 ứng nhu cầu chi thường xuyên, chi dầu tư và cân đối ngân NSNN Các khoản thu thuế của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Các nhiều loại thuế khác nhau tuy nhiên có thể phân thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp lên tài sản và/hoặc thu nhập của người dân, còn thuế gián thu là thuế đánh lên giá trị của hàng tiêu dùng, dịch vụ trong các hoạt động sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế
Các chính sách chi tiêu của chính phủ có nhiều nội dung nhưng nếu dựa vào tính chất thì có thể chia thành hai loại là: chi tiêu thường xuyên (các nội dung chi phát sinh hằng năm gồm chi lương, các các hoạt động quản lý về giáo dục, y tế, tài nguyên môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn…) và chi đầu tư phát triển (ví dụ như xây dựng cơ sở hà tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin…)
Chi tiêu chính phủ (G) có tác động trực tiếp đến tổng cầu, ảnh hưởng lớn hơn đến sản lượng, công ăn việc làm Thuế làm thay đổi thu nhập khả dụng và tiêu dùng, tác động đến giá cả, sản lượng Thuế còn hạn chế vai trò của số nhân trong quá trình lan truyền tác động của các thành tố tổng cầu Sản lượng sẽ thay đổi ít hơn khi không có thuế thu nhập Với nghĩa đó, thuế (như hàm số của thu nhập) có vai trò là một “van” ổn định tự động Tuy nhiên, việc vận dụng các công cụ CSTK không đơn giản Tác động của chi tiêu chính phủ còn phụ thuộc khả năng của tổng cung Nếu tổng cung không đáp ứng việc tăng cầu qua chính sách bành trướng tài khóa có thể dẫn đến lạm phát tăng; điều này càng đúng khi các khoản thâm hụt ngân sách được bù đắp thông qua
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 18việc phát hành tiền, thay vì vay nợ nước ngoài và/hoặc vay trong nước qua phát hành trái phiếu
Chính sách thuế nói chung (không chỉ có thuế mà còn các khoản thu ngân sách ngoài thuế khác và không tính nợ vay Ngoài ra, chúng ta xem trợ cấp như một loại thuế âm) và chi tiêu chính phủ (chi tiêu mua sắm hàng hóa, dịch vụ của chính phủ) Ngoài công cụ thuế và chi tiêu, các công cụ tài trợ cho thâm hụt ngân sách hay tài trợ nợ của chính phủ (tạm gọi là nợ công) cũng được xem là một phần của chính sách tài khóa
Như vậy, chúng ta thấy có ba trạng thái của cán cân ngân sách chính phủ (T – G):
Nếu T > G => chúng ta gọi là thặng dư ngân sách
Nếu T < G => chúng ta gọi là thâm hụt ngân sách
Nếu T = G => chúng ta gọi là cân bằng ngân sách
2.1.2 Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước, là các biện pháp, công cụ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, tức là thông qua chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt được các mục tiêu của quản lý kinh tế vĩ
mô nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn nhất định
Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền
tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền,
ổn định giá cả hàng hóa Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa
Chính sách tiền tệ quốc gia tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng cần cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 19đạo đã định NHNN thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ) Tuy vậy, CSTT hướng tới
ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0 vì như vậy nền kinh
tế không thể phát triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảm phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Mặt khác, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của cuộc cải tiến kĩ thuật thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm Theo nhà kinh tế học Arthur Okun thì khi tổng sản lượng quốc gia thực tế giảm 2% so với tổng sản lượng quốc gia tiềm năng, thì mức thất nghiệp tăng 1% Từ những điều trên cho thấy, vai trò của NHNN khi thực hiện mục tiêu này: tăng cường đầu tư
mở rộng sản xuất – kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theo chu kỳ, tăng trưởng kinh
tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà Mối quan hệ giữa các mục tiêu: Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHNN trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác Mặt khác để biết các mục tiêu cuối cùng trên có thực hiện được không, thì các NHNN phải chờ thời gian dài (một năm – khi kết thúc năm tài chính) Các công cụ của chính sách tiền tệ bao gồm:
Nghiệp vụ thị trường mở: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHNN thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền cung ứng
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 20Dự trữ bắt buộc: Là số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHNN phải giữ lại, do NHNN qui định, gửi tại NHNN, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Quản lý hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại: Là việc NHNN quy định tổng mức dư nợ của các ngân hàng không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình
Quản lý lãi suất: NHNN có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và buộc các ngân hàng kinh phải thi hành Nếu lãi suất quy định cao sẽ thu hút được nhiều tiền gửi làm gia tăng nguồn vốn cho vay Nếu lãi suất thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng
mở rộng kinh doanh tín dụng Xong biện pháp này sẽ làm cho các ngân hàng thương mại mất tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh Mặt khác nó đễ dẫn đến tình trạng
