Bảng 4.1: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và CPI Bảng 4.2: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và M2 Bảng 4.3: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và Credit Bảng 4.4: Kiểm định
Trang 1VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH,
Trang 2VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ THỦY TIÊN
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Tài chính Doanh nghiệp và các thầy cô trong trường đã tận tâm giảng dạy trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Qua đây, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn là
TS Hồ Thủy Tiên, người đã trực tiếp định hướng, hướng dẫn và
chỉnh sửa tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tiếp theo, tôi xin cảm ơn các anh chị và các bạn trong lớp TCDN-K18-Đêm 1 đã hết lòng hỗ trợ, trao đổi, góp ý cho luận văn
Đặc biệt, tôi gửi lời cám ơn sâu sắc đến và có ý nghĩa tới người bạn đời của mình Người đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Học viên
Châu Minh Nga
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của Cô hướng dẫn và những người mà tôi đã cảm ơn Số liệu thống kê được lấy từ nguồn đáng tin cậy, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay
Trang 5ADF Kiểm định Dickey-Fuller mở
AIC Tiêu chuẩn thông tin Akaike Akaike Information Criterion CPI Chỉ số giá tiêu dùng Consumer Price Index
CREDIT Tín dụng trong nước Domestic Credit
DLog Ký hiệu dạng sai phân bậc 1
của các biến ở dạng logarit difference of the logarithm EXRATE Tỷ giá hối đoái danh nghĩa exchange rate
FED Cục dự trữ liên bang Mỹ Federal Reserve System
GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross domestic product
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế International Monetary Fund LENDRATE Lãi suất cho vay lending rate
OLS Phương pháp phương sai nhỏ
PP Kiểm định Phillips-Perron Phillips-Perron Test
SC Tiêu chuẩn Schwarz Schwarz Criterion
VAR Mô hình véc tơ tự hồi quy Vector Augtogressive Model
WTO Tổ chức Thương mại Thế
Trang 6Bảng 4.1: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và CPI
Bảng 4.2: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và M2
Bảng 4.3: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và Credit
Bảng 4.4: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và Lendrate
Bảng 4.5: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và Exrate
Bảng 4.6: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình cơ bản
Bảng 4.7: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình với lãi suất cho vayBảng 4.8: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình với tín dụng trong nướcBảng 4.9: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình với tỷ giá hối đoái
Danh mục hình vẽ:
Hình 2.1: Chính sách thắt chặt tiền tệ
Hình 4.1: Phản ứng của GDP thực đối với cung tiền M2
Hình 4.2: Phản ứng của CPI đối với cung tiền M2
Hình 4.3: Kết quả phân tích phương sai biến GDP thực
Hình 4.4: Phản ứng của GDP thực đối với lãi suất
Hình 4.5: Phản ứng của CPI đối với lãi suất
Hình 4.6: Kết quả phân tích phương sai biến GDP thực
Hình 4.7: Phản ứng của GDP thực đối với tín dụng trong nước
Hình 4.8: Phản ứng của CPI đối với tín dụng trong nước
Hình 4.9: Kết quả phân tích phương sai biến GDP thực
Hình 4.10: Phản ứng của GDP thực đối với tỷ giá hối đoái
Hình 4.11: Phản ứng của CPI đối với tỷ giá hối đoái
Hình 4.12: Kết quả phân tích phương sai biến GDP thực
Trang 71.1 Mục tiêu & câu hỏi nghiên cứu 3
1.2 Nội dung nghiên cứu 3
2 TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 3
2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 6
3 DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
3.1 Mô hình và dữ liệu nghiên cứu 7
3.1.1 Mô hình nghiên cứu 7
3.1.2 Lựa chọn các biến nghiên cứu 9
3.1.3 Cơ sở dữ liệu 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu 11
3.2.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 11
3.2.2 Kiểm định đồng liên kết 11
3.2.3 Hàm phản ứng xung 12
3.2.4 Phân tích phương sai 12
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 13
4.1 Kết quả kiểm định tính dừng 13
4.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết 14
4.2.1 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và CPI 14
4.2.2 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và M2 15
4.2.3 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và Credit 15
