Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2018 Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2018 I SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN 1 Nông nghiệp a) Trồng trọt Sản xuất n[.]
Trang 1Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2018
I SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
1 Nông nghiệp
a) Trồng trọt
Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa và rau màu vụ mùa Tiến độ gieo cấy lúa mùa năm nay chậm hơn cùng kỳ năm trước, tính đến ngày 15/7 toàn tỉnh đã gieo cấy được 25.249 ha, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 7.407 ha lúa
ruộng, tăng 3,9%; 17.842 ha lúa nương, giảm 11,0% (do một số diện tích đã chuyển sang trồng cây khác và một số diện tích bị bỏ hoang).
Cũng đến thời điểm trên, toàn tỉnh đã gieo trồng được 122.973 ha ngô, 32.690 ha sắn, 3.784 ha dong riềng, 166 ha lạc, 86 ha khoai lang, 20 ha đậu tương, 1.129 ha rau, đậu So với cùng kỳ năm trước, diện tích ngô giảm 11,2%; sắn tăng 2,0%; dong riềng tăng 7,7%; lạc giảm 9,8%; khoai lang giảm 6,5%; đậu tương giảm 20,0%; rau, đậu tăng 4,2%
Diện tích cây lâu năm tiếp tục phát triển với diện tích hiện có 39.389
ha cây ăn quả, tăng 24,2%; 28.424 ha cây lấy sản phẩm chủ yếu cho công nghiệp chế biến, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước Thực hiện chủ trương chuyển dịch sản xuất cây trồng của tỉnh, trong 7 tháng năm nay toàn tỉnh đã trồng mới 3.391 ha cây ăn quả trên đất dốc và 1.680 ha cây ghép lai cho năng suất và chất lượng cao, nâng tổng diện tích cây ăn quả trồng trên đất dốc lên 22.201 ha và diện tích cây lâu năm ghép lai lên 9.800 ha; diện tích cây trồng đạt tiêu chuẩn VietGap hiện có 260 ha chè, 237 ha rau các loại,
209 ha nhãn, 105 ha mận, 34 ha xoài, 20 ha na, 17 ha cam, 08 ha chanh leo,
05 ha thanh long, 05 ha dâu tây, 02 ha bơ và 02 ha bưởi
Tính chung 7 tháng, toàn tỉnh đã thu hoạch được 37.220 tấn mận, tăng 3,3%; 17.201 tấn chuối, tăng 11,2%; 13.614 tấn nhãn, tăng 43,5%; 13.180 tấn xoài, tăng 7,6%; 2.080 tấn chanh leo, tăng 212,8%; 1.357 tấn cam, tăng 107,8%; 571 tấn bưởi, tăng 33,4%; 338 tấn bơ, giảm 4,0%; 18.634 tấn chè, tăng 7,9%; 254 tấn cao su, tăng 5,7 lần so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 7, trên địa bàn tỉnh xuất hiện dịch bệnh đối với cây trồng làm 249 ha lúa, 664 ha ngô, 36 ha sắn, 28 ha chè, 240 ha cà phê, 122 ha cây
ăn quả và 242 ha cây hàng năm khác bị bệnh, tuy nhiên không có diện tích mất trắng, dự ước giá trị thiệt hại 1.043 triệu đồng
Trang 2b) Chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc, gia cầm ổn định, không xảy ra dịch bệnh Đàn trâu toàn tỉnh đến tháng 7 ước tính đạt 142.033 con, giảm 2,2%; đàn bò 299.153 con, tăng 9,0%; đàn lợn 588.730 con, tăng 1,5%; đàn gia cầm 6.151 nghìn con, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước
Sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng trong tháng ước đạt 238 tấn, thịt bò 350 tấn, thịt lợn 2.820 tấn, thịt gia cầm 733 tấn, sữa tươi 7.920 tấn, trứng gia cầm 5.498 nghìn quả Tính chung 7 tháng, sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 2.803 tấn, tăng 0,2%; thịt bò 3.213 tấn, tăng 1,5%; thịt lợn 29.319 tấn, tăng 1,0%; thịt gia cầm 6.566 tấn, tăng 2,6%; sữa tươi 51.032 tấn, tăng 11,4%; trứng gia cầm 37.498 nghìn quả, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước
Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm 7 tháng đạt 1.163.655 liều vắc xin Niu cát xơn; 376.378 liều vắc xin lở mồm long móng; 238.109 liều vắc xin THT trâu, bò; 113.280 liều vắc xin dại chó; 85.525 liều vắc xin dịch
tả lợn và 42.450 liều vắc xin ung khí thán Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng
2 Lâm nghiệp
Trong tháng 7, sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước tính đạt 2.784 m3, tăng 18,0%; củi khai thác ước đạt 54.405 ste, tăng 49,0% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng năm 2018, sản lượng gỗ khai thác đạt 16.742
m3, giảm 25,8%; củi khai thác đạt 705.953 ste, tăng 0,8% so với cùng kỳ Mặc dù công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng trong tháng các vụ vi phạm lâm luật vẫn xảy ra với tổng
số 46 vụ, số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 387 triệu đồng Tính chung 7 tháng, toàn tỉnh xảy ra 285 vụ vi phạm lâm luật với số tiền phạt vi phạm hành chính 2.052 triệu đồng, trong đó cháy rừng 01 vụ với diện tích rừng thiệt hại 4,1 ha; chặt phá rừng 116 vụ với diện tích 10,5 ha; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm lâm luật giảm 25,4%, số tiền phạt vi phạm hành chính giảm 14,9%
3 Thuỷ sản
Tính đến tháng 7/2018, diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh đạt 2.709 ha, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 2.676 ha, giảm 0,1% Số lồng bè nuôi trồng thủy sản đạt 9.037 chiếc, tăng 7,6% với thể tích đạt 762.830 m3, giảm 1,9%
Trang 3Trong tháng 7, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 515 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 419 tấn, khai thác 96 tấn Tính chung 7 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 4.700 tấn, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong
đó sản lượng nuôi trồng 4.009 tấn, tăng 14,9%; khai thác 691 tấn, tăng 1,6% Sản lượng giống thủy sản tính đến tháng 7 đạt 92 triệu con, tăng 12,2%
so với cùng kỳ năm trước
II SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 7 ước tính tăng 36,6%
so với tháng trước và giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 9,0% và giảm 36,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,3% và tăng 1,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 40,4% và giảm 7,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,9% và tăng 0,3%
Tính chung 7 tháng năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 14,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,3%; sản xuất và phân phối
điện tăng 10,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,5% Sản xuất công nghiệp 7 tháng tăng chủ yếu do một số sản phẩm có số lượng lớn, chiếm tỷ trọng cao sản xuất tăng mạnh như các sản phẩm sữa, đường, chè chế biến, xi măng và điện sản xuất.