ứ đọng vốn ở ngân hàng, nhưng lại thiếu vốn đầu tư, hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ vàng, ngoại tệ bất động sản, trong khi ngân hàng bị hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay
Quản lý tỉ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa hai đồng tiền, nói cách khác tỉ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một đơn vị tiền nước khác Tác động đến hoạt động kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh, tiêu dùng trong nước, lạm phát qua biến đổi của giá cả hàng hóa và còn tác động đến vấn đề vay nợ nước ngoài của Việt Nam, đến cả dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
CSTT nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất do thúc đẩy đầu tư tăng tổng cầu
và có thể làm gia tăng lạm phát, bởi tăng tiền quá lớn làm vượt mức sản lượng tiềm năng Ngược lại, một CSTT thắt chặt sẽ có tác động làm giảm tổng cầu, nhờ đó kiềm chế được lạm phát Chính sách tiền tệ tác động đến các biến mục tiêu vĩ mô thông qua việc thay đổi cung tiền và lãi suất Cung tiền thường chỉ điều tiết một cách gián tiếp tổng cầu bằng cơ chế lan truyền nhờ sự thay đổi của lãi suất để cân bằng lại thị trường tiền tệ qua việc điều chỉnh sự lựa chọn các tài sản tài chính Trong trạng thái
“bẫy thanh khoản”, CSTT hầu như không có tác dụng đối với lãi suất cũng như sản
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 21còn phụ thuộc vào khả năng phản ứng của tổng cung và quan hệ giữa cung tiền tệ, lãi suất và lạm phát
2.1.3 Mô hình IS-LM, IS-LM-BP và tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến cân bằng kinh tế vĩ mô
Mô hình IS (lãi suất thay đổi trước, ảnh hưởng đến đầu tư và từ đó ảnh hướng đến
sản lượng hay thu nhập) Đường IS phản ánh những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất (r) với sản lượng (Y) mà tại
đó thị trường hàng hóa cân bằng (Y = AD)
Thiết lập đường IS
Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại E1 tương ứng với mức sản lượng Y1 và mức lãi suất
i1, đường tổng cầu AD1 tương ứng với mức lãi suất AD1 Khi đó ta xác định được trên
đồ thị II diểm A(Y1, i1)
Giả sử lãi suất giảm từ i1 xuống i2 làm cho đầu tư tăng, tổng cầu tăng, đường tổng cầu dịch chuyển song song từ AD1 lên AD2 Như vậy AD2 tương ứng với mức lãi suất i2 Đường cân bằng trên thị trường hàng hóa dịch chuyển từ E1 lên E2, tại E2 xác định mức sản lượng Y2 Trên đồ thị II xác định được điểm B(Y2, i2) Nối A với B được đường IS
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 22Mô hình LM:
Đường LM là tập hợp các điểm biểu thị những sự kết hợp khác nhau giữa thu nhập
và lãi suất, tại đó thị trường tiền tệ cân bằng
Dựng đường LM (thu nhập thay đổi trước, lãi suất thay đổi sau)
AD1= C+I1+G+X-M
Y1
A
Y2 Y1
(II)
(I)
A1 A2
AD = Y tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 23+ Tương ứng với mức thu nhập Y1 có hàm cầu tiền LP1 (mỗi hàm cầu tiền dựng trên mức thu nhập cho trước) thị trường tiền tệ cân bằng tại điểm E1 xác định lãi suất cân bằng L1 Trên đồ thị thứ 2 xác định điểm A(Y1; i1)
+ Giả sử thu nhập tăng từ Y1 → Y2 → cầu tiền tăng
Đường cầu tiền dịch chuyển song song sang phải từ LP1 → LP2 Hàm cầu tiền LP2 dựng trên mức TNQG Y2, điểm cân bằng trên thị trường tiền tệ dịch chuyển từ E1
→ E2 Tại E2 xác định mức lãi suất cân bằng i2 Trên đồ thị thứ 2 xác định điểm B(Y2; i2)
Nối A, B được một đường thẳng gọi là đường LM
+ Tại điểm H nằm phía bên phải đường LM: ứng với mức thu nhập Y2 đến tương ứng với hàm cầu tiền LP2 Tại điểm H xác định mức lãi suất i1 → dư cầu tiền
+ Tại điểm K nằm phía trên bên trái đường LM: ứng với Y1, dựng hàm cầu tiền LP1, xác định mức lãi suất i2 → dư cung tiền
Cân bằng đồng thời hai thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ
Trang 24E0 là điểm cân bằng đồng thời trên thị trường hàng hoá và tiền tệ
+ Tại điểm K: K thuộc LM nên thị trường tiền tệ cân bằng K không thuộc vào IS nên thị trường hàng hoá dư thừa hàng tồn kho (bên phải IS) => Hợp 2 lực kéo K về vị trí cân bằng
+ Tại điểm H: H thuộc IS nên thị trường hàng hoá cân bằng H không thuộc LM (bên trái LM) → thị trường tiền tệ dư cung tiền → làm lãi suất giảm ( i giảm ) → Đầu tư
tư nhân tăng (I tăng) → Sản lượng tăng => Hợp 2 lực kéo H về vị trí cân bằng E0
Tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến sản lượng và lãi suất thông qua mô hình IS – LM:
Tác động của chính sách tài khoá:
E0 thuộc IS => Thị trường hàng hoá cân bằng
E0 thuộc LM => Thị trường tiền tệ cân
Y o
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 25+ Khi chính phủ sử dụng chính sách tài khoá lỏng làm đường IS dịch chuyển từ IS thành IS1, điểm cân bằng của nền kinh tế dịch chuyển từ E0 (Y0,i0) đến E1 (Y1,i1) =>
sản lượng tăng, lăi suất tăng => Giải thích hiện tượng thoái lui đầu tư
+ Khi chính phủ sử dụng chính sách tài khoá chặt làm cho IS dịch chuyển sang trái
từ IS → IS2, điểm cân bằng của nền kinh tế dịch chuyển từ E0 → E2 (Y2; i2) → sản lượng giảm từ Y0 → Y2, lăi suất giảm từ i0 → i2
Chính sách tiền tệ chặt (Tăng lãi suất, giảm cung tiền)
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 26+ Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ lỏng làm cho đường LM dịch chuyển sang phải từ LM → LM1, điểm cân bằng của nền kinh tế dịch chuyển từ E0 → E1 (Y1; i1)