4.2.4 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và Lendrate 16
4.2.5 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và Exrate 17
4.3 Phân tích hàm phản ứng đẩy và phân tích phương sai 17
4.3.1 Mô hình cơ bản 17
4.3.2 Mô hình với lãi suất cho vay 20
4.3.3 Mô hình với tín dụng trong nước 22
4.3.4 Mô hình với tỷ giá hối đoái 25
5 KẾT LUẬN 27
5.1 Tổng kết kết quả nghiên cứu 27
5.2 Đóng góp của nghiên cứu 29
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 30
Tài liệu tham khảo 31
PHỤ LỤC 34
Trang 8TÓM TẮT
Mối quan hệ giữa các công cụ chính sách tiền tệ và kết quả của nền kinh tế như tăng trưởng sản lượng, lạm phát, luôn được các nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm, đưa ra nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn Cũng cùng mục đích tìm hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa giữa sản lượng, lạm phát và các công cụ chính sách tiền tệ, luận văn tiến hành nghiên cứu định lượng mối quan hệ giữa các biến số kinh tế này Trong bài, phương pháp véc tơ tự hồi quy VAR được sử dụng để kiểm nghiệm và đưa ra các kết luận Luận văn đưa đến kết luận rằng tín dụng là một công cụ có ảnh hưởng lớn nhất lên sản lượng và lạm phát Lãi suất được xem như là một công cụ hết sức quan trọng của cơ chế truyền dẫn tiền tệ ở các nước khác nhưng lại thiếu bằng chứng có trọng lượng để kết luận về tác động của lãi suất lên sản lượng tại Việt Nam Cuối cùng, tác động của tỷ giá lên sản lượng và lạm phát còn khá khiêm tốn
Tỷ giá đã được ngân hàng nhà nước sử dụng như là một công cụ tiền tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế nhưng nó không đạt hiệu quả vì biên độ giao dịch tỷ giá hẹp được áp dụng ở Việt Nam trong một thời gian dài và nó dẫn đến sự cứng nhắc trong việc thay đổi tỷ giá
Trang 91 GIỚI THIỆU
Việt Nam bắt đầu thực hiện các cuộc cải cách khu vực kinh tế và tài chính từ năm 1986 Từ đó đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đưa đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Việt Nam đang ngày càng phát triển nhanh chóng và mục tiêu chính được viết trong Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 2011-2015 là trở thành một nước công nghiệp với tốc độ tăng trưởng sản lượng cao và tỷ lệ lạm phát hợp lý Ngay cả trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, một trong những mục tiêu chính cũng là xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp, phát triển nhanh, bền vững
Để đạt được các mục tiêu đó, việc hiểu rõ và đánh giá chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cũng như tác động của chúng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô ngày càng mang ý nghĩa quan trọng, nhất là đối với các cơ quan quản lý, điều hành
Hơn nữa, Việt Nam ngày càng đẩy mạnh hội nhập kinh tế thế giới, đa dạng hóa - đa phương hoá quan hệ đối ngoại Năm 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) Tiếp đó, năm 1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Năm 2006, Việt Nam chính thức được kết nạp vào
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)…
Do đó, khi Việt Nam càng mở cửa và phát triển, thì nền kinh tế lại càng
dễ bị tác động bởi bối cảnh quốc tế Việt Nam đã không bị ảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997 như đang bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống các công cụ chính sách hiệu quả để điều tiết nền kinh tế, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái, luôn thiết yếu
Trang 10Bên cạnh đó, lý thuyết cũng cho thấy rằng những cú sốc trong chính sách tiền tệ có thể có ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng và lạm phát thông qua các công cụ khác nhau, tuy nhiên, tác động chi tiết của những công cụ này trong nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chưa được nghiên cứu định lượng nhiều, nhất là sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 Vì vậy, một nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa công cụ chính sách tiền tệ và các biến số kinh tế vĩ mô là kịp thời và cần thiết
1.1 Mục tiêu & câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là làm rõ tác động của chính sách tiền tệ lên sản lượng và lạm phát Vì vậy, luận văn hướng tới trả lời câu hỏi nghiên cứu sau:
- GDP thực và tỉ lệ lạm phát tại Việt Nam có bị tác động bởi các công cụ của chính sách tiền tệ hay không?
