Lễ hội đền Tả Phủ Xứ Lạng
Trang 1Lễ hội đền Tả Phủ Xứ Lạng
Từ ngày 22 -27 tháng Giêng, năm Tân Mão các nghi lễ đặc sắc như: cướp đầu pháo, rước kiệu trong chương trình lễ hội (LH) đền Tả Phủ Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, đã được tổ chức thành công tốt đẹp, tạo ấn tượng sâu đậm về một LH truyền thống tiêu biểu của Lạng Sơn
Trong buổi sáng, nghi lễ cướp đầu pháo tại sân đền Tả Phủ diễn ra thật náo nhiệt Sau những màn pháo hoa lung linh, đẹp mắt, đầu pháo xuân Tân Mão 2011 đã được tung ra
để người dự hội tranh cướp Phần tranh đầu pháo thật hào hứng, thu hút đông đảo người dự hội tham gia Kết quả, anh Hoàng Vĩnh Hon, 24 tuổi, trú tại số nhà 263 đường
Bà Triệu, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn đã cướp được đầu pháo LH xuân Tân Mão 2011 Theo quy định của Ban tổ chức, người cướp được đầu pháo sẽ giữ thờ tại nhà hạn đến ngày 20 tháng giêng năm sau sẽ phải rước trả lại đền để Ban
tổ chức tiến hành nghi lễ này trong LH năm mới Về phần thưởng, người cướp được đầu pháo được thưởng 500 ngàn đồng kèm theo một mâm xôi gà, một mâm ngũ quả Ngay sau các thủ tục công bố người thắng cuộc và làm lễ bái thần, đội sư tử đã rước đầu pháo về tận nhà cho người thắng cuộc…
Buổi chiều cùng ngày, nghi lễ rước kiệu từ đền Tả Phủ Kỳ Lừa xuống đền Kỳ Cùng (phường Vĩnh Trại) đã được tổ chức thuận lợi Đoàn rước kiệu trên các đường phố chính của thành phố đi đến đâu là được chào đón, hò reo vui mừng đến đó Nhân dân hai bên đường đã sắm lễ nghênh đón rất trang trọng Các đội sư tử, lân, rồng vào chúc mừng các gia đình, tổ liên gia khiến cho mọi người cảm nhận được LH đến rất gần với mỗi người, mỗi gia đình
LH đền Tả Phủ Kỳ Lừa được mở ra hàng năm từ ngày 22 đến 27 tháng giêng là dịp để nhân dân tri ân công đức của Thân Công Tài – người đã có công khai lập ra phố chợ
Kỳ Lừa, trở thành một nơi giao thương, buôn bán sầm uất của thương khách gần xa
Trang 2xưa kia và ngày nay Nằm trong phố chợ Kỳ Lừa hiện có ngôi đền Tả Phủ thờ Thân Công Tài và chợ đêm Kỳ Lừa là một địa chỉ du lịch văn hóa, du lịch mua sắm hấp dẫn của du khách đến Xứ Lạng… Theo truyền thống, LH đền Tả Phủ thường được tổ chức cùng thời gian với LH đền Kỳ Cùng Trong các ngày 22 và 27 tháng giêng bao giờ cũng
có nghi lễ rước kiệu giữa hai ngôi đền này đã góp phần tạo ra không khí náo nức và làm nên những nét đặc sắc cho LH rất tiêu biểu trong kho tàng di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Lạng Sơn
Có thể nói, LH trên đã nêu cao đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: Uống nước nhớ nguồn; thiết thực góp phần làm tăng tính đoàn kết gia đình, cộng đồng làng xóm Mặt khác, qua ý nghĩa lịch sử - văn hóa của LH, mỗi người càng hiểu sâu sắc hơn
về đất và người Xứ Lạng xưa và nay
Độc đáo lễ hội Cầu trâu ở Hương Nha – Phú Thọ
Cứ vào độ giêng hai, nhân dân xã Hương Nha (Tam Nông) lại nô nức mở hội Cầu trâu
để tưởng nhớ vị tướng tài có công với dân với nước Trong dịp lễ hội, người dân ở đây làm các loại bánh như: Bánh chưng, bánh dợm, bánh dầy để mời khách thập phương
và coi ngày hội là ngày tết chính trong năm.Tương truyền vào nửa đầu thế kỷ nhất sau công nguyên, khi hai bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc Đông Hán, ở châu Đại Man
có người con gái tên gọi Xuân Nương tài sắc vẹn toàn, thùy mị, nết na, võ nghệ tinh thông, viết chữ và tính toán đều giỏi đến mức các bậc “tu my nam tử” cũng không ai sánh kịp Xuân Nương còn công, dung, ngôn hạnh, tứ đức kiêm toàn Người trong Châu đều khen nàng là bậc nữ anh hùng Cha mẹ mất sớm, anh trai nàng bị tên Thái thú Tô Định sát hại, trong lòng căm giận lắm bèn chiêu tập binh mã nguyện báo thù cho anh Nàng cắt tóc giả làm Ni sư đi đến các phủ, huyện tìm cảnh nhà chùa để chiêu tập binh hùng tướng mạnh Tuy phận nữ, nhưng tài năng vượt chúng, trong thiên hạ không ai sánh kịp Nàng luôn thiện tâm giúp
kẻ yếu, phù trợ người nguy lấy lòng nhân làm phúc, nàng ở chùa Hương Nộn (Tam Nông) gần được một năm Nhân dân trong vùng kính phục gọi nàng là bậc “Nữ trung hào kiệt khí tiết hơn người” coi đức của nàng như núi, như biển Lúc bấy giờ, Bà Trưng dấy cờ khởi nghĩa đánh Tô Định mà chưa tìm được người con trai nào thao lược hơn tài Cũng khi đó Trưng Vương nghe thấy Xuân Nương là bậc nữ trung hào kiệt có chí báo thù cho anh, hiện đang nuôi nhiều tướng sỹ trong nhà, tài danh lừng lẫy Do vậy bèn lệnh cho Trưng Nhị truyền hịch nghênh đón Xuân Nương về cùng dốc lòng giúp
Trang 3nước, rửa thù chung Khi tập hợp được hơn 1000 người, vào ngày 3/5, nàng đem hết binh hùng giao cho Trưng Nữ Vương Trưng Nữ Vương ban cho nàng thống lĩnh quân nội thị nữ tốt bên tả, tức là quân Đông Phương và cải tên nàng là “Ả nương công chúa
đệ bát vị” để tham gia vào việc chính sự
Sau này khi Xuân Nương mất, nhân dân trong xã và dân các vùng lân cận về mở hội và
tổ chức Lễ hội Cầu trâu để tưởng nhớ công đức của bà Lễ hội Cầu trâu được tổ chức vào ngày 2 tháng giêng hàng năm để nhớ lại câu chuyện xưa nhân dân dâng trâu để
Bà khao quân, khao tướng khi thắng trận trở về Còn hội Hương Nha được tổ chức vào ngày 10 tháng giêng âm lịch Đây là lễ hội thu hút hàng vạn khách thập phương cũng
về tụ hội Lễ hội Hương Nha được truyền như sau:
“Mồng mười là hội Hương Nha
Mười hai Gia Dụ, mười ba hội Hiền”
Lễ hội Hương Nha được tổ chức đều đặn hàng năm để tưởng nhớ về công đức của nữ tướng Xuân Nương cùng các trò diễn xướng khi Bà tổ chức cùng binh lính Đặc biệt là
Lễ hội Cầu trâu được nhân dân chuẩn bị cẩn thận và chu đáo từ 20 tháng chạp dân làng đã họp bàn để chọn mua trâu Trâu phải là trâu đực béo khỏe Người được chọn nuôi trâu gọi là: “Chứa lềnh” chủ chứa lềnh nhất thiết phải ăn chay từ khi rước trâu về Lán của trâu phải làm bằng vật liệu mới, mỗi buổi chiều chủ chứa lềnh phải đem trâu ra bến tắm sau đó tự tắm cho mình Đến 7 giờ tối ngày 2 tháng giêng nhà chứa lềnh phải làm một cỗ gà và một cỗ chay gồm củ mài, mía ngọt, chè lam, chè kho và hoa quả cùng một hũ rượu mộng Tối đến chủ tế và dân làng cùng 12 “ con chùa” (12 trai tân trẻ khỏe với 12 vồ để khảo trâu - cầu trâu) đến nhà chứa lềnh rước trâu ra đền Hạ (còn gọi
là miếu thờ ông) nơi đây thờ thập bộ thần quan và những tướng sỹ khi nghe tin bà mất
đã nhảy xuống hồ tuẫn tiết để tỏ lòng trung của bầy tôi Trước khi làm lễ Cầu trâu người
ta đốt bên cạnh cột buộc trâu 2 bó đuốc bằng nứa khô, sau đó nhà sát làm lễ mật xin khẩn âm dương rồi 12 con chùa múa, cúng trước cửa đền trước khi cầu trâu Khi trâu ngã gục và chết nhà sát phải thử lửa vào bộ phận “sinh thực khí” là bộ phận nhạy cảm nhất của trâu xem trâu đã chết chưa, nếu chưa chết nhà sát cho các con chùa đánh tiếp đến khi trâu chết hẳn nhà sát mới được mổ Khi trâu được lột da, người ta chôn 4 chiếc cọc rồi căng da trâu làm “nồi da nấu thịt” tái hiện việc mổ trâu khao quân của nữ tướng Xuân Nương xưa khi dân làng dâng trâu để bà khao quân Người ta còn cắt 12 miếng thịt trâu ngon ở bắp làm 12 quả đài xinh để tế thần Sáng ngày 3 âm lịch người dân tổ chức lễ “chạy chài” Lễ gồm thịt và lòng trâu đặt trên mâm tre Sau nhà sát đội ra bến Gềnh cúng lễ, trên đường đi lễ về người dân thi nhau tranh cướp lễ vật Quan niệm
từ xưa nếu ai cướp được lễ vật thì năm đó làm ăn phát đạt, con cháu thuận hòa gặp nhiều may mắn Nhân dân Hương Nha còn có tục rước kiệu từ đình Thượng xuống đình Hạ, bến Lão Châu nơi xưa Xuân Nương thường tổ chức hội quân ở đây, ngày hội còn tổ chức vật thờ, chọi gà và đặc biệt trò bán “ngài” - Người nam giả nữ đi bán tằm thực chất trong đó là truyền dụ của Trưng Vương truyền cho Xuân Nương về dưới trướng dựng cờ khởi nghĩa Những địa danh với tên làng, tên đất tên quê đã đi vào lịch
sử với đình Thượng, miếu Bà, Giếng Ngự, Ao Săm, bến Láo Châu… vẫn còn những chứng tích một thời: Giếng Ngự xưa kia bà Xuân Nương thường tắm gội, chải tóc soi gương Đình Thượng, đình Hạ, miếu Bà là nơi khi xưa bà bị thương chảy máu lênh
Trang 4láng, nhân dân đã lập đình, miếu để thờ Còn bến Lão Châu khi xưa nữ tướng Xuân Nương thường hội quân ở đó.
Ngược dòng lịch sử về với Hương Nha để nhớ một thời oai hùng oanh liệt cùng với lễ hội Cầu trâu đặc sắc, độc đáo ít nơi có được để nhớ về một vị tướng tài kiệt chúng sống mãi trong lòng dân và thời đại Tên tuổi của Bà còn khắc mãi trong nhân gian, trong từng bia đá, sắc phong, hoành phi câu đối:
Tiếng tăm khí tiết lưu muôn thuở Sắc áo ban phong trải khắp triều.
