ôn tập lịch sử hành chính
Trang 1Câu hỏi ôn tập lịch sử hành chính Câu 1: Trình bày những cơ sở của sự hình thành nền hành chính đầu tiên ở n ớc ta thời đại Hùng V ơng - An D ơng V ơng?
Trả lời:
Nhà nớc là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp Điều kiện quan trọng số một để nhà nớc có thể ra đời đợc là trên cơ sở sản xuất pháttriển dẫn đến tình trạng phân hoá xã hội Nhà nớc ra đời là sản phẩm tất yếu của một xã hội mà mâu thuẫn không thể điều hoà đợc Đây làmột quy luật chung của tất cả các nhà nớc trên thế giới, không loại trừ bất cứ một quy luật nào cả Và nhà nớc Văn Lang ra đời cũng khôngnằm ngoài quy luật đó
Công xã nông thôn là một hình thái kinh tế xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và quá độ sang xãhội có giai cấp, là một trong những tiền đề cho sự hình thành nhà nớc
-Thời Hùng Vơng sức sản xuất phát triển đã gây ra nhiều biến động xã hội và đa đến tình trạng phân hoá xã hội rõ nét vào giai đoạn văn hoá
Đông Sơn Lúc này đã có kẻ giàu, ngời nghèo và tình trạng bất bình đẳng đã in đậm trong khu mộ táng hay truyền thuyết dân gian và th tịch
cổ Tuy nhiên, nó vẫn cha thật cao, cha thật sâu sắc nhng nó đã tạo ra một cơ sở xã hội cần thiết cho quá trình hình thành nhà nớc Văn Lang.-Nhân tố thuỷ lợi và tự vệ cũng đã đóng vai trò rất quan trọng đ a đến sự hình thành lãnh thổ chung và tổ chức nhà nớc đầu tiên vào thời ĐôngSơn Khi con ngời tiến xuống khai phá vùng đồng bằng Sông Hồng và chọn thì uy tín và vai trò của Thục Phán - ng ời thủ lĩnh kiệt xuất củaliên minh ngày càng đợc nâng cao Kháng chiến thắng lợi, Thục Phán đã thay Hùng Vơng tự xng là An Dơng Vơng lập ra nớc Âu Lạc.Tên nớc Âu Lạc bao gồm hai thành tố Tây Âu (Âu Việt) và Lạc Việt, phản ánh sự liên kết của hai nhóm ng ời Lạc Việt và Tây Âu Nớc ÂuLạc là bớc kế tục và phát triển cao hơn của nớc Văn Lang và tên một phạm vi rộng lớn hơn Tổ chức bộ máy nhà nớc và các đơn vị hànhchính thời Âu Lạc vẫn không có gì thay đổi so với thơì Văn Lang
Đứng đầu nhà nớc là Thục Phán An Dơng Vơng Dới đó, trong triều vẫn có lạc hầu giúp vua cai quản đất nớc ở các địa phơng (bộ) vẫn docác lạc tớng đứng đầu quản lý Đơn vị hành chính cấp cơ sở vẫn là công xã nông thôn (kẻ, chiềng, chạ)
Trong thời đại dựng nớc, ta có nhiều thành tựu lớn, trong đó có 2 thành tựu cơ bản nhất là tạo đ ợc một nền văn minh rực rỡ - nền văn minhsông Hồng và hình thái nhà nớc sơ khai - nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc Những thành tựu này không chỉ là bằng chứng hùng hồn xác nhận thời
đại Hùng Vơng - An Dơng Vơng là những thời đại có thật mà còn minh chứng cho chúng ta thấy rằng đất nớc Việt Nam có một lịch sử dựngnớc sớm, một nền văn minh lâu đời, tạo ra nền tảng bền vững cho toàn bộ sự sinh tồn và phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam Từ đó ng ờiViệt trên cơ sở một lãnh thổ chung, một tiếng nói chung một cơ sở kinh tế - xã hội gắn bó trong một thể chế nhà n ớc sơ khai một lối sốngmang sắc thái riêng biểu thị trong một nền văn minh, văn hoá chung, đã tự khẳng định sự tồn tại của mình nh một quốc gia văn minh có đủ
điều kiện và khả năng vững vàng tiến qua nhiều thời kỳ đen tối nhất của lịch sử - thời kỳ hơn 1000 năm Bắc thuộc
Câu 2: Trình bày khái quát về cơ cấu nền hành chính của thời đại dựng nớc đầu tiên?
đợc mở rộng hơn, có khu rộng tới 250.000 m2 Những khu c trú rộng lớn đó là những xóm làng định c trong đó có một dòng họ chính và còn
có một số dòng họ khác cùng sinh sống Những xóm làng đó dựa trên cơ sở công xã nông thôn (chiềng, chạ, kẻ) Một công xã bao gồm một
số gia đình sống trên cùng một khu vực trong đó quan hệ huyết thống vẫn đợc bảo tồn trong công xã bên cạnh quan hệ địa vực (láng giêng).Nớc Văn Lang đứng đầu là Hùng Vơng, giúp việc là lạc hầu và lạc tớng Cả nớc chia thành 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc) Đứng đầu mỗi bộ lạc làlạc tớng hay còn gọi là Phụ đạo, bộ tớng Nh vậy “bộ” một mặt thể hiện sự phân chia c dân theo sự áp đặt của “nhà nớc”, mặt khác thể hiện
Trang 2đó là đơn vị tu c tự phát nguyên thuỷ, hay nói cách khác, đơn vị “bộ” mang tính nửa vời: “vùng - bộ lạc” hoặc “thị tộc, bộ lạc - đơn vị hànhchính”.
Dới bộ lạc là các công xã nông thôn, bấy giờ có tên là kẻ, chiềng, chạ Đứng đầu kẻ, chiềng, chạ là các bồ chính (già làng) bên cạnh bồ chính
có lẽ còn có một nhóm ngời hình thành một tổ chức có chức năng nh một hội đồng công xã để tham gia điều hành công việc của kẻ, chiềng,chạ
Có thể sơ đồ hoá cơ cấu hành chính thời Hùng Vơng nh sau:
-Giao Chỉ (Hà Nội - Hng Yên - Nam Định - Ninh Bình - Hà Nam)
-Cửu Chân (Thanh Hoá)
-Hoài Hoan (Nghệ An)
-Cửu Đức (Hà Tĩnh)
-Việt Thờng (Quảng Bình - Quảng Trị)
-Bình Văn
Lực lợng vũ trang thời kỳ này là dân binh
#Đến thời Âu Lạc, cơ cấu hành chính cũng khng có gì thay đổi so với thời kỳ trớc, song thể chế nhà nớc hiện hình rõ nét, quyền uy của vua
đ-ợc tăng cờng
-Trong triều An Dơng Vơng, giúp việc cho vua vẫn có lạc hầu Lạc hầu là t ớng văn, có thể đồng thời là tớng võ chỉ huy quân đội trấn áp các
địa phơng không chịu thuần phục Lạc hầu thay mặt vua giải quyết công việc trong nớc
-Lạc tớng đứng đầu các bộ, cai quản một đơn vị hành chính địa phơng lạc tớng phải thu nộp cống phẩm cho nhà vua, thờng xuyên truyềnmệnh lệnh từ trên cuống Khi có chiến tranh, Lạc tớng là thủ lĩnh quân sự địa phuơng và chịu sự điều động của vua
-Bồ chính là ngời đứng đầu công xã nông thôn
Lực lợng vũ trang đã có quân đội thờng trực
Có thể phác hoạ quá trình và con đờng hình thành, tổ chức bộ máy nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc nh sau:
Trang 3+Thủ tĩnh ( liên minh bộ lạc ) > Vơng : Hùng Vơng, An Dơng Vơng ( Văn Lang, âu Lạc ).
+Tù Trởng ( Bộ Lạc ) > Lạc Tớng ( Bộ )
+Tộc Trởng ( Công xã thị tộc ) > Bố chính ( Công xã nông thôn )
Câu 3+7:
3.Trình bày đặc tr ng cơ bản của nền hành chính n ớc ta thời Lý?
7.Đặc tr ng cơ bản của nền hành chính n ớc ta thời Lý? Vai trò của Lý Công Uẩn?
Trả lời:
Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua dời đô từ Hoa L về thành Đại La (1010) Khi dời đô thì trời quang, đẹp, thấy hình con rồng bay lên, LýCông Uẩn đồi thành Đại La thành Thăng Long Việc dời đô đã chững tỏ một tầm nhìn sâu rộng của ông trong việc xây dựng một sự nghiệplâu dài, phản ảnh thế đi lên của vơng triều và đất nớc
-Hành chính triều Lý nổi bật là công việc xây dựng kinh đô Thăng Long Thành Thăng Long có vòng luỹ đất La Thành bao bọc, nơng vào thế
tự nhiên (hệ thống sông Tô Lịch) Thành mở ra 4 cửa: Tờng Phù (Đông), Quảng Phúc (Tây), Đại Hng (Nam) và Diệu Đức (Bắc), có hào baoquanh Bên trong có hệ thống cung điện: càn Nguyên, Tập Hiền, Giảng Võ, Long Trì (có đặt lầu chuông ở thềm điện này để xét xử nỗi oan ứccủa dân), cùng các cung Thuý Hoa, Long Thụy Sát với hoàng thành về phía đông là khu chợ phố dân gian, gồm 61 ph ờng, quang cảnh nhộnnhịp ngày đêm, hệ thống sông kênh (Nhị Hà, Tô Lịch) giao thông thuận tiện
-Xây dựng bộ máy chính quyền quân chủ tập trung
Để khẳng định vơng quyền và đề cao lòng tự tôn dân tộc, các vua Lý đã tiến hành xây dựng một bộ máy chính quyền tập trung theo đúng môhình nhà Tống (Trung Quốc) Tuy nhiên, đó mới chỉ là trên danh nghãi, còn trên thực tế, chức năng của nó đơn giản hơn nhiều
+Chính quyền triều đình: Trong triều đình, đại thần đứng đầu 2 ban văn võ là tể tờng và các á tớng
Tể tớng giữ chức Phụ quốc thái phó với danh hiệu “Bình chơng quân quốc trọng sự” Có ngời lại mang thêm chức danh trong tam thái (thái s,phó, bảo), trong tam thiếu (s, phó, bảo)
Các á tớng thì giữ chức tả, hứu tham tri chính sự Dới tể tớng và á tớng là các hành khiển đợc gia thêm danh hiệu “Nhập nội hành khiển đồngtrung th môn hạ bình chơng sự” Tể tớng, á tớng, hành khiển là các quan chức nằm trong cơ quan gọi là “mật viện” (bao gồm trung th sảnh vàmôn hạ sảnh)
Dới bộ phận trung khu là 6 bộ, các sảnh viện Sách lịch sử triều hiến chơng loại chí (quyển II - tr.7) có ghi: “Bên văn thì có thợng th, tả hữutham tri, tả hữu gián nghị và trung th thị lang Thuộc quan thì có trung th thừa, trung th xã nhân (lại có) bộ thị lang, tả hữu ty lang trung, th-ợng th sảnh viện ngoại lang, đông tây áp môn sứ, tả hữu phúc tâm, nội thờng thị, phủ sĩ s, điện học sĩ, hàn lâm học sĩ, vệ đại phu, th gia cáchoả, thức trực lang, thừa tín lang”, “Võ ban thì có đô thống, nguyên soái, tổng quản, khu mật sứ, khu mật tả hữu sứ, tả hữu kim ngô, th ợng t-ớng mật tả hữu sứ, tả hữu kim ngô, thợng tớng, đại tớng, đô tớng, tớng quân các vệ, chỉ huy sứ, vũ vệ hảo dầu”
+Chính quyền địa phơng các cấp:
Vừa mới lên ngôi, Lý Thái Tổ chia lại các khu vực hành chính trong nớc, đổi 10 đạo thời Đinh - Lê thành các lộ, phủ
Châu Cổ Pháp hộ Lý đổi thành phủ Thiên Đức
Cố đô Hoa L phủ Trờng Yên
Trấn Triều Dơng Châu Vĩnh An
Hoan Châu Châu Nghệ An
ái Châu Phủ Thanh Hoá
Trên địa bàn cả nớc có 24 phủ - lộ Dới phủ là huyện và dới huyện là hơng
Cách gọi lộ, phủ, châu không thống nhất là do kiểu thức quản lý và của triều đình đối với từng vùng dân c và địa lý có khác nhau ở đồngbằng Sông Hồng thì đợc gọi là lộ, phủ ở miền núi thì gọi là châu hay đạo Vùng đất xa kinh đô nh Thanh Hoá và Nghê An thì lúc đầu gọi làchâu, sau gọi là phủ, còn gọi là trấn, trại thể hiện tính chất tập trung của nhà nớc cha thật triệt để