- Nếu có, GDP thực và tỉ lệ lạm phát thay đổi theo hướng nào?
1.2 Nội dung nghiên cứu
- Phần 1: giới thiệu đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu
- Phần 2: tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây
- Phần 3: mô tả dữ liệu và phương pháp được sử dụng trong mô hình hồi quy của luận văn
- Phần 4: kết quả nghiên cứu
- Phần 5: tóm tắt luận văn, các đóng góp cũng như hạn chế của luận văn, gợi ý cho những nghiên cứu khác
2 TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa công cụ chính sách tiền tệ và các chỉ số kinh tế vĩ mô Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào cơ chế truyền dẫn
Trang 11tiền tệ trong các giai đoạn khác nhau như các nghiên cứu của Bernanke và Blinder (1992) và Bernanke và Gertler (1995) về Hoa Kỳ Bernanke và Blinder (1992) kết luận rằng lãi suất cấp vốn liên bang (lãi suất cơ bản) - vốn
là công cụ chính sách chủ yếu được thực hiện bởi Cục dữ trữ liên bang FED –
là một chỉ báo tốt cho chính sách tiền tệ Romer và Romer (1994) đã đưa ra được phản ứng trái chiều đáng kể của GDP thực trước những thay đổi trong lãi suất cấp vốn liên bang ở Mỹ sau chiến tranh Ngược lại, các nghiên cứu của Boivin và Giannoni (2002) chỉ ra sản lượng thực tế đang giảm phản ứng trước kênh lãi suất kể từ những năm 1980 Nghiên cứu thực nghiệm về công thức "Tobin’s q" không đem lại nhiều thành công Vì nhận xét này, nhiều nhà nghiên cứu khác, ví dụ Bernanke và Gertler (1995), đưa ra rằng cơ chế khác chứ không phải là lãi suất cũng có thể là sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ
và họ xem kênh tín dụng là một cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng
Nghiên cứu về chính sách tiền tệ và tăng trưởng kinh tế cũng áp dụng cho nhiều quốc gia khác nhau như Morsink và Bayoumi (2001) đã xây dựng một mô hình VAR cho Nhật Bản; Disyatat và Vongsinsirikul (2003) xem xét trường hợp của Thái Lan; còn Chow (2004) khảo sát các dữ liệu của Singapore
Đầu tiên, Morsink và Bayoumi (2001) sử dụng mô hình VAR với dữ liệu quý được điều chỉnh theo mùa từ quý 1 năm 1980 đến quý 3 năm 1998, bằng cách sử dụng hai độ trễ để phân tích các tác động của các cú sốc chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Nhật Bản Trong mô hình cơ bản, Morsink và Bayoumi sử dụng các biến là: hoạt động kinh tế, giá cả, lãi suất, và tiền rộng
Họ nhận ra rằng cả lãi suất và tiền rộng ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng Sau khi kiểm tra mô hình cơ bản, họ mở rộng mô hình VAR để tính đến các kênh khác nhau của cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ và kết luận rằng cả chính sách tiền tệ và bảng cân đối của các ngân hàng là những nguồn quan
Trang 12trọng của các cú sốc đến sản lượng, các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền tải những cú sốc tiền tệ đối với hoạt động kinh tế, và đầu tư kinh doanh thì đặc biệt nhạy cảm với những cú sốc tiền tệ
Disyatat và Vongsinsirikul (2003) cũng sử dụng mô hình VAR vớ dữ liệu quý được điều chỉnh theo mùa từ quý 1 năm 1993 đến quý 4 năm 2001 với hai độ trễ để phân tích cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ ở Thái Lan Mô hình cơ bản của họ bao gồm sản lượng thực, mức giá, và lãi suất mua lại 14 ngày, mà họ giả định là thước đo chính sách tiền tệ Disyatat và Vongsinsirikul nhận ra rằng chính sách thắt chặt tiền tệ dẫn đến sự sụt giảm