Chính sách tiền tệ lỏng làm sản lượng tăng từ Y0 → Y1, lăi suất giảm từ i0 → i1 + Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ chặt làm cho đường LM dịch chuyển sang trái từ LM → LM2, điểm cân bằng của nền kinh tế dịch chuyển từ E0 → E2 (Y2; i2)
Chính sách tiền tệ chặt làm sản lượng giảm từ Y0 → Y2, lăi suất tăng từ i0 → i2
Bên cạnh đó trong trường hợp kinh tế mở thì cần xem xét thêm mô hình IS –
+ Không có sai số thống kê
+ Trong TK vãng lai chỉ có xuất khẩu ròng, bỏ qua chuyển nhượng ròng và thu nhập ròng từ nước ngoài
Như vậy, cán cân thanh toán cân bằng khi:
TK vãng lai + TK vốn = 0
(X –M) + Ka = 0
Ka +X = M (Trong đó X > 0, M > 0 nên Ka +X > 0 thì phương trình cân bằng của cán cân thanh toán thoả mãn)
Nếu cán cân thanh toán cân bằng thì Ka + X: lượng ngoại tệ đi vào và M: lượng ngoại tệ đi ra sẽ bằng nhau
Ta có: hàm Ka + X = f(r) ; hàm M = f(Y)
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 27Đường BP phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng mà ở đó đảm bảo sự cân bằng của cán cân thanh toán Hay chúng ta có thể hiểu rằng, mọi điểm nằm trên đường BP đều thoả mãn phương trình: Ka + X = M
- Các điểm nằm phía trên đường BP (điểm E) thì cán cân thanh toán thặng
Trang 28Cân bằng của thị trường hàng hóa và tiền tệ trong nước khi nền kinh tế mở: Nền kinh
tế cân bằng đồng thời ba thị trường hàng hoá, nội tệ và ngoại tệ thì phải thoải mãn điều kiện cân bằng 3 phương trình IS – LM và BP, hay cả 3 thị trường phải có cùng chung một thu nhập Y và lãi suất r Tại điểm giao nhau của 3 đường IS – LM – BP thì lã suất trong nước sẽ bằng lãi suất thế giới (r0)
Tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến sản lượng và lãi suất thông qua mô hình IS – LM –BP tuân theo quy luật: Trong trường hợp của một nền kinh tế
mở, nhỏ, vốn di chuyển tự do, dưới cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, chính sách tiền tệ
có tác động mạnh hơn so với chính sách tiền tệ trong nền kinh tế đóng, nhưng chính sách tài khoá thì yếu hơn; điều ngược lại là đúng trong cơ chế tỷ giá hối đoái cố định
Chú ý: Ba điều không thể xảy ra đồng thời (The Impossible Trinity hay Bộ ba bất khả thi) là Cơ chế tỷ giá hối đoái cố định; Chính sách tiền tệ độc lập và Vốn di chuyển hoàn toàn tự do
Trong ngắn hạn CSTK có tác động qua lại, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới các yếu tố thuộc cơ chế truyền dẫn CSTT CSTK tác động trực tiếp và gián tiếp lên tổng cầu của nền kinh tế thông qua các quyết định thu, chi, hoặc tác động lên lãi suất Điều
đó làm ảnh hưởng đến tiền lương và giá cả, qua đó tác động lên lạm phát và kỳ vọng lạm phát Về mặt lý thuyết, những ảnh hưởng của CSTK lên các kênh truyền dẫn của CSTT, nhưng trên thực tế rất khó lượng hóa mức độ ảnh hưởng này trong ngắn hạn
Trong dài hạn, CSTK có thể ảnh hưởng đến sự ổn định lâu dài của CSTT Nếu một CSTK kém bền vững được áp dụng lâu dài sẽ tác động lên mục tiêu CSTT Kỳ vọng thâm hụt ngân sách lớn và liên tục cộng với nhu cầu nợ lớn của Chính phủ có thể giảm lòng tin vào nền kinh tế và tạo ra rủi ro đối với ổn định thị trường tài chính
Thiếu niềm tin vào sự bền vững tài chính của Chính phủ có thể trở thành yếu tố tiềm
ẩn gây ra bất ổn cho các thị trường trái phiếu, ngoại hối, tín dụng nói chung và thậm chí làm sụp đổ cơ chế, hệ thống tiền tệ Ngoài ra, CSTK còn có ảnh hưởng đến dòng chu chuyển vốn quốc tế, qua đó làm ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát luồng ngoại
tệ ra, vào đất nước của NHNN, gây rủi ro cho hệ thống tài chính Chính sách thu và
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 29nguồn lực, làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốc tế
Trong khi đó, CSTT cũng có ảnh hưởng nhất định đến CSTK CSTT với mục tiêu trung hạn là ổn định giá cả, giá trị đồng tiền và hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc kiểm soát lãi suất và cung tiền CSTT thắt chặt sẽ làm giảm nhu cầu đầu tư, thu hẹp sản xuất, dẫn đến giảm nguồn thu ngân sách của Chính phủ; một sự tăng, giảm lãi suất từ CSTT sẽ ảnh hưởng đến giá trái phiếu chính phủ, điều đó cũng ảnh hưởng đến cân đối ngân sách; sự gia tăng tỷ giá sẽ làm gia tăng khoản nợ chính phủ bằng đồng ngoại tệ quy đổi
Trong trường hợp ngân sách thặng dư ngân sách chúng ta thấy chính phủ khi đó có khoản tiết kiệm dương Khoản tiết kiệm này có thể được dùng để trả nợ công (do thâm hụt tích lũy trong những năm tài khóa trước) hoặc cho vay nền kinh tế trong nước hay nước ngoài Ngược lại, nếu ngân sách thâm hụt thì chính phủ sẽ phải đi vay
để tài trợ cho phần thâm hụt đó Có một số cách để chính sách tài trợ thâm hụt ngân sách, chẳng hạn như phát hành tín phiếu/trái phiếu chính phủ (nghĩa là đi vay trong nước hoặc nước ngoài), bán bớt các tài sản quốc gia (chẳng hạn bán tài nguyên hay bán cổ phần trong các doanh nghiệp nhà nước) hoặc thậm chí có thể in tiền Tất nhiên chính phủ sẽ phải cân nhắc các lựa chọn này vì mỗi một lựa chọn như vậy đều có lợi ích và chi phí kinh tế đi kèm Chẳng hạn như vay nợ sẽ phải trả lãi suất, thậm chí vay nước ngoài (vay ngoại tệ) sẽ còn chịu rủi ro biến động tỷ giá hối đoái Tương tự, nếu bán tài sản quốc gia có thể làm suy giảm nguồn lực của thế hệ tương lai, hay in tiền
có thể gây áp lực lạm phát và bất ổn vĩ mô ) Ngoài vấn đề lựa chọn kênh tài trợ thâm hụt, việc sử dụng nguồn tài trợ đó như thế nào cũng là một thách thức không nhỏ