Trang 4Đứng đầu phủ, lộ là tri phủ, phán phủ (có tài liệu ghi là thông phán) Mỗi phủ (lộ, châu) bao gồm nhiều huyện Ng ời đứng đầu đơn vị hànhchính cấp huyện (quận) là huyện lệnh Huyện bao gồm nhiều hơng, ở kinh đô gọi là giai (nhai), miền núi gọi là sách hay động Khi đi xa, vua
Lý thờng chọn một hoàng tử, thân vơng ở lại trấn giữ trông nom kinh thành, gọi là Lu thủ kinh sự
Chính quyền nhà Lý là một chính quyền sùng Phật, và thân dân nhà vua và quý tốc đã theo đạo Phật, đề cao t tởng từ bi, bác ái Trongtriều, có hệ thống tăng quan, một số đựôc phong là Quốc s Vua quan có mối quan hệ gần gũi với dân chúng, thờng xuyên đợc tiếp cận dânthờng trong các dịp lễ hội Khi cần thiết ngời dân có oan ức có thể đến điện Long Trì đánh chuông, xin đợc trực tiếp gặp vua Lý Thánh Tôngtuyên bố “Yêu dân nh yêu con”, thờng thi hành chính sách khoan dung khi xử kiện
-Quân đội và pháp luật:
Có nhiều loại quân, ở kinh thành có Cấm quân (Thiên tử quân) bảo vệ triều đình, ở địa ph ơng có lộ quân hay sơng quân, lấy từ các hoàng nam(18 tuổi) ở các lộ, phủ Trong làng xã còn có dân binh, hơng binh
Quân đội nhà Lý có quân bộ, quân thuỷ, kỷ luật nghiêm minh, huấn luyện chu đáo Thi hành chính sách “ngu binh nông” cho quân sĩ luânphiên cày ruộng dẫn đến vừa đảm bảo sản xuất, vừa đảm bảo động viên quân đội khi cần thiết
Đối với các châu: Tù trởng, châu, phủ có quân đội riêng khi cần thiết đều huy động hết Ngoài vũ khí truyền thống nh giáo, mác còn chếtạo ra máy bắn đá dẫn đến chính sách xây dựng quân đội mạnh mẽ có khả năng bảo vệ nhà nớc trung ơng tập quyền, bảo vệ đất nớc.Nhà Lý là vơng triều Việt Nam đầu tiên ban hành luật thành văn Năm 1024, Lý Thái Tông sai quan san định luật lệ, biên thành điều khoản,soạn ra Hình th gồm 3 quyển (sau đó đã thất truyền) xuống chiếu ban hành trong dân gian Qua các pháp lệnh, ta biết đợc pháp luật nhà Lý đãmang tính chất đẳng cấp phong kiến, bảo vệ hoàng cung, trừng trị năng tôi m u phản, cho tầng lớp quý tộc đợc chuộc tội bằng tiền Mặt khácpháp luật đời Lý cũng bảo vệ trật tự xã hội, chống hà làm thuế má ruộng đất, bảo đảm sức kéo bằng cách trừng phạt nặng tội trộm trâu, giếttrâu
-Xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc: Có thể nói rằng đến thời Lý, Việt Nam dã là một quốc gia dân tộc dựa trên một ý thức cộng đồng chung
về nguồn gốc dòng giống, lịch sử và văn hoá Năm 1054 Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt - nó tồn tại mãi cho đến đầu thế kỷ 19.Năm 1175, nhà Tống chính thức công nhận chủ quyền quốc gia của Đại Việt khi đổi danh hiệu sắc phong từ Giao Chỉ quận v ơng thành SơnNam quốc vơng
Quốc gia Đại Việt đã đợc bảo vệ củng cố qua các cuộc kháng chiến chống Tống (1075 - 1077) và mở rộng lãnh thổ về phía Nam qua cáccuộc chiến tranh với Chămpa (1069) sáp nhập các châu Địa Lý, Ma Linh, Bồ Chính (Quảng Bình, bắc Quảng Trị ngày nay) Các vua Lý thểhiện chính sách , đa nhiều công chúa gả cho các thổ tù miền núi để vừa ràng buộc họ vừa tạo sự ủng hộ hậu thuẫn
-Chế độ thi cử, đào tạo quan chức:
Chế độ tuyển và cử vào ngạch quan chức đợc quy định rất chặt chẽ: lấy con cháu trong hoàng tộc họ Lý con các quan lại, rồi mới đến dânchúng
Đặc trng của chế độ quan chức nhà Lý là có thể mau đợc chức tớc Vậy cơ sở tạo ra hệ thống quan lại dốt nát, tham ô, tham những, đục khoét,quấy nhiễu nhân dân
Phong chức cho bên ngoại của vua (Hoàng hậu): An quốc phúc tông, Phúc quốc (tả, hữu)
+Vai trò của Lý Công Uẩn:
Lý Công Uẩn là ngời châu Cổ Pháp (Từ Sơn - Bắc Ninh) Khi sinh ra đã mồ côi, làm con nuôi của nhà s Lý Khánh Văn, sau đó đến học ởchùa Lục Tổ của s Vạn Hạnh Lớn lên đợc làm quan nhà Lê ở Hoa L Lúc đầu đợc cử chỉ huy quân điện tiền, thăng dần lên chức Tả thân vệ
điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là ngời có học, có đức lại biết sử sự đúng nên rất đợc triều thần nhà Tiền Lê quý trọng Khi triều Lê chính
sự đổ nát, lòng ngời chán nản Lê Long Đình chết, con trai còn nhỏ nên cha làm vua đợc, cả triều đình tôn Lý Công Uẩn lên làm vua (1009).Năm 1010 đặt niên hiệu là Thuận Thiên thứ nhất, xuống lệnh đại xá cho thiên hạ
Quyết định quan trọng đầu tiên của ông là dời đô từ Hoa L - một nơi chật hẹp, kinh tế nông thơng còn thấp kém, giao thông vận tải gặp nhiềukhó khăn, vị trí giao thông của sông Đáy đẫ giảm sút “không đủ làm chỗ ở của đế vơng, muốn dời đi nơi khác” Về Đại La, nhà vua soạn
Trang 5Chiếu dời đo trong đó có đoạn viết: “Chỉ vì muốn đóng đô ở trung tâm mu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu trên vâng mệnhtrời, dới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận nớc lâu dài, phong tục phồn thịnh đợc cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúngngôi Nam Bắc, Đông, Tây, lại tiện hớng nhìn sông, tựa núi Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng Dân c khỏi chịu cảnh khốn khổ,ngập lụt, muôn vật rất mựa phong phú, tốt tơi Xem khắp đất Việt ta chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn hội tụ trọng yếu của 4 phơng đất n-
ớc Cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vơng muôn đời” Tháng 8 - 1010 Lý Công Uẩn từ Hoa L ra Đại La Thuyền đõ ở dới thành thấy “córồng vàng hiện lên thuyền ngự” nhân đó đổi tên là thành Thăng Long
Lý Công Uẩn tổ chức công trờng lớn xây thành Thăng Long Thăng Long thời Lý đợc chia thành 2 kh vực riêng biệt, có 2 vòng thành baobọc
Lý Công Uẩn chỉnh đốn lại triều chính, cai trị đất nớc sắp xếp lại các đơn vị hành chính, ban chiếu miễn thuế nặng nề 3 năm lêin tục để dân
có sức gia tăng sản xuất, ổn định đời sống Ra chiếu thả tù nhân không phải mắc tội lớn, cấp cho quần áo, lơng thảo cần thiết cho họ có điềukiện quay trở vè cộng đồng sản xuất của cải bảo đảm đời sống Lý Công Uẩn đặc biệt coi trọng chính sách tiết kiệm, bỏ các trò chơi ở ngàykhánh tiết, bỏ yến tiệc, lễ hội tốn kém
Nhờ những chính sách đúng đắn mà xã hội ngày càng ổn định, đời sống nhân dân ngày càng đợc cải thiện
Câu 4 + 8:
4.Phân tích những biến chuyển cơ bản của các chính sách hành chính thời Lý?
8.Những yếu tố cải cách của nền hành chính n ớc ta thời Lý?
Trả lời:
Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua, 1010 Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa L về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long với mục
đích “đóng nơi trung tâm, mu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau” phản ánh yêu cầu phát triển mới của quốc gia độc lập,chúng tỏ khả năng lòng tin và quyết tâm giữ vững nền độc lập của cả dân tộc
Năm 1054 nhà Lý đổi tên nớc là Đại Việt - lúc đó đất còn hẹp, dân còn tha nhng là một nớc độc lập hoàn toàn và có đủ nsức mạnh để bảo vệnền độc lập dân tộc Tên nớc cũng thể hiện một niềm tự tôn và ý thức bình đẳng dân tộc sâu sắc
Nhà Lý đã tiến hành hàng loạt các biện pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hoá của đất nớc, thi hành nhiều chính sách nhằm củng cố quyềnlực của nhà nớc tập quyền, đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị, nhng cũng chăm lo đến sự phát triển kinh tế
-Tổ chức bộ máy nhà nớc:
Bộ máy nhà nớc thời Lý đợc thiết lập từ trung ơng đến địa phuơng và tập trung quyền hành vào tay quan chức: phẩm trật các hàng quan văn
võ đều có 9 bậc Những chức quan cao cấp trong triều đình đợc chia làm 2 ngạch: ngạch văn, nghạch võ Các đại thần đứng đầu nghạch vănthì có chức tham thái (s, phó, bảo) và tham thiếu, nghạch võ có chức thái uý, thiếu uý và một số chứuc vị khác D ới hàng quan văn thì có chứcThợng th đứng đầu các bộ, ngoài ra còn có các chức khác: tả và hữu tham tri, tả và hữu giám nghị, trung thu thị lang, bộ nhị lang tả và hữu tylang trung, tả và hữu phúc tâm Bên cạnh đó còn có các điện học sĩ, hàn lâm điện học sĩ đ ợc sắp xếp một cách đẩy đủ, chỉ tiết để đảm tráchviệc cai trị hành chính Quan đứng đầu cao nhất là phụ quốc thái uý giúp vua coi các công việc đại quan trọng trong các nội quan
Quan võ ở triều đình có các chức: đô thống, nguyên suý, tống quan, khu mật sứ, tả và hữu kim: ngô, th ợng tớng, đại tớng, đô tớng, tớng quâncác vệ, chỉ huy sứ Chức quan nắm quyền binh cao nhất trong triều coi nh tể tởng, đợc gọi là tớng công thời Lý Thái Tổ, Phụ quốc thái uýthời Thái Tông, Bình chơng quân quốc trọng sự thời Nhân Tông
Trong việc phân chia khu vực hành chính 10 đạo dới thời Đinh - Lê đợc đổi thành 24 lộ Dới lộ là phủ, huyện và hơng, giáp, thôn ở miền núichia thành châu, trại Sắp xếp lại đơn vị hành chính do đó xây dựng nhà nớc tập trung quyền lức về triều đình: vua thay trời hành đạo, định ra
lễ nghi triều chính, phép tắc trong cả nớc đề cao vai trò, uy quyền của vua
-Nhà nớc chăm lo mở mang học hành thi cử Năm 1070 dựng Văn Miếu và mở Quốc tử giám ở kinh đô
Lấy con cháu họ Lý vào các nghạch quan chức Đặc trng thời này là có thể mua đợc chức quan
Trang 6Đến triều Lý Nhân Tông chế độ thi cứ đợc tổ chức có quy củ Năm 1089 cẩi cách hành chính đ ợc thể hiện ở chỗ: phong vơng cho con cháutrong hoàng tộc để cử đi quản lý hành chính địa phơng, kết hợp với những ngời có công lao.