về sản lượng, chạm đáy sau khoảng 4-5 quý và mất đi sau khoảng 11 quý Mức giá gộp ban đầu phản ứng rất ít, nhưng cuối cùng bắt đầu giảm sau khoảng một năm Đầu tư dường như là thành phần nhạy cảm nhất của GDP trước các cú sốc chính sách tiền tệ
Cuối cùng, ở Singapore, Chow (2004) sử dụng tỷ giá hối đoái thực có hiệu lực như một thước đo chính sách tiền tệ và thấy rằng sản lượng phản ứng ngay lập tức và đáng kể với một cú sốc chính sách tiền tệ thắt chặt Nghiên cứ cũng cho thấy rằng kênh tỷ giá hối đoái hiệu quả hơn kênh lãi suất trong việc truyền tải chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế
Gul, et al (2012) xem xét các quyết định của Ngân hàng trung ương ảnh hưởng như thế nào đến các biến vĩ mô như GDP, cung tiền, lãi suất, tỷ giá
và lạm phát tại Pakistan Nói cách khác, mục đích của nghiên cứu là xác định
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ và tăng trưởng kinh tế Gul và các cộng sự đã lấy dữ liệu của các biến nghiên cứu từ năm 1995 đến năm
2010, bao gồm 187 quan sát và sử dụng phương pháp phương sai nhỏ nhất OLS để kiểm định Từ dự toán, Gul và các cộng sự thấy rằng lãi suất có tác động nghịch và đáng kể lên sản lượng Một cú sốc lãi suất dương (chính sách tiền tệ thắt chặt) sẽ dẫn đến giá tăng liên tục Nói chung một chính sách tiền tệ
Trang 13thắt chặt thường được kỳ vọng để giảm giá, chứ không phải tăng giá Như vậy, quan điểm của chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua tăng lãi suất chỉ đáp ứng được mục đích nhỏ trong điều kiện hiện nay tại Pakistan Trên thực tế, việc tăng lãi suất chỉ càng gây sức ép lên khu vực tư nhân và ngăn cản đầu tư
tư nhân vốn đang phải đối mặt với tình trạng vô cùng khó khăn Việc thắt chặt tiền tệ thông qua tăng lãi suất có tác động tiêu cực rõ rệt lên sản lượng Cung tiền lại có tác động thuận chiều mạnh mẽ lên sản lượng Tỷ giá hối đoái cũng
có tác động nghịch đối với sản lượng
2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Bài nghiên cứu “VAR Analysis of the Monetary Transmission Mechanism in Vietnam” của Lê và Pfau (2008) phân tích cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại Việt Nam bằng ứng dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR) và tập trung vào các mối quan hệ giữa tiền, sản lượng thực tế, mức giá, lãi suất thực
tế, tỷ giá hối đoái thực và tín dụng Dữ liệu cho nghiên cứu được lấy theo quý
từ Quý 2/1996 đến Quý 4/2005 Mô hình VAR cơ bản gồm các biến nội sinh: sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng CPI, M2 Trật tự của các biến dựa trên giả định rằng một cú sốc đối với cung tiền sẽ được truyền tới mức giá và sản lượng Sau đó, mô hình sẽ được mở rộng hơn khi lần lượt thêm các biến lãi suất, hay tỷ giá hối đoái, hay tín dụng vào mô hình Lê và Pfau đã tìm thấy bằng chứng chứng minh rằng chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng đến sản lượng thực tế Nhưng mặt khác, sự kết nối giữa tiền và lạm phát lại kém rõ ràng hơn trong trường hợp của Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu cũng nhận thấy kênh lãi suất chỉ đóng vai trò nhỏ trong việc truyền tải chính sách tiền tệ tại Việt Nam Thay vào đó, các kênh tỷ giá hối đoái và tín dụng lại có vai trò lớn hơn Nghiên cứu của Lê Anh Tú Packard (2007) cũng kết luận kênh tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng giải thích sự biến động của sản lượng