Hiện nay khu di tích:Đền, miếu Hạ của Hương Nha còn lưu giữ được hàng trăm hiện vật quý giá với lịch sử thờ nữ tướng Xuân Nương, đặc biệt có một cuốn ngọc phả viết năm 1572 và một cuốn sao lại sắc phong các triều đại và 3 sắc phong thời Nguyễn
Trang phục lễ hội của người Cà Tu (Quảng Nam)
Với người Cà Tu, trang phục là cội rễ để hình thành nên một bản sắc văn hoá riêng -
văn hoá Cà Tu Thế nên, họ thường diện những bộ trang phục truyền thống vào những
dịp lễ hội truyền thống hay dịp Tết về
Có dịp đến các bản làng của người Cà Tu trong sinh hoạt hằng ngày, vào những dịp lễ
hội truyền thống: Lễ ăn mừng được mùa (Bhuối Aví), lễ ăn mừng nhà Gươl (Lang tơrí),
lễ ăn mừng lúa mới (Cha ha roo tơmêê) hay dịp Tết đến, xuân về, nhìn những thanh
niên thiếu nữ Cà Tu trong bộ trang phục truyền thống của những hoa văn với sắc màu
rực rỡ trên nền vải thổ cẩm như những đoá hoa rừng khoe sắc giữa mênh mông bao la
của núi rừng đại ngàn làm nên một bức tranh văn hoá Cà Tu thật sống động , chắc
hẳn bạn sẽ có ấn tượng đẹp và khó quên bởi trang phục của người Cà Tu ẩn chứa
nhiều nét hoang dã của một dân tộc sống trên vùng Trường Sơn Với họ, trang phục là
cội rễ để hình thành nên một bản sắc văn hoá riêng - văn hoá Cà Tu
Gắn bó với núi rừng Trường Sơn từ bao đời nên trang phục của họ mang màu sắc hoang
dã Được tạo nên từ những nguyên vật liệu
có xuất xứ từ cây trồng, cây, củ, quả có sẵn trong rừng, những chiếc khố (cha lon), áo cột tay (a doót), tấm choàng (a duông), váy dài (cơđơ-ớch) của người Cà Tu là cả một
Trang 5công trình dệt tỉ mỉ, công phu, kiên trì và chịu khó là một nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao.
Để có được những bộ trang phục đẹp mang bản sắc văn hoá riêng cho dân tộc mình, người phụ nữ Cà Tu phải tốn rất nhiều công sức Họ trồng bông, đay lấy sợi rồi tách hạt, tách bông, cán bông, vấn bông, se sợi Các khâu nhuộm cũng không kém phần quan trọng Để có được màu đỏ, họ lấy từ củ nâu, màu chàm từ cây tà râm, màu vàng
từ củ ma rớt cho đến việc dàn cườm để tạo thành những hoa văn trên nền vải như: hoa văn bằng cườm hình hoa Ablơm (hoa tình yêu), hoa văn bằng cườm hình lá Atút (hình chiếc chong chóng), hoa văn bằng cườm hình đàn ông Cà Tu múa tung tung (múa nam), hoa văn bằng cườm hình thiếu nữ Cà Tu múa dadá (múa nữ), lá trầu (A bá), dây buộc nhà Gươl (hơma cating), hoa văn bằng cườm hình hoa hơma tơbang (hoa rừng),
ma não (trang sức)
Sau đó được dệt hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, nhưng những đường nét và các hoạ tiết hoa văn hết sức tinh tế tạo thành dãy hoa văn đặc sắc bằng chì hoặc cườm trắng trên nền vải chàm đen thể hiện tính thẩm mỹ và tài năng sáng tạo cao
Điều dễ nhận thấy qua trang phục lễ hội của người Cà Tu là sự đơn giản, không cầu kỳ
về màu sắc Tuy nhiên, trang phục của họ cũng phản ánh được nhân sinh quan, thế giới quan của người Cà Tu về vũ trụ, trời đất, vạn vật cũng như phong tục, tập quán, sinh hoạt của cộng đồng của dân tộc mình Màu chủ đạo của trang phục người Cà Tu
là màu chàm đen, đây cũng là màu nền của trang phục Người Cà Tu quan niệm rằng: màu chàm đen là màu của đất (abhuyh-Catiếc), màu đỏ là màu của mặt trời (Abhuyh-Plêếng) Đây là hai màu sắc của hai vật thiêng không thể thiếu trong đời sống và trong trang phục của người Cà Tu Màu vàng trên trang phục được người Cà Tu dùng rất ít chỉ là những nét mảnh, nhằm để tạo nên những hoạ tiết hoa văn
Hầu hết trang phục của người Cà Tu đều được bố trí các hoạ tiết hoa văn thành từng mảng nhưng không đơn điệu Chiếc áo cộc tay của đàn ông, thanh niên, trang trí những dãy hoa văn đối xứng, với những vạch sọc có khoảng cách đều nhau được dệt bởi ba màu: vàng, đỏ và trắng, trông nổi bật trên nền vải chàm đen Chiếc khố (cha lon) của đàn ông Cà Tu có chiều rộng khoảng 45cm, chiều dài từ 3m đến 8m, với vạt trước dài, vạt sau ngắn cũng được bố trí các hoạ tiết đường nét hoa văn thành từng mảng lớn
Váy dài (cơđơ-ớch) của phụ nữ Cà Tu có chiều dài khoảng 6m được khâu lại thành hai lớp và có chiều dài khoảng 3m, chiều rộng khoảng từ 1.5m đến 1.7m (tuỳ thuộc vào chiều cao của mỗi người) Váy cũng có nhiều hoạ tiết hoa văn cách điệu như khố của đàn ông nhưng nhìn chung các hoa văn lại tập trung thành mặt phẳng lớn ở phần dưới của thân váy Các hoạ tiết hoa văn ở phần thân váy thường đứng riêng lẻ bằng các vạch sọc như: hoa văn Ablơm (hoa tình yêu), lá trầu, dây buộc nhà Gươl, múa dadá (múa nữ) màu sắc đơn giản, các hoạ tiết hoa văn được thể hiện dưới dạng hình học.Váy ngắn (o réch) có chiều dài từ 80cm đến 1m, rộng 70-80cm được khâu lại bằng chỉ, tạo cho váy có hình ống Khi phụ nữ Cà Tu mặc vào, thân trên ở tầm ngang bụng và để
Trang 6khỏi bị tuột váy họ dùng dây buộc Áo cột tay (A doóh) gồm hai mảnh được khâu lại với nhau có chiều từ 40 đến 60 cm, chiều rộng 50cm-60cm Khi áo được khâu lại có dáng hình cổ chữ V.
Tấm choàng (A duông) là loại dùng cho đàn ông Cà Tu mặc vào các lễ hội truyền thống của buôn làng hoặc vào mùa đông Tấm choàng cũng được dệt trên nền chàm đen có nhiều màu trắng, đỏ vàng Song nhìn chung trang phục lễ hội của người Cà Tu không vì thế mà kém phần hấp dẫn là nhờ ở lối bố cục các hoạ tiết hoa văn thành từng dải, từng mảng và độ chênh lệch cần thiết giữa các dải hoa văn với các màu tương phản trên nền chàm đen của trang phục khiến màu đỏ, vàng, trắng luôn trầm lắng, không rực rỡ sắc màu và cũng không chói chang mà tạo nên được độ sâu và sự nền nã của trang phục
Những nét riêng biệt và độc đáo đó đã làm cho trang phục của người Cà Tu vùng Trường Sơn không giống bất kỳ trang phục lễ hội nào của cộng đồng các dân tộc anh
em sống trên dải đất Việt Nam
Nét văn hóa dân tộc Kháng
Dân tộc Kháng còn có những tên gọi khác là Háng, Brển, Xá với các nhóm đia phương
là Kháng Dẩng, Kháng Súa, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Ma Háng, Bẻng, Bư Háng Cọi…,
dân số khoảng 4 vạn người, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.
Người Kháng là một trong số các dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta Nhà ở của người Kháng gồm hai loại: nhà tạm bợ và nhà kiên cố, gồm 1 mái hoặc 2 mái, không phủ nóc, không có chái, cửa sổ chính thông suốt từ đầu này đến đầu kia và
Trang 7thông với cầu thang lên xuống Người Kháng thích ăn xôi và các món có vị chua cay như cá ướp chua, dưa lá củ ráy…Tục uống bằng mũi (tu mui) là nét văn hoá độc đáo của người Kháng Do chịu ảnh hưởng sau sắc của văn hoá Thái nên trong sinh hoạt hàng ngày người Kháng có nhiều nét giống với người Thái Những bộ trang phục của phụ nữ Kháng rất giống với trang phục của phụ nữ Thái trắng Cũng do nằm trong
sự quản lý của các mường Thái trước đây nên người Kháng không có tổ chức xã hội riêng Kiểu gia đìnhphụ hệ chiếm ưu thế trong bản Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số tàn dư của chế độ mẫu hệ như tục ở rể, vai trò của ông cậu…
Cưới xin và ma chay là những hoạt động mang đậm tính văn hoá của người Kháng Ngày xưa, việc lấy vợ, lấy chồng phải trải qua nhiều nghi thức phức tạp Sau bốn năm đêm tìm hiểu ngủ tại nhà người con gái, nếu đôi trai gái ưng ý nhau thì báo cáo với gia đình để tổ chức lễ ăn hỏi và thực hiện rất nhiều các nghi thức khác trước khi tổ chức cưới Lễ cưới của người Kháng được tiến hành gồm 2 bước: chàng trai đi ở rể và đưa dâu về nhà chồng Thông thường sau 3 năm ở rể, đôi vợ chồng trẻ phải làm lễ ra mắt
họ hàng, nhà trai mới tổ chức cưới lần hai và đón dâu về nhà Ngày nay, các nghi thức trong hôn lễ của người Kháng đã được giản tiện đi rất nhiều, tục ở rể thưa dần và thời gian ở rể cũng ngắn đi…Trong tang lễ người Kháng có tục "chia của" cho người chết gồm chăn đệm, dao bát, đĩa, hòm đựng quần áo, ống nước, giỏ xôi…và những gì người quá cố thường dùng Phía đầu mộ người ta còn chôn một cái cột cao, trên đó buộc một con chim bằng gỗ và một cái áo của vợ hay chồng người quá cố Người Kháng còn tin và thờ cúng nhiều loại ma, trong đó đáng lưu ý là tục thờ ma bố và ma
mẹ Việc cúng bố mẹ được tiến hành ba năm một lần Đây là một trong những lễ cúng lớn nhất, gia đình thường mời anh em, bà con trong bản tới ăn cơm, uống rượu, sau đó múa xoè thâu đêm./
Phong tục cưới hỏi của người Giẻ Triêng (Kon Tum)
Bước sang tuổi 15, các cô gái Giẻ Triêng bắt đầu hành trình đi “kiếm củi hứa hôn” để
“bắt chồng”.
Trang 8Nhiều củi tình yêu càng mặn nồng
Theo một người già nhất trong làng cho biết, con gái người dân tộc Giẻ Triêng ở cực Bắc Tây Nguyên khi bước qua tuổi 15 bắt đầu nghĩ tới việc vào rừng đốn củi để đủ điều kiện “bắt chồng”
Mỗi lần lên rẫy, các bà mẹ lại chỉ dẫn tỉ mỉ cho các cô con gái bé nhỏ của mình cách nhận biết cây củi “hứa hôn” Tiêu chí đốn củi nhiều, đẹp, đều đồng nghĩa với việc sau này tình yêu đôi lứa của cô gái này với chàng trai càng trở nên sâu nặng
Theo phong tục người Giẻ Triêng, trước khi tiến hành nghi lễ “bắt chồng” thì người con gái phải đốn đủ 100 bó củi (dài từ 80 — 90 cm), điều này đã đi vào đời sống của mọi người hàng ngàn năm nay và trở thành “luật bất thành văn”
Củi hứa hôn nhất thiết phải là cây dẻ, một loại cây mọc khá thẳng, vừa chắc phơi khô
và cõng về nhà, khi đốt rất đượm than
Khi đã chuẩn bị củi hứa hôn đồng nghĩa với việc đã biết tỏ tình Củi hứa hôn là của hồi môn nhà con gái đem dành cho nhà trai
Sau khi đã chuẩn bị đủ số lượng củi, cố tìm đến chàng trai mà mình “ưng cái bụng” để
“đánh tiếng”, nếu chàng trai đồng ý thì buổi tối tự nguyện đến tâm sự với cô gái tại nhà Rông
Trang 9Theo phong tục ở đây, chỉ cần quan sát củi hứa hôn có thể đoán biết được phẩm chất, tài khéo léo của người thiếu nữ đó, giỏi giang hay vụng về Cây củi được chặt bằng, bó củi đều nhau có nghĩa cô con dâu khéo tay.