-Đặc biệt coi trọng chính sách quân đội, coi đó là vấn đề then chốt để bảo vệ độc lập chủ quyền của đấ n ớc tổ chức rất chặt chẽ, có quymô Bao gồm quân Cấm vệ (thân quân, cấm quân) là quân đội thờng trực ở triều đình, có nhiệm vụ bảo vệ kinh đo đội quân tinh nhuệ, đợclựa chọn cẩn thận, huấn luyện chua đáo và quân các lộ (sơng quân hay gọi là chính binh, phiên binh) là đội quân địa phơng làm nhiệm vụcanh phòng và bảo vệ các lộ, phủ, châu Đặt ra nghĩa vụ binh dịch với chế độ đăng ký “ngụ binh nông” cho phép xây dựng một lực lợngquân sự hùng hậu bao gồm một số quân tại ngũ và thanh niên quân dịch, có thể huy động nhanh chóng bất cứ khi nào Ngoài ra, các v ơng hầu
và tù trởng thiểu số còn có lực lợng vũ trang riêng Số quân này không nhiều lắm và khi cần thiết chính quyền trung ơng có thể điều động và
đặt dới sự kiểm soát của mình
Quân đội gồm bộ binh, thuỷ binh, kỵ binh, tợng binh Ngoài các vũ khí truyền thống đợc trang bị cho quân đội: giáo, mác, cung, nỏ, khiên, còn có máy bắn đá
-Chính sách quản lý kinh tế:
Vua nhà Lý ban chiếu miễn thuế nặng nề 3 năm liên tục để dân có sức tăng gia sản xuất, ổn định đời sống Ra chiếu thả tù nhân không phảimắc tội lớn, cấp cho quần áo, lơng thảo cần thiết cho họ có điều kiện quay trở về cộng đồng Giai đoạn đầu nhà Lý đặc biệt coi trọng chínhsách tiết kiệm, bỏ các trò chơi ở ngày khánh tiết, bỏ yến tiệc, lễ hội tốn kém Bắt đầu sử dụng th ởng công bằng ruộng đất, mở đầu là chínhsách Các vua Lý đều coi trọng chính sách phát triển nông nghiệp, năm nào cũng làm lễ cày tịch điền để dân chúng hăng hái thi đua sảnxuất, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, đắp đê, làm thuỷ lợi, phát triển nông nghiệp
Năm 1069 Lý Thánh Tông đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành đế trấn an bbờ cõi, bắt vua Chiêm Thành cống nộp Triều đình - ỷ Lan phunhân thay vua thực hiện cứu đói cho dân, mở quốc khố phát chẩn cho dân Thay vua thực hiện nhiều chính sách táo bạo đúng đắn do đó đẩylùi đói kém, giặc giã, đợc lòng dân Khi vua trở vể ỷ Lan luôn nhắc nhở vua coi trọng chính sách phát triển nông nghiệp, trừng phạt kẻ giếthại trâu bò để bảo tồn sức sản xuất
Câu 5:Đặc tr ng của nền hành chính n ớc ta thế kỷ X? Đánh giá vai trò của Lê Đại Hành hoàng đế?
Trả lời:
Thế kỷ X là một cái mốc quan trọng trong lịch sử Việt nam, nó khép lại hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc và mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc Nhànớc dân tộc và độc lập Việt Nam đã trở thành nền tảng ban đầu của nhà nớc quan liêu Lý Trần, Lê sơ sau này và các nhà nớc sau bổ sunghoàn thiện mô hình của nó để củng cố nền hành chính để nhà nớc phong kiến quản lý xã hội
Năm 905, cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ hoàn toàn thắng lợi, chính quyền thống trị của nhà Đ ờng bị lật đổ Nhà Đờng buộc phải phongKhúc Thừa Dụ làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ rồi tiếp đó ban thêm chức Đồng bình chơng sự với mong muốn xem họ Khúc cũng là quan chứccủa mình Nhng Khúc Thừa Dụ đã không châp nhận ý tởng đó, quyết định củng cố những thành quả mà cuộc khởi nghĩa đã giành đợc.-Khi bắt tay vào xây dựng bộ máy nhà nớc ở thế kỷ X, những ngời cầm quyền đã đứng trớc một thể chế chính trị phát triển cao độ và hoànchỉnh, đó là các triều đại phong kiến phơng Bắc Vì vậy về phơng diện thiết chế họ đã tiếp thu ít nhiều cách tổ chức chính quyền đô hộ củanhà Đờng và mô phỏng quan chế của nhà Tống
+Thời kỳ đầu họ Khúc tuy vẫn giữ chức Tiết độ sứ là chức đứng đầu An Anm đo hộ phủ đời Đờng, song đối với tổ chức chính quyền địa
ph-ơng đã thi hành nhiều cải cách đáng kể
Về hình thức: Khúc Thừa Dụ vẫn giữ nguyên cơ cấu tổ chức trong bộ máy hành chính song thay ngời Việt vào giữ chức vụ trong bộ máy hànhchính cho ngời Trung Quốc Khi Khúc Thừa Dụ chết, con là Khúc Hạo lên thay đã chia lại các đơn vị hành chính nhằm xây dựng một chínhquyền độc lập thống nhất tách khỏi phạm vi thế lực của chính quyền phong kiến trung ơng Trung Quốc Cả nớc chia làm 5 cấp hành chính: lộ,phủ, châu, giáp, xã trong đó đổi hơng thành giáp Việc đổi hơng thành giáp là cải cách quan trọng nhất của học Khúc Ngoài những hơng cũ
Trang 7đổi thành giáp, còn đặt thêm nhiều giáp mới, tất cả có 314 giáp So với 159 hơng đời Đờng thì 314 giáp của chính quyền họ Khúc chứng tỏmột bớc phát triển đáng kể của chính quyền độc lập vừa giành đợc Đơn vị hành chính cấp thấp nhất là xã có chức lệnh trởng, tá lệnh trởng.
Khúc Hạo là ngời đầu tiên xây dựng đợc nền hành chính nhà nớc tự chủ của nớc ta từ trung ơng đến địa phơng
+Sửa đổi lại chế độ điền, tô (chế độ ruộng đất), sủa đổi chính sách thuế khoá nặng nề trớc đây của nhà Đờng ban bố áp đặt, thay vào đó làchính sách bình quân thuế ruộng Lập sổ hộ khẩu kê rõ quê quán để quản lý nhân sự
-Năm 930 nhà Nam hán - một trong 10 nớc cát cứ của Trung Quốc đã chiếm lại Âu Lạc và cứ thứ sử cai trị Chính quyền họ Khúc chấm dứt.Song năm 931, Dơng Đình Nghệ là một tớng của Khúc Hạo đã lãnh đạo nhân dân đánh bại quân nam Hán và giành lại độc lập Ông vẫn x ng
là tiết độ sứ, thủ phủ vẫn đóng ở thành Đại La (6 năm), tiếp tục công cuộc tự chủ của họ Khúc, lo củng cố chính quyền vừa mới giành lại đ ợc,phát triển dân tộc
-Đầu năm 937, Dơng Đình Nghệ bị viên thuộc tớng phản bội là Kiều Công Tiễn ám hại để đoạt chức Tiết độ sứ Ngô Quyền - con rể đã từchấu ái đem quân ra trừng phạt Kiều Công Tiễn Kiều Công Tiễn cầu cứu Nam Hán vua Nam hán tiến công xâm lợc Âu Lạc Đợc sự ủng
hộ của nhân dân Ngô Quyền đã giết chết Kiều Công Tiễn và chuẩn bị lực lợng để chiến đấu chống quân xâm lợc
Chiến thắng Bạch Đằng 938 là cái mốc quan trọng chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷnguyên độc lập lâu dài của đất nớc
Năm 939 Ngô Quyền xng vơng đóng đô ở Cổ Loa và xây dựng một chính quyền trung ơng tập quyền, bãi bỏ chế độ tiết độ sứ ở địa phuơngcác châu, huyện đợc giữ nguyên Các thứ sử nh Đinh Công Trứ tiếp tục cai quản châu của mình Giáp, làng vẫn là những đơn vị hành chính cơ
sở Bên cạnh các xóm cổ truyền có một số làng mới hình thành và một vài trang trại
Tuy đã trải qua hơn 30 năm độc lập với 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhng tàn d của chế độ đô hộ cũ vẫn còn nhiều, tình hình xã hộicòn phức tạp Sự thành lập của nhà Ngô với ngời đứng đầu là Ngô Quyền cha đủ điều kiện đề giữ vững sự ổn định lâu dài
-Năm 944 Ngô Quyền chết Dơng Tam Khoa - em vợ cớp ngôi Lợi dụng sự suy yếu của chính quyền trung ơng, các thế lực địa phơng nổi dậycát cứ gây ra loạn 12 sứ quân Trớc tình hình đó, năn 968 Đinh Bộ Lĩnh đã đánh bại các sứ quân, thống nhất đất nớc lập ra nhà Đinh.-Đinh Bộ Lĩnh xng hoàng đế, đặt tên nớc là Đại Cồ Việt, dựng đô mới ở Hoa L
+Về tổ chức nhà nớc: Đinh Tiên Hoàng đã bắt đầu định giai phẩm cho các quan văn võ và tăng đạo Trong triều đình, có một số quan văn, võnh: sĩ s, tớng quân, nha hiệu, phó mã đô uý, và các chức tăng quan: đại sứ, lục đạo sĩ, sùng chân uý nghi Các hoàng tử đợc phong vơng.Nhà nớc lấy đạo Phật làm quốc giáo nên nghạch tăng quan có vai trò lớn trong việc tham dự triều chính Đại s Ngô Chân Lu - ngời đứng đầutăng quan có quyền hành nh tể tớng, là một cố vấn cho nhà vua
ở địa phơng, nhà Đinh chia nớc ra làm 10 đạo
+Về tổ chức quân đội: phiên chế quân đội thành 10 đạo, mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 ng ời.Chỉ huy quân đội là Thập đạo tớng quân
Trớc tình hình đất nớc mới thống nhất, nguy cơ cát cứ cha bị loại trừ hoàn toàn, nhà Đinh đã coi mỗi đơn vị hành chính là một đơn vị quân
sự, kết hợp chặt chẽ hoạt động quản lý hành chính với chỉ huy quân sự trong hoạt động và tổ chức bộ máy nhà nớc
-Năm 979 Đinh Tiên Hoàng và con trai Đinh Liễ bị ám sát Nguy cơ cát cứ và nạ ngoại xâm đồng thời uy hiếp đất n ớc Trong tình hình đóquân sĩ và một số quan lại suy tôn Thập đạo tớng quân Lê Hoàn lên làm vua lập ra nhà Tiền Lê Lê Hoàn vẫn đóng đô ở Hoa L
+ở trung ơng, nhà Tiền Lê mô phỏng quan chế của nhà Tống, triều đình trung ơng dio vua đứng đầu, nắm mọi quyền hành về dân sự cũng
nh quân sự Dới vua là quan văn, võ, trong đó cao nhấ là Định quốc công, ngoại giáp, thập đạo t ớng quân, về sau có thêm các chức: Thái s,
đại tổng quản, thái uý, đô hộ phủ sĩ s, tả và hữu điện tiền chỉ huy sứ, chi hậu
+Hệ thống đơn vị hành chính và chính quyền địa phơng cũng đợc tổ chức đầy đủ Ban đầu cả nớc chia thành 10 đạo Năm 1002 Lê Hoàn đổi
10 đạo thành lộ, dới có phủ, châu Các lộ châu đều có quản giáp, thứ sử, trấn tớng trông coi Nhằm bảo vệ quyền lực của dòng họ, nhà vua
đã cử các hoàng tử trông coi các châu về tất cả các mặt Trừ các nhà s, quan lại trong triều hầu hết là võ tớng
Trang 8+Về quân đội: Năm 1002 Lê Hoàn định quân ngũ, phân tớng hiệu làm 2 ban văn võ, tổ chức quân cấm vệ gồm 3000 ngời, trên trán có thích 3chữ “thiên tử quân” Bên cạnh đó còn có một số đạo quân tứ sơng, canh giữ các cổng thành.