Trang 14Ngoài ra, Nguyễn Phi Lân (2010) đã nghiên cứu cơ chế truyền dẫn tiền
tệ dưới góc độ phân tích định lượng bằng cách áp dụng mô hình SVAR vào Việt Nam Ông sử dụng phương pháp mô hình cấu trúc tự hồi quy vector SVAR để mô hình hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ của một nền kinh tế thị trường với độ mở lớn như Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng tài chính khu vực 1997 Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận cung tiền M2 có xu hướng tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Kết quả phân tích cũng cho thấy sự biến động của tỷ giá phụ thuộc rất lớn vào công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ lãi suất và lượng tiền cung ứng ra lưu thông Trước các
cú shock về tăng trưởng kinh tế, cụ thể là nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng nóng, chỉ số CPI có xu hướng tăng nhanh và liên tục Tuy nhiên, chỉ số CPI tương đối nhạy cảm và giảm mạnh trước động thái thắt chặt chính sách tiền tệ
3 DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình và dữ liệu nghiên cứu
3.1.1 Mô hình nghiên cứu
Dựa theo bài nghiên cứu của Lê và Pfau (2008), luận văn áp dụng phương pháp tự hồi quy Vector (VAR) để phân tích tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đối với kinh tế vĩ mô Phương pháp này được sử dụng để thực hiện quá trình phân tích vai trò của các công cụ chính sách tiền tệ khác nhau như lãi suất, tín dụng trong nước, tỷ lệ dự trữ và tỷ giá hối đoái đối với sản lượng và lạm phát Ứng dụng to lớn của VAR là tác động của mỗi chính sách
có thể được làm rõ mà không cần đến một mô hình cấu trúc toàn thể của nền kinh tế Theo Sims (1980), VAR được xem xét như là một công cụ giá trị để khảo sát hiệu ứng động của một cú sốc đối với biến này lên biến khác Đây cũng là một phương pháp thích hợp để kiểm tra một quá trình với nhiều chuỗi
Trang 15thời gian khi VAR cung cấp các tiêu chí khác nhau để đưa ra độ dài tối ưu cho các biến Hơn nữa, nó bao gồm hệ thống phương trình mà cho phép các biến
có mối quan hệ với nhau, và là một hệ đồng thời trong đó tất cả các biến được coi là biến nội sinh
Mô hình VAR cơ bản:
Đầu tiên, mô hình VAR rút gọn đơn giản sẽ được ước lượng bao gồm 3 biến GDP thực, CPI và M2:
GDP = 0 + ∑ 1i GDP t-i + ∑ 2i CPI t-i + ∑ 3i M2 t-i + u i
CPI = 0 + ∑ 1i GDP t-i + ∑ 2i CPI t-i + ∑ 3i M2 t-i + u i
M2 = 0 + ∑ 1i GDP t-i + ∑ 2i CPI t-i + ∑ 3i M2 t-i + u i
Cung tiền M2 được sử dụng như là một thước đo của cú sốc chính sách tiền tệ bởi vì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quan tâm đến tỷ lệ tăng trưởng của M2 như là một mục tiêu điều hành để tính toán và thực hiện chính sách tiền tệ
Mô hình VAR mở rộng:
Tiếp theo, các biến khác được thêm lần lượt vào mô hình cơ bản, như lãi suất cho vay, tín dụng và tỷ giá hối đoái Việc phân chia thành nhiều mô hình riêng lẻ nhằm mục đích kiểm tra tác động độc lập của các biến đối với sản lượng và lạm phát của nền kinh tế Đồng thời việc mở rộng mô hình nhằm xem xét khi thêm biến vào mô hình thì tỷ lệ đóng góp của M2 trong sự thay đổi của sản lượng và lạm phát biến động như thế nào so với biến mới được thêm vào
- Mô hình với lãi suất cho vay: gồm 4 biến: GDP thực, CPI, M2 và Lendrate
- Mô hình với tín dụng trong nước: gồm 4 biến: GDP thực, CPI, M2 và Credit
- Mô hình với tỷ giá hối đoái: gồm 4 biến: GDP thực, CPI, M2 và Exrate