Thiếu nữ phải dùng dao chặt củi thật tỉ mỉ thành 5 cánh nhưng từng thanh củi nhất thiết không được rời ra
Theo tục trước đây, khi đi đốn củi hứa hôn, người con gái phải tự mình vào rừng tìm cây và đốn củi mang về, nhưng nay, người thiếu nữ có thể nhờ người thân giúp đỡ
Theo tục lệ cũ, con trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà Rông, sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ Con gái chủ động trong việc hôn nhân của mình và sự lựa chọn của con
Trước khi lập gia đình, con trai phải biết đan lát, biết tấu chiêng cồng, các cô gái phải thạo đan chiếu, dệt vải (ở những vùng có nghề dệt) Cô gái phải chuẩn bị đủ 100 bó củi đẹp để nộp cho nhà trai trong lễ cưới
Đêm tân hôn không được ăn trái cấm
Sau đám cưới, đôi vợ chồng trẻ được phép ngủ chung với nhau môt sạp nhưng tuyệt đối không được làm “chuyện đó" trong đêm tân hôn mà phải sau ngày cưới một năm, đôi vợ chồng trẻ mới được ăn trái cấm
Từ xưa nay ai cũng vậy, ai chưa đủ một năm đã sinh con thì bị làng phạt vạ, nhẹ nhất là một con heo, còn nặng thì một con bò
Các chàng trai người Giẻ Triêng sau khi tiến hành hôn lễ, phải cắp quần áo sang nhà gái làm phận nô tỳ, thường chàng trai phải ở rể 3 năm trở lên, coi đây là nghĩa cử báo đáp công nuôi dưỡng sinh thành của gia đình nhạc phụ
Sau đám cưới, đôi vợ chồng trẻ phải sống và luân phiên chuyển nhà từ nhà cha mẹ vợ sang nhà cha mẹ chồng, và ngược lại cứ ba đến bốn năm một lần, cho đến khi cha mẹ một bên qua đời mới định cư một chỗ
Lễ “tỏn cộ” của người Thái đen Tây Bắc
ễ “Tỏn cộ” tức là lễ đón cỗ, với ý nghĩa thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của các con rể với
cha mẹ vợ khi cha (hoặc mẹ) vợ qua đời
Trang 10Lễ vật gồm ba mâm cỗ, một mâm là hoa quả (không thể thiếu chuối), bánh, rượu, gạo, tiền, hương Mâm thứ hai có một con vịt, một con gà mổ sạch để cả lòng, tiết Mâm thứ
ba là một con dê, nếu không có dê thay bằng lợn chừng 30 kg Dê (hoặc lợn) mổ sạch, riêng bốn chân từ khuỷu xuống móng, chỏm đầu và bờm để nguyên lông, ruột làm sạch rồi thổi phồng lên quấn quanh thân
Các mâm lễ vật được xếp lên một chiếc thang bằng tre, hóp với ý nghĩa như một chiếc cầu lớn
Người Thái quan niệm khi người chết đi, linh hồn (phi) sẽ tiếp tục sống trên mường trời
trong các “đẳm đoi”, tức là nơi ở của các linh hồn cùng họ tộc Bởi vậy lễ vật, ngoài thể
hiện tình cảm sâu nặng của con rể với bố mẹ vợ, thì còn có ý nghĩa giúp cho bố (hoặc mẹ) vợ có thêm thực phẩm, phương tiện, lễ vật để linh hồn có thể lên mường trời được thuận lợi
Con dê (hoặc lợn) được quấn bộ lòng đã thổi căng ngoài ý nghĩa vật chất còn biểu lộ lòng ngay thẳng, trung thực và hết lòng của con cái với cha mẹ Con vịt là thuyền, con
gà là người cầm lái để linh hồn có phương tiện để có thể vượt qua mọi thác ghềnh đến được mường trời thuận buồm xuôi gió Riêng chuối có một ý nghĩa đặc biệt, nhắc nhớ tới tình yêu của bố mẹ vợ khi còn trẻ đang tìm hiểu nhau, mong đợi, bồn chồn, hồi hộp
ngay cả khi “Bươn siểng ma hau quai/ Bươn hai ma hau ngau cò quẩy/ Ma hau chụ khen suổi bản lắc ma giam” Có nghĩa là: Trăng trong chó sủa con trâu/ Trăng sáng chó sủa cây chuối/ Cứ ngỡ chó sủa người yêu bản xa đến tâm tình Tình yêu trong sáng
mãnh liệt ấy thêm động lực để linh hồn vượt qua mọi trở ngại trên đường tới mường
trời Người Thái tin rằng khi người còn lại (mẹ hoặc bố) qua đời sẽ xum họp tại “đẳm đoi” trên mường trời.
Trong lễ vật bao giờ cũng có “chỉa giao cộ” tức là giấy giao cỗ, thực chất là điếu văn
được viết trên một sải vải mộc trắng, phía dưới cắt hình đuôi én Nội dung kể về công
ơn to lớn của bố (mẹ) vợ đã sinh hạ, tần tảo sớm hôm, nuôi dạy người vợ của mình trở thành cô gái đảm đang, hiền thảo; lòng thành dâng lễ vật, dặn dò phải cẩn thận tránh
mọi rủi ro trên đường tới mường trời và nhớ tìm anh em họ mạc ở “đẳm đoi”.
Ví dụ khi mẹ mất, “chỉa giao cộ” có đoạn “Mè êm công pu khả bể/ Mí hón kể tục lọn giang dứt tăng niểu”, có nghĩa là: Công mẹ như núi như biển/ Có khi nào kể hết được, như cao su co giãn mãi, rồi còn cầu cho linh hồn mẹ lên mường trời được may mắn,
con cháu có chút lễ mọn để mẹ làm vốn làm ăn, mong mẹ gặp đông đủ anh em họ
Trang 11hàng “Chỉa giao cộ” được treo trên một cây trúc hoặc tre hóp để cả ngọn do người con
trai cả của con rể đi đầu cùng phường kèn trống
Cái thang để lễ vật do con rể và anh em của mình đến giúp khênh, phía đầu thang buộc vải trắng làm cầu dẫn cỗ kéo dài ra phía trước Cầu bằng vải này dài tối thiểu 30 sải,
khi làm xong lễ “Tỏn cộ” được thu mang về.
Khi cỗ gần đến nhà bố mẹ vợ, người nhà ra đón đỡ cầu vải đội lên đầu thể hiện lòng tôn trọng, lúc này người nhà bên con rể rót mời anh em họ hàng bên vợ ra đón mỗi người một chén rượu để tỏ tình thân ái Khi đến chân cầu thang người nhà của con rể thu quấn cầu dẫn cỗ lại, chủ nhà đón cỗ đặt dưới chân linh cữu
Trưởng đoàn bên nhà con rể đọc “Chỉa giao cộ”.
Chủ nhà - Thường là con trai trưởng nói lời cảm ơn Nếu gia đình nào không có con trai thì người con rể được ở nhà bố mẹ vợ, có trách nhiệm nuôi dưỡng và thờ phụng bố mẹ
vợ sẽ đáp từ
Cỗ sau khi cúng linh hồn cha (hoặc mẹ) vợ được chủ nhà chia cho con rể và con gái mang về góp thêm vào để cảm ơn những người đến giúp, vừa mang ý nghĩa là lộc của cha (mẹ)
Cỗ do con rể mang đến, sau khi cúng xong được chế biến mời họ mạc và bà con bản
mường đến chia buồn Còn “Chỉa giao cộ” được treo trong nhà táng sau lễ hoả táng và
chôn cất người quá cố
Tục lệ này ở mỗi vùng khắp miền Tây Bắc có khác nhau đôi chút, nhưng nét cơ bản giống nhau, thể hiện sâu nặng tình cảm của các con rể với bậc sinh thành nuôi dưỡng người bạn đời yêu quý của mình Ngoài ý nghĩa tâm linh, còn mang đậm ý nghĩa nhân sinh sâu sắc
Văn hóa nhà sàn người Khơ Mú ở Yên Bái
Bản làng người Khơ Mú ở Văn Chấn (Yên Bái) không qui mô, không rộng lớn như của người Thái, người Tày Thường họ lập làng bản trên sườn đồi, nơi gần nguồn nước theo hệ thống mật tập (nghĩa là hình thái sắp xếp không theo một thứ tự nhất định nào, không có đường ngõ, không rào giậu, chỉ có những lối mòn tự nhiên nối nhà nọ qua
nhà kia) Qua những nếp nhà đó, dễ cho ta ấn tượng phong cách núi rừng
Càng tìm hiểu, càng dần phát hiện lối kiến trúc độc đáo mang đậm đặc trưng văn hóa nhà sàn Thật vậy, xung quanh việc làm nhà và ở nhà sàn truyền thống là những câu chuyện văn hóa mang tính luật tục lại vừa mang tính tâm linh và đẫm chất nhân văn Nhà sàn Khơ Mú kiểu cổ truyền phải là hình dáng: nhà hai mái cao (nếu theo kiểu nhà người Thái trắng) hoặc nhà hai mái, đầu hồi ghép phụ, hay bốn mái (theo kiểu của người Thái đen) “Khau cút” đầu hồi mái nhà hình con ốc Cauris moneta (chưn đrưng klọ), tượng trưng cho lòng
Trang 12mong muốn được giàu có của gia đình (khác với “khau cút” hình trăng khuyết của
người Thái)
Từ xa xưa, trong tiềm thức của người Khơ Mú là phải làm một kiểu nhà an toàn, chịu đựng được điều kiện nơi núi cao rừng sâu Vì thế, những ngôi nhà truyền thống ra đời, gắn với đồng bào hàng ngàn năm, giúp họ tồn tại, phát triển và tránh được biết bao hiểm nguy bởi thú dữ, bởi thiên tai khắc nghiệt Để có ngôi nhà vừa ý, người Khơ Mú chọn những loại gỗ tốt làm khung, mái lợp gianh, nhờ khói bếp lâu ngày bám vào mà tạo được độ bền Để thoáng mát và có màu đen, nâu bóng, người ta làm sàn nhà cao hơn mặt đất chừng 2m
Những cây bương to, thẳng, già, qua quá trình xử lý mới được sử dụng làm giát Ngôi nhà không chỉ để đủ cho nhiều thế hệ cùng chung sống mà còn là nơi gặp gỡ anh em
họ tộc, bà con làng bản mỗi khi gia đình có việc Vì thế, diện tích nhà thường rộng từ 60 đến 80m² Nhà sàn Khơ Mú cấu trúc 3 gian Bếp nấu được làm ngay ở góc gần cầu thang phía trước Một bếp nữa ở gian thứ hai đặt lễ thờ cúng tổ tiên, ma nhà… Bếp thứ
ba ở gian trong cùng, chỉ để xôi cơm, nấu rượu (biểu thị sự giàu có, sung túc) Khách không nên đến gần hai bếp này vì đồng bào quan niệm dễ đem điều rủi ro tới cho chủ nhà
Tùy theo qui mô lớn, nhỏ của nhà mà số lượng cửa sổ nhiều hay ít, to hay nhỏ, cao hay thấp Xuất phát từ tính tập thể rất cao nên khi làm nhà, các hộ trong bản thường tập trung đến làm cùng Chủ nhà mổ lợn, giết gà làm cơm cho cả bản cùng ăn Nhà dựng xong, gia đình tổ chức tối vui văn nghệ tại nhà Dịp này, nam thanh nữ tú, thậm chí nhiều người cao tuổi đến chúc phúc gia chủ Họ diễn xướng nhiều nhạc cụ như: cồng chiêng, pí tót, âm đinh, tính tờ la, cùng nhau nhảy những điệu “tăng bu, tăng bảnh” Đặc biệt, không thể thiếu “Tẹ cạ grang” (múa cá lượn) để bày tỏ tình yêu và khát vọng về cuộc sống nơi ở mới càng ngày càng hạnh phúc, đủ đầy
Trường hợp sửa chữa nhà cửa thì chủ nhà phải sửa lễ, gọi là Soi gang Lễ cúng ma nhà được tiến hành ở gian giữa, nơi đặt bàn thờ tổ tiên và lễ vật phải có rượu cần Sau khi khấn xin tổ tiên, cha mẹ (kể cả ma nhà) về chứng kiến, phù hộ cho con cháu, gia chủ tiếp tục lễ gọi “hồn” cồng chiêng (gồm chiêng đực, chiêng cái và chiêng con) Có vậy, chiêng mới được phép đánh lên cho mọi người vui với gia đình sau đó Tóm lại, nhà sàn truyền thống của người Khơ Mú biểu hiện đặc trưng, tình cảm, lối sống của một tộc người May mắn ở xã Nghĩa Sơn (nơi định cư duy nhất của bà con Khơ Mú), số lượng nhà sàn truyền thống còn khá nhiều
Nhà sàn Khơ Mú là ngôi nhà thân thương đã hun đúc nên tinh thần một tộc người có ý thức cộng đồng cao với sự kết cấu, hòa hợp lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ Nhà sàn là cầu nối giữa con người với vũ trụ; là nơi gửi gắm niềm tin giữa con người với các thần linh, là nơi lưu giữ những giá trị tinh thần Đó cũng là biểu tượng văn hóa mang đậm bản sắc khi nền kinh tế nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong đời sống của họ Nhà sàn Khơ Mú được xem như một bảo tàng nghệ thuật sống, không chỉ với những kiến trúc mà còn phản ánh về vai trò và chức năng vốn có của nhà sàn Nơi đây luôn tạo cho người Khơ Mú một hình ảnh thân quen, gần gũi, ấm áp, càng