+Chính sách để phát triển kinh tế: Đào các sông ngòi để dẫn thuỷ nhập điền phát triển giao thông Thực hiện chính sách tịch điền để thuthuế cho quốc khố Hang năm vua vó làm lễ cấy tịch điền, thực hiện chính sách trọng nông
+Chính sách giáo dục: Trọng đãi và sử dụng những ngời có học rộng tài cao, đặc biệt là tài thơ phú
+Chính sách đối ngoại: Dùng chính sách mềm dẻo, khôn khéo nhng kiên quyết để bảo vệ độc lập đất nớc Về phía Nam, chỉ huy quân chinhphạt Chiêm Thanh, bắt vua Chiêm quy phục, triều cống để giữ yên bề cõi phơng Nam
*Thời thuộc Đờng An Nam đô hộ phủ
-Các vua Đinh - Tiền Lê khi lên ngôi hoàng đế đều đã cố gắng thực thi quyền sở hữu ruộng đất nông nghiệp, vừa để khẳng định quyền lực,vừa để nắm lấy thần dân, thu tô thuế, bắt lính Hàng năm mùa xuân nhà vua đích thân làm lễ tịch điền, đi vài đ ờng cày để nêu gơng Phongcấp đất đai cho các hoàng tử, quý tộc và quan lại Bắt đầu thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích sản xuất nh đào vét các sông kênh.Bên cạnh đó chú ý phát triển một số ngành nghề thủ công nghiệp để phục vụ vua quan và quân đội, nhất là kinh đô Hoa L
Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nớc có chủ quyền, ở Đại Cồ Việt nửa sau thế lỷ X cũng đã manh nha những mầm mống củamột nền văn hoá mang tính dân tộc
-Thê skỷ này suy tôn Phật giáo là Quốc giáo, các nhà s đợc sử dụng nh những cố vấn cung đình và những nhà ngoại giao đắc lực của nhà vua.Các vơng triều Ngô - Đinh - Tiền Lê có thể coi nh một thời kỳ lịch sử quá độ ngoại thuộc qua tự chủ đến độc lập Những thập kỷ bản lề đó
đã bớc đầu thực hiện đợc sự nghiệp khôi phục độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng chính quyền và đặt nền móng cho một nền văn hoá dântộc Sự nghiệp đó sẽ đợc củng cố và phát triển lên một tầm cao mới trong những thế kỷ tiếp theo
+Vai trò của Lê Đại Hành hoàng đế:
Lê Hoàn là ngời Xuân Lập (Thọ Xuân - Thanh Hoá) quê gốc ở Thanh Liêm (Hà Nội), cha, mẹ chết sớm, làm con nuôi một viên quan sát họ
Lê Lớn lên, ông theo giúp Đinh Liễn, lập nhiều công trạng, khi nhà Đinh thành lập, ông đợc phong chức Thập đạo tớng quân
Năm 979 Đỗ Thích mu phản giết Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn vì hiềm khích Nội bộ triều đình lục đục, vua mới còn nhỏ Đợc tin đó, nhàTống vội sai các tớng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hng đem quân sang xâm lợc nớc ta
Mùa thu 980 viên quan coi Lạng Châu cho ngời về kinh cấp báo tin quân Tống chuẩn bị đánh xuống nớc ta Dơng Thái hậu giao cho phụchính Lê Hoàn tổ chức cuộc kháng chiến Lê Hoàn xng là phó vơng để chỉ đạo quân chống quân xâm lợc Cử Phạm Cự Lợng làm đại tớng kéoquân trấn giữa vùng phía Bắc Tiếp đó đợc quân sĩ và tớng quân ủng hội lên làm vua Thái hậu Dơng Vân Nga đã tự tay trao áo long bào cho
Lê Hoàn Lê Hoàn lên ngôi xng là Lê Đại Hành hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiên Phúc, cùng các t ớng huy động quân sĩ cùng nhân dân khẩntrơng chuẩn bị chống giặc Theo kế của Ngô Quyền trớc đây, ông sai quân đóng cọc nhọn ở vùng cửa sông Bạch Đằng để ngăn thuỷ quân củagiặc Khi thuỷ quân của giặc đến vùng vne biển gần cửa sông Bạch Đằng thì Lê Hoàn cử quân tiến ra chống cự kịch liệt Không đánh nổiquân ta, thuỷ quân của giặc buộc phải rút lui Quân Hầu Nhân Bảo đánh xuống theo đờng sông Chi Lăng cũng bị phục binh đánh tơi bời, giết
Trang 9chết Hầu Nhân Bảo, Trần Khâm Tộ đợc tin Bảo chết hoảng sợ, ra lệnh rút quân chạy về nớc nhng không kịp Quân giặc đã bị thua Cuộckháng chiến chống Tống thắng lới, một lần nữa nhân dân ta đã bằng sức chiến đấu anh dũng của mình, khẳng định quyền làm chủ đất nớc bảo
vệ vững chắc thành quả đấu tranh và xây dựng tổ tiên mình Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã giáng một đòn nặng nề vào t tởng bành trớngcủa vua tôi nhà Tống Tên tuổi của Lê Hoàn và quân tớng cũng nh Dơng Thái hậu mãi khắc sâu vào lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm bảo
vệ tổ quốc của nhân dân ta
-Sau khi đánh bại quân giặc, Lê Hoàn bắt tay vào việc ổn định tình hình trong nớc Tổ chức lại chính quyền, mở mang đờng sá, khuyến khíchnhân dân sản xuất, lo chống lại các cuộc nổi dậy của nhân dân ở các vùng xa, đặc biệt là các châu phía Nam
-Năm 989 quản giáp Dơng Tiến Lộc đợc cử đi thu thuế ở 2 châu ái, Hoan đã nhân tố liên kết với một số thủ lĩnh địa phơng giữ châu chống lạitriều đình Lê Hoàn phải cầm quân đi đánh dẹp
-Năm 999, 1001 Lê Hoàn lại phải đem quân đánh dẹp các cuộc nổi dậy của ngời Hà Đông, Cử Long Tình hình tạm yên trong một thời gian.-Năm 980 sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chăm pa đặt quan hệ hoà hiếu, nhằm yên mặt Nam để chống giặcTống Vua Chăm pa cậy thế thùng mạnh bắt giữ sứ thần
-Năm 982 khi đã đánh bại quân Tống, Lê Hoàn quyết định đem quân đánh Chăm pa , tiến thẳng kinh đô, phá huỷ thành trì rồi rút quân về.Quan hệ Việt - Chăm pa tạm yên
Sau khi chiến thắng giặc Tống, Lê Hoàn dùng chính sách đối ngoại khôn khéo, mềm dẻo để giữ yên bờ cõi, bảo vệ nền độc lập tự chủ của đấtnớc
Bên cạnh đó, Lê Hoàn sử dụng một số vùng đã tịch thu đợc của các sứ quân để làm ruộng tịch điền, phục vụ nghi lễ khuyến khích sản xuấtnông nghiệp và lấy thóc lúa đa vào kho nhà nớc sản xuất nông nghiệp ngày càng ổn định và phát triển, đời sống nhân dân đợc đảm bảo
Lê Đại Hành có vai trò to lớn trong việc mở đầu một triều đại mới - Nhà Tiền Lê đánh thắng quân xâm lăng bảo vệ độc lập của tổ quốc,
có những chính sách đúng đắn để phát triển kinh tế đất nớc, đa đời sống nhân dân vào ổn đinh
Câu 6: Vấn đề cơ bản về c ơng vực địa giới hành chính và các cấp hành chính ở n ớc ta trong 10 thế kỷ Bắc thuộc?
Trả lời:
1)Chính quyền đô hộ 179 TCN đến 39
Sau khi chiếm đợc nớc Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập đất Âu Lạc vào Nam Việt và chia ra làm 2 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (BắcTrung Bộ) ở mỗi quận có một viên cai trị gọi là quan sứ hay điền sứ với t cách là sứ giả của nhà vua
Các lạc tớng đều dới quyền kiểm soát của hai viên quan sứ Bên cạnh các viên quan sứ còn có 1 viên chức quan võ (tả tớng) và một số quân
đồn trú đề kiềm chế các lạc tớng Bên dới quận cha hề có một tổ chức hành chính nào khác Những luật lệ, phong tục tập quán cũ của Âu Lạcdới thời Triệu tạm thời đợc duy trù
-Từ 111 tr.CN sau khi chinh phục đợc Nam Việt, nhà Tây Hán đã thay nàh Triệu cai trị Âu Lạc Nhà Hán chia vùng đất mới chiếm ra làm 9quận là Đạm Nhic, Chu Nhai (thuộc đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Th ơng Ngô (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây), Giao Chỉ(Bắc bộ Việt Nam), Cửu Chân (vùng Thanh - Nghệ Tĩnh), Nhật Nam (Quảng Bình Quảng Nam) Năm 106 nhà Tây Hán đặt châu GiaoChỉ để thống suất 7 quận miền lục địa Trụ sở của châu đặt tại quận Giao Chỉ -là quận lớn nhất, tại đất Mê Linh Đứng đầu châu là một viênthứ sử phụ trách công việc của các quận Mỗi quận có 1 viên thái thú và 1 viên đô uý (cai quản hành chính - dân sự, quân sự) D ới quận làhuyện từ các bộ phận chuyển thành Các lạc tớng vẫn nắm quyền cai trị và vẫn đợc thế tập nhng đổi gọi là huyện lệnh
Tuy nhà Hán đã áp đặt đợc bộ máy ở cấp châu, quận nhng ở cấp huyện và cấp cơ sở, bộ máy quản lý hành chính cổ truyền của ngời Việt hầu
nh vẫn đợc giữ nguyên
Từ 23 - 220 nhà Đông Hán thay thế nhà Tây Hán cai trị Âu Lạc và tổ chức bộ máy đô hộ hoàn thiện hơn Đứng đầu châu Giao Chỉ là chứcchâu mục, đến năm 42 đổi lại thành thứ sử Thứ sử phải luôn trụ tại sử làm việc và cử ngời thay mặt mình về triều đình báo cáo Giúp việcchâu mục có các lại viên gọi là tòng sự sử gồm 7 ngời: công tào tòng phụ trách việc tuyển bổ quan lại, tào tòng sự ở cấp quận, ngoài viênthái thú còn đặt thêm chức quận thừa giúp việc và thay thế khi thái thú vắng mặt ở nhiều quận biên giới đặt 1 viên thừa (ngạch quan văn)
Trang 10làm trởng sử giúp thái thú Đến 38, các quận biên giới bỏ chức thái thú và quận thừa, tất cả quyền hành tập trung vào thừa tr ởng sử Thái thúnắm cả quyền quản lý hành chính xét xử và chỉ huy quân sự Bộ máy hành chính cấp quận chia thành các tào, đứng đầu là các duyên sử, tuỳtừng quận mà có thế đặt thêm chức quan diêm quan, thiết quan (đúc chế sắt), công quan (thu thuế thủ công nghiệp)
Các huyện thuộc quận, đứng đầu là huyện lệnh, huyện trởng do các lạc tớng nắm giữ, ăn lơng nhà nớc Dới huyện lệnh là 1 viên thừa (quanvăn) và 2 viên uý (quan võ) giúp việc Bộ máy hành chính cấp huyện cũng chia thành các tào chuyên trách
Địa bàn nớc ta khi ấy nằm trên 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
+Quận Giao Chỉ chia ra 10 huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lâu, Mê Linh, Khúc D ơng, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên Theo
Đào Duy Anh: “Quận Giao Chỉ ở đời Hán là đất Bắc Bộ ngày nay, trừ miền Tây Bắc còn ở ngoài phạm vi thống trị của nhà Hán, 1 góc tâynam tỉnh Ninh Bình bây giờ là địa đầu của quận Cửu Chân và một dải bờ biển từ Thái Bình Kim Sơn (Ninh Bình) bấy giờ cha đợc bồi đắp,lại phải thêm, vào đấy một vùng về phía tây nam Quảng Tây”
+Quận Cửu Chân chia làm 7 huyện: T Phố, C Long, Đô Lung, D Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên
+Quận Nhật Nam gồm 5 huyện: Chu Ngô, Tỷ ảnh, Lê Dung, Tây Quyển, Tơng Lâm
Mã Viện chia lại đơn vị hành chính huyện, chia nhỏ huyện to, áp nhập huyện nhỉ Huyện Tây Vu là đất c của Tây Vu Vơng, con cháu An
D-ơng VD-ơng đã bị chia lám 3 huyện: Tây Vu, Phong Khê, Vọng Hải Song song với cải tổ hành chính, Mã Viện cho xây đắp thành luỹ, tăng sốquân đồn trú ở các huyện, củng cố mở rộng cứ điểm thống trị Quận Giao Chỉ có 12 thành ở 12 huyện, Cửu Chân, Nhật Nam mỗi quận có 5huyện đều xây 5 thành Đến năm 203 Sĩ Nhiếp dâng sớ xin cải Giao Chỉ làm Giao Châu Vua nhà Hán thuận cho
4)Từ 220 - 280
Nhà Hán đổ, cục diện Tam quốc, chính trị loạn lạc dẫn đến chỗ nớc ta bị nhà Ngô đô hộ
226 nhà Ngô tách các quận Hợp Phố (thuộc địa phận Quảng Đông - Trung Quốc), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thành lập Châu Giao.Chẳng đợc bao lâu thì bị bãi bỏ song 264 nhà Ngô lại đặt tên nh cũ là Châu Giao, lấy thành Long Biên làm châu lị 271 nhà Ngô đặt thêmquận Cửu Đức (đợc tách từ 1 bộ phận ở nam quận Cửu Chân tơng ứng với huyện Hàm Hoan cũ) Quận Cửu Đức gồm 6 huyện: (thuộc hầu hết
2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), huyện Hàm Hoan mới (Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lu, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu ngày nay), Cửu Đức(Hng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chơng và 1 phần Đức Thọ), huyện Dơng Thành (Nghi Lộc, Nghi Xuân, Việt Thờng), Phù Lĩnh (Can Lộc),Khúc T (phần phía nam Hà Tĩnh)
5)Từ 280 - 420
Năm 280 nhà Tần diệt đợc nhà Ngô, thống nhất Trung Quốc đã mở rộng địa giới quận Cửu Đức cho đến Hoành Sơn, đặt thêm huyện NamLăng và Đô Giao (tơng đơng với Nghi Xuân, Hơng Sơn, Hơng Khê, Thạch Hà - Hà Tĩnh)
6)Từ 420 - 588
Trang 11Nhà Tần suy sụp, ở Trung Quốc diễn ra cục diện Nam - Bắc triều Đất nớc ta bị đặt dới ách đô hộ của Nam triều (các triều Tống, Tề, Lơng,Trần).