Trang 163.1.2 Lựa chọn các biến nghiên cứu
Trong luận văn, các chỉ số GDP và CPI được lựa chọn để lần lượt đại diện cho tăng trưởng kinh tế và lạm phát trong nước Cung tiền M2, tín dụng, lãi suất và tỷ giá hối đoái là các biến chỉ tiêu tiền tệ vì hiện nay tại Việt Nam chính sách tiền tệ chủ yếu ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua ba kênh chính: kênh tín dụng, kênh lãi suất và kênh tỷ giá hối đoái
Như vậy, mô hình bao gồm 6 biến sau:
- GDP: Tổng sản phẩm quốc nội thực (GDP thực tế, theo giá so sánh năm 1994 Đơn vị: tỷ đồng) GDP được sử dụng như là đại diện cho đầu ra của nền kinh tế Lý do tại sao sản lượng thực tế được sử dụng thay vì sản lượng danh nghĩa là vì sản lượng danh nghĩa không được điều chỉnh bởi mức giá biến động đáng kể theo thời gian và do đó, nó không phản ánh được sự biến động thật của sản lượng Sau khi điều chỉnh theo mức giá (CPI), GDP thực tế đưa ra được hình ảnh tốt hơn về
sự thay đổi sản lượng
- CPI: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI, 2005 = 100) Chỉ số giá tiêu dùng CPI được sử dụng như là đại diện cho lạm phát Có một số biện pháp của đo lường lạm phát như giảm phát GDP, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) nhưng Ngân hàng Nhà nước sử dụng chỉ số giá tiêu dùng như là một thước đo lạm phát chính
- M2: Cung tiền M2 (Đơn vị: tỷ đồng) Theo định nghĩa của IMF, cung tiền M2 là tổng của tiền thực và các tài sản dễ dàng chuyển thành tiền mặt
- LENDRATE: Lãi suất cho vay từ Ngân hàng Nhà nước (Đơn vị:
%/year) Ngân hàng Nhà nước kiểm soát hai công cụ cho vay: lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn Theo chính sách chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn có thể được xem như là trần và lãi suất chiết khấu là sàn và
Trang 17chúng cùng tạo ra một giới hạn cho vay Vì vậy, lãi suất cho vay được
sử dụng trong mô hình hồi quy này là đại diện của kênh lãi suất như một công cụ của chính sách tiền tệ Ngoài ra, còn có lãi suất cơ bản - được thiết lập bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và nó đôi khi được xem như một công cụ chính sách tiền tệ tại Việt Nam, tuy nhiên, lãi suất cơ bản hiếm khi thay đổi theo thời gian và không phản ánh được cung và cầu trong thị trường tiền tệ Lãi suất cơ bản chỉ được xem như
là mức lãi suất tham khảo cho các ngân hàng thương mại để lập lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay, do đó, nó không mấy quan trọng khi thực hiện mô hình về Chính sách tiền tệ của Việt Nam
- CREDIT: Tín dụng trong nước (Đơn vị: tỷ đồng) Đây là một trong những kênh mà qua đó, chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi trong sản lượng Đây là một mục tiêu quan trọng hàng năm của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Chính phủ
- EXRATE: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND / USD Trong luận văn này, tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa VND và USD được sử dụng như một thước đo đo lường của chính sách tiền tệ thông qua kênh tỷ giá hối đoái
3.1.3 Cơ sở dữ liệu
Dữ liệu trong luận văn là dữ liệu hàng quý được lấy từ Cục Thống kê Tài chính Quốc tế (International Financial Statistics - IFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế ( International Monetary Fund - IMF), trừ biến GDP thực được lấy từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (GOS) Dữ liệu được điều chỉnh yếu tố mùa vụ theo phương pháp Census X12, từ Quý 1 năm 1999 đến Quý 4 năm 2011, tổng cộng có 54 quan sát Việc điều chỉnh dữ liệu theo mùa nhằm mục đính giúp ta có cái nhìn xuyên suốt hơn về xu hướng của chuỗi dữ liệu khi phân