Trang 13ngày càng gắn bó giữa các thế hệ hôm nay và mai sau Nghĩ đến văn hóa nhà sàn người Khơ Mú cùng những chủ nhân của nó đang ngày đêm vượt khó, vươn lên làm chủ, xây dựng quê hương đổi mới, khiến ai đó đã một lần đến nơi này, hẳn càng thêm tin yêu
Lễ hội Đền Hoàng, Nghệ An
Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 29, 30/1 và 1/2 (AL), người dân Yên Thành lại nô nức trẩy hội Đền Hoàng Đây là lễ hội nhằm ghi nhớ công lao của vị tướng Hoàng Tá Thốn
đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII
Đền Hoàng thuộc thôn Diệu Ốc (xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An) toạ lạc trên một vùng đất đồi, trước mặt là hồ Diệu Ốc quanh năm thơm ngát hương sen
Trước đây, người dân địa phương tổ chức lễ hội trong 3 ngày 14, 15, 16 tháng giêng hàng năm, trong đó phần chính lễ diễn ra vào sáng ngày 15 Ngày nay, lễ hội được tổ chức vào các ngày 29, 30/1 và 1/2 (ÂL) với nhiều hoạt động văn hoá đặc sắc, thu hút
đông đảo người dân trong vùng và du khách thập phương về dự
Năm nay, để chuẩn bị tốt cho lễ hội Đền Hoàng, ngay từ đầu tháng 2, UBND huyện Yên Thành đã chỉ đạo các ban ngành phối hợp với chính quyền xã Phúc Thành tổ chức tuyên truyền quảng bá rộng rãi Cơ sở hạ tầng, đường sá xung quanh đền được
mở rộng, sân khấu, sân thi đấu các môn thể thao được tu bổ, nâng cấp
Được biết, lễ hội Đền Hoàng tới đây sẽ diễn ra nhiều hoạt động văn hoá thể thao như: thi đấu bóng chuyền nam nữ, thi người đẹp Đền Hoàng Bên cạnh đó, các trò chơi dân gian cũng không kém phần hấp dẫn thu hút đông đảo người xem như: bơi thuyền, chọi
gà, kéo co, đánh đu, đẩy gậy, vật…
Lễ hội Mường Đòn, Thanh Hóa
Vào các ngày 18 và 19 tháng giêng (âm lịch) hằng năm là nhân dân các bản làng của vùng Mường Đòn, xã Thành Mỹ, huyện miền núi Thạch Thành lại tưng bừng tổ chức lễ hội truyền thống Mường Đòn
Trang 14Lễ hội nhằm tưởng nhớ công đánh giặc giúp dân giữ đất, giữ Mường của ông Vũ Duy Dương – vũ tướng quân, một tổng trấn vùng đất phía tây Thanh Hóa dưới thời vua Lê Trang tông và em gái Vũ Thị Cao Sau khi ông mất được nhà vua ban cho sắc phong là Bạch Mã linh lang thượng đẳng thần Lễ hội thu hút đông đảo người dân tham gia.
Ông Bùi Minh Thông, Phó Chủ tịch UBND huyện Thạch Thành, cho biết: “Trải qua thăng trầm của lịch sử, nhưng công trạng của các bậc tiền bối có công với đất nước, dân tộc vẫn được các thế hệ vùng Mường Đòn tôn vinh và ghi nhớ Lễ hội Mường Đòn đang chuẩn bị thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa để các cơ quan quản lý văn hóa, nghiên cứu khoa học tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn về thân thế sự nghiệp của ông Vũ Duy Dương; từ đó có kế hoạch đầu tư phục dựng các trò chơi, trò diễn, lễ hội của vùng Mường Đòn”
Đến với lễ hội Mường Đòn – một lễ hội tiêu biểu cho vùng đồng bào dân tộc Mường xứ Thanh, du khách còn có thể đi tham quan di chỉ khảo cổ học Hang Con Moong ở xã Thành Yên và nhiều địa chỉ du lịch hấp dẫn khác
Ghế K’pan - Biểu tượng sung túc của dân tộc Êđê ở Đắk Lắk
Đối với các gia đình Êđê, ngoài các bộ cồng chiêng, ché rượu… thì ghế K’pan cũng là một vật thiêng thể hiện sự sung túc giàu có của mỗi gia đình
Để làm được một chiếc K’pan cần phải có sự giúp sức của cả buôn làng, chứ một gia đình khó lòng làm nổi, vì thế K’pan cũng có thể xem là biểu tượng thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các gia đình trong cộng đồng buôn làng dân tộc Êđê
Trang 15K’pan là một chiếc ghế độc mộc, bằng gỗ nguyên khối dài khoảng 15m, rộng từ 65 đến 85cm, với độ dày 7-8cm kê cao 45-50cm , hơi cong ở hai đầu tạo nên dáng vẻ vững chắc, mạnh mẽ.
Gỗ để làm K’pan phải chọn loại cây rừng lâu năm, cao, to, thẳng, gỗ tốt
Một hộ không thể làm nổi K’pan mà cần hợp sức của buôn làng lại trong thời gian cả tuần mới có thể hoàn thành
Người chủ không chỉ phải lo đủ trâu, lợn, gà, rượu, gạo phục vụ cho bà con trong
những ngày làm K’pan, mà theo tục lệ còn phải là người đã tổ chức được các lễ hiến sinh, cầu sức khỏe có nhiều cuộc khoản đãi cộng đồng và có nhiều chiêng ché
Theo già làng Ama H’Rin, buôn Akô Dhông cho biết : “Gia đình nào muốn được cộng đồng ủng hộ cho tổ chức lễ hội làm K’pan thì gia đình đó phải có kinh tế khá giả, có tấm lòng hào hiệp, hay giúp đỡ những người xung quanh”
Đối với các gia đình Êđê, K’pan tượng trưng cho sự giàu có của gia đình và là niềm tự hào của cả buôn làng Vì thế, làm K’pan được xem là sự kiện của cả cộng đồng
Do đồng bào Êđê theo chế độ mẫu hệ nên việc tìm chặt cây phải được bàn định trước với gia đình bên vợ và cây rừng để làm K’pan phải được người phụ nữ có tiếng nói trong gia đình lựa chọn Đó là một cây gỗ cổ thụ, cao, to, thẳng, đã được thần linh chứng giám cho phép chặt từ rừng thiêng
Trước khi muốn chặt cây lớn mang về làm K’pan thì chủ nhà phải lấy một mảnh nhỏ vỏ cây mang về cúng thần
Để tránh mọi điều xui xẻo và mang lại nhiều may mắn cho gia chủ K’pan, khi đi chặt cây
gỗ lớn nhà chủ và thầy cúng phải chọn ngày đẹp trời, trong buôn không có đám tang.Dẫn đầu đoàn vào rừng chặt gỗ là người lớn tuổi trong nhà cùng thầy cúng, tiếp đó là 7 người con trai khỏe mạnh mang theo dao, búa, rìu Đi cuối là dân làng và người nhà mang lương thực phục vụ
Trang 16Đến chỗ cây lớn đã định, thầy cúng và chủ nhà phải chọn chiều cây đổ dọc theo dòng nước chảy rồi mới cho bổ rìu Chủ nhà là người bổ nhát rìu đầu tiên rồi sau đó mới đến mọi người.
Cây ngả xuống, người ta chặt sạch cành lá, chủ nhà và thầy cúng đi lên thân cây 7 lần
để đuổi tà ma, rồi những người thợ mới được dùng rìu đẽo cây thành chiếc K’pan có hình chiếc thuyền với những đường nét khỏe khoắn
Sau khi thầy cúng cầm rìu bổ nhẹ vào K’pan theo tục lệ, mấy chục trai tráng trong buôn cùng khênh K’pan về buôn, còn những thanh niên nam nữ khác vừa đi theo múa hát,
gõ chiêng
Đến đầu buôn, đám rước đặt K’pan xuống cho thầy cúng phủ vải đỏ lên rồi mới đưa về, đặt ở vườn sau của chủ nhà
Các ngày sau đó, những người thợ khéo tay nhất buôn sẽ chạm khắc những hoa văn
có tính biểu tượng truyền thống Êđê lên chiếc K’pan và họ được chủ nhà nuôi cơm rượu
Khi chiếc K’pan chính thức hoàn thành, mọi người trong buôn tập trung đưa ra cửa trước, đặt một đầu lên sàn nhà Người chủ ăn mặc đẹp, cầm lấy khiên, kiếm đã được bày sẵn trên chiếu, đi lại 7 lần trên K’pan để xua đuổi điều xấu và không may mắn rồi đặt tên cho K’pan như một sự thông báo chính thức mình là chủ của K’pan
Lúc này, thầy cúng làm lễ khấn báo thần linh rằng, K’pan đã có chủ và cho khiêng vào gian khách, đặt dọc vách phía tây nhà và khi ấy lễ cầu Yang mới chính thức diễn ra
Lễ cúng K’pan gồm 1 trâu và 7 ché rượu được buộc vào 7 chiếc cột Ché to nhất buộc
ở cột ngoài cùng, thân cột bôi huyết trâu thành 7 khúc
Thầy cúng ngồi ở đầu K’pan, cầm chiếc que dài nhúng vào bát đồng đựng tiết lợn pha rượu và bôi dọc theo K’pan để yểm giữ tài sản cho gia chủ
Khi việc cúng Yang kết thúc cũng là lúc bà con buôn làng ăn mừng cùng chủ K’pan.Theo quan niệm cổ xưa, gia đình nào làm được K’pan, chủ nhà nghỉ 2 ngày không đi làm nhưng đến ngày thứ ba mở một ché rượu ngon mời người thân tới uống mừng sự hoàn thành tốt đẹp của K’pan
Ngày nay, họ không thực hiện nhiều thủ tục kiêng kị như trước, nhưng những bữa liên hoan chúc mừng vẫn diễn ra suốt đêm
Còn gì thích thú hơn sau những buổi lên nương rẫy trồng lúa, trồng bắp mệt nhọc, tối
về bên bếp lửa bập bùng giữa gian nhà dài Trên chiếc K’pan, mọi người trong gia đình, dòng họ cùng quây quần tấu lên những giai điệu cồng chiêng quen thuộc để tỏ lòng cùng với thần linh, buôn làng, giải trừ các ưu tư, lo lắng trong cuộc sống, cầu cho cái
Trang 17chân khỏe mạnh để lên rẫy trồng thật nhiều lúa, bắp, bẫy được con thú…
K’pan còn là nơi để người đàn ông ngả lưng nghỉ ngơi mỗi khi đi làm rẫy về và chờ vợ con dọn bữa cơm chiều kết thúc một ngày làm việc vất vả
Hạn khuống - Sân chơi của trai tài gái sắc Mường Lò
Hạn Khuống là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo của người Thái đen vùng Mường Lò Hạn Khuống thường được tổ chức sau thu hoạch mùa vụ, giữa tiết trời thu đông với hình thức ca nhạc quần chúng
Hạn Khuống có nghĩa là cái sàn sân dựng ngoài trời ở giữa bản, sân hình vuông cao chừng 1,5m, rộng 0,6m và dài 5m Xung quanh sàn có lan can, trang trí hoa văn Giữa sàn dựng cây nêu là một cây tre to, dài, để lại cả phần ngọn và được trang trí các con giống đủ màu, 4 cây nhỏ dựng ở 4 góc sàn biểu hiện của 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc, cây ở giữa biểu tượng trụ của đỉnh trời
Hạn Khuống do các cô gái trong một bản chưa chồng đứng ra tổ chức, có sự cố vấn của người già trong bản Khi nghe Hạn Khuống mở, các chàng trai xa, gần kéo đến và phải qua nhiều cuộc thử tài mới được các cô gái nhận vào tham dự hội
Các cô chủ Hạn Khuống đặt xa, kéo bông, rút thang đặt bên bếp lửa, kéo sợi dăng ngang lối lên xuống, các chàng trai muốn được lên sàn hoa phải thắng trong cuộc hát đối với các cô gái trên sàn Bởi vậy các chàng trai lựa chọn, cử ra những người hát giỏi nhất
Khi các cô gái nhượng bộ bắc thang cho các chàng trai lên sàn hoa, các chàng trai lại phải hát tiếp để được mời ngồi, mời nước, mời thuốc… Đôi nào ưng ý hẹn đến mùa xuân cùng đi ném còn
Trang 18Hạn khuống chính là sân chơi của nam nữ chưa lập gia đình Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa, vui chơi độc đáo đang được phục dựng, bảo tồn và phát triển trên vùng đất Mường lò, vùng quê tổ của tộc người Thái đen.
Nét đẹp lễ chùa đầu năm
Đầu năm, người ta nghĩ nhiều đến đi lễ chùa, phần lớn là để cầu an, cầu lộc số ít đến đây để tìm chút thư thái cho tâm hồn, thắp nén nhang thơm thể hiện tấm lòng thành kính tới tổ tiên, dòng tộc
Hoà cùng dòng người đi lễ đầu xuân, nhất là lúc tiết trời se lạnh, lất phất làn mưa phùn như cảm nhận thấy đất trời đang giao hoà Con người dường như cũng trở nên cởi mở hơn ở chốn linh thiêng, những người dù mới gặp lần đầu cũng sẵn sàng trao nhau nụ cười trìu mến Tiếng chuông chùa ngân vang giữa hơi sương sớm, khói nhang, hoa, lễ tạo nên không khí yên bình, làm mỗi người khi đến chốn cung nghiêm này thấy tâm hồn thanh tịnh lạ kỳ! Có lẽ cũng vì thế, mỗi dịp đầu năm, mọi nẻo đường đều hướng về cõi Phật
Lễ hội vốn là nét văn hóa đặc sắc, thể hiện khát vọng về một cuộc sống hạnh phúc và trường tồn Thế nhưng, cứ mỗi độ xuân về, dù có hòa mình vào không khí lễ Tết hay còn nhiều vướng bận, người dân vẫn không quên lên chùa thắp nhang, cầu cho mình sức khỏe bình an, may mắn và hạnh phúc Cũng chính vì thế, tục lễ chùa đầu năm đã trở thành nét đẹp văn hóa trong mỗi con người Việt Nam
Du lịch tâm linh là một thế mạnh của tỉnh ta với nhiều địa danh đã khẳng định trong lòng
du khách thập phương trong và ngoài tỉnh Tuy chưa phải là trung tâm văn hoá tâm linh lớn như: chùa Bái Đính (Ninh Bình); chùa Hương (Hà Nội); Đền Hùng (Phú Thọ)…
Trang 19nhưng Đền Bờ (Cao Phong); Chùa Tiên (Lạc Thuỷ) cũng thu hút được không ít những tín đồ Phật giáo đến thăm mỗi dịp xuân về Có những người sắm lễ lên chùa từ mồng 3 Tết Đồ lễ không cần to tát, nhiều nhặn gì, chủ yếu là cái tâm, miễn là có lòng thành hướng về Đức Phật Đồ lễ sang thì là mâm xôi, con gà, chén rượu, ấm trà, cũng có khi chỉ là bông hoa tươi, nén nhang thơm… đều được coi trọng như nhau Theo lệ thường, một “mâm” lễ bao giờ cũng phải đủ cả hương, hoa, tiền vàng, tiền dương gian, có thêm một tờ sớ viết bằng chữ nho, ghi những điều cầu mong của gia chủ cho một năm mới vạn sự như ý.
Với quan niệm đi lễ chùa trước tiên phải đến những chùa gần, chị Nguyễn Thị Kim Oanh (TP Hoà Bình) cho biết: Việc đầu tiên gia đình tôi làm trong năm mới là đi lễ chùa Đúng ngày mồng 3 Tết hàng năm, cả gia đình lên chùa Hoà Bình (TP Hoà Bình) cầu phúc, lộc, bình an Mong một năm mới thuận buồm xuôi gió Bên cạnh đó, lễ chùa đầu năm còn là một nét văn hóa độc đáo của người Việt Tôi muốn các con tôi biết được điều này, giúp chúng biết thêm nét văn hóa truyền thống của dân tộc, bổ sung thêm kiến thức lịch sử Song, quan trọng nhất là mỗi người tìm được chút thư thái cho tâm hồn sau một năm làm việc bận rộn
Những ngày đầu năm, cùng với gia đình, Ngô Minh Hằng (Lạc Sơn) lại có dịp trở lại chùa Tiên (Lạc Thuỷ) Hằng chia sẻ: Lối lên chùa khá chật hẹp khiến hàng trăm người phải chen vai nhau để vào nhưng khuôn mặt ai cũng vui khi bước chân đến cõi Phật Năm nào tôi cũng chỉ cầu mong một điều, mong cho mọi người xung quanh mình bình
an, mạnh khoẻ, hạnh phúc Có lẽ ai đi lễ chùa cũng không chỉ cầu an cho riêng mình,
đó là nét văn hoá, nhân văn đáng được trân trọng Khoe tấm quẻ vừa rút được, Hằng nói: quẻ không được tốt Nhưng đến được cửa chùa ngày Tết, lòng cũng đã thanh thản
và nhẹ nhàng rồi! Có lẽ ở chốn tôn nghiêm này, ai cũng dễ trải lòng mình như thế!
Đi lễ đầu xuân không chỉ để thỏa cõi tâm linh, còn là dịp để du ngoạn thưởng lãm cảnh đẹp, nét thanh tịnh chốn linh thiêng trong tiết xuân Đi lễ đầu xuân đã trở thành hơi thở của cuộc sống, là thói quen, nét đẹp của nền văn hóa, là nơi thể hiện ước mơ ngàn đời của mỗi người, cầu mong mưa thuận, gió hòa, cầu mong một cuộc sống hạnh phúc, an vui, thái bình
Lễ hội đình Thạch Khoán (Phú Thọ)
Từ ngày 25 đến 27/02/2011 (tức ngày 23 - 25 tháng Giêng năm Tân Mão), huyện Thanh Sơn đã tổ chức lễ hội đình làng Thạch Khoán
Trang 20Đình Thạch Khoán thờ Tản Viên Sơn Thánh – được coi là hình tượng tiêu biểu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Đình còn thờ bốn vị thổ tù họ Đinh người làng Thạch Khoán đã có công đánh giặc giữ gìn quê hương trong buổi đầu dựng nước được các triều vua phong sắc, sử sách lưu danh Đặc biệt là thủ lĩnh Đinh Công Mộc có công giúp vua Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh giành thắng lợi cuối thế kỷ 15.
Lễ hội Đình Thạch Khoán là một trong những hoạt động trong chương trình “Về miền
lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam” gắn với chương trình “Du dịch về cội nguồn” năm
2011, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, tôn trọng những giá trị lịch sử văn hóa, ghi nhớ công lao của các bậc tiền nhân đã khai phá, xây dựng nên mảnh đất này Đồng thời, đây cũng là dịp để cổ vũ, động viên nhân dân hướng về nguồn cội, nâng cao ý thức bảo vệ, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, phát huy những giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng các dân tộc anh em, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
Độc đáo lễ cấp sắc của người Dao Nậm Lành (Yên Bái)
Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ độc đáo và được lưu truyền hàng ngàn đời nay trong cộng đồng dân tộc Dao đỏ ở xã Nậm Lành, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Theo quan niệm của người Dao, lễ cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của người đàn ông người Dao Đối với người đàn ông dân tộc Dao được cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành, được làm lễ cúng bái và được giao tiếp với cõi âm.Người Dao đỏ quan niệm rằng con người sinh ra và lớn lên phải có 3 thầy dạy dỗ mới trở thành con người có đức, có ích cho gia đình và xã hội
Thầy thứ nhất là bố mẹ đẻ Bố mẹ đẻ ra con cái phải dạy con tập nói tập đi, tập theo gương bề trước, học theo những điều hay, không để cho con cái mình ngu dốt, lường biếng, phải biết kính trên nhường dưới, có tình yêu thương con người
Thầy thứ hai là thầy cô giáo dạy chữ, biết tiếp xúc và quan hệ xã hội, biết khoa học công nghệ, biết làm người và trở thành người có ích cho xã hội
Thầy thứ ba là thầy mo cấp sắc cho từng người để giữ gìn bản sắc của dân tộc Thầy
Trang 21mo dạy bảo con cháu vạn điều tôn sự trọng đạo, kính thầy, yêu nước, yêu quê hương, không được làm điều ác, không làm những điều trái với lương tâm đạo đức
Khi chuẩn bị làm lễ cấp sắc phải xem tuổi người anh cả có hợp với năm cấp sắc
không, phải chọn ngày tháng tổ chức, số người tham gia, số thầy cúng
Ông thầy trong lễ cấp sắc phải chọn thầy cao tay, ngày tháng cấp sắc được chọn rất cẩn thận
Người được cấp sắc cũng phải thuần thục các nghi lễ bản sắc của dân tộc Dao Việc cấp sắc trong gia đình phải được tuân thủ từ trên xuống dưới
Lễ cấp sắc của người Dao có nhiều bậc, bậc đầu tiên là cấp 3 đèn và 36 binh mã; bậc thứ 2 được cấp 7 đèn và 72 binh mã; bậc cuối cùng là 12 đèn và 120 binh mã
Thời gian tiến hành lễ cấp sắc kéo dài từ từ 1 đến 5 ngày Các nghi lễ chính trong lễ cấp sắc gồm lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ tổ tiên
Các thầy cúng phải tẩy uế sau đó mới đánh trống mời tổ tiên về dự, thày cúng làm lẽ khai đàn nhằm báo cáo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ
Sau một hồi các thầy khấn, làm các thủ tục, xin âm dương, thần linh, người được cấp sắc sẽ chính thức được đặt tên âm và được công nhận là người đã trưởng, được cả cộng đồng công nhận có đủ uy tín để đảm đương những công việc lớn của gia đình và bản làng
Và cũng từ hôm đó họ phải gọi các thầy cúng đã làm lễ cấp sắc cho mình là cha
Lễ cấp sắc của người Dao mang tính giáo dục cao, thể hiện ở các điều giáo huấn ghi trong sắc cấp cho người thụ lễ tuyệt đối không được làm điều ác, điều xấu
Mang ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh, lễ cấp sắc luôn được người Dao đỏ Nậm Lành gìn giữ và phát huy, góp phần làm giàu hơn nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Yên Bái
Hình ảnh trong Lễ cấp sắc của người Dao xã Nậm Lành huyện Văn Chấn:
Lễ Cấp sắc là một tục lệ truyền thống, đặc sắc của người Dao xã Nậm Lành, Văn Chấn
Trang 22Lễ Cấp sắc bậc 1 dâng 3 đèn cho người được Cấp sắc
Lễ đặt tên âm
Trang 23Đàn ông người Dao có thể làm cấp sắc cho mình khi vừa 4 tuổi cho đến khi về già.
Đông đảo du khách đến chứng kiến các nghi lễ
Trang 24Lễ hội Văn hóa dân tộc Mông xã Suối Giàng
Hưởng ứng chương trình du lịch về cội nguồn của 3 tỉnh Yên Bái – Phú Thọ - Lào Cai năm 2011, ngày 27/2/2011, xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn đã tổ chức ngày hội văn hóa dân tộc Mông năm 2011
Đây là 1 trong 4 xã của huyện Văn Chấn vinh dự được tổ chức các hoạt động lễ hội nằm trong chương trình du lịch về cội nguồn Lễ hội nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa,
tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh quê hương và con người Yên Bái
Trong ngày hội văn hóa dân tộc Mông xã Suối Giàng đã tổ chức Lễ cúng tôn vinh cây chè tổ tại thôn Bản Mới Tham quan các gian hàng giới thiệu các sản phẩm truyền thống của dân tộc Mông; thưởng thức hương vị đặc trưng của chè Suối Giàng; xem biểu diễn các chương trình văn nghệ và tham gia vào các trò chơi dân gian độc đáo của người Mông
Ngày hội văn hóa dân tộc Mông là nơi hội tụ các giá trị truyền thống mang tính cộng đồng, nơi đua tài của các chàng trai, cô gái Mông trong dịp tết đến xuân sang Ngày hội đã tạo ra không khí thi đua sôi nổi trong toàn Đảng bộ và nhân dân trong xã thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Lễ hội cũng góp phần gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đẩy mạnh công tác xã hội hóa phát triển du lịch, đưa Suối Giàng trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn, an toàn và thân thiện đối với du khách
Rước kiệu - nét đặc sắc của lễ hội ở Lạng Sơn
Trong một lễ hội (LH), thường sẽ bao gồm phần lễ và phần hội Đối với LH dân gian thì hai phần này được phân định khá rõ Phần lễ sẽ gồm các nghi thức tế lễ, cầu cúng, dâng lễ… Còn phần hội gồm các trò chơi, trò diễn Nếu xét theo cách phân chia trên thì nghi lễ rước kiệu chính là một trò diễn Và ngày 22 - 27 tháng giêng, nhân dân và du khách lại náo nức đón chào nghi lễ này trong LH đền Kỳ Cùng và Tả Phủ ở thành phố Lạng Sơn (TPLS)
Trên địa bàn tỉnh nói chung, TPLS nói riêng không nhiều LH có nghi lễ này Tại Bắc Sơn, người dự hội được chiêm bái rước kiệu tại LH xã Quỳnh Sơn ngày 12, 13 tháng giêng… Còn trên địa bàn thành phố, nghi lễ này, nếu so với mấy những năm trước đây chỉ thấy tại LH đền Kỳ Cùng và Tả Phủ Kỳ Lừa ngày 22 - 27 tháng giêng thì nay đã có
Trang 25thêm tại LH chùa Tam Thanh - Nhị Thanh ngày 15 tháng giêng Song nhìn chung, nghi
lễ rước kiệu tại TPLS so với các địa bàn khác vẫn là tưng bừng, náo nhiệt nhất Cứ mỗi
độ xuân về, bước vào mùa LH rất nhiều người mong ngóng đến ngày có nghi lễ này Điều đáng nói là, nghi lễ được nhân dân chiêm bái, đón chào rất trọng thịnh Biểu hiện
cụ thể là, tại các dãy phố, trục đường mà đoàn rước kiệu đi qua, các gia đình đều sắm sửa những mâm lễ rất tươm tất Có dãy phố, trục đường các tổ liên gia họp lại với nhau
để sắm lễ chung Tất cả đều thể hiện một sự thành kính và niềm phấn khởi chào đón ngày hội và nghi lễ Theo quan niệm dân gian, mỗi năm chỉ có một lần kiệu các vị thần được nhân dân tôn kính rước qua trước cửa nhà Đây là dịp may hiếm có, dịp tốt để cầu ước những điều tốt lành, may mắn sẽ đến với bản thân, gia đình và cộng đồng, làng xóm trong năm mới… Chính đó mà nhân dân đã sắm lễ rất trang trọng để nghênh đón đoàn rước kiệu Đối với LH chùa Tam Thanh - Nhị Thanh ngày 15 tháng giêng là rước kiệu bài vị danh nhân Ngô Thì Sĩ từ chùa Nhị Thanh sang Tam Thanh dự hội rồi sau đó rước về Với LH đền Kỳ Cùng - đền Tả Phủ Kỳ Lừa từ ngày 22 - 27 tháng giêng thì nghi lễ rước kiệu sẽ được tiến hành trong hai ngày 22 và 27 tháng giêng Theo đó, ngày 22 là kiệu từ đền Kỳ Cùng sẽ được rước lên đền Tả Phủ Kỳ Lừa Đến ngày 27 sẽ rước từ đền Tả Phủ về đền Kỳ Cùng Nghi lễ này gắn với hai nhân vật được nhân dân tôn kính là quan lớn Tuần Tranh (đền Kỳ Cùng) và Tả đô đốc Hán quận công Thân Công Tài (đền Tả Phủ) Trên cơ sở thời gian và hành trình do Ban tổ chức công bố, nhân dân ở các đường phố có đoàn rước kiệu đi qua sẽ chuẩn bị lễ để nghênh đón Trong mâm lễ thường có đủ xôi, gà, hoa, quả, bánh kẹo,… nếu có điều kiện hơn nữa thì có thêm chú lợn quay vàng rộm, thơm nồng hương vị mác mật - một đặc sản ẩm thực của Xứ Lạng nức tiếng gần xa Trong mấy năm trở lại đây, do điều kiện kinh tế của người dân khấm khá hơn nên sự xuất hiện của những chú lợn quay trong mâm lễ nghênh đón đoàn rước kiệu ngày càng nhiều hơn Điều đó đã phần nào thể hiện sự chào đón, mong ngóng của nhân dân đối với nghi lễ hấp dẫn và quan trọng này cũng như phản ánh đời sống kinh tế của nhân dân ngày càng được nâng cao Bao giờ cũng vậy, dẫn đầu đoàn rước kiệu là các đội sư tử, rồng thật oai phong, rực rỡ sắc màu Trong tiếng trống, chiêng rộn rã, đoàn rước đi đến đâu được nhân dân ùa ra đón chào đến đó Để ý thấy, rất nhiều người khi đoàn rước kiệu đi tới đã chắp tay vái rất trân trọng và thành kính Đặc biệt, các gia đình sắm lễ nghênh đón rất vui được các đội sư
tử, rồng dừng chân vào múa chúc mừng năm mới, chúc gia chủ tấn lộc, tấn tài, an khang thịnh vượng Dân gian quan niệm, nếu đội sư tử, rồng ghé vào chúc mừng thì năm đó gia đình sẽ có nhiều điều hanh thông, viên mãn, hỷ sự Và đó như là một cách xua đi tất cả những điều xui xẻo, không may mắn trong năm cũ để đón rước những điều tốt lành sẽ đến trong năm mới… Có thể nói, nghi lễ rước kiệu trong một số LH tiêu biểu ở TPLS đã góp phần làm cho LH đến gần với mỗi người dân và du khách hơn Đó chính là cầu nối giữa lễ và hội Sự tấp nập, náo nức và trang trọng của nghi lễ đã khắc họa sâu trong tâm trí của mỗi người về những nét đẹp văn hóa trong LH Đồng thời khiến cho mỗi người nhớ đến các nhân vật được nhân dân đón rước một cách sâu sắc hơn Đó thực sự là một cách giáo dục truyền thống lịch sử - văn hóa của quê hương,
đất nước, dân tộc cho mọi người thiết thực
Mỗi độ xuân về, chiêm ngưỡng nghi lễ rước kiệu trong LH ở TPLS, mỗi người sẽ thấy lòng chộn rộn, xốn xang hơn Tin rằng, trong nghi lễ
Trang 26rước kiệu xuân Tân Mão 2011 này, mỗi người sẽ có thêm nhiều cảm nhận ý nghĩa.
Tết cổ truyền của người Tà Ôi – Thừa Thiên Huế
Trước đây, người Tà Ôi sống trên dãy Trường Sơn (huyện A Lưới, tỉnh Thừa Huế) thường đón tết riêng theo nông lịch của họ Họ ăn tết ngay sau vụ lúa, vào khoảng
Thiên-tháng 12, khi gạo Ra Dư đã đầy bồ
Vài năm trở lại đây, tết cổ truyền của cộng đồng người Tà Ôi đã “góp gạo thổi cơm chung” với tết cổ truyền của người Kinh “Ăn tết Acha Aza chỉ vui riêng trong dân tộc Tà Ôi, còn ăn tết chung với anh em người Kinh thì cái vui còn gấp bội” – già làng Quỳnh Hoàng (xã A Ngo) cho biết
Dù vậy, người Tà Ôi vẫn giữ được nét đặc trưng ngày tết của dân tộc mình Tết cổ truyền Acha Aza của người Tà Ôi chính là tết ăn cơm mới Đây là ngày hội quan trọng bậc nhất vì nữ thần Lúa chính là mẹ Lúa, giúp dân bản có cái ăn, được mùa cũng nhờ thần mà mất mùa cũng do người quyết Theo quan niệm của người Tà Ôi, thần Lúa là
nữ thần nên người đàn bà trong gia đình đứng ra làm chủ lễ, thường đó là một nữ cao niên có uy tín với bản làng
Với người Kinh, dấu hiệu mùa xuân đến là mai đào nở, là chim én bay về Với người Tà
Ôi, “khi chim pricoh kêu, lan rừng đua nở là dấu hiệu quan trọng nhất
Tết ăn cơm mới thường diễn ra trong ba ngày đầu tháng của năm mới Những ngày cận tết, người chồng lễ vật để người vợ hành lễ Lễ vật gồm: một a điên (mâm có bốn chân) cơm nếp, năm ống cơm lam, năm ống thịt, thịt khô, năm ống cá, cá khô năm xâu, một bát cơm cắm trên một xâu cá nhỏ, một ít khoai từ hoặc khoai tía, đậu phộng, đậu a vải, một cây mía để nguyên lá, một chén kì cul (giống trầm hương) để xông cho thơm Trước khi lễ gọi thần Lúa diễn ra, người ta thường bắc thang sẵn lên trần nhà, mâm lễ được đặt dưới cái thang đó “Làm như vậy là để thần theo thang lên trần nhà, ở với lúa gạo, giữ lúa gạo cho mình” – già làng Quỳnh Át giải thích
Khi lễ cúng bắt đầu, người phụ nữ chủ gia đình sẽ khấn vái liên tục, còn đàn ông lấy tấm vải zèng (vải thổ cẩm) đưa cho chủ lễ làm vật ký thác cho nữ thần Lúa Chủ lễ cầm lấy tấm zèng vẩy nhiều lần lên trần nhà để yên vị hồn thần Lúa Cũng trong ngày hôm
đó, lễ Acha Aza được tiếp tục bằng việc cúng ở rẫy nhằm cầu mong các vị thần tiếp tục cho mùa bội thu Gia chủ có rẫy thường treo 3-5 hàng lúa có nhiều gié được buộc chặt
Trang 27vừa to vừa no hạt.
Chén kì cul cháy gần hết cũng là lúc lễ cúng ở gia đình xong xuôi Cả nhà cùng quây quần bên mâm lễ cúng ăn bữa cơm mới đầu tiên trong ngày tết với tình cảm gia đình thắm thiết
Ăn tết cùng thời điểm với người Kinh nhưng người Tà Ôi hiếm khi dùng các món mứt, hạt dưa, bánh kẹo… Dù giàu hay nghèo, gia đình vẫn phải có bánh nếp như a quát, adeep man, đệp peng và các món cơm lam Thức uống có rượu mía, rượu cần, rượu đoác Trong đó, nổi lên hai món ăn: món thịt rừng từ các con vật như dúi, chuột, nhím,
gà, heo rừng… do đàn ông săn được và món cua suối do các thiếu nữ mò được
Như một thông lệ, trước tết mấy hôm, các chàng trai thường vào những cánh rừng già
để săn thú rừng Họ chỉ đi gần để tránh rủi ro, đau buồn cho bản làng trong ngày đầu năm Cách bẫy truyền thống là dùng nỏ, đặt bẫy để săn những loại thú bé, tránh bắt những thú lớn bởi người Tà Ôi quan niệm bắt thú lớn Yàng cũng không vui
Thú rừng sau khi săn về được làm thịt sạch sẽ rồi hong trên bếp theo từng xâu nhỏ hoặc làm thịt ống Thịt chuột sau khi làm sạch, ướp các loại gia vị như muối, ớt, tiêu rừng kèm theo một số loại rau củ thái nhỏ như sắn, môn thục, bắp chuối, rau rớn… trộn vào nhau, sau đó lèn chặt vào trong các ống lồ ô hay ống nứa rồi đem nướng Nướng xong, các ống thịt được đặt ngay ngắn trong gùi để dành ăn trong những ngày tết
Các thiếu nữ Tà Ôi đi bắt cua đá ở suối gần nhà, trong các hốc đá Cua bắt về được làm sạch, sau đó tách vỏ cua ra làm hai phần Sau khi cạo hết phần thịt riêng ra, họ nhét một ít đậu phộng và rau húng vào rồi đậy nắp vỏ lại, buộc chặt bằng dây lạt nhỏ Tất cả được đặt vào một cái rổ nhỏ, để trên giàn bếp một đêm Hôm sau, họ lấy xuống nướng ăn hoặc làm đồ nhắm với rượu, còn thịt cua thì kho nấu ăn với xôi
Người Tà Ôi cũng “Mùng 1 tết cha, mùng 3 tết thầy” như người Kinh Ngày đầu tiên đầy dấu ấn tâm linh được dành cho các vị thần và tổ tiên Ngày thứ hai, cả cộng đồng sinh hoạt với nhau Thanh niên trai gái vui chơi trong ngày thứ ba
Với mong ước một mùa bội thu và mưa thuận gió hòa, những người con của Yàng thường dành ngày đầu tiên của tết để hướng đến những vị thần Họ khấn vái, quỳ lạy
để rước điều may vào nhà Tết ăn cơm mới chỉ tổ chức vào đúng dịp được mùa lúa, vui
vẻ Năm nào mất mùa, người Tà Ôi sẽ cúng Yàng bằng vật hiến sinh với lễ đâm trâu trong dịp tết “Trong ngày này, họ tộc, gia đình làm lễ cúng thần Tro (thần Lúa) Trong ngôi nhà rông, từ 10 đến 20 gia đình sẽ góp lễ cúng gồm một a điên cơm nếp, một con
gà luộc, một bát ki cul, một bát gạo”
Với các lễ vật này, người chủ họ thắp kì cul, xông trầm rồi khấn vái cầu xin Điều họ cầu mong chủ yếu hướng về vụ lúa mới, mong các vị thần linh phù hộ cho gia đình, họ tộc sang mùa rẫy mới được mùa, cầu xin mưa thuận gió hòa Họ cầu cho dân làng không đau ốm, vật nuôi không bị chết… Việc đốt rẫy, dọn rẫy trong năm mới được nhanh như gió thổi, thú rừng không về quấy phá
Trang 28Ngày thứ hai, dân làng nô nức đến ngôi nhà rông giữa làng để xem lễ cúng cộng đồng Đêm đến, hết thảy mọi người đều tập trung để nghe người già phát biểu ba bói, cà lơi, khuyên bảo con cháu lớp trẻ ăn ở có hiếu với cha mẹ, ông bà, nhớ ơn cha mẹ nuôi nấng nên người khôn lớn Sau đó, mọi người xem lớp trẻ nhảy múa những điệu aza, za
zả, cha chấp…
Ngày thứ ba của tết Acha Aza, thanh niên trong bản được vui chơi thoải mái Tiếng khèn bè vang lên rộn rã, tiếng cồng chiêng hòa vào tiếng hát đối đáp Nhiều đôi uyên ương cũng nhờ ngày mùng 3 tết mà nên vợ nên chồng Đây cũng là thời điểm tổ chức các trò chơi dân gian như bắn nỏ, phóng lao, đá gót, kéo co, đu xà…
“Không khí ăn tết cổ truyền của người Tà Ôi luôn sinh động, mang đầy bản sắc Tết Acha Aza đã làm cho văn hóa của sáu dân tộc anh em Pa Kôh, Tà Ôi, Pa Hi, Vân Kiều,
Cơ Tu và Kinh sống trên đỉnh Trường Sơn thêm phong phú Có thể nói, hiếm có cái tết nào như cái tết ở A Lưới khi sáu bản sắc của sáu dân tộc hòa quyện vào nhau làm nên cái chung, nhưng mỗi dân tộc lại có đặc trưng riêng”
Lễ hội Đền Vạn – Cửa Rào (Nghệ An)
Trong 2 ngày 22, 23/02/2011 (tức ngày 20, 21 tháng Giêng năm Tân Mão), tại xã Xá Lượng (huyện Tương Dương, Nghệ An) diễn ra lễ hội Đền Vạn- Cửa Rào
Phần lễ diễn ra trang trọng, linh thiêng với lễ khai quang, yết cáo, lễ tế, lễ rước; phần hội hấp dẫn bởi các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc ở Tương Dương và giao lưu văn nghê, thi người đẹp lễ hội
Đây là dịp để bà con nhân dân địa phương và du khách thập phương tưởng nhớ Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài (thời nhà Trần), người có công lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi và hy sinh tại khu vực Cửa Rào Đền Vạn- Cửa Rào còn thờ
Tam tòa Thánh Mẫu, một trong tứ mẫu trong quan niệm dân gian
Tục cưới hỏi của người Thái đen
Trang 29Người Thái đen sinh sống tập trung ở các tỉnh Tây Bắc và một số huyện vùng cao Nghệ
An, Thanh Hóa Với người Thái đen ở Điện Biên, nhiều phong tục, tập quán trong đời sống vẫn được lưu truyền, duy trì Hiện nay, các thủ tục trong lễ cưới đã được tiết giảm
đi nhiều nhưng tựu trung vẫn giữ được những nét cơ bản truyền thống rất ấn tượng
Nếu bạn được dự các thủ tục cưới hỏi của người Thái đen bạn sẽ thấy vô cùng thú vị Lần đầu tiên là lễ "Chóm mia" (chạm ngõ) Lần thứ hai là lễ "Khắt cằm kin khươi" (ăn hỏi) Lần thứ ba là lễ "Tỏn mia" (đón vợ) Nếu thuận cả thì hai bên sẽ làm đám cưới ba ngày liền, cùng nhau uống rượu xoè, "khắp" tưng bừng
Đặc biệt, trong suốt lễ cưới của người Thái đen (ở bản Noong Nhai, xã Thanh Xương, thành phố Điện Biên), chỉ đàn bà mới được làm lễ, các ông đều làm bếp hoặc giúp các việc phụ
Ngày cưới, nhà trai dậy sớm mổ bò mổ trâu, chuẩn bị các lễ vật đem sang nhà gái gồm: lợn hơi, gạo nếp, rượu, gà, 4 kẹp “pa hắp” cá suối sấy khô bỏ trong giỏ nan đan hình mắt cáo, 4 ống “Bẳng nhứa” (ống thịt) chọn thịt nạc ướp cùng muối, nhồi vào ống tre để khao “lúng ta” (cậu bên ngoại), gói “xí hó, khát pú” (4 gói trầu rừng) ăn cùng với rễ cây
“co hát”, lá trầu lấy ở rừng về gọi là “co tói”
Loại trầu này không ăn với vôi, bà con kiêng ăn vôi, sợ con cháu nóng bỏng Các lễ vật còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của nhà trai và các thành phần “lúng ta” của nhà gái
Lễ trải chăn đệm:
Đến giờ tốt, bốn bà đã được chọn là những phụ nữ đảm đang, khỏe mạnh và hạnh phúc trong cuộc sống, tiến hành thủ tục trải chăn đệm cho cô dâu chú rể, nơi gian buồng cô dâu, theo thứ tự: trải chiếu cô dâu trước đến chiếu chú rể trải lên trên; đệm cô dâu đến đệm chú rể; ga đệm cô dâu đến ga đệm chú rể; hai gối cô dâu chú rể đặt sát vào nhau
Bốn bà vừa làm thủ tục trải đệm, vừa có lời cầu may hạnh phúc cho cô dâu chú
Trang 30rể: “Trải đệm cho dầy Trải chăn cho rộng Trải đệm rộng lấy con gái con trai nhé!” Cuối cùng bốn bà mắc màn cưới rồi buông xuống trùm kín cả chăn đệm.
Lễ Tằng cẩu (Búi tóc ngược)
Sáng hôm làm lễ Tằng cẩu, nhà trai cử một đoàn sang nhà gái gồm những thiếu nữ trẻ đẹp và các thiếu phụ khỏe mạnh, tháo vát, am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán và thông thạo động tác búi tóc ngược cho cô dâu mới Phía nhà gái cũng có số người tương ứng, trong đó có hai thiếu nữ làm phù dâu, thường là bạn thân của cô dâu
Mâm lễ đặt phía gian phòng cô dâu gồm: Đồ sính lễ búi tóc bố mẹ chồng đưa sang (Hai búi tóc độn, một cái châm cài tóc bằng bạc, tám sải vải trắng tự dệt, tám sải vải thổ cẩm, một sải thắt lưng tơ tằm, tiền nhiều ít tuỳ khả năng); Tặng phẩm bố mẹ vợ mừng
lễ búi tóc cho con gái (Bốn sải vải trắng tự dệt, bốn sải vải thổ cẩm, một sải thắt lưng tơ tầm, tiền nhiều hay ít tuỳ khả năng, một cái lược, một bát nước lã để chải tóc cô dâu)
Mâm lễ búi tóc chuẩn bị xong, cô gái sắp thành cô dâu, mặc váy áo, bà mẹ cô gái dắt tay cô gái đến ngồi bệt xuống chiếu trước mâm lễ búi tóc
Bà mẹ thả duỗi tóc con gái xuống cho bên nhà trai tiến hành thủ tục búi tóc ngược Người được chọn để Tằng cẩu đứng ở phía sau lưng cô dâu, nhẹ nhàng chải tóc rồi dùng hai tay vuốt ngược tóc từ phía sau gáy lên kèm theo lọn tóc độn và búi cuốn chặt lại từ trái sang phải hoặc ngược lại
Trong lúc búi tóc cho cô gái, đại diện hai nhà cùng uống rượu và hát đối đáp "khắp toóc" Nội dung của các bài hát nói lên hoàn cảnh của mỗi nhà và những lời dặn dò đôi trai gái
Trong lễ Tằng cẩu, người được chọn búi tóc cho cô dâu hát những lời dặn dò và chúc mừng hạnh phúc cô dâu, chú rể: "Mái tóc dài, chải cho mượt Búi ngược lên thành
“Tằng cẩu” Từ nay về sau, người đã có chồng Nước không đổi dòng Lòng không đổi hướng, con ơi"
Sau lễ Tằng cẩu, cô gái phải luôn búi tóc vừa để làm đẹp vừa như là một dấu hiệu thông báo cho các chàng trai khác biết họ đã có chồng
Xong lễ, bà mối thay mặt nhà trai có lời cảm ơn nhà gái đã có sự quan tâm, đồng tình ủng hộ, tạo điều kiện cho nhà trai tiến hành làm lễ cho hai con đạt kết quả tốt đẹp, thành vợ, thành chồng; Nói xong họ đẩy đôi vợ chồng mới vào trong màn cưới, một lúc sau mới được ra khỏi màn và đi tiếp khách bình thường
Sau vài ngày, nhà trai sẽ tổ chức một buổi cơm thân mật mời nhà gái và chính thức rước con dâu về nhà Trong buổi lễ này, cô dâu sẽ tặng gia đình nhà trai mỗi người một món quà gồm một chiếc khăn piêu, một chiếc túi Thái… do chính tay cô dâu làm từ trước đó
Trang 31Độc đáo ngày Tết thiếu nhi của dân tộc Hà Nhì (Lào Cai)
Là xã có 90% người dân tộc Hà Nhì định cư nơi giáp biên địa đầu của Tổ quốc, xã Y
Tý, huyện Bát Xát, Lào Cai quanh năm suốt tháng chìm trong sương mù dầy đặc, địa hình hiểm trở, kinh tế gặp nhiều khó khăn
Không như các dân tộc ít người khác thường ăn Tết vào ngày âm lịch cuối năm, họ tổ chức Tết cổ truyền của mình vào tháng Giêng hàng năm nhưng không có ngày cố định, được gọi là Tết thiếu nhi (hay còn gọi là Tết Gà Ma O) với mong muốn xua đuổi bệnh tật, cầu chúc cho con trẻ trong thôn, bản có sức khỏe, học hành tốt
Tết thiếu nhi thường tổ chức sau Lễ cúng rừng vào ngày Thìn tháng Giêng tại nhà trưởng dòng họ hoặc nhà già làng hay thầy cúng Do năm Tân Mão 2011, ngày Thìn rơi vào ngày mồng 4 Tết Nguyên Đán nên Lễ cúng rừng được chuyển tới ngày 16 tháng Giêng, vì thế Tết thiếu nhi được người Hà Nhì tổ chức chậm hơn so với các năm trước
Mặt khác, năm nay mùa màng thuận lợi, Tết thiếu nhi của người Hà Nhì cũng làm to hơn mọi năm, người dân náo nức mổ lợn, giết gà để làm lễ, với mong muốn năm mới mọi nhà đều trồng lúa được tốt tươi cho năng suất cao để xóa cái đói, tránh xa được cái nghèo
Từ sáng sớm trong ngày Tết này, mỗi gia đình trong thôn hoặc trong dòng họ phải mang một mâm cơm gồm 10 món đặc trưng, gồm gà luộc, lạc rang, đỗ tương, trứng rang, dồi lợn, rau cải luộc, bí đỏ luộc, khoai lang luộc, khoai sọ, khoai tây, xôi nếp, rượu trắng Tuy nhiên, không phải nhà nào cũng được làm cỗ cúng, những nhà có người
Trang 32chết trong vòng 3 năm không được làm và tham dự ngày Tết thiếu nhi.
Các mâm cơm được xếp hàng thành hai dãy song song ngoài sân, phía đầu sân là mâm cơm chính của trưởng dòng họ hoặc của thầy cúng Ngay cạnh mâm cơm chính
là mâm cơm thờ trong ngày Tết được bày dưới đất với đủ các món, được trang trí hoa đào, hoa rừng, các ống tre đựng rượu tượng trưng có cắm các vòi hút rượu
Bắt đầu buổi lễ Tết thiếu nhi, trưởng dòng họ hoặc thầy cúng sẽ khấn trước bàn thờ, rồi đến đại diện thành viên mỗi gia đình Sau thủ tục này, thầy cúng và mỗi người ai ngồi mâm nhà nấy, mỗi người đàn ông một mâm cùng nhau uống rượu, nói chuyện và trao đổi kinh nghiệm nuôi dạy con cái, kinh nghiệm sản xuất Trong khi đó, phụ nữ thì ngồi chung năm bảy người một mâm bên cạnh bếp lửa trong nhà, trẻ em không được ngồi chung với người lớn
Buỗi lễ kéo dài từ sáng sớm đến chiều tối Sau đó người lớn sẽ phát lộc, từng đứa trẻ trong làng đứng xếp thành hàng và lạy người già lấy phúc, lấy tuổi và ban phát lộc cho các cháu Chúc cho con cháu mình luôn khỏe mạnh, sống đoàn kết biết yêu thương đồng bào, yêu làng yêu bản
Nét đẹp trong đám cưới truyền thống của người Dao Thanh Phán (Bắc Giang)
Bắc Giang có 26 dân tộc anh em cùng chung sống Dân tộc Dao chiếm không nhiều,
chủ yếu ở huyện Lục Ngạn và Sơn Động, nhưng đây lại là dân tộc còn giữ được nhiều
bản sắc văn hóa riêng, trong đó có nghi lễ tổ chức lễ cưới hỏi cho con theo phong tục
truyền thống của dân tộc mình Với người Dao, một gia đình tổ chức lễ cưới cho con
cái thì đồng thời là việc vui, ngày hội của cả làng, cả bản
Đồng bào Dao ở huyện Sơn Động chiếm gần 20% dân số bao gồm người dao Thanh
Phán và dao LoGan sinh sống ở 5 xã vùng cao Nhiều phong tục tập quán của dân tộc
vẫn còn được lưu giữ, trong đó có đám cưới truyền thống vẫn mang đậm bản sắc văn
hóa Con trai, con gái người Dao nếu ưng ý nhau thì nhà trai sẽ cầm một chai rượu đến
nhà gái ăn hỏi và xin lá sớ để ghi ngày sinh, tháng đẻ của cô dâu và chú rể, sau đó định
ngày cưới
Theo phong tục của người Dao Thanh Phán trước buổi lễ đón dâu, gia chủ phải mời thầy cúng đến nhà làm lễ để "làm sạch nhà cửa"
Trước bàn thờ, thầy cúng trịnh trọng mời tổ tiên, các vị thần linh về chứng giám việc đôi trẻ kết hôn, đuổi sạch tà ma và sự xấu xa Thầy cúng
Trang 33cũng chuẩn bị tiền vàng, hương nến bằng giấy để chia cho tổ tiên, gia tiên Theo người Dao thì việc chuẩn bị tiền vàng cho gia tiên rất quan trọng Thứ tiền này được làm bằng loại giấy đặc biệt do bà con tự làm ra Sau đó đặt lên bàn thờ để sau khi cúng xong thì hóa mã Bất cứ công việc gì từ cưới xin, đám tang hay lễ hội của đồng bào người Dao cũng đều phải có thủ tục này.
Bên cạnh công việc của thầy cúng, từ sáng sớm, anh em họ hàng đã tập trung tại nhà chú rể để chuẩn bị sang nhà gái đón dâu Người thịt lợn, bắt gà, người đan sọt để dựng đồ dẫn cưới Theo phong tục của người Dao, ngày trước thường do đường xa, đi lại vất vả nên thường đi đón dâu trước một ngày Ngày nay, dù đường xa hay gần thì tục lệ này vẫn được giữ lại Đoàn đi đón dâu của nhà trai thường chỉ có 5 hoặc 7 người hoặc có thể nhiều hơn nhưng nhất thiết phải là số lẻ và phải có một cô gái làm người dẫn dâu, tất cả đều mặc quần áo của dân tộc mình Dù lễ ăn hỏi đơn sơ thế nhưng đến khi đón dâu, nhà trai cũng chỉ mang theo hai đôi gà, một chân giò lợn, hai bình rượu và một ít bánh kẹo, thuốc lá Khi tất cả đã chuẩn bị xong, đến giờ đẹp cả đoàn sẽ xuất phát đi đón dâu Tất cả đều phải đi bộ, phải trèo đèo, lội suối nên phải đến chiều tối mới đến được nhà gái Lúc này ở nhà gái, anh em họ hàng đã tập trung đông đủ, cô dâu mặc trang phục của dân tộc mình Khi đoàn nhà trai đến thì mời vào nhà Trước bàn thờ tổ tiên, họ nhà trai đứng một bên, nhà gái đứng một bên, đại diện cho hai họ đứng lên để trao lễ và nhận lễ Đồng thời, đại diện nhà trai sẽ thưa chuyện với cả họ, xin được đón cô dâu về nhà để làm con cháu Cô dâu, chú rể sẽ đi mời rượu và nghe lời căn dặn của họ hàng hai bên để khi về sống với nhau được hạnh phúc Tiếp đó, hai
họ sẽ cùng ngồi uống rượu, cùng hát đối, giao duyên cho đến tận tối khuya Đoàn nhà trai sẽ ngủ lại nhà cô dâu để đến đúng 4h sáng sẽ xin dâu về Theo quan niệm của người Dao thì 4h là giờ đẹp nhất
Sau khi đoàn đón dâu của nhà trai về đến cổng thì cũng là lúc làm các thủ tục kết duyên và lễ tơ hồng Đây chính là thủ tục quan trọng nhất để công nhận cô dâu chính thức trở thành con cháu trong nhà… Khi cả đoàn về đến cổng thì nhà trai có đội kèn thổi mời nhà gái vào nhà Ý nghĩa của lời kèn như sau: "Mở rộng cửa đón dâu mới về Đón chào anh em bạn bè nhà gái Từ đây kết thành một nhà Một gia đình mới trăm năm hạnh phúc Sớm có con cháu Nào, anh em ta hãy cùng vào nhà ngồi uống nước, ngồi uống rượu chúc đôi vợ chồng mới." Đội kèn cứ thổi cho đến khi nhà gái vào hết trong nhà thì thôi Lúc này là đến lúc làm lễ tơ hồng Gia đình nhà trai sẽ chọn một người đàn ông ở ngoài họ thành đạt và đã xây dựng gia đình sắp cỗ kết duyên và lễ tơ hồng Cỗ có thịt lợn, thịt gà và nhất thiết là phải có gan lợn luộc chín Cô dâu và chú rể mặc quần áo trang phục truyền thống của dân tộc Cô dâu phải đội chiếc khăn thêu hoa
có diềm truyền thống của người Dao, chú rể mặc thêm chiếc áo và mũ có hình thêu để bái chào tổ tiên Lúc này thầy cúng làm thánh hóa phép biến một chiếc chiếu đẹp để cô dâu, chú rể đứng vào Điều này có ý nghĩa đó là chiếc giường hoa phú quý cầu cho đôi trai gái kết duyên trăm năm hạnh phúc Thầy cúng làm phép xua đuổi tà ma, ngày sinh, tháng đẻ không đẹp của cô dâu và chú rể nếu có ai sinh vào giờ xấu Sau đó làm thủ tục đeo dây tơ hồng bằng vải cho cô dâu và chú rể… và trao đôi chén rượu hồng cho đôi vợ chồng trẻ
Tiếp đến là lễ bái đường Làm lễ này thì chỉ có chú rể phải chắp tay và quỳ bái, còn cô
Trang 34dâu thì cúi đầu đứng yên Ngày trước theo phong tục của người Dao thì chú rể phải vái tới 120 lần Thế nhưng ngày nay để đơn giản hóa thủ tục này tùy theo từng nơi chú rể chỉ còn phải bái 12 hay 24 lần.
Bái đường xong thì đại diện hai họ nhà trai, nhà gái sẽ ngồi trước bàn thờ cúng để uống rượu, ăn gan lợn luộc Vừa ăn uống vừa có ý kiến dạy bảo cô dâu, chú rể đứng ở dưới để vợ chồng hòa thuận, chấp hành tốt pháp luật của nhà nước Xong lễ tơ hồng hai họ sẽ tiếp tục uống rượu chúc mừng đám cưới Đến trưa, họ nhà gái bắt đầu xin phép ra về Lúc này đội kèn sẽ tiếp tục thổi lên để tiễn họ nhà gái Trong lúc thợ kèn thổi bài tiễn thì cô dâu, chú rể sẽ đi mời rượu hai họ một lần nữa Ai uống rượu thì sẽ cho cô dâu, chú rể một ít tiền lẻ để làm lộc… Ra về đến cổng, để tiễn họ nhà gái, họ nhà trai sẽ cử một người hát một bài để chúc họ nhà gái đi về bình an, mong có được ngày tái ngộ
Ngày nay, tùy theo từng nơi, điều kiện gia đình mà việc tổ chức cưới hỏi cho con cái có thể mở rộng hay gọn nhẹ Nhưng các thủ tục cưới hỏi theo phong tục truyền thống thì vẫn được giữ lại, đó cũng là nét văn hóa độc đáo của người Dao Thanh Phán ở tỉnh Bắc Giang
Cỗ bàn ăn uống trong đám cưới người Mường truyền thống
Khảo thiểng (dạm hỏi), Ti nòm pẻng (ăn hỏi chính), Ti chảu (rể về nhà dâu), Xớc du (rước dâu), Ti cơm non (đi tết nhà vợ khi chưa đón dâu) Ở những lễ này, sự ăn uống gần giống nhau, tức là mổ lợn, gà, xôi, rượu cần, rượu chi Nhưng quy mô của hai lễ “Ti chảu” và “Xớc du” thì lớn hơn Đó là hai lễ chính, chỉ cần xét một là có thể nhìn ra lễ kia đây là sự ăn uống trong lễ rước dâu