Năm 470 nhà Tống tách Hợp Phố sáp nhập vào nội địa Trung Quốc Bản đồ Giao Châu còn lại trong phạm vi vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộngày nay Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn gọi là Cửu Đức 523, nhà Lơng đặt thêm ái Châu ở Thanh Hoá, đổi Cửu Đức thành Đức Châu, đặtthêm 2 châu mới là Lợi Châu và Minh Châu
535 đặt thêm châu mới là Hoàng Châu (ven biển Giao Chỉ - Quảng Ninh) Cùng với thay đổi các đơn vị hành chính là việc tổ chức chặt chẽhơn bộ máy thống trị của chính quyền đô hộ Đứng đầu vẫn là chức thứ sử (châu mục) ở quận vẫn có chức thái thú và bộ máy quan lại gồmtrởng lại, lục sự, công tào cai quản Đứng đầu huyện là các chức huyện lệnh do ngời Trung Quốc đảm nhiệm
-Giao Châu đợc chia làm 8 quân
Tơng Lâm, Lô Dung, Chu Ngô, Tây Quyển, Tỷ ảnh
-Nhà Lơng chia Giao Châu làm nhiều châu mới:
+ái châu: trên đất quận Cửu Chân cũ (Thanh Hoá)
+Đức Châu: trên đất quận Cửu Đức cũ (Nghệ Tĩnh)
+Lợi Châu: trên đất quận Cửu Đức cũ (Nghệ Tĩnh)
+Minh Châu; trên đất miền đông bắc Giao Châu cũ (Quảng Ninh)
+Giao Châu: thu nhỏ trên đồng bằng và trung du Bắc Bộ
7)Từ 544 - 602
Năm 542, Lý Bí là một hào trởng đợc sự ủng hộ của nhân dân đã lật đổ ách thống trị của nhà Lơng 544 Lý Bí chính thức lên ngôi hoàng đế,
tự xng là Việt đế (theo sử Trung Quốc) Nam đế (sử Nam) gọi là Lý Nam Đế Ông đặt tên n ớc là Vạn Xuân và đóng đố ở Hà Nội ngày nay Bỏlịch Trung Hoa, đặt hiệu là Thiên Đức, cho đúc tiền Thiên Đức
Tổ chức nhà nớc còn rất đơn giản ở triều đình ngoài hoàng đế đứng đầu còn 2 ban văn võ Tinh Thiều đợc cử làm tớng văn, Phạm Vu làm ớng võ, Triệu Túc làm thái phó, Lý Phục Man làm tớng quân coi giữ một miền biên cảnh từ Đỗ Đông đến Ba Vì Dân số nớc Vạn Xuân ở niên
t-đại 544 có khoảng 1.000.000 ngời
8)Từ 589 - 617
Năm 589 nhà Tuỳ đổi Hng Châu làm Phong Châu, đổi Hoàng Châu làm Ngọc Châu, Đức Châu làm Hoan Châu, Lợi Châu làm Trí Châu 603nhà Tuỳ chinh phục Chau Giao Năm 607 nhà Tuỳ bỏ đơn vị hành chính châu, chia Châu Giao thành 6 quận trực thuộc triều đình trung ơng(Lịch sử nhà nớc và pháp luật)
Trang 12Quận Giao Chỉ (gồm 9 huyện), Cửu Chân (7 huyện), Nhật Nam (Nghệ Tĩnh 8 huyện), Tỷ Cảnh (Tỷ ảnh - Chiêm Thành - 4 huyện) Lâm ấp(Thừa Thiên Huế 4 huyện).
6 quận: 36 huyện thị sở đặt ở Tống Bình - Hà Nội
9)Từ 618 - 907
Năm 618 nhà Tuỳ đổ, nhà Đờng thành lập ở Trung Quốc, thái thú Khâu Hoà (của nhà Tuỳ) giữ Giao Châu xin thần phục nhà Đờng Từ đó
904 Giao Châu đã bị nhà Đờng đô hộ Nhà Đờng đổi các quận thành châu nh cũ 622 nhà Đờng đổi Giao Châu thành An Nam tổng quản phủ
679 đặt An Nam đô hộ phủ để cai quản nớc ta
Bấy giờ An Nam đô hội phủ cai quản 12 châu:
+Giao Châu nay ở đất Hà Nội, Nam Định có 8 huyện: Tống Bình, Nam Định, Thái Bình, Giao Chỉ, Chu Diên, Long Biên, Bình Đạo, Vũ Bình.+Lục Châu: sau là Quảng Yên, Lạng Sơn gồm 3 huyện: Ô Lôi, Hoa Thanh, Ninh Hải
+Phúc Lộc Châu gồm 3 huyện có lẽ ở “miền nam Hà Tĩnh và miền Quy Hợp, Ngọc Ma ở phía tây Hoành Sơn”
+Phong Châu: Gia Ninh, Thừa Hoá, Tân Xơng
+Thanh Châu: Thanh Tuyền, Lục Thuỷ, la Thiều
+Trờng Châu có 4 huyện nay thuộc Ninh Bình
+Chi Châu (7 huyên): Hàn Thành, Phú Xuyên, Bình Tây, Lạc Quang, Lạc Diêm, Đa Vân, Tu Long
+Võ Nga Châu (7 huyện): Võ Nga, Nh Mã, Võ Nghĩa, Võ Di, Võ Duyên, Võ Lao, Lơng Sơn
+Võ An Châu: Võ An, Lâm Giang
+ái Châu (6 huyện): Cửu Chân, An Thuận, Sùng Bình, Quân Ninh, Nhật Nam, Trờng Lâm
+Hoan Châu (4 huyện): Cửu Đức, Phố Dơng, Việt Thờng, Hoài Nam
+Diễn Châu (7 huyện)
Năm 757 đổi làm Trấn Nam đô hộ phủ
Năm 766 lại đổi làm An Nam đô hộ phủ
Năm 866 nhà Đờng thăng An Nam đô hộ phủ lên làm Tĩnh hải quân tiết độ
Ngoài ra còn có 41 châu ky my
Dới phủ có huyện, dới huyện có hơng, xã Các hơng xã đợc chia theo số hộ
Đứng đầu phủ có chức quan đô hộ, lúc đầu đợc gọi là đại tổng quản, sau gọi là đô đốc Từ 679 gọi là đô hộ Lúc có chiến tranh gọi là kinh l ợc
sứ Về sau đổi thành tiết độ sứ
Dới quyền quan đo hộ (hay tiết độ sứ) ở phủ còn có cả một bộ máy quan lại cai quản các công việc hành chính, chính trị, quân sự, thu thuế.Các châu đều đặt các chức thứ sử đứng đầu, trong đó có 1 số thứ sử là ng ời bản địa Các huyện, hơng đều có tổ chức chính quyền đô hộ củanhà Đờng, giúp việc cho phủ đô hộ
Câu 9 + 10:
9.Đặc tr ng nền hành chính n ớc ta thời Trần?
10 Những biến đổi và phát triển của nền hành chính n ớc ta thời Trần? Đánh giá ý nghĩa những biến đổi đó?
Trả lời:
1)Nhà Trần thay nhà Lý mở ta một thời kỳ tiế tục phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt Chính quyền nhà Trần trong thế kỳ XIII vững vàng,
mà năng động, đã tạo râ một nền thống nhất và ổn định đất nớc cho đến giữa thế kỷ XIV Triều đình Thăng Long trong thời gian này trớc hết
là tổ chức chính quyền của dòng họ Trần Vua Trần tự đề câo vị trí bản thân, đồng nhất ngôi vua với đất nớc
1250 Thái Tông “xuống chiếu” cho thiên hạ gọi vua là nâng cao hơn tính chuyên chế và tập trung của triều đình Để đảm bảo vững chắc vịtrí và khả năng nắm chính quyền trong tay vua, tránh những vụ tranh ngôi trong nội bộ hoàng tộc, và cũng để cho vua trẻ điều khiển chínhquyền vững vàng, nhà Trần áp dụng chế độ Thái thợng hoàng Vua cha chỉ làm việc một số năm rồi truyền cho con, còn bản thân lui về Tức
Trang 13Mặc (Nam Định) giữ t cách cố vấn Quyền hành của Thái thợng hoàng rất lớn không chỉ có quyền chỉ định ngời kế vị mà khi cần có thể truất
bỏ ngôi vua
Để củng cố vơng quyền, nhất là trong những thời kỳ đầu, nhà Trần đã thực hiện một nền chuyên chính dân chủ dòng họ Tầng lớp quý tộctông thất nắm độc quyền lãnh đạo quốc gia Các chức vụ chủ chốt trong triều đình (nhất là về võ quan, nh các tớng lĩnh trong cuộc khángchiến chống Nguyên) đều do các ngời họ hàng thân cận với nhà vua nắm giữ Để đề phòng nạn ngoại thích, nhà Trần thực hiện chế độ hônnhân đồng tộc Nhiều nhà vua và vơng hầu tôn thất nhà Trần đã lấy những ngời trong họ hàng đôi khi khá gần gũi (Trần Thái Tông lấy chịdâu, Trần Thủ độ lấy chị họ ) Mặt khác, các vua Trần cũng hết lòng thơng yêu đùm bọc các vơng hầu tôn thất
Nền quân chủ quý tộc dòng họ
2) Biến đổi và phát triển nền hành chính
Họ Trần tuy đã nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong triều đình và một số lộ phủ quan trọng, nhng số lợng ngời và năng lực có hạn, vẫn phảixây dựng bộ máy hành chính từ trung ơng địa phơng, thu nhận nhiều ngời thuộc các tầng lớp Nhà nớc này là khối liên kết của dòng họTrần với bộ phận quan liêu ở các cấp chính quyền khác nhau và ngày càng mở rộng về phơng thức tổ chức và cơ chế vận hành của nhà nớcnày có mặt phỏng theo mô hình nhà Tống
a)Triều đình
-Bộ phận trung khu: gồm tể tớng, á tớng, tri mật viên sứ và hành khiển ở môn hạ sảnh có nhiệm vụ chỉ đạo các quan văn võ Đứng đầu trungkhu là quan chức mang danh hiệu tam thái (s, phó, bảo) và tam thiếu (s, phó, bảo) và tâm t (t đồ, t mã, t không) Chức vụ tể tớng phải là thânvơng với chức danh là tả hữu tớng quốc hay nhập nôi kiểm hiệu đắc tiến khai phủ nghi đồng tam ti bình chơng sự Chức vụ á tớng thờng làtham tri chính sự hay là tri mật viên sự và nhiều khi mang chức danh là tả, hữu bộc xạ kèm thêm 2 chữc “nhập nội”
Chức vụ hành khiển gần ngang với á tớng chia làm 2 ban tả và hữu ở kinh đô Thăng Long và hoàng cung Tức Mặc, nhng chung 1 viện, về sau
đổi là môn hạ sảnh Danh hiệu cao nhất của quan chức hành khiển là nhập nội hành khiển đồng trung thu môn hạ sảnh bình ch ơng sự Cơquan này lúc đầu chỉ dùng hoạn quan, sau dùng các nho thần nh Nguyễn Trung Ngạn, Lê C Nhân
Việc phân chia bộ phận trung khu gồm tể tớng, á tớng, các quan chức ở khu mật viện, hành khiển môn hạ sảnh tách khỏi và đứng trên các cơquan chức năng là bớc phát triển trong kết cấu và cơ chế của bộ máy nhà nớc thời Trần
Ngoài các cơ quan trên, còn đặt các cơ quan phụ trách riêng một số công việc nh Quóc sử viện biên soạn quốc sử (ngời phụ trách đầu tiên làbảng nhãn Lê Văn Hu), Quốc tử viện (tức Quốc tử giám) giảng dạy các hoàng tử, vơng hầu ở Thăng Long và Tức Mặc, Thái y viện trông coithuốc men, chữa bệnh trong hoàng cung, và tông nhân phủ theo dõi các hoàng tộc
Các chức vụ quan trọng trong triều lúc đầu là do các quý tộc tông thất nắm giữ, sau do nhu cầu chuyển dần sang giới quan liêu
b)Các địa phơng
Trang 14Nhà Trầntổ chức chính quyền làm 3 cấp: phủ- lộ, huyện - châu, hơng - xã Đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ Thiên Trờng (nam Hà), Long Hng(Thái Bình), Quốc Oai (Hà Tây), Bắc Giang (Bắc Ninh - Bắc Giang), Hải Đông (Quảng Ninh và một phần Hải D ơng), Trờng Yên (NinhBình), Kiến Xơng (đông Thái Bình), Hồng (phần Hải Dơng), Khoái (phần Hng Yên), Thanh Hoá (Thanh Hoá), Hoàng Giang (phần đất HàNam), Diễn Châu (bắc Nghệ An) Thế kỷ XIV, nhà Trần còn đặt các phủ: Lâm Bình (Quảng Bình và Quảng Trị), Thái Nguyên (Bắc Cạn,Thái Nguyên, Cao Bằng), Lạng Giang (Bắc Giang, Lạng Sơn).