Trang 18tích một chuỗi số liệu bao gồm thành tố mùa vụ, vì văn hóa truyền thống mỗi nước khác nhau, các sự kiện trong năm, yếu tố về thời tiết cũng khác nhau nên các hoạt động về kinh tế sẽ bị tác động mạnh vào một vài thời điểm trong
năm (Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2009)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu
Phillips và Perron (1988) đề xuất một phương pháp trong việc kiểm soát sự tương quan theo thứ tự khi kiểm định cho 1 nghiệm đơn vị Kiểm định Phillips-Perron (PP) được sử dụng trong phân tích chuỗi thời gian để kiểm tra giả thuyết H0 (Null hypothesis) rằng một chuỗi thời gian được tích hợp tại toán tử bậc 1 Kiểm định được xây dựng dựa trên kiểm định Dickey-Fuller với giả thuyết H0: δ = 0 trong mô hình: Δ Trong đó Δ là sai phân bậc 1 Tương tự như kiểm định Augmented Dickey-Fuller (ADF), kiểm định Phillips-Perron giải quyết vấn đề rằng quá trình phát sinh dữ liệu cho
có thể có một bậc cao hơn của tự tương quan hơn là được thừa nhận trong phương trình kiểm tra - làm cho nội sinh và vì thế bác bỏ kiểm định Dickey-Fuller t-test Trong khi, kiểm định ADF giải quyết vấn đề này bằng cách giới thiệu độ trễ của Δ như là các biến hồi quy độc lập trong phương trình kiểm tra, thì kiểm định Phillips-Perron thực hiện sự điều chỉnh không tham số đối với giá trị thống kê t-test
Giả thuyết H0: tồn tại một nghiệm đơn vị sẽ bị bác bỏ nếu giá trị tuyệt đối kiểm định PP lớn hơn giá trị tới hạn của nó, trong trường hợp đó ta sẽ kết luận chuỗi thời gian là chuỗi dừng
3.2.2 Kiểm định đồng liên kết
Khi hồi quy các chuỗi thời gian không dừng thường dẫn đến kết quả
Trang 19các chuỗi thời gian không dừng có thể là một chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là đồng liên kết Kết hợp tuyến tính dừng được gọi là phương trình đồng liên kết và có thể được giải thích như mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình Kiểm định đồng liên kết trên
cơ sở phương pháp luận VAR của Johansen (1991, 1995a) với giả thiết H0
“None” nghĩa là không có đồng liên kết và H0 “At most” nghĩa là có mối quan
hệ đồng liên kết
3.2.3 Hàm phản ứng xung (Impulse response function)
Một cú sốc đến biến thứ i không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến biến thứ i,
mà còn được truyền đến tất cả các biến nội sinh khác thông qua mô hình động lực (độ trễ) của VAR Hàm phản ứng xung theo dõi tác động của một cú sốc trong quá khứ đối với một trong nhiều sự thay đổi lên các giá trị hiện tại và tương lai của các biến nội sinh Nói cách khác, hàm phản ứng xung sẽ cho biết các biến còn lại trong mô hình phản ứng như thế nào khi xảy ra cú sốc đối với một biến trong mô hình
3.2.4 Phân tích phương sai (Variance decompotition)
Trong khi các hàm đáp ứng xung theo dõi các tác động của một cú sốc đối với một biến nội sinh lên các biến khác trong VAR, phân tích phương sai lại tách sự thay đổi trong một biến nội sinh thành các cú sốc thành phần Vì vậy, phân tích phương sai cung cấp thông tin về tầm quan trọng của mỗi thay đổi ngẫu nhiên ảnh hưởng đến các biến trong VAR