Chính sách tăng chi tiêu và chấp nhận thâm hụt ngân sách của chính phủ sẽ không chỉ tạo ra tác động lan tỏa mà còn tạo dựng niềm tin cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp Các lý thuyết kinh tế vĩ mô (đặc biệt là học thuyết của Keynes) cũng chứng minh rằng việc gia tăng chi tiêu chính phủ cũng sẽ giúp kích thích gia tăng sản lượng của nền kinh tế, tránh được tình trạng thiểu dụng (thất nghiệp) Tuy nhiên,
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 30nhiều người khác lại lo ngại rằng thâm hụt ngân sách thường là mầm móng cho sự trỗi dậy của lạm phát Thâm hụt ngân sách và tài trợ thâm hụt cũng tạo ra tác động chèn lấn đầu tư và tiêu dùng của khu vực tư nhân Chúng ta có thể hiểu đơn giản tác động chèn lấn như sau Khi chính phủ đi vay để tài trợ thâm hụt sẽ làm tăng nhu cầu vay vốn trên thị trường tài chính Xét tình huống một nền kinh tế đóng, trong điều kiện giả định nguồn cung quỹ cho vay là giới hạn, việc chính phủ tăng nhu cầu vay mượn sẽ làm tăng lãi suất của nền kinh tế Lãi suất tăng lên sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp cũng như nhu cầu vay mượn cho tiêu dùng của khu vực hộ gia đình Người ta gọi đây là tác động chèn lấn của tài trợ thâm hụt Việc chính phủ tăng chi tiêu cũng tạo ra tác động chèn lấn với cơ chế tương tự như tài trợ thâm hụt Tác động chèn lấn của chi tiêu chính phủ và tài trợ thâm hụt do
đó, nhiều người cũng hoài nghi rằng, ngoài tác động chèn lấn, việc chính phủ tăng chi tiêu và tài trợ thâm hụt cũng chưa hẳn giúp gia tăng tổng cầu của nền kinh tế Họ lập luận rằng, khi chính phủ tăng cường vay mượn trong hiện tại thì sẽ phải tìm cách tăng thuế trong tương lai để trả nợ Việc tăng thuế trong tương lai chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến thu nhập khả dụng của họ trong tương lai và như vậy cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu của họ trong tương lai Tuy nhiên, khi người dân nghĩ như vậy thì ngay hiện tại họ đã bắt đầu giảm chi tiêu và tăng tiết kiệm nhằm có tiền nộp thuế trong tương lai và bù lại phần chi tiêu có thể sẽ giảm đi trong tương lai đó Nếu điều này xảy ra thì cầu tiêu dùng của khu vực hộ gia đình và kể cả cầu đầu tư của khu vực doanh nghiệp đã giảm ngay trong năm hiện tại Như vậy, khoản chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ được bù đắp bởi khoản sụt giảm trong chi tiêu của hộ gia đình và đầu tư của tư nhân Người ta gọi đây là tương đương Ricardo (Ricardian Equivalence) Chúng ta lưu ý rằng, hiện tượng chèn lấn đầu tư tư nhân như đã nói ở trên chỉ là chèn lấn một phần khi chúng ta xét trong một nền kinh tế đóng Trong một nền kinh tế mở thì việc tăng chi tiêu chính phủ và tài trợ thâm hụt còn dẫn đến hiện tượng chèn lấn hoàn toàn thông qua các thay đổi về tỷ giá và cơ chế dịch chuyển của dòng vốn quốc tế Ngoài ra chúng ta cũng cần biết rằng, không phải mọi biện pháp gia tăng chi tiêu và tài trợ thâm hụt của chính phủ đều có tác động hữu hiệu lên tổng cầu nội địa Trong điều kiện nền sản xuất trong nước còn yếu kém thì việc gia tăng
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 31tác động của tài trợ thâm hụt còn phụ thuộc vào động thái của CSTT Trong nhiều trường hợp, việc thực thi CSTT lại làm vô hiệu tác dụng của chính sách tài khóa
Chúng ta thấy rằng khi NHNN quyết định mở rộng CSTT sẽ làm cho cung tiền tăng lên và do đó sẽ làm giảm mặt bằng lãi suất xuống (giả sử cầu tiền không đổi) Lãi suất giảm sẽ làm tăng nhu cầu chi tiêu nhu cầu đầu tư và kể cả xuất khẩu ròng của nền kinh tế sẽ làm tăng tổng cầu của nền kinh tế, làm tăng GDP thực và mức giá chung Ngược lại, khi NHNN thắt chặt CSTT sẽ làm cho cung tiền giảm, từ đó làm cho lãi suất cân bằng tăng lên Lãi suất tăng sẽ làm giảm chi tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu ròng và do vậy làm giảm tổng cầu Tổng cầu giảm sẽ làm giảm GDP thực và mức giá chung Thực ra, cơ chế truyền dẫn của CSTT đến các biến số kinh tế phức tạp hơn nhiều Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, CSTT và CSTK phụ thuộc lẫn nhau, thay đổi của chính sách nào cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách kia CSTK thường ngay lập tức làm thay đổi tổng cầu, theo đó tác động đến thu nhập
và sản lượng nhanh hơn CSTT Tuy nhiên, thời gian thực hiện CSTK lại thường kéo dài hơn so với CSTT Thêm vào đó, CSTK là chính sách cứng, do được thực hiện theo kế hoạch của Quốc hội phê chuẩn, còn CSTT là chính sách linh hoạt Hơn nữa, trong thực tế, hai chính sách này lại do hai cơ quan khác nhau điều hành, vấn đề đặt
ra là cần đảm bảo sự tương tác hiệu quả giữa hai chính sách này hướng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, tức là phải có sự phối hợp trong điều hành CSTT và CSTK giữa NHNN và Bộ Tài chính
Mặc dù mỗi chính sách đều có ưu nhược điểm riêng nhưng chính phủ luôn mong muốn tìm ra giải pháp trung hòa, kết hợp các mặt của cả hai chính sách để giải quyết các vấn đề kinh tế
2.2 Bằng chứng thực nghiệm 2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Về CSTT, Taylor (2001) nhấn mạnh rằng việc ổn định tỷ giá có thể giúp thúc đẩy ổn định sản lượng và giúp giảm lạm phát xuống mức mục tiêu Taylor (2002) cho thấy