1307 đổi 2 châu Ô, Lý, thu nạp Chăm p thành châu Thuận và châu Hoá
Chính quyền cấp lộ (phủ, trấn) có chức an phú chánh sứ và phó sứ, thông phán, trấn phủ (tri phủ) Ngoài ra, ở lộ còn có các cơ quan phụ tráchmột số công việc nh:
-Hà đê: trong coi đê điều, có hà đê chánh sứ và phó sứ
-Thuỷ lộ đề hình: trông coi công việc giao thông thuỷ và bộ 1344 nhà Trần tăng c ờng thêm cơ quan chính quyền địa phơng, đặt đồn điền sứ
và phó sứ ở ty khuyến nông
Nhà Trần rất coi trọng chính quyền cấp lộ phủ Dới phủ lộ là các châu, huyện và vào cuối thế kỷ XIV có thêm cấp xã Châu ở vùng miền núi,
có các chức chuyển vận sứ, thông phán Huyện có các chức tri huyện (còn gọi là lệnh uý) và chủ bạ Một vài tài liệu cho biết d ới phủ lộ là
h-ơng rồi đến xã
1297 Nhân Tông đổi giáp làm hơng, pử trung du và miền núi thì gọi là sách, động Chính quyền hơng, sách là cấp cuối cùng trong hệ thống
đơn vị hành chính ở địa phơng, trong đó có xã quan Xã quan gồm đại t xã (hoặc tiểu t xã) xã trởng, xã giám có nhiệm vụ quản lý hơng xã,làm hộ tịch Chức đại t xã hay gọi là đại toát có hàm từ ngũ phẩm trở lên, tiểu t xã hay gọi là tiểu toát có hàm từ lục phẩm xuống
Chia kinh đô Thăng Long thành 61 phờng ở phủ, lộ có hơng Hơnbg có đại toát hoặc tiểu toát cai qiản, sách thì do phụ đạo hay quan langquản lý Hơng sách gồm nhiều thôn Dới hơng có nhiều làng (trang hay thôn) nhng làng không phải là cấp chính quyền
Triều đình đã nhiều lần kiểm soát nhân đinh hộ khẩu, nhng hình nh chia lần nào có biện pháp lập điền bạ hay điều tra ruộng đất Có thể chorằng: thôn, trang với các mối quan hệ dân c, họ hàng, nghề nghiệp cũng cha chặt chẽ nh những thời kỳ sau khi chính quyền xã chuyểnxuống là thôn, làng
Dân đinh ở các hơng đợc ghi vào sổ hộ tịch, phân làm 3 hạng theo tuổi: 17 tuổi là tiểu hoàng nam; 20 tuổi trở lên là đại hoàng nam; 60 tuổitrở lên là lão hạng Hàng năm vào mùa xuân, chính quyền hơng, xã kiểm tra nhân khẩu để báo lên trên
c)Phơng thức tuyển chọn quan lại
Quan lại đời Trần đợc tuyển dụng qua các phơng thức nhiệm tử (tập ấm), tuyển cử (giới thiệu và bảo lãnh), khoa cử (qua các kỳ thi) NhàTrần cũng đã định ra lệ khảo duyệt (khảo khoá) các quan theo định kỳ Vai trò của tầng lớp nho sĩ quan liêu trong bộ máy chính trị thời Trầnlúc đầu là khiêm tốn, càng ngày càng gia tăng trong những thời kỳ sau Tuy nhiên, nhà Trần ch a câu nệ về tiêu chuẩn khoa bảng, mà căn cứchủ yếu vào thực tài, tinh thần đã đợc ngời đời sau khen ngợi
d)Tổ chức quân đội
Nhà Trần thay nhà Lý, một sức bật mới nhanh chóng ổn định trật tự xã hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng c ờng luật quân sự đủ sức đa
đất nớc vợt qua trở ngại, bảo vệ độc lập dân tộc
-Về tổ chức, phiên chế: quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh.Năm 1239 Trần Thái Tông hạ chiếu tuyển trai tráng làm binh chia làm 3 bậc: th ợng, trung, hạ Nhà Trần đặc biệt chú ý cấm quân, gọi là quântúc vệ Bộ phận cấm quân của nhà Trần ngày càng đợc tăng thêm, phiên chế càng phức tạp và chặt chẽ hơn Bộ phận này có 8 quân, đứng đầumỗi quân là 1 đại tớng quân Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội Mỗi đô lại có 5 ngữ, chỉ huy mỗi ngũ là đầu ngũ (mỗiquân có khoảng 2400 ngời) Trong cuộc hội quân của Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (1248) số quân lên tới 20 vạn ng ời Nhng trong thời bình,
số quân thờng trực giảm nhiều qua chính sách "ngụ binh nông" cho quân sĩ luân phiên về cày ruộng
Cấm quân là nòng cốt cho các binh lính khác, có thích 3 chữ "thiên tử quân" lên trán, do tổn thất hoặc ng ời đợc đặc biệt tin tởng nh PhạmNgũ Lão chỉ huy gọi là điện tiền chỉ huy sứ (gọi tắt là điện suý) Chức phiêu kị tớng quân phải do chính hoàng tử nắm giữ
Trang 15ở phủ lộ quân Lộ quân có khoảng 20 phong đoàn Giữa thế kỷ XIV, Dụ Tông đặt thêm bình hải quân ở Hải Đông (1341 - 1369) Duệ Tông(1373 - 1377) tăng thêm số quân ở các lộ Thiên Trờng, Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An, Lâm Bình, Thuận Hoá.
-Lực lợng vũ trang của các quý tộc: cấm quân là chủ lực bảo vệ Thăng Long, Tức Mặc nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm Cấmquân có thể đợc điều động đi các địa phơng hoặc phối hợp với các lộ quan tổ chức tác chiến Lộ quân có nhiệm vụ phòng giữ địa ph ơng trong
lộ Ngoài cấm quân và lộ quân là bộ phận do nhà nớc tổ chức và chỉ huy, các vơng hầu đợc phép chiêu mộ quân riêng khi có lệnh vua Lực ợng vũ trang của các quý tộc này thờng đợc gọi là "vơng hầu gia đồng"chủ yếu là gia nhân, gia nô Bộ phận này cũng đợc phiên chế thành đô.Trong chiến tranh, nhà Trần có thể tập hợp đợc lực lợng quân đội mạnh đông đảo chhủ yếu, còn do thực hiện chính sách "ngụ binh nông"
l-sự kết hợp giữa xây dựng kinh tế và quốc phòng, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang của thời đại đó
Nâng cao chất lợng binh lính bằng các biện pháp tuyển quân; tuyển tớng; huấn luyện binh pháp và rèn luyện t tởng; tuyển quân từ các làngxã, kén chọn các ngời có sức khoẻ Quân lính đợc trang bị các loại chiến bào, áo da, sử dụng các loại pháo (máy bắn đá) và súng phun lửa gọi
là "hoả khí" Có nhiều loại thuyền chhiến các cỡ từ 30 100 tay chèo, thiện chiến trên sông nớc, nhiều ngời giỏi tài bơi lặn (Yết Kiêu).Cho lập Giảng Võ đờng ở phía tây thành Thăng Long để huấn luyện quân sĩ trờng cao cấp quân sự đào tạo võ quan
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên đã thể hiện tổ chức quân đội và chính sách xây dựng lực l ợng vũ trang là đúng đắn, sángtạo Đó là quân đội có số lợng đông khi cần thiết, có chất lợng tinh thần vào loại mạnh trên thế giới đơng thời Hàng loạt các chiến thắng
Đông Bộ Đầu (1288) Hàm Tử, Tây Kết (1285) đặc biệt là Bạch Đằng (1288) là hình ảnh tiêu biểu của quân đội Đại Việt thời Trần trong thời
kỳ hng thịnh
e)Chính sách kinh tế:
Thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích nông nghiệp Cùng với chính sách "ngụ binh nông"kết hợp kinh tế với quốc phòng, triều đình
đã lập ra ty khuyến nông đặt các chức quan Hà đê chánh, phó sứ 1248 cho đắp đê dọc sông Nhị Hà Hàng năm mọi ng ời đều phải có nghiệp
vụ tu sửa đê diều, không ai đợc miễn trừ phải chịu những nghiệp vụ tô thuế và lao dịch 1378, bắt dầu đánh thuế thân, đồng lạot thu mỗi hộ
đinh nam 3 quan tiền
Có những biện pháp khuyến khích thủ công nghiệp và thơng nghiệp, cha áp dụng chính sách ức thơng ngặt nghèo nh các triều Lê, Nguyễn saunày
Là vơng triều qc quý tộc nhà Trần đã phát triển bộ phận kinh tế quý tộc quan liêu, với chế độ thái ấp điền trang, sử dụng lao động của tầnglớp nông nô, nô tỳ Thái ấp là ruộng đất do nhà vua ban cấp cho các quý tộc và triều thần có công, có thể lấy từ ng ời này ban thởng cho ngờikhác Điền trang là những trang trại lớn của các quý tộc đời Trần, do quý tộc trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động của gia nô, nô tỳ, cóquyền thừa kế
Năm 1268, triều đình xuống chiếu cho các vơng hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán, không có sản nghiệp làm nô tỳ đểkhai khẩn đất hoang lập điền trang
3)Đánh giá
Việc gây dựng vơng triều Trần là một thời kỳ lịch sử dân tộc có nhiều chuyển biến quan trọng Nhà Trần đã tiến hành những biện pháp nhằmkhôi phục kinh tế, khai khẩn đất hoang , mở rộng diện tích nông nghiệp, cho phép các vơng hầu, quý tốc khai khẩn đất đai, thành lập các điềntrang Chú trọng đắp đê phòng lụt, đào thêm một số kênh, sông có tác dụng giao thông thuỷ lợi Ruộng đất t hữu phát triển mạnh, chế độ thuếkhoá đợc quy định trên cơ sở chế độ sở hữu ruộng đất
Bên cạnh đó sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp cũng đợc phục hồi, một số ngành nghề thủ công tiếp tục đợc phát triển, các đơn vị
đo lờng dần dần đợc thống nhất trong cả nớc, một số trọng tâm thơng mại xuất hiện
Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hoá dân tộc Chữ nôm bắt đầu xuất hiện, phổ biến và vận dụng trong sáng tác văn học Các ngành cóthành tựu đáng kể, tổ chức bộ máy nhà nớc và pháp quyền đợc củng cố thêm một bớc, là thời kỳ có những chiến công vĩ đại trong 3 cuộckháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên Mông mang đậm đà bản sắc dân tộc
Câu 11:Trình bày, phân tích đánh giá t t ởng cải cách hành chính của Hồ Quý Ly những năm đầu thế kỷ 15?