Trang 204 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Các phương pháp phân tích chuỗi thời gian trong luận văn, gồm kiểm nghiện nghiệm đơn vị để xác định tính dừng của chuỗi dữ liệu nghiên cứu; phân tích đồng liên kết để xác định có tồn tại mối quan hệ giữa các biến trong dài hạn hay không; hàm phản ứng xung và phân tích phương sai để giải thích tác động của các biến công cụ chính sách tiền tệ tới tăng trưởng kinh tế Tất
cả các kỹ thuật nghiên cứu này được thực hiện thông qua phần mềm Eviews 6.0 và Excel
Sau đây là các kết quả kiểm nghiệm:
4.1 Kết quả kiểm định tính dừng
Tất cả các biến được sử dụng theo log trừ biến Lendrate Việc kiểm định nghiệm đơn vị (hay kiểm định tính dừng) của các biến được thực hiện theo phương pháp Phillips-Perron (1988) Theo kết quả kiểm định, tất cả các biến không dừng tại chuỗi gốc mà dừng tại sai phân bậc 1
Dừng tại mức 5% và 10%
dLogCREDIT -8.02482 -3.56267 -2.91878 -2.59729 Dừng
dLENDRATE -5.28908 -3.56267 -2.91878 -2.59729 Dừng
dLogEXRATE -7.69429 -3.56267 -2.91878 -2.59729 Dừng
Trang 214.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết
Sau khi kiểm tra tính dừng, kết quả là các biến nghiên cứu đều không dừng tại mức hay chuỗi gốc mà dừng tại sai phân bậc 1 Do đó, để xác định xem có mối quan hệ cân bằng dài hạn hay không giữa các biến, bước kiểm định tiếp theo được thực hiện chính là kiểm định đồng liên kết dựa trên phương pháp VAR của Johansen Các giả thiết cho kiểm định Trace như sau:
H 0 : Có r mối quan hệ đồng liên kết (r = 0, 1)
H 1 : Có r+1 mối quan hệ đồng liên kết
Nếu Trace Statistic > Critical Value => Bác bỏ giả thiết H0
Nếu Trace Statistic < Critical Value => Chấp nhận giả thiết H0
4.2.1 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và CPI
Bảng 4.1: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và CPI
(Critical Value)
Ghi chú: *: ký hiệu cho việc bác bỏ giả thiết H 0 tại mức ý nghĩa 5%
**: ký hiệu cho việc bác bỏ giả thiết H 0 tại mức ý nghĩa 1%
Tại giả thiết H0: r = 0, vì giá trị thống kê Trace (Trace statistic) lớn hơn giá trị phê phán kiểm định (Critical value) tại cả 2 mức 1% và 5%, nên ta bác
bỏ giả thiết H0, nghĩa là bác bỏ giả thiết “không có mối quan hệ đồng liên kết nào giữa 2 biến GDP và CPI”
Tại giả thiết H0: r = 1, vì giá trị thống kê Trace (Trace statistic) lớn hơn
Trang 22mức 1%, nên ta chỉ bác bỏ giả thiết H0 tại mức 5% và chấp nhận giả thiết H0 tại mức 1% Điều này có nghĩa là tại mức 1% thì xác định đƣợc 1 mối quan
hệ đồng liên kết giữa 2 biến GDP và CPI
4.2.2 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và M2
Bảng 4.2: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và M2
Ghi chú: *: ký hiệu cho việc bác bỏ giả thiết H o tại mức ý nghĩa 5%
**: ký hiệu cho việc bác bỏ giả thiết H o tại mức ý nghĩa 1%
Tại giả thiết H0: r = 0, vì giá trị thống kê Trace (Trace statistic) lớn hơn giá trị phê phán kiểm định (Critical value) tại cả 2 mức 1% và 5%, nên ta bác
bỏ giả thiết H0: không có mối quan hệ đồng liên kết nào giữa 2 biến GDP và M2
Tại giả thiết H0: r = 1, vì giá trị thống kê Trace (Trace statistic) nhỏ hơn giá trị phê phán kiểm định (Critical value) tại cả 2 mức 1% và 5%, nên ta bác
bỏ giả thiết H0 Điều này có nghĩa là có 1 mối quan hệ đồng liên kết giữa 2 biến GDP và M2
4.2.3 Kiểm định đồng liên kết giữa hai biến GDP và Credit
Bảng 4.3: Kiểm định đồng liên kết giữa biến GDP và Credit