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 32trong một thị trường tài chính kém phát triển, chẳng hạn như trường hợp ở các quốc gia mới nổi, các ngân hàng trung ương đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát kỳ vọng của các tổ chức kinh tế Theo cách đó, Calvo và Mishkin (2003) lập luận rằng vì sự tín nhiệm thể chế thấp nên bắt buộc các nhà điều hành CSTT ở các quốc gia này phải chịu sự hạn chế về quyền quyết định thông qua chế độ lạm phát mục tiêu Đối với Brazil, Minella et al (2003) thấy rằng không thể giải thích đầy đủ phản ứng của nền kinh tế bằng các cú sốc CSTT Allegret et al (2012) cho thấy sự liên quan của biến động trong tỷ giá hối đoái thực và luồng vốn Batini et al (2007) cho thấy chi phí của việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái cố định là cao hơn Đối với Nam Phi, du Plessis (2006) thấy rằng CSTT là một công cụ chính sách ổn định quan trọng
kể từ những năm đầu 1990 Erten (2012) nhấn mạnh tầm quan trọng của các cú sốc
từ bên ngoài trong việc giải thích các kết quả tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi, trong khi Saldarriaga và Winkelried (2013) nhấn mạnh các mối quan hệ thương mại song phương Sử dụng dữ liệu cho khối BRICS, Mallick và Sousa (2012) dùng
mô hình VAR để xác định các cú sốc về CSTT (lãi suất), cho thấy với CSTT thu hẹp
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế thực tế và giúp giảm lạm phát trong ngắn hạn Mallick và Sousa (2013) nhận thấy CSTT có thể dùng để phản ứng lại cú sốc kinh tế vĩ mô bất lợi và những cú sốc giá cả hàng hóa đòi hỏi phải có phản ứng tích cực hơn từ ngân hàng trung ương để đạt được làm phát mục tiêu
Về CSTK, Gavin và Perotti (1997), Talvi và Végh (2005), Alesina et al (2008) và Ilzetski và Vegh (2008) cho rằng lạm phát cao và sự phối hợp đồng bộ của chính sách tài khóa vẫn là vấn đề chính sách quan trọng Mallick (2006) cho thấy, với hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, các biện pháp thắt chặt tài khóa đã làm giảm sản lượng Jawadi et al (2014b) sử dụng một hệ thống đồng đẳng đầy đủ các phương trình để xem xét ảnh hưởng kinh tế vĩ mô của chính sách tài khóa ở BRIC để ước lượng các quy tắc chính sách tài khóa Các tác giả thấy rằng các hiệu ứng chính sách tài khóa theo tường phái Keynesian, tức là không có bằng chứng về "việc thắt chặt tài khóa mở rộng" Ngoài ra, những cân nhắc về tăng trưởng, lạm phát và giá cả hàng hóa dường như dẫn tới hành vi của cơ quan điều hành chính sách ở các nước này
Nghiên cứu cấp quốc gia, chẳng hạn như các tác phẩm của Afonso và Sousa (2012)
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 33và tài khóa Blanchard và Perotti (2002) sử dụng thông tin bên ngoài về tính co giãn của các biến số tài chính để kiểm soát phản ứng tự động của chính sách tài khóa đến chu kỳ kinh doanh Uhlig (2005) sử dụng hạn chế dấu đối với các phương trình phản ứng xung để xác định những cú sốc trong lãi suất và chi tiêu của chính phủ Các nghiên cứu dựa vào khuôn khổ PVAR, điều này rất phù hợp cho việc xem xét các cú sốc bất thường theo thời gian và ở các quốc gia Ví dụ, Beetsma và Giuliodori (2011)
và Lane and Benetrix (2015) phân tích việc truyền tải các cú sốc chi tiêu của chính phủ ở các quốc gia Agnello và Sousa (2011, 2013) xem xét tác động đến kinh tế vĩ
mô và giá tài sản của chính sách tài khóa Các dữ liệu bảng khác tập trung vào các
mô hình PVAR cấu trúc Ví dụ, Ravn et al (2012) nghiên cứu tác động của “sự gia tăng chi tiêu chính phủ” đối với các biến số vĩ mô quan trọng bằng mô hình PVAR
Pedroni (2013) đề xuất mộ hình SVAR cho cả những cú sốc bất thường và phổ biến
và cho phép tính phản ứng không đồng nhất giữa các quốc gia
Về nghiên cứu tác động đồng thời giữa CSTK và CSTT, Roel M.W.J.Beetsma HenrikJensen (2005) với bài nghiên cứu “Monetary and fiscal policy interactions in
a micro-founded model of a monetary union” để nhận diện sự tương tác giữa chính sách tiền tệ và tài khóa trong một mô hình kinh tế nhỏ trong một liên minh tiền tệ với
cơ chế giá dính Tác giả tìm thấy đóng góp rất lớn của việc mua bán công trong việc
ổn định kinh tế dưới sự hiện diện của các cú sốc tổng cung, tổng cầu Trong đó, chính sách tiền tệ bị hạn chế để phù hợp với sự phát triển kinh tế của quốc gia trong cộng đồng chung Châu Âu bằng việc lựa chọn các chính sách tài khóa, tối ưu hoặc thông qua một quy tắc Kết quả cho thấy việc cam kết và ổn định tài khóa là không đáng kể
Mặc dù có một áp lực về phối hợp tài khóa ở châu Âu, nhưng các chính sách tài khóa thực tế chủ yếu được thực hiện với mục tiêu phục vụ lợi ích quốc gia thay vì các lợi ích chung của cộng đồng liên minh Châu Âu
V.Anton Muscatelli (2002) “Monetary and fiscal policy interactions over the cycle:
Some empirical evidence” dùng dữ liệu ở các quốc gia Châu Âu giai đoạn từ
1970-1984 bằng mô hình Var, kết luận rằng những tác động đối với sản lượng của những
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 34cú sốc tài khóa là mờ nhạt, những phản ứng về tài khóa đối với những cú sốc lạm phát chưa rõ ràng, và bản chất sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai biến chính sách rất không ổn định Các kết quả này không thể được giải thích dễ dàng bằng các mô hình phổ biến được thiết kế để giải thích các quy tắc về chính sách tài khóa, tiền tệ Hơn nữa, kết quả của tác giả cho thấy thâm hụt ngân sách không phản ứng đáng kể với cú sốc lạm phát Điều này cho thấy không có việc nắm quyền cao hơn của những nhà điều hành chính sách tài khóa, bởi các cơ quan tài chính sẵn sàng phản ứng lại với việc nợ tăng bằng các công cụ chính sách tiền tệ đối với cú sốc lạm phát