Trang 16Trả lời:
1)Khủng hoảng cuối thời Trần và yêu cầu cấp thiết cái cách duy tân đất nớc
Từ nửa cuối thể kỷ XIV, nhà Trần đã không chăm lo đến thuỷ lợi đê điều và ác chính sách khuyến nông tích cực khác, lại còn vơ vét tiền của,thóc gạo của nhân dân Xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng Các điền trang ngày một t phát triển, nhng sản xuất lại trở nên trì trệ, đờisống các nông nô, nô tỳ trong đó bị bần cùng hóa Mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra, nông dân nổi dậy bạo động, điển hình là cuộc khởinghĩa của Ngô bệ ở núi Yên Phụ (Hải Dơng) 1344 - 1360
Triều đình ngày càng sa đoạ nhiều đại thần mắc tệ nạn tham nhũng, rợu chè, cờ bác, tham ăn, hiếu sắc Nhà vua (Trần Dụ Tông) cũng ănchơi xa xỉ truỵ lạc Chu Văn An đã từng dâng sớ thất trảm, xin chém 7 gian thần, nhng bị từ chối Dơng Nhật Lễ (con ngời phờng chèo, cháu
Dụ Tông) nối ngôi Dụ Tông, gây sự biến mu đổi họ, bị các triều thần lật đổi, gây nên khủng hoảng cung đình
Bên ngoài, Champa nhiều lần gây xung đột Champa với Đại Việt đem quân vào đánh phá Thăng Long Du Tông đi đánh Champa, lân nạntại thành Đồ Bàn Chỉ đến khi c Chế Bồng Nga tử trận (1396) chiến tranh mới tạm yên Tiếp đó; nhà Minh ở ph ơng Bắc lại gây sức ép, hạchsách, đòi cống nạp, mợn đờng, đe doạ xâm lợc, càng làm cuộc khủng hỏng thêm sâu sắc, đe doạ sự tồn tại trong vơng triều
Nh vậy, vào nửa cuối thế ký XIV, đất nớc đứng trớc cuộc khủng hoảng kinh tế - xác hội, trớc xu hớng phân tán và ly tâm đang phát triển vàlan rộng Đất nớc đứng trớc nguy cơ bị xâm lợc Nhà nớc TRần đã suy yếu, bất lực, không còn khả năng điều hành đất nớc, nhng lại muốngiữ nguyên cơ chế cũ Đất nớc muốn vợt qua cuộc khủng hoảng đòi hỏi phải cải cách Muốn vậy phải có khu vực TW tập quyền vững mạnh
đủ khả năng thực hiện cuộc cải cách, lãnh đạo dân tộc đánh thắng giặc ngoại xâm
Để thực hiện yêu cầu đó, điều cần thiết đầu tiên là phải gạt bỏ những quý tộc Trần bảo thủ ra khỏi bộ máy điều hành đất n ớc, xóa bỏ kinh tế
điền trang, góp sức lãnh đạo trong nông nô, nô tỳ, xóa bỏ nền quân chủ quý tộc không còn phù hợp với xu thế phát triển trong đất n ớc, xâydựng 1 nhà nớc quân chủ liên quan với quan hệ sản xuất địa chủ tá điền chiếm u thế và đị vị xã hội chủ đạo
Từ giữa thế ký XIV đã xuất hiện tình trạng cải cách 1 số quan liêu - song đều bị bác bỏ Cuộc đấu tranh giữa 2 khuynh hớng bảo thủ quân chủquý tộc và khúng hớng quân chủ tập trung quan liêu (trong lực lợng quan liêu - nho sĩ, tiêu biểu là HQL) diễn ra khi âm thầm , lúc quyết liệtliên tục suốt 300 năm (1370 - 1400)
2.Những cơ sở và biện pháp cải cách trong HQL
Từ 1375, khi đợc giữ chức nhập nội chính thái s bình chơng quân (1394) HQL đã thi hành nhiều cơ sở và biện pháp cải cách trên các mặt đờisống xã hội
-Cải cách chính trị và quân sự:1375, HQL đã đề nghị xóa bỏ chế độ lấy ng ời tôn thất làm các chức chỉ huy quân sự cao cấp, định lại số quân,
đa lực lợng trẻ vào 1397, đặt quy chế về hệ thống quan lại địa phờng, thống nhất việc quản lý từ TW địa phơng Các chức An phủ sứ ở lôphải quản toàn bộl lộ đến các phủ, huyện, châu trong lộ Lộ trực tiếp chịu trách nhiệm trớc nhà nớc TN
HQL loại bỏ dần tầng lớp quý tộc tôn thất tràn khỏi BM chính quyền ., thay thế dần bằng tầng lớp nho sĩ trí thức có t tởng cải cách Từtháng 2-1400 nhà Trần hoàn toàn mất hết quyền binh dù chỉ là danh nghĩa, thiết chế , qui chế quý tộc của nhà Tràn hoàn toàn sụp đổ Chínhquyền chuyển sang tay họ Hồ HQL ra sức tuyển chọn, đề bặt và tổ chức thi cử để nhanh chóng đào tạo 1 đội ngũ quan liêu mới cho nhà n ớc.Chế độ quân chủ quý tộc chuyển dần sang chế độ quân chủ quan liều từ cuối thế kỷ XIV sang đầu thế kỷ XV
+Về quân sự, HQL định lại binh chế, chỉnh đốn quân đổi về mặt tổ chức Tổ chức lại quân túc vệ, đặt thêm các hiệu quân, tăng c ờng kỷ luậtquân đội, Thải các tớng sĩ bất tài, sức yếu, bổ sung nhiều ngời khỏe mạnh, kể các các s tăng, am tờng võ nghệ, tăng cờng quân số và các lực l-ợng quân sự địa phơng Quân đội đợc biên chế thành các quân, độ, vệ Đứng đầu có các đại tớng, đô tờng, đồng đô tớng và phó đô tớng quân.Các đơn vị đặt các chức đại đội trởng, đại đội phó, đô đốc, đo thống, tổng quản, thái thú Cầm quân có 20 vệ quân th ờng trực biên chế thànhnhiều quân, mỗi quân gồm nhiều vệ, mỗi vệ có 18 đội, mỗi đội có 18 ngời Tiến hành lập sổ hộ tịch để kê khai dân số toàn quốc, ghi tên tấtcả những ngời con trai từ 2 tuổi trở lên, cấm ẩn lậu nhận định nhằm tăng cờng quân số với ý đồ xây dựng đạo quân 1trăm ngời
Cho xây dựng 1 kinh thành mới bằng đá kiên cố ở An Tân (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) gọi là Tây Đô (phân biệt với Thăng Long, đ ợc đổi thành
Đông Đô) thờng đợc gọi là thành nhà Hồ Cuối 1397 ép vua Trần dời về kinh đô mới Chế độ Thái th ợng hoàng tạm bãi bỏ nhng khi nhà Hồ
Trang 17thành lập, 1401 HQL nhờng ngôi cho con (Hán thơng) tự xng là Thái Thờng Hoàng HQL chủ trơng cải tiến vũ khí và trang bị, thực hiệnnhiều biện pháp nh mở xởng rèn đúc vũ khí, tuyển các thợ giỏi vào các quân xởng, nhờ vậy đã chế tạo ra đợc nhiều loại vũ khí mới, lợi hại
nh súng thần cơ, là loại đại bác đầu tiên ở nớc ta Đạn đúc bằng gang, đồng đá, có sức xuyên phá và khả năng công phá lớn, có hiệu suấtsát thơng cao, ngoài ra còn có các loại pháo nhỏ, súng bắn bằng đạn ghém, đạn lửa Bên cạnh đội cung tên giáo mác, kích, máy bắn đá trong quân đội nhà Hồ bắt đầu có bộ phận pháo binh So với các triều đại trớc, trang bị của quân đội Nhà Hồ có 1 bớc phát triển Nhà Hồ còn
mở xởng đóng thuyền đinh sắt để chuẩn bị đối phó sự xâm lợc của nhà Minh Cổ lâu thuyền là 1 loại thuyền chiến lớn gồm 2 tầng, tầng trên
có sàn tre cho quân cơ động chiến đấu, tầng dới có 1 hệ thống mái xhe đó là những vũ khí lợi hại của nhà Hồ
HQL chủ trơng xây dựng hệ thống phòng thủ quốc gia với nhiều công trình kỹ thuật quân sự khá lớn nh các thành Tây Đô, Đa Bang, cùng với
1 hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn kéo dài gần 400km từ núi Tản Viên men theo sông Hồng, Đà, Luộc đến cửa sông Thái Bình,gồm những bãi cọc, xích sắt làm chớng ngại vật cùng với các đồn quân đóng khắp các cửa sông, nguồn quan ải
1400 HQL lên ngôi, đặt lệ cử quan ở Tam quan và Nội Nhân đi về các lộ thăm hỏi chính sách của nhân dân và tình hình quan lại để thăng,giáng Trớc khi lên làm vua 1397 HQL đã cho đổi trấn Thanh Hoa trấn Thanh Đô, Trấn Quốc Oai Quảng Oai, Lạng Giang LạngSơn và qui định chế độ làm việc 1402 nhà Hồ xuất quân đánh Champa Vua Champa phải nộp 2 vùng đất chiêm Động và Cổ Luỹ 1404, 1lần nữa nhà Hồ đánh vào Champa nhng không có kết quả gì, phải rút quân về nớc
-Cải cách kinh tế - tài chính
Cải cách nổ bật nhiều là việc ban hành tiền giấy (1396) gọi là "Thông bảo hội sao" có các loại 10 đồng, 30 đồng, 2 tiền, 3 tiền, 5 tiền, 1 quan.Tất cả mọi ngời phải đem tiền đồng đổi lấy tiền giấy, Cấm làm tiền giả
Nhà nớc qui định: ai làm tiền giả phải tội chết, ai còn dùng tiền đồng bị bắt đợc cũng phải tội nh làm tiền giả và bị tử hình 1403, trớc phảnứng của nhân dân, nhà Hồ ban hành điều luật về tội không tiêu tiền giấy, nâng giá hàng hay đóng cửa hàng Nhà hồ cũng đặt chức thị giám,ban mẫu về cân thớc thng đấu
1397 ban hành chính sách hạn điền Nhà nớc qui định trừ đại vơng và trởng công chúa, còn tất cả mọi ngời không đợc có quá 10 mẫu Ngờinào có nhiều ruông đợc phép đem chuộc tội, nếu không cũng phải đem nộp cho nhà nớc
1402 Hồ Hán Thơng cải cách thuế đinh, nam, không đánh đồng loạt mà theo luỹ tiến, ngời ít ruộng mức thuế nhẹ đị, không có ruộng và hạngcô quả không thu thuế Phép hạn điền đã đánh mạnh vào thế lực của tầng lớp quý tộc điền trang và địa chủ t hữu, tăng nguồn thu nhập cho
su thuế nhà nớc Cùng với chính sách thuế,phép hạn diền phần nào có lợi cho những ng ời nghèo ít ruộng, mặt khác, chặn đứng xu thế pháttriển tự nhiên của ruộng đất t hữu
1401, ban hành chính sách hạn nô, Chiếu theo phẩm tớc, cấp bậc mà đợc 1 số gia nô theo qui định chung của nhà nớc Số thừa phải sungcông, Nhà nớc trả cho 1 gia nô là 5 quan 1402 ban hành chính sách thuế khóa mới định lại biểu thuế đinh và thuế ruộng Mỗi mẫu ruộng thu
5 thăng thóc, đất bãi trồng dâu chia ra làm 2 loại để đánh thuế, bậc cao nhất thu 5 quan, thấp nhất thu 3 quan (thời Trần thu đồng đều 7 9quan) thuế nhận đinh bỏ cách đánh thuế đồng đều dới thời Trần (1378) 3 quan mỗi đinh mà đánh theo lỹ tiền số ruộng của chủ
Nhà Hồ cho các lộ làm lại sổ hộ, liên kết những ngời từ 2 tuổi trở lên Nhà nớc dân phiêu tán đều bị loại ra ngoài sổ, dân kinh thành trú ngụ ởcác phiên Trần phải trở về quê quán Khi sổ làm xong, số dân từ 15 - 60 tuổi tăng gấp 2 lần
1405, nạn đói xảy ra, nhà Hồ đã lệnh cho các quan địa phơng đi khám xét nhà giáu có thừa thóc, bắt phải bán cho dân đói theo thời giá Bêncạnh đó cũng đặt Quảng tế thự để chữa bệnh cho dân cùng với phép hạn điền, phép hạn nô về cơ bản đã làm suy sụp tầng lớp quý tộc cũNhà Trần và nền kinh tế điền trang, tăng cờng thế lực kinh tế của nhà nớc TW
-Tổ chức HC: đổi 1 số lộ thành trấn
ở các lộ thống nhất quản lý ở quan đô hộ, nâng các châu thành lộ, giúp việc cho đô hộ vẫn là an phủ sứ (chánh, phó) ở các phủ cố trấn phủ
sứ (chánh, phó) ở các châu đặt là thông phán và phiên phán ở huyện đặt lệnh uý, chủ bạ tuỳ theo huyện to hay nhỏ
Khôi phục chức giáp Để tăng cờng GTLB đặt trạm dịch (trạm để chuyển dịch, tiếp dẫn và truyền nối thông tin), đặt chức liêm phóng sứ
Trang 18Củng cố kiện toàn bộ máy hành chính, đặc biệt cọi trọng chính sách cai trị, chế độ cai quản của quan lại, chế độ trực thuộc, phải nắm lộ, lộnắm châu, châu nắm huyện.