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 7 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 31,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,2%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 13,6%; sản xuất
và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 10,6%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,8% Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Khai khoáng khác tăng 3,7%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 0,3%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 1,6%; dệt giảm 3,3%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 33,6%; sản xuất đồ uống giảm 33,9%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 76,6%
Trong 7 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Mật đường tăng 73,4%; sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axít hoá tăng 18,4%; đường chưa luyện tăng 17,6%; sản phẩm
in khác tăng 14,9%; xi măng tăng 14,2%; chè nguyên chất tăng 7,0%; điện
sản xuất tăng 6,8% (trong đó: Thuỷ điện Sơn La tăng 7,8%, thuỷ điện Huội Quảng tăng 19,5%) Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Sữa và kem
Trang 4chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 3,4%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 0,3%; nước uống được giảm 1,6%; điện thương phẩm giảm 2,7%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 9,5%; đá xây dựng các loại giảm 14,3%; nước tinh khiết giảm 25,3%; bia hơi giảm 29,0%; phân vi sinh giảm 38,5%
Các sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ chậm, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 ước tính giảm 17,4% so với tháng trước và giảm 16,7% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong
đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 3,9 lần; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 89,1%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 13,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7,2% Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 5,0%; sản xuất đồ uống giảm 32,1%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 32,0%; dệt giảm 91,5%
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 tăng 89,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 81,0%; sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 29,8% Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 169,7 lần; in sao chép bản ghi các loại tăng 11,0 lần; dệt tăng 5,5 lần; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 2,4 lần
III TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Trong tháng 7, toàn tỉnh có 22 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 71,2 tỷ đồng, giảm 59,3% về số doanh nghiệp và giảm 94,0% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 3,2 tỷ đồng, giảm 85,2%; 04 doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, giảm 42,9%; 04 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng kỳ năm trước không phát sinh
Tính chung 7 tháng năm nay, toàn tỉnh có 159 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.543,9 tỷ đồng, giảm 24,3% về số doanh nghiệp và giảm 29,7% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng
ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,7 tỷ đồng, giảm 7,1%
Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 46 doanh
Trang 5nghiệp, tăng 24,3%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 18 doanh nghiệp, tăng 125,0% so với cùng kỳ năm trước
IV HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ
1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa
Trong tháng diễn ra sự kiện khai trương Trung tâm thương mại Vincom Plaza Sơn La, là trung tâm thương mại đầu tiên của tỉnh với tổng diện tích 12.000 m 2 và 81 căn shophouse, đầy đủ các ngành hàng như: Siêu thị tiêu dùng Vinmart, trung tâm công nghệ điện máy Vinpro, rạp chiếu phim hiện đại, hệ thống vui chơi giải trí, ẩm thực, hàng hoá… đã thu hút lượng lớn khách hàng đến thăm quan, mua sắm, vui chơi, giải trí; tác động đến sức mua tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ làm tổng mức bán lẻ hàng hoá
và doanh thu hoạt động dịch vụ tăng đáng kể Tổng mức bán lẻ hàng hoá
tháng 7 ước tính đạt 1.597.403 triệu đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và
tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước Các nhóm ngành hàng so với cùng kỳ năm trước đều tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm: Ô tô các loại tăng 14,3%; lương thực, thực phẩm tăng 13,0%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12,6%; hàng hoá khác tăng 12,0%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 8,4% đến 11,4%
Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 11.058.412 triệu đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm sửa chữa
xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 13,0%; nhóm lương thực, thực phẩm và nhóm gỗ, vật liệu xây dựng cùng tăng 11,3%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 7,0% đến 10,5%
2 Doanh thu hoạt động dịch vụ
Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 7 ước tính đạt 463.235 triệu đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 15.363 triệu đồng, tăng 0,2% và tăng 8,8%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 147.365 triệu đồng, tăng 0,4% và tăng 9,0%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 1.502 triệu đồng, tăng 1,8% và tăng 11,9%; doanh thu dịch vụ khác đạt 299.005 triệu đồng, tăng 1,3% và tăng 10,3%
Tính chung 7 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ ước đạt 3.113.319 triệu đồng, tăng 7 ,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú tăng 9,2%; dịch vụ ăn uống tăng 8,8%; dịch vụ khác tăng 7,6%; riêng du lịch lữ hành giảm 27,2%
3 Vận tải hành khách và hàng hoá
Trang 6Sau kỳ thi trung học phổ thông và kỳ nghỉ hè của học sinh, sinh viên năm 2018, lượng khách đi lại trong tháng giảm đáng kể Vận tải hành khách
tháng 7 ước tính đạt 304 nghìn lượt khách và 31.689 nghìn lượt khách.km,
so với tháng trước giảm 1,3% và giảm 1,1%, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,7% và tăng 7,1% Tính chung 7 tháng, vận tải hành khách ước đạt 2.139 nghìn lượt khách, và 212.522 nghìn lượt khách.km, cùng tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 1.963 nghìn lượt khách, tăng 7,5% và 210.691 nghìn lượt khách.km, tăng 7,4% Doanh thu vận tải hành khách tháng 7 ước tính đạt 29.260 triệu đồng, giảm 0,9% so với tháng trước và tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 197.815 triệu đồng, tăng 8,6%, trong đó doanh thu vận tải hành khách đường bộ 191.809 triệu đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước
Vận tải hàng hóa tháng 7 ước tính đạt 409 nghìn tấn và 47.993 nghìn tấn.km, so với tháng trước tăng 0,8% và tăng 0,9%, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,6% và tăng 9,9% Tính chung 7 tháng, vận tải hàng hóa đạt 2.788 nghìn tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước và 323.202 nghìn tấn.km, tăng 8,2%, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 2.754 nghìn tấn, tăng 7,6% và 322.256 nghìn tấn.km, tăng 8,2%
Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 7 ước tính đạt 144.773 triệu đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng đầu năm, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 973.761 triệu đồng, tăng 9,2%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa đường bộ 969.454 triệu đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2017
Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7 ước tính đạt 3.769 triệu đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 27.477 triệu đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bốc xếp hàng hóa đạt 266 triệu đồng, tăng 23,7%; doanh thu hoạt động khác 27.211 triệu đồng, tăng 7,7%
V VỐN ĐẦU TƯ
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý tháng 7 ước tính đạt 235.776 triệu đồng, bằng 8,4% kế hoạch năm và tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 170.718 triệu đồng, bằng 7,9% và tăng 18,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 65.058 triệu đồng, bằng 9,9% và tăng 63,3%
Trang 7Tính chung 7 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.440.765 triệu đồng, bằng 51,4% kế hoạch năm
và tăng 20,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.058.460 triệu đồng, bằng 49,3% và tăng 11,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 382.305 triệu đồng, bằng 58,4% và tăng 54,6%
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 7 cao hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước tuy nhiên tình hình giải ngân và thực hiện nguồn vốn này trong 7 tháng năm nay còn chậm, một