Troy Davig, Eric M Leeper (2009) với bài nghiên cứu tương tác giữa chính sách tiền
tệ và chính sách tài khóa và sự kích thích tài khóa “Monetary–fiscal policy interactions and fiscal stimulus” để ước lượng về tác động của việc tăng chi tiêu của chính phủ đến việc gia tăng giá trị sản lượng ở Hoa Kỳ bằng mô hình VAR Tác giả thấy rằng dưới các chế độ tiền tệ và chính sách tài khóa khác nhau - từ chế độ chính sách tài chính tiền tệ chủ động/ chính sách tài khóa thụ động (AM/PF) chuyển sang chính sách tiền tệ thụ động/chính sách tài kháo chủ động (PM/AF) Sự gia tăng chi tiêu của chính phủ ở mức 1 đô la làm tăng sản lượng lên $ 0.80 trong giá trị trong chế
độ AM/PF, trong khi đó giá trị tăng lên tới 1.80 đô la khi chuyển sang chế độ (PM/AF).Trong mô hình đơn giản của chúng tôi, điều này có nghĩa là khi chính phủ gia tăng chi tiêu thêm 1 $ thì làm giảm tiêu thụ $ 0.20 trong giá trị dưới AM/PF, tăng tiêu thụ khoảng $0.80 trong giá trị theo chế độ chính sách PM/AF
Năm 1998, Fabio C Bagliano và Carlo A Favero đã thực hiện nghiên cứu để phân tích cơ chế dẫn truyền CSTT ở Mỹ với 6 biến GDP (GDP), chỉ số giá tiêu dùng (P), chỉ số giá hàng hóa (Pcm), lãi suất Quỹ liên bang (FF), tổng dự trữ (TR) và dự trữ không phải tiền vay (NBR) Chuỗi dữ liệu được thu thập cho giai đoạn mẫu từ năm
1965 – 1996 Trong đó, các tác giả đã xem xét 3 vấn đề: đặc tính kỹ thuật, sự nhận diện và ảnh hưởng của việc bỏ sót lãi suất dài hạn
Phân tích đặc tính kỹ thuật (Specification) trên toàn bộ mẫu từ năm 1965 đến năm
1996, tác giả đã cho thấy chỉ có mô hình VAR ước lượng trên một chế độ tiền tệ đơn nhất mô tả đặc tính nổi bật sự ổn định tham số và không có dấu hiệu của tham số sai
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 35năm 1988, không có dấu hiệu của tham số sai lệch (Mis-Specification)
Khi phân tích sự nhận diện, thực hiện trong giai đoạn mẫu ngắn hơn, bắt đầu từ tháng
11 năm 1988 đến tháng 3 năm 1996, so sánh các quy trình khác nhau để nhận diện các cú sốc CSTT Qua phân tích này tác giả cho thấy mô hình VAR dựa trên các cú sốc CSTT và các nhiễu chính sách được nhận diện từ các nguồn tương đối là không tương quan cao nhưng mô tả của các cơ chế truyền dẫn tiền tệ thu được từ ước lượng các hàm phản ứng xung không khác nhau đáng kể Cuối cùng các tác giả xem xét cho trường hợp tính cả lãi suất dài hạn trong mô hình VAR chuẩn, tháo gỡ các cú sốc CSTT từ các nhiễu độc lập với lãi suất dài hạn Đưa vào lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm cho thấy có một phản ứng đáng kể của lãi suất chính sách đến biến động tức thời của lãi suất dài hạn và cho thấy sự ảnh hưởng lên sản lượng của một CSTT chặt chẽ dường như không phải là do sự gia tăng lãi suất dài hạn
Năm 2002 Olivier Blanchard và Roberto Perotti trong một nghiên cứu: An empirical characterization of the dynamic effects of changes in Government spending and taxes
on output sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp VAR cấu trúc/sự kiện để mô tả các hiệu ứng động của các cú sốc trong chi tiêu chính phủ và thuế đối với hoạt động kinh tế tại Hoa Kỳ trong thời kỳ hậu chiến Bằng việc sử dụng các thông tin về tổ chức hệ thống thuế, chuyển giao và thời gian thu thuế để xây dựng các phản ứng động của chính sách tài khóa (thuế và chi tiêu) đến các hoạt động kinh tế, từ đó suy ra những cú sốc tài khóa Các ông đã cho thấy những cú sốc chi tiêu chính phủ tích cực
có một tác động tích cực đến sản lượng, và các cú sốc thuế tích cực có tác động tiêu cực và cả hai tăng thuế và tăng chi tiêu chính phủ có ảnh hưởng tiêu cực đến chi đầu
tư, điều đó nhất quán với lý thuyết chuẩn: khi chi tiêu chính phủ tăng, sản lượng tăng;
khi thuế tăng, sản lượng giảm Ngoài ra, trong khi phản ứng của sự tiêu thụ đến chính sách tài khóa khó khăn để dung hòa với các cách tiếp cận tân cổ điển, thì phản ứng của đầu tư, giảm với cả tăng thuế và tăng chi tiêu, đi ngược lại với cách tiếp cận của Keynes
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 36Tác giả sử dụng các thông tin thể chế về thuế, sự chuyển nhượng và chương trình chi tiêu để xây dựng và ước lượng các tham số trong mô hình, cùng với hàm phản ứng xung của các cú sốc thuế và chi tiêu đối với GDP Ngoài ra, nghiên cứu về mối quan
hệ tức thời giữa các cú sốc đến chi tiêu chính phủ, thuế ròng và sản lượng, tác giả đã cho thấy: dấu của tác động đồng thời của các loại thuế và chi tiêu trên GDP - c1 và c2 là như kỳ vọng, âm trước dương sau và được ước tính khá chính xác Hai hệ số có giá trị tuyệt đối rất giống nhau, và cũng rất giống nhau trên hai thông số kỹ thuật xu hướng xác định (DT) và xu hướng ngẫu nhiên (ST) Theo DT, một cú sốc đơn vị đến chi tiêu làm tăng GDP trong quý 0,96 USD, trong khi một cú sốc đơn vị đến thuế làm giảm GDP 0,87 USD
Dưới cả hai đặc tính kỹ thuật DT và ST, tăng thuế có một tác động tiêu cực đối với sản lượng Trong cả hai trường hợp, tác động lên sản lượng đều cần thời gian để xây dựng, trong đó phản ứng lớn nhất xuất hiện sau 5 hoặc 7 quý phụ thuộc vào đặc tính
kỹ thuật Tuy nhiên, phản ứng tiêu cực của sản lượng rõ rệt hơn đối với ST Sử dụng biến giả cho Quý 2 năm 1975, kết quả nghiên cứu cho cú sốc cắt giảm thuế cũng tương tự như trường hợp trên chỉ khác nhau ở thời gian tạo tác động lên sản lượng