-Cải cách văn hóa giáo dục:
Tinh thần cải cách văn hóa giáo dục của HQL đợc thể hiện từ 1392 khi ông làm sách "Minh Đạo" (con đờng sáng) nêu lên quan điểm riêng vềnho giáo, hạ thấp vai trò của Khổng Tử, chế trách các nhà Tống nho, đề cao Chu Công, phê phán Nho gia là những ngời "học rông nhng tàikém, không quan thiết đến sự tinh, chỉ chuyên việc lấy cắp văn chơng của ngời xa"
HQL là ngời có ý thức đề cao chữ nôm 1935, từ nôm dịch thiên Võ Dật trong sách thợng th ra chữ nôm để dạy vua Thuận Tông 1936 lạidịch kinh thi để dạy cho cung phi và cung nhân Cho sửa đổi chế độ thi cử, đặt kỳ thi H ơng ở địa phơng và thi hội ở kinh thành, bỏ lối ám tả
cổ văn, qui định cụ thể nội dung và hình thức cho mỗi kỳ thi Thí sinh phải thêm 1 kỳ thi viết và làm tính (1403) đa môn toán vào nội dung thi
cử 1397, chủ trơng mở trờng học ở các Châu, Phủ, củ các quan giáo thụ trông coi, đôn đốc việc học tập Cấp ruộng học điền cho các địa ph
-ơng từ 15 12 mẫu để chi tiêu cho việc học tập, giáo dục Cuối năm phải kén chọn đ ợc ngời giảo đa vào triều để vua sát hạch lại, rồi bổdụng
1396, HQL bắt tất cả các nhà s cha đến 50 tuổi phải hoàn tục để LĐ và tổ chức thi về giáo lý nhà Phật, ai thông hiểu đạo phật mới đ ợc ở lạilàm sứ, Ngăn cấm và xử phạt nặng nề ngời làm nghề phơng thuật
3.Đánh giới,
HQL là 1 nhà cải cách táo bạo và kiên quyết ông đã ban hành nhiều chính sách và biện pháp cải cachs trên nhiều phơng diện
Cải cách của HQL xét về nội dung nhằm thực hiện 2 mục tiêu:
-Củng cố va tăng cờng chế độ tập quyền
-Giải quyết các mâu thuẫn kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu lịch sử do cuộc khủng hoảng đặt ra
Những mục tiêu nói trên của công cuộc cải cách chứng tỏ HQL đã nhận thức đ ợc những ghi nhận sâu xà của cuộc khủng hoảng cuối thờiTrần và mạnh dạn tiến hành các chính sách cải cách và biện pháp cải cách ông đã đảm nhận vài trò ngời khởi xớng và tổ chức lãnh đạo côngcuộc cải cách để thực hiện mục tiêu, định hớng đã đề ra Có thể kiên định rằng HQL đã đóng vài trò là ng ời mở đầu 1 thời điểm cải cáchquan trọng trong lịch sử trung đại Việt Nam
Xét về định hớng, mục tiêu và kết quả của công cuộc cải cách, ta thấy HQL đã loại bỏ đợc tầng lớp quý tộc Trần vra khỏi bộ máy nhà nớc vàngày càng bổ sung ddợc đội ngũ quan liêu - nho sỹ mới vào nắm chính quyền; bộ máy hành chính và quan lại từ TW địa phơng đợc chấnchỉnh lại làm cho chế độ cai trị mang tính pháp trị cao hơn Do đó đã có t/d làm chuyển dần thiết chế chính trị từ chế độ quân chủ quan liêu
đó cha đợc xây dựng hoàn chỉnh dới triều Hồ do cuộc xâm lợc của nhà Minh (cuối 1406 đầu 1407) đã làm cho công cuộc cải cách bị bỏ dở,song nó sẽ đợc tiếp nối và hoàn chỉnh ở nửa cuối thế kỷ XV dới triều đại vua lê Thánh Tông (1460 - 1497) Điều đó cho thấy trong điều kiệnlịch sử Việt Nam bấy giờ, mục tiêu, định hớng và kết quả của công cuộc cải cách là đúng hớng đáp ứng những yêu cầu khách quan nằmtrong xu thế phát triển nội tại của nớc ta, là 1 bớc tiến của lịch sử Đại Việt không chỉ ở mặt thiết chế chính trị, mô hình nhà nớc mà còn ởlĩnh vực kinh tế - xá hội, xóa bỏ loại hình kinh tế điền trang đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp và cản trở sự phát triển sức sản xuất vàyêu cầu củng cố quốc gia thống nhất, tập quyền
Tuiy nhiên, cải cách của HQL còn bộc lộ 1 số hạn chế quan trọng nh sau:
+Trong quá trình thực hiện cải cách đã thiếu triệt để trong 1 số chính sách cơ bản nh : hạn điền trang, hạn nô phát hành tiền giấy, hạn chế sốlợng ruộng đất của "thứ dân" và quan lại (trừ đại vơng trởng công chúa) đã hạn chế sự phát triển của chế độ t hữu ruộng đất Tình hình đókhông phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử đơng thời, cần thiết lập 1 chế độ TW tập quyền
+Công cuộc cải cách của HQL đợc thực hiện trong hoàn cảnh lịch sử đầy những khó khăn, phức tạp vừa phải giải quyết cuộc khủng hoảngcủa xã hội trên nhiều mặt, vừa phải đối phó với nạn ngoại xâm đang đến gần và sự chống đối quyết liệt của quý tộc tổn thất nhà Trần.Những hạn chế trong công cuộc cải cách đã t/d xấu đến khả năng đoàn kết toàn dân để chống giặc ngoại xâm của nhà Hồ Cùng với nhữngsai lầm trong tổ chức và chỉ đạo chiến tranh trong cả chiến l ợc và chiến thuật, không tổ chức và thực hiện đợc 1 cuộc chiến tranh nhân dân,
Trang 19chỉ sau hơn nửa năm cuối 1406 đầu 1407) Quân Minh xâm lợc, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo đã thất bại, vì HQL chỉ lo xây dựng thếtrận phòng thủ bằng thành lũy mà không biết xây dựng thế trận lòng dân Chính Hồ Nguyên Trừng con trai cả của HQL cũng đã nói lên điều
đó khi phát biểu "Tôi không sợ đánh giặc mà chỉ sợ lòng dân không theo" Và HQL cũng đã thừa nhận khi thởng cho HNT hộp trầu vàng.Cuộc kháng chiến bị thất bại kéo theo sự sụp đổ của vờng triều Hồ và làm thất bại cuộc cải cách đang dang dở của HQL Cuộc xâm lợc củanhà Minh là 1 nhân tố bên ngoài góp phần quyết định sự thất bại của cải cách HQL
Mặc dù thất bại, HQL không hề nản chí trớc muôn vàn khó khăn, thử thách to lớn, quyết tâm cải cách để đổi mới và đánh giặc để bảo vệ đấtnớc, điều đó chứng tỏ rằng là 1 ngời yêu nớc thiết tha Cải cách của HQL cuối thế kỷ XIVf đầu thế kỷ XV có ý nghĩa mở đầu cho 1 b ớc pháttriển mới trong lịch sử Việt Nam thời kỳ trung đại, để sau đó vào cuối thế kỷ XV đợc tiếp tục và hoàn chỉnh với những cải cách của Lê ThánhTông
Nền hành chính n ớc ta d ới thời lê sơ - thế kỷ XV Câu 12 + 15:
12.Đặc tr ng cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính n ớc ta thời Lê Sơ thế kỷ XV?
15.Đặc tr ng nền hành chính n ớc ta thời Lê Sơ?
Trả lời:
Từ lúc đem quân ra Đông Đô, Lê Lợi đã chia nớc làm 4 đạo: Đông - Tây - Nam - Bắc 1428 khi Lê Lợi lên ngoi hiệu là Lê Thái Tổ, đặt kinh
đô tại thành Đông Quang - đặt là Đông Kinh, khôi phcụ lại tên n ớc là Đại Việt Chia nớc thành 5 đạo: Đông - Tây - Nam - Bắc (tơng ứng vớiBắc bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa)
Dới đạo là trấn, lộ, huyện, châu Đơn vị hành chính cơ sở là xã, gồm 3 loại:
1471 sau khi chiếm đợc vùng đất ở phía nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, Thánh Tông lập thêm thứa tuyên thứ 13: Quảng Nam
1490 Bản đồ trong nớc đợc xác định gồm: 13 đạo thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hơng, 36 phờng, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang,
40 sách, 40 động, 30 nguyên, 36 trờng Các xã đợc quy định lại: xã lớn 500 hộ, xã vừa từ 300 hộ trở lên, xã nhỏ từ 100 hộ trở lên Kinh ĐôThăng Long (Đông Kinh) gồm 2 huyện Thọ Xơng và Quảng Đức Ngoài ra còn có Tây Kinh (hay Lam Kinh tức Lam Sơn - Thọ Xuân -Thanh Hóa)
Về mặt chính quyền
Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quàn tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà n ớc quân chủ tập trung, mang tínhquan liêu chuyên chế Đến thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) nó đạt tới đỉnh cao, trở thành 1 nhà nớc toàn trị, cực quyền Đây là 1 bớc ngoặtmang tính lịch sử chuyển đổi mô hình, từ nền quân chủ quý tộc thời Lý Trần mang đậm tính phật giáo màu sắc Đông Nam á sang 1 nền quânchủ quan liêu nho giáo Đông á
Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời Lê Sơ, vai trò của nhà vua đã đợc đẩy lên rất cao với chủ nghĩa "tôn quân" Theo đó nhà vua là "contrờ" giữ mệnh trời, thay trờ trị dân, các ấn tín của vua đều khác chữ "Thuận thiên thừa rận" "Đại thiên hành hóa"
Thái tổ chấn chỉnh lại bộ máy nhà nớc theo mô hình thời Trần Dới vua có 2 chúa tả tớng quốc, hữu tớng quốc Lập t đồ, t mã, t không (tam t),tam thái, tam thiếu, bộc xạ giúp việc bàn bạc, quyết định những công việc của triều đình
Tiếp đến là 2 ban; văn, võ