số dự án đã được phân bổ vốn nhưng chưa triển khai thực hiện do vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; thiếu vốn UBND tỉnh, các huyện, thành phố và các chủ đầu tư cần tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn, bảo đảm kế hoạch đề ra; riêng đối với công tác giải phóng mặt bằng, cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động di dời và thực hiện chính sách bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư đúng quy định để đảm bảo bàn giao mặt bằng, triển khai thực hiện dự án đúng tiến độ
VI TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
1 Thu, chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 7 ước tính đạt 1.387,7 tỷ đồng, tăng 17,3% so với tháng trước và tăng 38,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 692,9 tỷ đồng, tăng 51,4% và tăng 76,3%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 685,2 tỷ đồng, giảm 5,1% và tăng 16,7%
Tính chung 7 tháng năm 2018, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước tính đạt 10.271,7 tỷ đồng, bằng 76,9% so với dự toán năm và tăng 34,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 5.413,9 tỷ đồng, bằng 118,1% và tăng 60,5%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 4.844,7 tỷ đồng, bằng 55,3% và tăng 14,3% Trong thu cân đối ngân sách nhà nước, thu nội địa ước đạt 2.453,2 tỷ đồng, bằng 55,1% và tăng 31,5%; thu hải quan ước đạt 33,8 tỷ đồng, bằng 94,0% và tăng 41,7%
Tổng chi ngân sách nhà nước tháng 7 ước tính đạt 1.713,3 tỷ đồng, giảm 12,6% so với tháng trước và tăng 86,4% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng, tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 8.167,0 tỷ đồng, bằng 62,3% dự toán năm và tăng 39,8% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Chi thường xuyên đạt 5.514,5 tỷ đồng, bằng 61,6% và tăng 25,7%; chi đầu
tư phát triển đạt 1.047,4 tỷ đồng, bằng 68,0% và tăng 16,1%; chi chương
Trang 8trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ mục tiêu đạt 1.439,5 tỷ đồng, bằng 69,5% và tăng 193,6%
2 Thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, tín dụng
Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định, tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng 7 tháng năm 2018 ước thực hiện 56.689 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt ước thực hiện 56.815 tỷ đồng, bội chi 126 tỷ đồng
So với cùng kỳ năm trước tổng thu tiền mặt tăng 7,6%, tổng chi tiền mặt tăng 7,0%
Dư nợ tín dụng ước đạt 31.200 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 13.800 tỷ đồng, tăng 21,1%; dư nợ trung dài hạn đạt 17.400 tỷ đồng, tăng 12,4% Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay các đối tượng chính sách đến 30/6/2018 là 3.782 tỷ đồng, chiếm 12,1%;
nợ xấu toàn địa bàn là 378 tỷ đồng, chiếm 1,2%
Huy động vốn tại địa phương ước đến hết tháng 7 đạt 16.400 tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm 12.980 tỷ đồng, tăng 16,2%; tiền gửi các tổ chức kinh tế 3.350 tỷ đồng, tăng 19,0%; tiền gửi giấy tờ có giá 70 tỷ đồng, tăng 37,1%
VII XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
1 Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 7 ước tính đạt 1.398,3 nghìn USD, giảm 7,7% so với tháng trước và giảm ở hầu hết các mặt hàng xuất khẩu, trong đó: Xuất khẩu hàng dệt may đạt 115,8 nghìn USD, giảm 44,5%; xuất khẩu hạt rau quả các loại đạt 14,3 nghìn USD, giảm 25,5%; xuất khẩu chè đạt 1.263,2 nghìn USD, giảm 1,5%; xuất khẩu lõi ngô ép, tơ tằm và ngô giống trong tháng không phát sinh; riêng xuất khẩu xi măng đạt 5,0 nghìn USD, tăng 25,0% So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu
tháng 7 tăng 56,2%, chủ yếu do xuất khẩu chè tăng 42,2% (mặt hàng này chiếm tỷ trọng lớn với 90,3% trong kim ngạch xuất khẩu); xuất khẩu hạt rau
quả các loại và hàng dệt may cùng kỳ không phát sinh, riêng xuất khẩu xi măng giảm 27,5% Thị trường xuất khẩu chủ yếu trong tháng: Apganixtan, Đài Loan, Ấn Độ, Nhật Bản, Lào
Tính chung 7 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 5.380,7 nghìn USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do xuất khẩu ngô giống đạt 352,5 nghìn USD, tăng 2,0 lần; xuất khẩu xi măng đạt 83,6 nghìn USD, tăng 105,9%; xuất khẩu chè đạt 4.445,7 nghìn USD, tăng 2,6%; riêng xuất khẩu lõi ngô ép đạt 28,6 nghìn USD, giảm 27,4% Về thị trường
Trang 9hàng hóa xuất khẩu trong 7 tháng, Apganixtan vẫn là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 3.453,2 nghìn USD; tiếp đến là Đài Loan đạt 946,1 nghìn USD; Ấn Độ đạt 436,8 nghìn USD; Lào đạt 436,1 nghìn USD; Trung Quốc đạt 46,4 nghìn USD; Nhật Bản đạt 33,5 nghìn USD; Hàn Quốc đạt 28,6 nghìn USD
2 Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 7 ước tính đạt 1.770,8 nghìn USD, giảm 32,4% so với tháng trước, chủ yếu do nhập khẩu máy móc thiết
bị đạt 1.237,0 nghìn USD, giảm 41,7% (mặt hàng này chiếm 69,9% kim ngạch nhập khẩu), bên cạnh đó một số mặt hàng nhập khẩu tăng: Nhập khẩu
phân bón đạt 288,0 nghìn USD, tăng 9,1%; nhập khẩu hàng hoá khác đạt 80,8 nghìn USD, tăng 15,4%; nhập khẩu cỏ Anphapha đạt 165,0 nghìn USD, tăng 1,2% So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng
7 giảm 51,1%, trong đó nhập khẩu hàng hoá khác giảm 91,0%; nhập khẩu phân bón giảm 80,0%, bên cạnh đó một số mặt hàng nhập khẩu tăng: Nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 13,8%; nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 8,8%
Tính chung 7 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 11.885,3 nghìn USD, giảm 10,0% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhập khẩu hàng hoá khác giảm 83,2%; nhập khẩu phân bón giảm 45,0%, bên cạnh đó một số mặt hàng nhập khẩu tăng: Nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 6,4% và nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 30,6%
VIII CHỈ SỐ GIÁ
1 Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2018 so với tháng trước giảm 0,03%, trong đó khu vực thành thị giảm 0,02%, khu vực nông thôn giảm 0,03% Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, 02 nhóm có chỉ số giá giảm so
với tháng trước: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 5,09% (do thực hiện Thông tư số 15/2018/TT- BYT ngày 30/5/2018 của Bộ Y tế về quy định thống nhất giá khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc từ ngày 15/7/2018); nhóm giao thông giảm 0,26% (do giá xăng, dầu giảm 1,14% theo Quyết định điều chỉnh giá xăng, dầu của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam vào ngày 07 và ngày 23/7/2018, bình quân giá xăng giảm 250 đồng/lít, giá dầu giảm 198 đồng/lít); 03 nhóm hàng hóa và dịch vụ
có chỉ số giá tương đương tháng trước; 06 nhóm có chỉ số giá tăng so với
tháng trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm giáo dục, tăng 1,45% (do Quyết định tăng giá học phí nhà trẻ, mầm non tư thục, tiểu học dân lập của Công
Trang 10ty TNHH Thanh Tùng từ ngày 01/7/2018), các nhóm hàng hóa và dịch vụ
khác tăng từ 0,02% đến 0,66%
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2018 tăng 1,14% so với tháng 12/2017 và tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước
Dự báo tháng 8/2018 giá cả thị trường tăng nhẹ.
2 Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 7/2018 giảm 0,21% so với tháng trước, tăng 0,52% so với tháng 12/2017 và tăng 1,03% so với cùng kỳ năm trước, giá vàng 99,99% bán ra bình quân trong tháng là 3.674.500 đồng/chỉ
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2018 so với tháng trước tăng 0,81%, so với tháng 12/2017 tăng 1,22% và so với cùng kỳ năm trước cùng tăng 1,13%
IX MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1 Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Trong tháng đời sống cán bộ, công nhân, viên chức và người hưởng bảo hiểm xã hội ổn định, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt
Công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, cho vay vốn phát triển sản xuất, cho vay hỗ trợ lãi suất, chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên nghèo và các đối tượng chính sách tiếp tục được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chức năng quan tâm chỉ đạo, phối hợp thực hiện Trong tháng Công ty Bảo Việt nhân thọ trao tặng 20 xe đạp, trị giá 35 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chương trình “An sinh giáo dục năm 2018” tại huyện Mường La và Thuận Châu; Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh trao tặng 30 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ tỉnh lần thứ X; phối hợp với Trung tâm II - Hội Cứu trợ trẻ
em tàn tật Việt Nam và Bệnh viện đa khoa tỉnh tổ chức khám, phẫu thuật cho 142 trẻ em khuyết tật tại các huyện, thành phố
Nhân kỷ niệm 71 năm ngày thương binh, liệt sĩ, UBND tỉnh đã phê duyệt đối tượng, mức tặng quà cho người có công với cách mạng và thân nhân chủ yếu của người có công với cách mạng, dự kiến trao tặng 3.510 đối tượng với tổng kinh phí 1.577 triệu đồng, bao gồm: 110 đối tượng được hưởng mức quà 700.000 đồng; 1.400 đối tượng được hưởng mức quà 500.000 đồng và 2.000 đối tượng được hưởng mức quà 400.000 đồng Các đoàn của tỉnh đến thăm và tặng quà cho 75 gia đình người có công với cách mạng với mức quà 800.000 đồng