Đối với cú sốc chi tiêu chính phủ, trong cả hai đặc tính kỹ thuật, sản lượng đều có phản ứng tích cực với nó Ngoài ra, bản thân chi tiêu cũng phản ứng mạnh mẽ và dai dẳng đến cú sốc của chính nó Và tùy vào đặc tính kỹ thuật mà số nhân chi tiêu lớn hơn hay nhỏ hơn so với các hệ số thuế
Cũng trong năm 2002, Roberto Perotti tiến hành bài nghiên cứu Estimating the effects of fiscal policy in OECD countries để nghiên cứu những tác động của chính sách tài khóa trên GDP, giá cả và lãi suất tại 5 quốc gia OECD Tại các nước OECD, tác động ước tính của chính sách tài khóa lên GDP có xu hướng nhỏ, số nhân chi tiêu chính phủ dương lớn hơn 1 có xu hướng trở thành một ngoại lệ, số nhân thuế thường
là âm, thậm chí nhỏ hơn giá trị tuyệt đối và theo thời gian, các tác động này trở nên yếu hơn đáng kể Thêm vào đó, theo giá trị hợp lý của sự co giãn giá cả, chi tiêu chính phủ có tác động mặc dù thường nhỏ nhưng tích cực đến mức giá cả Ngoài ra, nó cũng có một tác động đáng kể đến lãi suất ngắn hạn thực và danh nghĩa Giai đoạn
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 37danh nghĩa, và thường là tiêu cực hoặc không có ảnh hưởng đến giá Tiếp cận và phát triển phương pháp của Blanchard và Perotti (2002), tác giả khai thác đặc điểm thể chế nổi bật của sự hoạch định chính sách tài khóa và các thông tin chi tiết về các hiệu ứng động của GDP và lạm phát trên doanh thu thuế và chi tiêu chính phủ để xác định các cú sốc chính sách tài khóa ngoại sinh trong một VAR cấu trúc Bên cạnh đó, việc
mở rộng phương pháp của Blanchard và Perotti còn được ứng dụng để nghiên cứu sự tương tác của CSTK và CSTT và sự ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên giá cả Sử dụng độ co giãn trung bình qua các thời kỳ mẫu để xây dựng các phản ứng xung sau khi những cú sốc cấu trúc được xác định Tác giả giải thích cho sự sụt giảm hiệu quả của chính sách tài khóa liên quan đến sự mở cửa hội nhập tài chính và sự gia tăng không đủ lớn trong tỷ lệ xuất khẩu / GDP, bên cạnh đó còn kể đến chế độ tỷ giá hối đoái của các nước trong mẫu: theo đó mô hình Mundell – Fleming chuẩn dự đoán chính sách tài khóa ít mạnh mẽ hơn dưới cơ chế tỷ giá thả nổi
Năm 2007, Fabio Canova and Evi Pappa trong price differentials in monetary unions:
the role of fiscal shocks nghiên cứu về tác động của các cú sốc chi tiêu và doanh thu trong khu vực lên chênh lệch giá cả tại 47 tiểu bang Hoa Kỳ và 9 nước EU, tác giả cũng sử dụng sự hạn chế dấu hiệu để nhận diện các cú sốc trong sự vận động của chi tiêu, doanh thu, thâm hụt ngân sách và sản lượng và xây dựng 2 ước lượng cho động lực của sự chênh lệch giá cả có tính cơ cấu Xác định 2 loại cú sốc chi tiêu: một được tài trợ bởi trái phiếu tạo ra sự biến động đồng thời tích cực lên chi tiêu khu vực, và một được tài trợ bởi sự bóp méo thuế, điều này để lại thâm hụt không thay đổi và tạo
ra sự biến động tiêu cực giữa chi tiêu và sản lượng Và tác giả tập trung vào nghiên cứu các loại sốc doanh thu Kết quả, tác giả đã tìm thấy bằng chứng cho sự gia tăng mức chênh lệch giá đối với loại sốc chi tiêu thứ nhất, trong khi đó là sự sụt giảm đối với loại sốc chi tiêu thứ hai Các tác giả đã thành công một phần trong việc xác định các cú sốc cấu trúc ở hầu hết các Tiểu bang của Hoa Kỳ và các nước EMU Về trung bình, các nhiễu G và T gia tăng đáng kể sự chênh lệch giá, ngược lại nhiễu BB (budget-balanced – Cân đối ngân sách) lại giảm đáng kể chênh lệch giá Sự gia tăng tiêu dùng được tài trợ bởi sự bóp méo thuế, trong thực tế được giả định là có tác dụng
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 38thu hẹp trên sản lượng, vì vậy mặc dù gia tăng chi tiêu chính phủ có thể làm dịch chuyển đường cầu địa phương về bên phải nhưng sự gia tăng bóp méo thuế để duy trì cân bằng ngân sách đã kéo đường cầu trở về bên trái, kết quả là cả sản lượng và việc làm tương đối giảm, chênh lệch giá cả cũng giảm, đó là kết quả tác động của nhiễu
BB đối với Hoa Kỳ Ngoài ra, phản ứng của sự chênh lệch giá khác nhau đáng kể đồng thời từ 0 đối với các cú sốc BB và T, trong khi đó, các cú sốc G thì cần khoảng
1 năm để tạo ra tác động lên chênh lệch giá, và sau đó tác động này cũng dai dẳng hơn Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, chính sách tài khóa đã có một tác động đáng kể lên chênh lệch giá Các tác động này khác nhau đối với liên minh và từng loại sốc nhưng trung bình các nhiễu tài khóa giải thích 14%-23% các biến động của chênh lệch giá cả của cả liên minh, mặc dù ở một số nước tác động này là không đáng
kể Thâm hụt ngân sách được tài trợ bởi các cú sốc mở rộng tài khóa làm tăng sự chênh lệch giá, trong khi các cú sốc cân đối ngân sách thì làm giảm chúng Cũng trong năm này, Mardi Dungey và Renée Fry thực hiện bài nghiên cứu The Identification of Fiscal and Monetary Policy in a Structural VAR cho New Zealand,
sử dụng phương pháp mới SVAR trong đó kết hợp 3 nhân tố: Sự hạn chế dấu, đồng liên kết và sự hạn chế loại trừ truyền thống để tháo gỡ các cú sốc chính sách tài khóa,
