1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013

54 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Triển Vọng Kinh Tế Việt Nam 2012-2013
Tác giả Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia
Người hướng dẫn TS. Vũ Viết Ngoạn, Chủ Tịch Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia, TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia, TS. Hà Huy Tuấn, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia
Trường học Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 267,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013

Trang 1

ỦY BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA

***

BÁO CÁO TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM 2012-2013

Hà Nội, năm 2011

Trang 2

Chỉ đạo thực hiện: TS Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

Phối hợp chỉ đạo:

 TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

 TS Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

Cố vấn:

 TS Lê Đức Thúy, Nguyên Thống đốc NHNN Việt Nam, Nguyên Chủ tịchUBGSTCQG

 Ông Trương Đình Tuyển, Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại

 GS-TSKH Nguyễn Quang Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh

Chuyên gia thực hiện:

 Chuyên gia độc lập Bùi Trinh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Ban lãnh đạo UBGSTCQG xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các chuyên giakinh tế: TS Lê Đức Thúy, Nguyên Thống đốc NHNN Việt Nam, Nguyên Chủ tịchUBGSTCQG; ông Trương Đình Tuyển, Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại; GS-TSKH.Nguyễn Quang Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam;Chuyên gia độc lập Bùi Trinh; TS Vũ Quang Đông - những người đã ủng hộ sáng kiến

lập Báo cáo “Triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013”; đồng thời đã có những ý tưởng

quan trọng trong việc hình thành tư tưởng chủ đạo của báo cáo Các chuyên gia Bùi Trinh

và Vũ Quang Đông còn đồng thời trực tiếp tham gia phần quan trọng của báo cáo, đó làtính toán định lượng ước tính sản lượng tiềm năng của Việt Nam cũng như phân tích địnhlượng tác động của việc điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản đến CPI; hiệu ứng lan tỏacủa một số ngành, lĩnh vực… Nhóm nghiên cứu cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến

TS Vũ Thành Tự Anh, TS Nguyễn Đức Thành đã dành thời gian đọc và có những nhậnxét quý báu giúp cho Nhóm nghiên cứu có cách nhìn toàn diện hơn và cụ thể hơn về một

số lĩnh vực trọng yếu Để hoàn thành báo cáo này, Nhóm nghiên cứu đã tham khảo nhiều

tư liệu, báo cáo, bài viết nghiên cứu của các cơ quan, các chuyên gia trong và ngoài nước

Đó là những đóng góp không nhỏ trong việc làm cho báo cáo được phong phú về tư liệucũng như góc nhìn phân tích Cuối cùng, Ban lãnh đạo UBGSTCQG cùng Nhóm nghiêncứu cám ơn và đánh giá cao tinh thần nỗ lực, khắc phục khó khăn của các chuyên gia củaUBGSTCQG, những người đã dành nhiều tâm trí, thời gian trực tiếp triển khai thực hiệnlập báo cáo

Hà Nội, tháng 12 năm 2011

Thay mặt Ban lãnh đạo UBGSTCQG

và Nhóm nghiên cứu

TS Vũ Viết Ngoạn

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Sau 25 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đầy ấn tượng,

từ một quốc gia nghèo với mức thu nhập bình quân đầu người 180 USD và siêu lạm phátlên tới trên 700% đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình; đi đầu trong việcgiảm tỷ lệ hộ nghèo và là một trong số ít những quốc gia đang phát triển đạt nhiều Mụctiêu Thiên niên kỷ trước thời hạn Tuy nhiên, những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đốimặt với nhiều bất ổn: lạm phát, nhập siêu, nợ công, bội chi ngân sách… tăng cao; tốc độtăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại Trong bối cảnh như vậy, hai vấn đề lớn đangđược đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu:

Thứ nhất, kinh tế Việt Nam đang chứng kiến một thực tế là hiệu suất đầu tư giảm

sút và chi phí trung gian tăng cao, được phản ánh rõ qua chỉ số ICOR tăng từ mức bìnhquân 4,89 trong giai đoạn 2000-2005 lên 7,17 trong giai đoạn 2006-2010 Với mục đíchduy trì tốc độ tăng trưởng cao, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã được nới lỏng.Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng trong giai đoạn 2006-2010 tăngnhanh hơn giai đoạn 2000-2005; bội chi ngân sách cũng vượt trên 5% GDP Hệ quả lànền kinh tế đã trở nên quá “nóng” (tốc độ tăng trưởng sản lượng thực tế vượt quá sảnlượng tiềm năng) và vì thế lạm phát gia tăng, các cân đối vĩ mô bị phá vỡ Đánh giá, đolường sản lượng tiềm năng làm cơ sở để xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế hợp lýtrong những năm tới đây trở thành một yêu cầu không thể thiếu trong việc hoạch định vàđiều hành chính sách kinh tế vĩ mô

Thứ hai, tiến trình phục hồi kinh tế thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy

thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009 đang bị đe dọa nghiêm trọng Các quốc gia châu Âuđang có nguy cơ bị nhấn chìm trong cuộc đại khủng hoảng nợ công và khu vực đồng tiềnchung châu Âu có nguy cơ bị tan vỡ; kinh tế Mỹ đang phải vật lộn với nạn thất nghiệp vàtình trạng suy giảm lòng tin của thị trường vào hiệu lực chính sách Ngoài ra, tình trạngmất cân đối trên bình diện toàn cầu cũng như bất ổn về an ninh, chính trị ở khu vựcTrung Đông và Bắc Phi càng làm cho kinh tế thế giới thêm nhiều khó khăn Kinh tế ViệtNam chắc chắn sẽ chịu tác động không nhỏ từ những bất ổn của kinh tế thế giới

Trang 5

Là cơ quan được giao chức năng giám sát thị trường tài chính (ngân hàng, chứngkhoán, bảo hiểm), giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện giám sát chung thị trường tàichính, điều phối chính sách kinh tế vĩ mô, UBGSTCQG tiến hành nghiên cứu, xây dựng

Báo cáo “Triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013” Bên cạnh việc đem lại một cái nhìn

tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn vừa qua, Báo cáo tập trung phân tích,ước tính sản lượng tiềm năng cũng như dự báo triển vọng kinh tế thế giới và mức độ ảnhhưởng đến kinh tế Việt Nam, trên cơ sở đó khuyến nghị những chính sách, giải phápnhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởnghợp lý và đảm bảo an sinh xã hội Một số phát hiện quan trọng và những khuyến nghịchính sách chủ yếu nêu trong báo cáo đã được UBGSTCQG tổng hợp trình Chính phủ

Đây là lần đầu tiên UBGSTCQG lập báo cáo đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam

và được thực hiện trong điều kiện không ít khó khăn do hạn chế về nguồn dữ liệu, vềnguồn nhân lực, về giới hạn thời gian, do vậy báo cáo không tránh khỏi khiếm khuyết vàchắc chắn còn nhiều hạn chế UBGSTCQG và Nhóm nghiên cứu hy vọng báo cáo này làmột tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định, điều hành chính sách cũngnhư các nhà nghiên cứu, các định chế tài chính, các doanh nghiệp quan tâm đến tình hình

và triển vọng kinh tế của Việt Nam

UBGSTCQG và Nhóm nghiên cứu mong nhận được góp ý của các chuyên gia, cácnhà kinh tế cũng như các cơ quan để UBGSTCQG và Nhóm nghiên cứu có những báocáo chất lượng hơn trong tương lai

Hà Nội, tháng 12 năm 2011

Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính

Quốc gia

TS Vũ Viết Ngoạn

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

XNK Xuất nhập khẩu

Trang 8

PHẦN I: TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM

I Tăng trưởng

1 Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân thời kỳ 2006-2010 đạt7,02%/năm Trong 3 khu vực, khu vực nông nghiệp tăng trung bình 3,5%/năm; khu vựccông nghiệp và khu vực dịch vụ đều tăng trung bình trên 7,5%/năm

Kết quả trên đã đưa GDP năm 2010 (giá so sánh) cao gấp 2 lần so với năm 2000;GDP năm 2010 (giá thực tế) đạt trên 101 tỷ USD; GDP bình quân đầu người ước đạt1.160 USD, vượt mục tiêu kế hoạch và đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển cómức thu nhập trung bình Ước tính GDP năm 2011 đạt xấp xỉ 119 tỷ USD và GDP bìnhquân đầu người sẽ tăng lên mức xấp xỉ 1.300 USD

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 đến nay thấp hơn khá nhiều sovới mức bình quân 7,38%/năm giai đoạn 2000-2005 và có xu hướng giảm dần: từ mức bìnhquân 8,34%/năm giai đoạn 2006-2007 xuống mức 6,14%/năm giai đoạn 2008-2010 và đạt5,89% năm 2011

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP 2000-2011

Đơn vị: %

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 5.00%

Trang 9

2 Đầu tư và Thương mại

2.1 Đầu tư

2.1.1 Tổng vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư

Trong giai đoạn 2006 đến nay, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng ViệtNam tiếp tục huy động được lượng vốn đầu tư lớn, góp phần vào việc duy trì tốc độ tăngtrưởng ở mức khá cao Theo số liệu của TCTK, vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng tăngnhanh qua các năm Năm 2011, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tănggấp 2,2 lần so với năm 2006 (398,9 nghìn tỷ đồng)1 Với tốc độ tăng cao như vậy, tỷ lệvốn đầu tư/GDP tiếp tục duy trì ở mức cao (trên 40%) trong cả giai đoạn 2006-2010; tuynhiên, cùng với sự giảm tốc đầu tư theo tinh thần Nghị quyết 11 về giảm tổng cầu nhằmkiểm soát lạm phát, tỷ lệ này đã giảm mạnh xuống còn 34,6% năm 2011

Hình 2: Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP giai đoạn 2006-2011

2005 xuống 39,1% trong giai đoạn 2006-2010; năm 2011 tỷ trọng này là 38,9%) Đáng chú

ý, tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng có xu hướng giảm qua các năm (từ mức

1 Nếu loại trừ yếu tố giá, vốn đầu tư xã hội năm 2010 tăng 49% so với năm 2006.

Trang 10

38,1% năm 2006 xuống còn 36,1% năm 2010 và 35,2% năm 2011); trong khi đó, tỷ trọngcủa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại có xu hướng tăng (từ mức 16,2% năm 2006 lênmức 25,9% năm 2011)

Hình 3: Tỷ trọng đầu tư của các khu vực kinh tế trong tổng đầu tư toàn xã hội

Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK.

2.1.2 Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư S-I

Trong những năm gần đây, mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư ngày càng trầmtrọng Trong giai đoạn 2007-2009, mức chênh lệch đã lên đến trên 10% GDP, cao hơn rấtnhiều so với giai đoạn từ 2002-20062 Lý do là trong khi tỷ lệ tiết kiệm khá ổn định, đầu

tư lại có xu hướng tăng nhanh Bên cạnh đó, nếu trước năm 2007, phần lớn thâm hụt tiếtkiệm của khu vực công (Sg-Ig) được tài trợ bởi thặng dư tiết kiệm của khu vực tư nhân(Sp-Ip) thì từ năm 2007 trở đi, cả khu vực tư nhân cũng chịu thâm hụt tiết kiệm, kéo theo

đó chênh lệch S-I của cả nền kinh tế tăng nhanh3

Phần thiếu hụt này phải dựa vào nguồn bên ngoài để bù đắp, nhưng nguồn này làkhông vững chắc Do liên tục cần tài trợ từ bên ngoài nên nợ quốc gia (mọi nguồn) cũng

2

Nguyễn Quang Thái (2010) – Chuyên đề số 2/2011 Hội Khoa học kinh tế Việt Nam.

3 Nguyễn Đức Thành (2011) – Báo cáo “Nền kinh tế trước ngã ba đường”.

Trang 11

như nợ công (cả trong và ngoài nước) tăng lên nhanh chóng; đồng thời, thâm hụt tàikhoản vãng lai cũng tăng mạnh4.

Hình 4: Tiết kiệm - đầu tư và nhập siêu của nền kinh tế giai đoạn 2005-2010 5

Tích lũy nội bộ S Tỷ lệ đầu tư I Chênh lệch S-I Chênh lệch xuất nhập khẩu

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Niên giám thống kê 2010 (trang 140).

2.1.3 Hiệu quả đầu tư

Trong giai đoạn 2006 đến nay, nhìn chung hiệu quả đầu tư của nền kinh tế có xuhướng giảm, thể hiện qua: (i) hệ số ICOR liên tục tăng (ngoại trừ năm 2011); (ii) chi phítrung gian tăng nhanh; (iii) đóng góp của nhân tố lao động và TFP vào tăng trưởng kinh

tế đạt mức thấp Cụ thể:

- Trong giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP luôn ở mức cao, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thực chỉ đạt trung bình khoảng 7%/năm đã khiến cho hệ số ICOR trung bình giai đoạn tăng cao, lên mức 7,17 (cao hơn khá nhiều so

4 Bản chất của thâm hụt vãng lai (và thâm hụt thương mại) bắt nguồn từ cấu trúc kinh tế, trong đó cốt lõi

là sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư: CAB = S-I = (Sp-Ip) + (Sg-Ig).

5 S= GDP + thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài + thu nhập chuyển giao ròng + thuế trực thu – (C + G) Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn số liệu, Nhóm nghiên cứu tính toán sơ bộ như sau: S ~ GDP – C.

Trang 12

với ICOR của giai đoạn 2000-2005 6 và ICOR của các nước đang phát triển khác 7 ).

Đặc biệt vào năm 2009, chỉ số này đã lên tới mức 13,51, báo động về hiệu quả đầu

tư bị sụt giảm một cách nghiêm trọng, dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực đối với nền kinh tế

Hình 5: Tốc độ tăng GDP thực tế và hệ số ICOR giai đoạn 2006-2010

Nguồn: GSO, UBGSTCQG.

- Trong giai đoạn 2006-2010, trong khi tổng giá trị sản xuất tăng trung bình khoảng

11%/năm thì tốc độ tăng giá trị gia tăng chỉ vào khoảng 6% Điều này cho thấy chi phí trung gian đang tăng lên nhanh chóng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh đang giảm sút.

Hình 6: Tốc độ tăng Tổng sản lượng (GO) và Giá trị gia tăng (VA) của nền kinh tế

giai đoạn 2001-2010

Đơn vị: %

6 ICOR được tính theo công thức: ICOR = Δk/ΔGDPk/Δk/ΔGDPGDP, trong đó k là tích lũy vốn (capital stock) Tuy

nhiên, do hạn chế về số liệu khấu hao nên Nhóm nghiên cứu tính toán theo công thức ICOR = (I/GDP)/ŠGDP Theo cách tính này, hệ số ICOR bình quân của giai đoạn 2000-2005 là 4,89 (tính theo giá

so sánh năm 1994).

7 Cụ thể, hệ số ICOR của các nước (cùng giai đoạn phát triển với Việt Nam) như sau: Malaixia trung bình dưới 5 trong giai đoạn 2001-2008; Inđônêxia trung bình là 4,4 trong giai đoạn 2001-2008; Thái Lan trung bình là 4,8 trong giai đoạn 2001-2008 (Nguồn; Fukumari Kimura, Soji Samikawa, 4/2009).

Trang 13

- Trong giai đoạn 2006-2011, theo nhiều nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu vẫn tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư (đóng góp của nhân tố vốn chiếm trên 50%,

thậm chí gần 60%); trong khi đóng góp của nhân tố lao động và TFP8 còn thấp (tươngứng dưới 20% và 30%)9 Đáng chú ý, phần đóng góp của nhân tố lao động và TFP lại có

xu hướng giảm dần Theo đó, mô hình tăng trưởng hiện nay là tăng trưởng theo chiều rộng (dựa trên sự mở rộng nguồn vốn đầu tư), chưa chú trọng đến tăng trưởng theo chiều

sâu (tăng trưởng dựa trên việc cải thiện năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh…)

Hình 7: Đóng góp của các nhân tố vốn, lao động và TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2005 và 2006-2010

Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)

Nguồn: Bùi Trinh (2011).

8 Năng suất nhân tố tổng hợp thể hiện sự phát triển của khoa học, công nghệ, tăng năng suất lao động…

9 Theo tính toán của tác giả Bùi Trinh, trong giai đoạn 2000-2005, mức đóng góp của lao động và TFP vào tăng trưởng GDP tương ứng là 21,28% và 26,64%; trong giai đoạn 2006-2010, mức đóng góp của lao động và TFP vào tăng trưởng GDP giảm khá mạnh, tương ứng là 15,62% và 7,53%.

10 Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO.

Trang 14

USD/năm, bằng 2,5 lần con số của thời kỳ 2001-2005; tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩubình quân đạt 17,2%/năm Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu tăng 33,3%, lên mức 96,26 tỷUSD.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu lớn: từ 4 mặthàng có kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD năm 2006 đã tăng lên 8 mặt hàng năm 2010

Độ mở của nền kinh tế trong giai đoạn này có xu hướng tăng, tỷ lệ tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu/GDP năm 2010 ở mức 155,4% và ước đạt 169,8% vào năm 2011

b) Nhập khẩu

Thời kỳ 2006 đến nay, kim ngạch nhập khẩu có tốc độ tăng cao, đặc biệt trong hainăm đầu sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO: bình quân đạt 68,5 tỷUSD/năm, bằng 2,6 lần con số của thời kỳ 5 năm trước và tăng bình quân 18%/năm Năm

2011, kim ngạch nhập khẩu đạt 105,77 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2010

Nhập siêu giai đoạn 2006-2010 tăng mạnh, bình quân đạt 12,5 tỷ USD/năm, bằng 3,3lần con số 3,8 tỷ USD của thời kỳ 5 năm trước Tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu tăng nhanh, từ mức17,3% của thời kỳ 2001-2005 lên mức 22,3% giai đoạn 2006-2010; tuy nhiên, tỷ lệ này giảmmạnh trong năm 2011, đạt 9,9%

Hình 8: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giai đoạn 2006-2011

Đơn vị: triệu USD

Xuất khẩu Nhập khẩu Nhập siêu

Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK.

2.2.2 Nghiên cứu chỉ số lan tỏa và một số gợi ý chính sách

Trang 15

Như trên đã nêu, nhập siêu có xu hướng tăng nhanh cả về khối lượng và tốc độ.Theo nhiều nghiên cứu, có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này: tiêu dùng trong nướctăng nhanh, khả năng sản xuất và xuất khẩu còn hạn chế, năng lực cạnh tranh của hàngxuất khẩu còn yếu, Việt Nam cần nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, xăng dầu… Tuynhiên, để đi sâu chi tiết và lượng hóa xem ngành, lĩnh vực nào chủ yếu gây ra nhập siêu,

cần tính toán chỉ số lan toả về kinh tế và chỉ số kích thích nhập khẩu trên cơ sở phân tích

cấu trúc của nền kinh tế thông qua bảng Cân đối liên ngành (bảng I/O) (xem Phụ lục 3)

Kết quả tính toán cho thấy, trong số 16 nhóm ngành chính, chỉ có 2 nhóm ngành

có chỉ số lan toả về kinh tế cao hơn 1 và chỉ số kích thích nhập khẩu nhỏ hơn 1 (nhómngành nông nghiệp và nhóm ngành công nghiệp chế biến sản phẩm từ nông nghiệp) Hầuhết các ngành chế biến chế tạo đều có chỉ số kích thích nhập khẩu rất cao, cho thấy cácngành này càng phát triển thì càng kích thích mạnh nhập khẩu

Nguyên nhân của tình trạng nhập siêu không phải do nhu cầu tiêu dùng cuối cùng

vì nhu cầu tiêu dùng cuối cùng hàng nhập khẩu chỉ chiếm chưa tới 10% trong tổng sốnhập khẩu; chính nhu cầu hàng hóa cho sản xuất mới là nguyên nhân chính gây nhậpsiêu Nền công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam còn nhiều hạn chế, công nghiệpphụ trợ kém phát triển, sản xuất chủ yếu mang tính gia công nên đã tạo ra sự phát triểnnhanh về số lượng trong khi chất lượng ít có sự cải thiện Hầu hết máy móc, nguyên vậtliệu chính đều phải nhập khẩu Hiệu quả sản xuất ngày càng giảm sút, thể hiện ở việc tỷ

lệ chi phí trung gian trên giá trị sản xuất liên tục tăng lên

Từ những phân tích trên, có thể thấy, rất cần có sự thay đổi về chính sách thương mại, ví dụ: cần hướng đầu tư vào những ngành có hệ số lan toả kinh tế cao và chỉ số kích thích nhập khẩu thấp để phát huy lợi thế (ví dụ nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến sản phẩm từ nông nghiệp); đồng thời, cùng với biện pháp tăng xuất khẩu để giảm nhập siêu, cần nghiên cứu những biện pháp mang tính dài hạn như: tăng hiệu quả đầu tư, tăng năng lực cạnh tranh, đặc biệt là tăng cường phát triển công nghiệp phụ trợ

để tăng giá trị gia tăng sản xuất trong nước…

II Lạm phát

Trong giai đoạn 2006 đến nay, lạm phát của Việt Nam nhìn chung đều ở mức 2con số (ngoại trừ năm 2009) với mức tăng trung bình là 11,5%/năm, cao gấp hơn 2 lầnmức tăng 5,2%/năm của giai đoạn 2001-2005 Nhìn vào đồ thị có thể thấy, lạm phát trongvòng hơn 10 năm trở lại đây phân chia thành hai giai đoạn khá rõ nét

Trang 16

Trong suốt thời gian qua, lạm phát là vấn đề dai dẳng và gây tổn thương nhiềunhất tới kinh tế Việt Nam khi thường xuyên cao hơn, kéo dài lâu hơn và dao động mạnhhơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Hình 9: Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

của Việt Nam Tuy nhiên, ảnh hưởng của giá thế giới đến giá cả trong nước là có mức

độ và chưa phải là nhân tố quyết định làm CPI tăng cao Bằng chứng là nhiều quốc gia

trong khu vực cũng chịu chung tác động của giá cả quốc tế nhưng mức độ lạm phát thấphơn nhiều so với Việt Nam12

+Lạm phát chi phí đẩy: lạm phát trong nước chịu sự tác động của chi phí đẩy bao

gồm cả việc điều chỉnh tỷ giá (theo tính toán của UBGSTCQG, việc điều chỉnh tăng tỷ

11 Tỷ lệ kim ngạch XNK/GDP lên đến mức 170%; tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu/GDP ở mức 89%.

12 Trong giai đoạn 2007-2010, tỷ lệ lạm phát bình quân của Trung Quốc vào khoảng 3,32%/năm; Thái Lan 3,2%/năm; Malaixia 2,4%/năm; Inđônêxia 6,5%/năm; Philipin 4,8%/năm (nguồn: WB).

Trang 17

giá 9,3% vào tháng 2/2011 có thể khiến CPI năm 2011 tăng thêm 1,2%.), điều chỉnhlương và điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản (theo tính toán của UBGSTCQG, việcđiều chỉnh giá điện đầu năm 2011 (18%) có thể khiến CPI năm 2011 tăng thêm 0,75%;giá xăng tăng thêm 20% khiến CPI năm 2011 tăng thêm khoảng 0,5%.) Nhưng ảnhhưởng của chi phí đẩy ở vòng 1 đến lạm phát chỉ ở mức độ nhất định, chưa phải là yếu tốquyết định làm lạm phát tăng cao.

+ Lạm phát cầu kéo: lạm phát cầu kéo ở Việt Nam biểu hiện ở việc tổng cầu tăng

quá nhanh, thể hiện qua hai khía cạnh: (i) Tổng phương tiện thanh toán13 (M2) luôn duytrì tốc độ tăng cao (M2 tăng 22,8%/năm giai đoạn 2000-2005 và 29,5%/năm giai đoạn2006-2010), khiến “độ sâu tài chính” (tính bằng tỷ số M2/GDP) tăng vọt từ mức 97,6%năm 2006 lên tới mức 133,8% năm 2010 Trong giai đoạn 2007-2010, M2 đã tăng 2 lần,

trong khi đó GDP danh nghĩa tăng 1,73 lần và GDP thực tế chỉ tăng 1,2 lần; (ii) sản lượng thực tế trong những năm gần đây đã tăng quá cao so với tiềm năng 14 , từ đó gây ra lạm phát

+ Một số yếu tố đặc thù khác: (i) Tình trạng phát triển quá nóng của thị trường bất

động sản, thị trường chứng khoán, tình trạng đôla hóa, vàng hóa nghiêm trọng khiến mộtlượng vốn lớn của xã hội không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất; (ii) “Kỳ vọng lạmphát” cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực, tạo thành “lạm phát tâm lý”

Tóm lại, hiệu quả đầu tư giảm sút, hệ số ICOR tăng cao, do đó để duy trì tốc độ

tăng trưởng kinh tế buộc phải gia tăng đầu tư dẫn tới tăng tổng cầu, được biểu hiện quaviệc mở rộng M2 và tín dụng quá mức, vượt quá khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế,nhất là sau khi thực hiện gói kích cầu Đây chính là nguyên nhân sâu xa và chủ yếu gây ralạm phát ở Việt Nam Yếu tố tâm lý của người dân do nhiều nguyên nhân đã trở thànhchất xúc tác rất mạnh làm gia tăng mức độ lạm phát mỗi khi có một tác nhân dù nhỏ haylớn (ví dụ điều chỉnh giá, điều chỉnh lương…)

III Chính sách tài khóa và nợ công

Quy mô thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN) tăng nhanh qua các năm Tínhtrung bình, thu NSNN giai đoạn 2006-2010 tương đương 27,2% GDP, cao hơn con số24,6% GDP giai đoạn 2001-2005; chi NSNN tương đương 36,3% GDP, cao hơn con số32,6% GDP giai đoạn 2001-2005 Riêng năm 2011, thu NSNN tương đương 26,6% GDP,chi NSNN tương đương 31,4% GDP, bội chi tương đương 4,9% GDP

13 Tổng phương tiện thanh toán (M2) là biến số có sự quan hệ chặt chẽ với tổng cầu trong nền kinh tế, thường được sử dụng để đánh giá biến động tổng cầu của nền kinh tế.

14 Theo một số nghiên cứu gần đây, sản lượng thực tế của Việt Nam từ năm 2007 đã vượt quá sản lượng tiềm năng từ 0,5-1,5 điểm%.

Trang 18

Hình 10: Quy mô Thu - Chi NSNN giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010

36.3

Quy mô thu Quy mô chi

Nguồn: Bộ Tài chính.

Trong thời gian qua, chính sách tài khóa (CSTK) được mở rộng đáng kể, thể hiện

ở việc tổng vốn đầu tư từ NSNN giai đoạn 2006-2010 cao gấp 2,3 lần so với giai đoạn2001-2005 Năm 2011, tổng vốn đầu tư từ NSNN tăng 6,7% so với năm 2010 Ưu điểmcủa CSTK trong giai đoạn qua là linh hoạt chuyển hướng chính sách nhằm đối phó vớitác động từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Việc thực thi CSTKnới lỏng, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu15, đã tác độngtích cực tới duy trì tốc độ tăng trưởng và giúp Việt Nam sớm thoát khỏi suy thoái16

Tuy nhiên, việc mở rộng CSTK nhanh cũng góp phần khiến lạm phát tăng cao trởlại và làm bội chi ngân sách, nợ công tăng nhanh17 Dư nợ nước ngoài chiếm 30% trong cơcấu nợ công và dư nợ nội địa phần lớn là trái phiếu chính phủ do các NHTM nắm giữ, vì vậybiến động tỷ giá của những đồng tiền có tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ nước ngoài cũng như

sự ổn định và hiệu quả của hệ thống ngân hàng có tác động lớn đến tính an toàn của nợ công.Bên cạnh đó, việc thực thi chính sách thời gian qua có một số hạn chế: (i) mức huy độngcho NSNN cao (mức huy động NSNN thực hiện 27,2% GDP, cao hơn đến 4 điểm% so

15 Gói kích thích kinh tế, bao gồm gói đầu tư công, gói chính sách thuế và gói an sinh xã hội với tồng giá trị lên tới trên 100 nghìn tỷ đồng.

16 Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2010 đạt 7,02%/năm Năm 2009, tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống còn 5,32%, tuy nhiên Việt Nam là 1 trong 12 nước có tốc độ tăng trưởng dương trong bối cảnh khủng hoảng được đánh giá là tồi tệ nhất trong lịch sử.

17 Bội chi ngân sách tăng lên mức 5,6% GDP giai đoạn 2006-2010 so với 4,9% GDP giai đoạn 2001-2005, trong khi nợ công tăng từ mức 33,8% GDP năm 2007 lên 57,3% năm 2010, tăng 23,5 điểm% Trong năm

2011, nợ công giảm xuống mức 54,6% GDP do khoản chi trả nợ tăng 15.000 tỷ đồng so với dự toán.

Trang 19

với mức kế hoạch 23% GDP) trong điều kiện nền kinh tế khó khăn đã làm tăng thêmgánh nặng của các doanh nghiệp; (ii) NSNN thâm hụt cao và liên tục trong nhiều nămđược bù đắp một phần bằng việc phát hành trái phiếu đã làm tăng M2 Trong những nămgần đây, đặc biệt trong giai đoạn 2009-2010, nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế do ảnhhưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã thực hiện chương trình kích cầu,nâng tổng đầu tư lên rất cao18 Để bù đắp thâm hụt ngân sách và có nguồn đầu tư pháttriển, Chính phủ đã phát hành trái phiếu đồng thời bảo lãnh cho 2 ngân hàng chính sách

và Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc phát hành trái phiếu với số lượng khálớn19 Việc phát hành trái phiếu này nếu bán cho công chúng (hộ gia đình và doanhnghiệp) thì không tác động làm thay đổi M2 Nhưng thực tế số trái phiếu này hầu hết báncho các tổ chức tín dụng và các tổ chức tín dụng sử dụng để chiết khấu hoặc bán choNHNN qua nghiệp vụ thị trường mở, theo đó đã trở thành một nhân tố làm tăng M2 Nóicách khác, việc phát hành trái phiếu chính phủ đã được tiền tệ hóa

Hình 11: Nợ công, nợ nước ngoài, nợ công nước ngoài 2006 – 2010

Nợ công nước ngoài

Trang 20

Trong những năm 2006-2007, thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển khámạnh Cả hai chỉ số VnIndex và HnxIndex đều đã đạt đỉnh vào đầu năm 2007 với cácmức lần lượt là 1.158,3 điểm và 459,4 điểm Giai đoạn tiếp theo, do chịu ảnh hưởng từkhủng hoảng kinh tế thế giới cũng như những bất ổn từ kinh tế vĩ mô trong nước, thịtrường đi xuống mạnh trong năm 2008 và nửa đầu năm 2009 Những dấu hiệu phục hồiđược xác lập vào nửa cuối của năm 2009 với mức tăng khá cả về chỉ số cũng như khốilượng giao dịch, nhưng sau đó thị trường trở lại với sự giằng co với xu thế giảm trongsuốt năm 2010 và giảm mạnh trong 2011 Những điểm đáng chú ý của thị trường chứngkhoán năm 2011 bao gồm:

- Thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh, thậm chí thiết lập mức đáy lịch sử mới.

Tính chung cả năm 2011, chỉ số VnIndex và HnxIndex giảm lần lượt 27,6% (từ mức485,97 điểm xuống còn 351,6 điểm) và 49,9% (từ mức 113,4 điểm xuống còn 56,8 điểm)

so với đầu năm Nếu loại trừ tác động của các cổ phiếu lớn bị thao túng giá (BVH, MSN,VIC, VNM, VPL) thì chỉ số VnIndex đang xấp xỉ mức đáy 235,5 của tháng 2/2009 Giátrị vốn hóa của thị trường chứng khoán chỉ còn tương đương hơn 20% GDP

- Thanh khoản thị trường thấp hơn nhiều so với năm trước (KLGD và GTGD sụt

giảm), cụ thể: tính đến 12/2011, KLGD bình quân phiên năm 2011 của cả hai sàn HSX

và HNX chỉ là 59,7 triệu cổ phiếu, giảm 27,5% so với năm 2010; GTGD bình quân phiêntính đến 12/2011 là 798,3 tỷ đồng, giảm 64,7% so với năm 2010

- Nhiều công ty chứng khoán (CTCK) thua lỗ và thậm chí đã có một số công ty lâm vào tình trạng mất thanh khoản 20 Tính đến 9/2011, 65 CTCK thua lỗ và 71 CTCK

Có thể thấy, nếu kinh tế vĩ mô không tạo được lực đẩy và nếu không có chính sách

hỗ trợ thị trường chứng khoán cũng như các biện pháp củng cố lòng tin của nhà đầu tư thìnăm 2012 thị trường có thể tiếp tục sụt giảm và như vậy sẽ làm tăng rủi ro chéo lên hệthống ngân hàng, thị trường ngoại hối và gia tăng áp lực mất giá VNĐ

Hình 12: Chỉ số VnIndex, HnxIndex và khối lượng giao dịch

20 Chỉ trong vòng hơn 1 tháng kể từ 1/11 đến 5/12/2011, CTCK SME đã hai lần lâm vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản; CTCK Tràng An cũng bị mất khả năng thanh toán với giá trị giao dịch 7 tỷ đồng.

Trang 21

giai đoạn giai đoạn 2006 đến nay

Đơn vị: điểm; triệu cổ phiếu/phiên

0 20000000 40000000 60000000 80000000 100000000 120000000 140000000 160000000

Trang 22

2 Thị trường tiền tệ: khu vực ngân hàng yếu đi sau nhiều năm tăng trưởng nóng

CSTT trong giai đoạn 2006-2010 có sự mở rộng khá nhanh, cụ thể: tổng phươngtiện thanh toán (M2) tăng bình quân 30,2%/năm, cao hơn mức tăng bình quân 23,2%/nămgiai đoạn 2001-2005; tín dụng cho nền kinh tế tăng bình quân 33,2%/năm, cao hơn mứctăng bình quân 26,1%/năm của giai đoạn 2001-2005 Theo đó, tỷ lệ M2/GDP đã tăng từmức 0,97 lần năm 2006 lên đến 1,34 lần năm 2010 - mức cao so với các nước trong khu

vực; tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng từ 0,71 lần năm 2006 lên mức 1,16 lần năm 2010 Việc

mở rộng quá nhanh CSTT trong khi tăng trưởng kinh tế không tương xứng được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam.

Tuy nhiên, trong năm 2011, CSTT thắt chặt đột ngột: mức tăng M2 và tín dụngcủa cả năm 2011 ước đạt tương ứng dưới 10% và 12-13%, chỉ bằng 1/3 so với mức tăngtrung bình của các năm trước Có thể thấy, đây là mức thắt chặt chưa từng có từ trước tớinay, thấp hơn đáng kể so với mức tăng định hướng đã nêu trong Nghị quyết 11 nhằmhướng tới giảm tổng cầu21 Điều này đã góp phần đáng kể vào việc kéo lạm phát (theotháng) giảm tương đối nhanh trong nửa cuối năm 2011, từ đó góp phần tăng giá trị VNĐ

và giảm sức ép lên tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, “cú phanh gấp” này cũng tạo ra nhiều rủi

ro cho hệ thống tài chính – ngân hàng và nền kinh tế, cụ thể: các doanh nghiệp gặp nhiềukhó khăn; thanh khoản của các NHTM và các tổ chức kinh tế bị thách thức nghiêm trọng;thị trường bất động sản và chứng khoán bị đình trệ

Bảng 1: Tốc độ tăng cung tiền và tín dụng giai đoạn 2006-2011

Đơn vị: %

Tốc độ tăng M2 32,0 41,2 20,3 27,5 29,8 ~ 10%Tốc độ tăng tín dụng 24,8 48,9 23,4 37,5 31,2 12-13%M2/GDP danh nghĩa (lần) 0,97 1,16 1,08 1,23 1,34 1,15

Tín dụng/GDP danh nghĩa

1,02

Nguồn: UBGSTCQG.

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng ngày càng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn, biểu hiện

qua việc thị trường LNH thời gian qua có những biến động lớn Gần đây, thị trường LNHchứng kiến sự rối loạn chưa từng có khi niềm tin sụt giảm nghiêm trọng Lần đầu tiêntrong lịch sử hệ thống ngân hàng Việt Nam, vay trên thị trường II phải có thế chấp và

21 Theo Nghị quyết 11, cần bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16%.

Trang 23

điều đáng quan ngại là tỷ lệ nợ xấu trên thị trường này vẫn tiếp tục tăng nhanh Hệ quả làhiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng diễn ra khá phổ biến, kéo theohiện tượng căng thẳng thanh khoản (ban đầu chỉ diễn ra ở một số ngân hảng nhỏ nay đãlan ra toàn hệ thống ngân hàng); đồng thời căng thẳng thanh khoản từ chỗ chỉ diễn ra với

kỳ hạn dài nay đã diễn ra đối với tất cả các kỳ hạn, kể cả kỳ hạn ngắn Thanh khoản căngthẳng, nợ xấu (cả thị trường 1 và thị trường 2) tăng cao làm lãi suất huy động và cho vaykhông thể hạ được mặc dù lạm phát đang có xu hướng giảm khá nhanh

Áp lực thanh khoản cũng có thể được nhìn nhận dựa vào việc chỉ tiêu cho vay/huyđộng (LDR) đang có xu hướng tăng cao Áp lực thanh khoản một mặt đẩy mặt bằng lãi suấttăng cao do các NHTM cạnh tranh huy động tiền gửi, mặt khác gây nhiều rủi ro cho hệthống ngân hàng khi CSTT được thắt chặt để kiềm chế lạm phát Về nguyên nhân, có thểthấy, việc tín dụng luôn tăng nhanh hơn M2 cũng góp phần làm tăng áp lực lên thanhkhoản của hệ thống

Bảng 2: Tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) giai đoạn 2008-2011

Đơn vị: %

Nguồn: UBGSTCQG.

Chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng ngày một xấu hơn do hệ quả tăng

trưởng tín dụng quá cao trong những năm qua trong khi năng lực quản lý rủi ro thấp vànhững bất cập trong điều hành CSTT, lãi suất của cơ quan quản lý nhà nước Cụ thể là nợxấu của toàn hệ thống ngân hàng tính đến hết quý II/2011tăng nhanh lên mức 71,6 nghìn

tỷ đồng (tăng hơn 20 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2010 và tăng 45,1% so với cùng kỳnăm trước) và gần đây đã tăng lên mức 85 nghìn tỷ đồng Tốc độ tăng trung bình của nợxấu trong 6 tháng đầu năm 2011 là 7,3%/tháng, cao gấp đôi mức bình quân tháng củanăm 2010 Nợ xấu tăng nhanh trong khi tín dụng tăng thấp cho thấy chất lượng tín dụngđang suy giảm và phản ánh những khó khăn của doanh nghiệp trong năm 2011, làm tăngrủi ro tín dụng cho hệ thống ngân hàng

Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cũng tăng mạnh, lên mức 2,88% vào tháng 6/2011 và gầnđây tăng mạnh lên mức 3,39% (cao hơn 1,2 điểm% so với cuối năm 2010) Các nhóm nợxấu đều có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt tỷ trọng của nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mấtvốn) trong tổng nợ xấu đã tăng lên trên 50%, cho thấy nợ xấu có xu hướng ngày càng xấuhơn Nợ xấu tăng lên trong khi số dư dự phòng rủi ro tín dụng không tăng tương xứng

Trang 24

đang tiềm ẩn nhiều rủi ro: tỷ lệ số dư dự phòng rủi ro tín dụng/nợ xấu có xu hướng giảm,

từ mức 81,1% cuối năm 2010 xuống chỉ còn 67,1% tính đến hết tháng 6/2011

Có thể thấy, đây là hệ quả của những rủi ro chéo giữa thị trường tiền tệ và các thịtrường chứng khoán và bất động sản: (1) Trong một thời gian dài, các CTCK đã tiến hànhhuy động vốn dưới nhiều hình thức, không loại trừ vay vốn ngân hàng22, sau đó cho nhàđầu tư chứng khoán vay lại thông qua các nghiệp vụ như repo, margin… Do thị trườngsuy giảm nhanh, trong khi các công ty chứng khoán còn thiếu kinh nghiệm trong quản trịrủi ro nên nhiều khoản vay của các nhà đầu tư trở thành những khoản nợ không thể chitrả; (2) Lĩnh vực bất động sản có một giai đoạn bùng nổ, thu hút một nguồn lực tín dụng,đầu tư rất lớn; tuy nhiên, do giá cả giảm mạnh, các doanh nghiệp không thể bán hàng đểthu hồi vốn và trả nợ ngân hàng cũng như tiến hành các dự án đầu tư dang dở Những bấtcập kể trên góp phần không nhỏ vào việc làm tăng nợ đọng, nợ xấu của hệ thống ngânhàng Cùng với triển vọng khá ảm đạm của hai thị trường này, dự báo nợ xấu của hệthống ngân hàng sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có xu hướng giảm mạnh Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

(CAR) toàn hệ thống đạt 11,97% trong tháng 6/2011 (thấp hơn 0,16 điểm% so vớitháng 12/2010) do chất lượng tài sản có suy giảm Số lượng các ngân hàng không đápứng được CAR theo quy định đã tăng đáng kể Theo số liệu tính toán của UBGSTCQG,tính đến ngày 31/6/2011 chỉ có 2/47 ngân hàng không đạt tỷ lệ này nhưng đến hết quý III/

2011, con số này đã là 17/42 ngân hàng

3 Thị trường ngoại hối và vàng

Tỷ giá danh nghĩa VND/USD có xu hướng ngày càng tăng cao, đặc biệt trongnhững năm cuối của giai đoạn 2006 đến nay Trong năm 2010, thị trường ngoại hối diễnbiến khá phức tạp Tỷ giá bán ra tại các NHTM liên tục kịch trần ngay từ đầu năm và sức

ép tỷ giá chỉ nới lỏng (dưới mức trần) đôi chút trong giai đoạn từ giữa tháng 4 đến đầutháng 7 Trong năm 2010, NHNN cũng đã 2 lần điều chỉnh tỷ giá với mức tăng 5,5% Mặc

dù vậy, những lần điều chỉnh này vẫn không giải tỏa được tâm lý thị trường, do đó vào đầutháng 2/2011, NHNN phải tiếp tục điều chỉnh với biên độ lớn (tới 9,3%) Kể từ đó đến nay,thị trường ngoại hối khá ổn định, tỷ giá thị trường tự do đã kéo về sát, thậm chí có thờiđiểm còn thấp hơn so với tỷ giá niêm yết của các NHTM

Bên cạnh đó, năm 2011, nhờ kiểm soát nhập siêu khá tốt (nhập siêu cả năm đạt 9,51

tỷ USD, tương đương 9,9% kim ngạch xuất khẩu) nên cán cân thanh toán ước thặng dư 2,5

tỷ USD sau một số năm thâm hụt, vì vậy phần nào giảm bớt căng thẳng tỷ giá Tuy nhiên,

22 Nhiều công ty chứng khoán là các công ty con của các ngân hàng.

Trang 25

tính ổn định của tỷ giá chưa bền vững, một phần do Việt Nam tiếp tục nhập siêu ở mức khácao, cán cân vốn và tài chính thặng dư chủ yếu nhờ nguồn vốn ngắn hạn (FII, vay LC củadoanh nghiệp) – là nguồn vốn có tính bất ổn cao; mặt khác, tỷ giá chịu ảnh hưởng đáng kểcủa hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu vàng23, trong khi đó giá vàng quốc tế biến độngkhá nhiều.

Hộp 1 Tỷ giá thực song phương với USD và tỷ giá thực đa phương

Do mức chênh lệch lớn về lạm phát giữa Mỹ và Việt Nam tiếp tục gia tăng trong năm

2011 khiến tỷ giá danh nghĩa song phương (NER) tiếp tục xu hướng tăng cao (149) vàkhoảng cách giữa NER và tỷ giá thực song phương (RER) ngày càng doãng rộng (từ mứcxấp xỉ 44 trong năm 2009 lên đến 60 trong năm 2011) Theo tính toán của UBGSTCQG,tính đến tháng 9/2011, chỉ số tỷ giá thực song phương (RER) giữa VNĐ và USD đạt78,8, tức là VNĐ đang được định giá cao hơn 21,2% so với USD

Tuy nhiên, do trên thị trường quốc tế đồng USD trong những năm gần đây lại bị mấtgiá so với hầu hết các đồng tiền lớn trên thế giới (trong đó có các đối tác thương mạilớn của Việt Nam)24

, nên nếu tính tỷ giá thực đa phương (REER), khoảng cách định giácao của VND đã được thu hẹp Xu hướng đi lên ngày càng mạnh của NEER (tỷ giá danhnghĩa đa phương) (tăng từ mức 134 trong năm 2009 lên mức 180 trong năm 2011) chothấy sự mất giá ngày càng lớn của VNĐ, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam so với cácđối tác thương mại lớn đang giảm sút nhiều Tuy nhiên, nếu tính NEER có hiệu chỉnhtheo chênh lệch lạm phát (REER), tính đến hết tháng 9/2011, REER đạt xấp xỉ 95, tức làđược định giá cao hơn giá trị thực chỉ là 5% Như vậy, nếu so sánh với một rổ tiền tệcác nước đối tác thương mại lớn thì giá trị VND đang về khá sát giá trị thực

Thị trường vàng thời gian qua cũng có nhiều biến động, một mặt do chịu ảnh hưởngcủa biến động giá vàng thế giới, một mặt do hoạt động đầu cơ, làm giá cũng như tình hìnhvàng hóa còn khá nặng nề trong nền kinh tế Việc giá vàng trong nước liên tục biến động,thậm chí có thời điểm chênh lệch với giá vàng thế giới lên đến 3-4 triệu đồng/lượng, đanggây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý, điều hành CSTT của Nhà nước Nghiên cứucủa UBGSTCQG cho thấy, biến động giá vàng có thể dẫn đến nhiều nguy cơ, bao gồm:

23 Lật lại dữ liệu lịch sử những cơn sốc vàng từ năm 2009 đến nay có thế thấy bất cứ một đợt sốt giá vàng nào cũng kéo theo sự lên giá mạnh mẽ của đồng USD trên thị trường tự do Để kiểm tra mối quan hệ giữa vàng và tỷ giá, UBGSTCQG đã thực hiện mô hình hồi quy tỷ giá tự do theo giá vàng trong giai đoạn từ tháng 1/2009 -7/2011 và thấy rằng: trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu giá vàng tăng 100 nghìn đồng/lượng có thể kéo theo tỷ giá tự do tăng thêm khoảng 9,5 đồng.

24 Trong năm 2010, đồng JPY đã tăng 12,9% so với USD, SGD tăng 10,3%, THB tăng 7,7% Trong năm

2011, đồng JPY tăng 5,2% so với USD, đồng NDT tăng 4,7%

Trang 26

tăng áp lực tỷ giá; làm tăng nhập siêu và tác động tiêu cực lên cán cân thanh toán tổngthể25; tăng sức ép lạm phát, đặc biệt là lạm phát tâm lý; ảnh hưởng tiêu cực đến thị trườngchứng khoán và bất động sản.

Tóm lại:

- Về mô hình tăng trưởng, tăng trưởng của kinh tế Việt Nam chủ yếu phụ thuộc

vào vốn đầu tư và nguồn nhân lực ít đào tạo, chưa phát huy được những nhân tố tăng

trưởng theo chiều sâu; trong khi đó, hiệu quả đầu tư còn thấp.

- Nhiều mất cân đối vĩ mô còn tồn tại, gây sức ép và cản trở việc đạt được tốc độ

tăng trưởng cao và bền vững (mất cân đối tiết kiệm và đầu tư, nhập siêu lớn, lạm phát

cao, bội chi ngân sách lớn…) Trong khi đó, dư địa CSTK và CSTT hiện còn rất hạn

hẹp do phải đối mặt với chính những bất ổn kinh tế vĩ mô này, đặc biệt là vấn đề lạm phát

cao và liên tục

- Thị trường tài chính đang đối mặt với nguy cơ rủi ro lớn: TTCK sụt giảm

nghiêm trọng; hệ thống ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản và nợ xấu tăng cao;những rủi ro chéo trong hệ thống tài chính

25 Theo số liệu thống kê, 95% lượng vàng tiêu thụ tại Việt Nam được nhập khẩu trong đó vàng nhập lậu ước tính lên đến 20-40 tấn/năm, tương đương 1,2 tỷ USD – 2,4 tỷ USD (Nguồn: Reuters, SBV)

Trang 27

PHẦN II: PHÂN TÍCH TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM

I Phân tích định tính

1 Triển vọng kinh tế thế giới

Kinh tế thế giới năm 2011 đối mặt với nhiều khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro.Tăng trưởng tại một số quốc gia sụt giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp luôn cao26 Khủnghoảng nợ công ngày càng nghiêm trọng đã tác động đến tất cả các nước trong khu vực

EU, lan sang cả khu vực ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại và đầu

tư quốc tế So sánh với thời điểm trước khủng hoảng năm 2008, những yếu tố cơ bản củakinh tế thế giới (thất nghiệp, nợ công, sản xuất, cầu tiêu dùng, hệ thống ngân hàng…) thểhiện sự yếu kém và khó khăn hơn, nguy cơ suy thoái bị đẩy lên cao27 Mặc dù khả năng

kinh tế thế giới năm 2012 sẽ giảm sâu như trong quý I/2009 là không lớn song những khó

khăn kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ còn kéo dài qua năm 2012, các tổ chức quốc tế đều hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế của các khu vực và thế giới so với năm 2011 28.Triển vọng kinh tế thế giới năm 2013 dự báo sẽ tốt hơn chút ít so với năm 2012

Châu Á (đặc biệt là các nước mới nổi) luôn được xem là động lực phát triển kinh

tế thế giới trong thời gian qua cũng đang phải hứng chịu những tác động tiêu cực của

kinh tế toàn cầu: sức ép lạm phát trong năm 2012 được dự báo sẽ giảm mạnh nhưng tốc

độ tăng trưởng của khu vực kể cả Ấn Độ, Trung Quốc29 sẽ suy giảm đáng kể; thương mại

và đầu tư từ các nền kinh tế phát triển vào khu vực này sẽ giảm Trong bối cảnh đó, nhiều nước đã có sự chuyển hướng chính sách, giảm bớt mức độ thắt chặt và chuẩn bị phương án nới lỏng chính sách nếu cần thiết 30

Lĩnh vực thương mại và đầu tư quốc tế cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ khủnghoảng tài chính 2008-2009 và khủng hoảng nợ công Thương mại quốc tế dự báo chỉ tăng7,5% (về khối lượng) trong năm 2011, thấp hơn nhiều so với mức tăng 12,8% của năm

26 Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trên 9% và của Châu Âu lên mức kỷ lục 10,2% trong tháng 9.

27 Nguy cơ suy thoái kinh tế Mỹ được Bloomberg dự báo lên đến 50% vào trung tuần tháng 11.

28 IMF hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới và các nước đang phát triển năm 2012 xuống lần lượt là 4,01%

và 6,44% so với mức 4,3% và 6,7% đưa ra trước đó Ngân hàng Thế giới (WB) hạ dự báo tăng trưởng của kinh tế thế giới và các nước đang phát triển trong năm 2012 xuống mức lần lượt là 3,6% và 6,3%.

29 WB dự báo tăng trưởng GDP 2012 của Trung Quốc sẽ giảm xuống 8,4% so với 9,1% của năm 2011.

30 Ngày 25/11, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0,5 điểm%, xuống còn 16% đối với hơn 20 ngân hàng nông thôn NHTW Indonesia cũng giảm lãi suất từ 6,5% xuống mức kỷ lục 6% khi CPI tháng 10 giảm xuống còn 4,42%.Philippines thúc đẩy gói kích thích tài chính mới để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Ngày đăng: 25/01/2013, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6: Tốc độ tăng Tổng sản lượng (GO) và Giá trị gia tăng (VA) của nền kinh tế giai đoạn 2001-2010 - Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013
Hình 6 Tốc độ tăng Tổng sản lượng (GO) và Giá trị gia tăng (VA) của nền kinh tế giai đoạn 2001-2010 (Trang 11)
Bảng 3: Dự báo giá hàng hóa thế giới 2012 - Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013
Bảng 3 Dự báo giá hàng hóa thế giới 2012 (Trang 25)
Bảng 4: Tăng trưởng của K và L qua ba kịch bản kinh tế - Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013
Bảng 4 Tăng trưởng của K và L qua ba kịch bản kinh tế (Trang 32)
Bảng 5: Dự tính tăng trưởng sản lượng tiềm năng - Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013
Bảng 5 Dự tính tăng trưởng sản lượng tiềm năng (Trang 32)
Bảng 6: Tăng trưởng sản lượng tiềm năng theo phương pháp SUT - Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013
Bảng 6 Tăng trưởng sản lượng tiềm năng theo phương pháp SUT (Trang 33)
Bảng 7: ICOR theo từng khu vực kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 (theo giá so sánh  1994) - Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013
Bảng 7 ICOR theo từng khu vực kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 (theo giá so sánh 1994) (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w