cú sốc CSTT và các cú sốc vĩ mô khác đối với nền kinh tế Mô hình sử dụng 12 biến nội sinh, trong đó có 8 biến không dừng và 3 mối quan hệ đồng liên kết: sản lượng nước ngoài (𝑦𝑡∗), giá xuất khẩu (𝑝𝑥𝑡), giá nhập khẩu (𝑝𝑚𝑡), chi tiêu chính phủ thực (𝑔𝑡), doanh thu thuế thực trừ chuyển đổi (𝑡𝑎𝑥𝑡), sự hấp thụ (đại diện bởi tổng chi tiêu quốc gia thực) (𝑔𝑛𝑒𝑡), tỷ số nợ quốc gia phát hành trên GDP (𝑑𝑒𝑏𝑡𝑡), GDP thực (𝑔𝑑𝑝𝑡), lạm phát giá nhà (ℎ𝑝𝑖𝑛𝑓𝑡), lạm phát giá tiêu dùng (𝑖𝑛𝑓𝑡), lãi suất ngắn hạn (𝑠ℎ𝑜𝑟𝑡𝑡) và tỷ giá hối đoái thương mại có trọng số cho đồng đô la New Zealand (𝑡𝑤𝑖𝑡) Xây dựng một mô hình SVAR trong đó xếp lồng vào 3 phương pháp: hạn chế truyền thống ngắn hạn, hạn chế dấu và hạn chế dài hạn; áp đặt các tiêu chuẩn: tiêu chuẩn dấu hiệu thuần, tiêu chuẩn hạn chế độ lớn và hạn chế độn lớn tương đối để rút
ra hàm phản ứng xung và ấn định các xung cho những cú sốc đặc biệt cùng với phân
rã phương sai Tác giả đã cho thấy:
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 39cú sốc chính sách thuế và nợ vững hơn các cú sốc chi tiêu chính phủ Hầu hết hành
vi gia tăng sản lượng không phải là kết quả của các cú sốc chính sách mà thường xuất phát từ cú sốc của chính bản thân nó Ngoài ra, sự bóc tách các cú sốc chính sách tiền
tệ còn cho thấy phản ứng chính của nó đến các cú sốc lạm phát, cung cấp một sự phấn khởi về điều hành chính sách tiền tệ ở New Zealand
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu phân tích các cú sốc của nên kinh tế cũng đã được thực hiện Phải nhắc đến là nghiên cứu của Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013), phân tích cơ chế truyền dẫn CSTT ở Việt Nam, dựa trên nghiên cứu trước đây ở các nền kinh tế mở nhỏ Sử dụng các biến giá dầu, lãi suất để đại diện cho nền kinh tế nước ngoài; các biến sản lượng công nghiệp, lạm phát, cầu tiền, lãi suất và tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương để đại diện cho nền kinh tế trong nước, tiến hành nghiên cứu cho hai giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO Kết quả cho thấy bằng cách tiếp cận mô hình SVAR, tác giả đã ước lượng được tác động của chính sách tiền
tệ ở Việt Nam: kênh lãi suất tạo ra phản ứng trễ đối với lạm phát trong khi tỷ giá hối đoái lại có phản ứng tức thì trước cú sốc tỷ giá hối đoái
Nghiên cứu về các yếu tố đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam, Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013) cũng nghiên cứu, xem xét ảnh hưởng của các cú sốc chính sách đến lạm phát và thời gian để lạm phát phản ứng với một cú sốc mới, đồng thời nghiên cứu phản ứng ngược lại của một cú sốc trong lạm phát đến các yếu tố khác trong nền kinh tế Kết quả cho thấy lạm phát ở Việt Nam có nguồn gốc chủ yếu từ khu vực trong nước, bị ảnh hưởng bởi yếu tố chi phí đẩy nhiều hơn là yếu tố cầu kéo Ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng từ chính sách tiền tệ, yếu tố
tỷ giá và ảnh hưởng của kỳ vọng
Tác giả Bạch Thị Phương Thảo (2011) nghiên cứu để xem xét tác động của cú sốc
tỷ giá đến các chỉ số giá trong nước và sử dụng phân rã phương sai để đo lường vai trò của từng cú sốc đến sự biến động của các chỉ số giá
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Trang 40CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 3.1 Mô hình nghiên cứu
Các biến số kinh tế tác động với nhau không đơn thuần chỉ theo một chiều mà giữa chúng luôn tồn tại mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại lẫn nhau Nó không đơn giản là biến độc lập tác động lên biến phụ thuộc mà trong đó, bản thân các biến phụ thuộc cũng phản ứng ngay với chính nó qua các độ trễ hay là phản ứng của ngược lại của biến phụ thuộc đối với các biến độc lập Vì vậy các phương trình kinh tế lượng
mà chúng ta xem xét không phải là một, hai phương trình mà là một hệ thống của nhiều phương trình phức tạp Cho đến cuối thập niên 1960, việc mô tả dữ liệu, dự báo, suy luận cấu trúc và phân tích chính sách được thực hiện bằng cách sử dụng một loạt các kỹ thuật với những mô hình vĩ mô quy mô lớn hàng trăm phương trình để thể hiện các lý thuyết vĩ mô trong giai đoạn này, nhằm thực hiện các công trình nghiên cứu về vĩ mô và các biến số vĩ mô Mô hình SVAR được nêu ra lần đầu tiên bởi
Bernanke (1986) và C.A.Sims (1986) trong cuốn “Macroeconomics and Reality, Econometrica” Theo Sims, các biến vĩ mô luôn tác động qua lại lẫn nhau nên không
có lí do gì để quy định biến nào là biến nội sinh, biến nào là biến ngoại sinh, mà tất
cả các biến trong mô hình đều là nội sinh Mô hình mô tả một biến nội sinh thông qua biến trễ của nó và các biến nội sinh khác Mô hình dựa trên số liệu quá khứ của nền kinh tế để ước lượng phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô đối với các cú sốc trong nền kinh tế, đồng thời có thể đưa ra những dự báo cho các nhà kinh tế học, các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô Mô hình SVAR là một hệ thống các phương trình của các biến nội sinh, với giá trị của mỗi biến ở hiện tại sẽ phụ thuộc vào độ trễ của chính nó và độ trễ của các biến còn lại trong mô hình Mô hình sử dụng các lý thuyết kinh tế để tách các liên kết đồng thời giữa các biến, do đó đòi hỏi phải có các giả định nhận diện để làm sáng tỏ mối tương quan giữa chúng, việc quyết định hệ số nào trong ma trận hệ số của các biến bằng 0
là tùy thuộc vào ý nghĩa kinh tế của nó
Vì trong nước chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệm có sử dụng mô hình cấu trúc mang tính đại diện cho đặc thù kinh tế Việt Nam, tham khảo mô hình của tác giả
tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg