1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2006

11 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2006
Trường học Bộ Kế hoạch Và Đầu Tư
Chuyên ngành Kinh tế xã hội
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2006
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 135 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 12 và cả năm 2006 Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 12 và cả năm 2006 Báo cáo Chính phủ tại phiên họp ngày 26 27 tháng 12 năm 2006 Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin[.]

Trang 1

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2006

Báo cáo Chính phủ tại phiên họp ngày 26 - 27 tháng 12 năm 2006

Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin báo cáo một số kết quả đã đạt được trong tháng 12 và cả năm 2006, những khó khăn, tồn tại đồng thời kiến nghị một số vấn đề cần tập trung chỉ đạo để triển khai thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007

I Về tình hình tháng 12 và năm 2006

Qua số liệu ước tính cả năm, hầu hết các chỉ tiêu báo cáo ra Quốc hội đều đạt và vượt Nền kinh tế duy trì được mức tăng trưởng khá, tăng gần 8,2% Nhiều ngành, lĩnh vực tiếp tục phát triển, góp phần vào tăng trưởng chung: giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 17%, cao hơn mức kế hoạch; chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm công nghiệp đ-ược nâng cao; các ngành dịch vụ phát triển khá, nhất là thương mại bán lẻ; hoạt động viễn thông được mở rộng, đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân Hoạt động đối ngoại thành công, tổ chức tốt Hội nghị AFEC, đã vào WTO; xuất khẩu duy trì được mức tăng trưởng cao (39,6 tỷ USD); nhập siêu giảm cả về kim ngạch và tỷ lệ so với năm 2005 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt mức cao nhất từ trớc đến nay (10,2 tỷ USD); cam kết ODA của các nhà tài trợ tăng cao (4,44 tỷ USD) Nhiều mặt hoạt động xã hội phát triển theo chiều hướng tích cực

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trong năm 2006 như sau:

Năm 2006

Số báo cáo Quốc hội tháng 10/2006

Số ước cuối năm (12/2006)

- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) (%) 8,4 8,1-8,2 8,17

- Công nghiệp, xây dựng 10,6 10,4-10,5 10,37

- GDP theo giá hiện hành (nghìn tỷ đồng) 837,8 973-975 973,79

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp (%) 17,2 17,1-17,3 17,0

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp (%) 4,9 4,6-4,7 4,4

- Chênh lệch xuất nhập khẩu (triệu USD) 4.648 4.000 4.805

- Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội (ngh tỷ đồng) 326 390,5 390,5

- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (tỷ USD) 5,8 6,8 10,2

Trang 2

Chỉ tiêu 2005Năm

Năm 2006

Số báo cáo Quốc hội tháng 10/2006

Số ước cuối năm (12/2006)

1 Một số kết quả đã đạt được

Nhìn chung, nền kinh tế nước ta trong những tháng cuối năm vẫn duy trì được mức tăng trưởng khá cao, với xu thế quý sau tăng cao hơn quý trước (quý I tăng 7,18%; quý II tăng 7,54%; quý III tăng 8,67% và quý IV tăng 8,85%) Tính chung cả năm 2006, tốc độ tăng trư-ởng kinh tế (GDP) đạt 8,17%, bằng số báo cáo ra Quốc hội, trong đó nông, lâm, thủy sản tăng 3,4%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,29% Cụ thể là:

(1) Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá.

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 12 ước đạt hơn 49,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với tháng 11 và tăng 18,8% so với tháng 12 năm trớc

Cả năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 490,8 nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với năm trước (năm 2005 tăng 17,2%); trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 9,1% (Trung ương tăng 11,9%, địa phương tăng 2%), khu vực ngoài quốc doanh tăng 23,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,8%

Trong năm 2006, các sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao so với năm trước là: than sạch tăng 18,7%, thủy sản chế biến tăng 17,2%; thuốc ống các loại tăng 17%; xà phòng các loại tăng 17,9%; sứ vệ sinh tăng 17,3%; xe máy các loại tăng 16,9%;

Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của nhiều địa phơng khá tốt, có tới 10/15 tỉnh, thành phố có tỷ trọng lớn duy trì được tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao so với năm trước như thành phố Hà Nội tăng 16,6%; Hải Phòng tăng 18,1%; Vĩnh Phúc tăng 25,6%; Bình Dương tăng 25,3%; Hà Tây tăng 23,3%; Hải Dương tăng 23,2%; Đồng Nai tăng 22%; Cần Thơ tăng 22%; Quảng Ninh tăng 18%; Khánh Hòa tăng 16,1%

(2) Sản xuất nông nghiệp

Mặc dù năm 2006 có nhiều khó khăn do bão lũ, mưa đá; dịch bệnh nhưng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tiếp tục phát triển Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất tiếp tục được đẩy mạnh Giá trị sản xuất toàn ngành tăng 4,4%, trong đó: nông nghiệp tăng 3,6% (trồng trọt tăng 2,7%, chăn nuôi tăng 7,3%, dịch

vụ tăng 2,7%); lâm nghiệp tăng 1,2% và thủy sản tăng 7,7% (nuôi trồng tăng 13%, khai thác tăng 0,1%)

Về trồng trọt: Diện tích lúa cả năm 2006 ước đạt 7,324 triệu ha, giảm 4,8 nghìn ha so

với năm 2005 do chuyển đổi cơ cấu cây trồng để tránh hạn, năng suất đạt 48,91 tạ/ha, bằng mức năng suất của năm 2005 Việc áp dụng các mô hình canh tác “3 giảm, 3 tăng”, “thâm canh đồng bộ” có hiệu quả cao tiếp tục được mở rộng, nhất là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

Về chăn nuôi: Do ảnh hưởng của dịch bệnh (cúm gia cầm, dịch lở mồn long móng) nên

số lượng lợn và gia cầm giảm so với năm 2005 nhưng mức giảm không lớn, riêng đàn bò tăng 16,52%; năm 2006, sản phẩm thịt các loại đạt 3,12 triệu tấn, tăng 11,15% so với năm 2005

Trang 3

Về thuỷ sản: Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản năm 2006 đạt 3.696 nghìn

tấn, tăng 7,7% so với năm 2005, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2 triệu tấn, tăng 0,7%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 1,69 triệu tấn, tăng 14,6%

Về lâm nghiệp: Năm 2006, diện tích khoán bảo vệ rừng đạt 2,7 triệu ha, khoanh nuôi

tái sinh 911,4 nghìn ha, trồng rừng mới 184 nghìn ha; trồng cây phân tán 202,5 triệu cây Các địa phương đang tiến hành rà soát điều chỉnh lại 3 loại rừng theo tiêu chí mới, giao đất, khoán rừng cho các hộ gia đình, làng, xã, thôn, bản; tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng

(3) Lĩnh vực dịch vụ tiếp tục phát triển

Khu vực dịch vụ năm 2006 duy trì được mức tăng trởng khá, giá trị tăng thêm ước đạt 8,29% Một số ngành dịch vụ tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng cao hơn so với năm 2005,

nh khách sạn, nhà hàng tăng 12,42%; vận tải, bưu chính - viễn thông, du lịch tăng 10,13%; thương nghiệp tăng khoảng 8,55%; giáo dục đào tạo tăng 8,42%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 8,18% Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP tăng chút ít so với năm 2005, chiếm 38,08% GDP

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng khá, tháng 12 ước đạt hơn 55,6

nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng 11/2006; tính chung cả năm 2006, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ đạt khoảng 580,7 nghìn tỷ đồng, tăng 20,9% so với năm trước; trong đó: khu vực kinh tế nhà nước tăng 8,2%, khu vực kinh tế tập thể tăng 20,8%, khu vực kinh tế

cá thể tăng 22,4%; khu vực kinh tế tư nhân tăng 25%; khu vực đầu tư nước ngoài tăng 21,5%

Hoạt động Du lịch: Trong tháng 12 đã đón trên 324 nghìn lượt khách quốc tế, nâng tổng

số khách đến Việt Nam cả năm 2006 lên gần 3,6 triệu lượt người, tăng 3% so với năm 2005 Tuy tốc độ tăng của khách du lịch quốc tế thấp hơn năm 2005 (năm 2005 tăng 18,4%) do lượng khách Trung Quốc giảm mạnh, nhưng cơ cấu khách du lịch quốc tế dần thay đổi theo hướng tỷ trọng khách đến từ các nước có mức chi trả cao như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Đan Mạch, Singapore và Malaysia

Khách du lịch nội địa năm 2006 ước đạt 17 triệu lượt khách, tăng 5,6% so với năm

2005, đạt kế hoạch đề ra Số lượng khách du lịch Việt Nam đi du lịch nước ngoài khá lớn, đặc biệt là ở hai Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương có thu nhập

và mức sống cao

Hoạt động vận tải hàng hoá và hành khách đáp ứng yêu cầu của sản xuất, nhu cầu đi lại

của nhân dân Năm 2006, khối lượng vận tải hàng hoá đạt 350 triệu tấn vận chuyển và 88,6 tỷ TKm luân chuyển, tăng 8,1% về tấn và 9,3% về tấn-km so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách đạt 1.386 triệu lượt hành khách và 58,7 tỷ HKm, tăng 9,1% về lượt hành khách và 10,2% về lượt hành khách - km Trong các phơng thức vận tải, khối lượng vận tải hàng hoá và hành khách bằng đường hàng không tiếp tục đạt mức tăng cao nhất (khối lượng vận tải hàng hoá tăng 15,5%, vận tải hành khách tăng 14,4%), cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành

Mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, Internet trong nước, quốc tế, mạng thông

tin hàng hải tiếp tục phát triển Trong tháng 12, phát triển mới 990 nghìn thuê bao điện thoại, nâng tổng số thuê bao phát triển cả năm 2006 lên 9,66 triệu thuê bao và tổng số thuê bao điện thoại trên toàn mạng đạt 25,44 triệu máy, trong đó thuê bao di động chiếm khoảng 67,5%, đạt mật độ 30 máy/100 dân

Trang 4

Phát triển mới thuê bao Internet trong năm 2006 ước đạt khoảng 1,11 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao Internet trên toàn mạng lên 4 triệu thuê bao, đạt mật độ 4,7 thuê bao/100 dân; số ngời sử dụng dịch vụ Internet khoảng 14,5 triệu người, chiếm 17,2% dân số

(4) Xuất nhập khẩu đạt đợc tốc độ tăng trưởng cao, nhất là khu vực đầu tư nước ngoài Kim ngạch xuất khẩu tháng 12 ước đạt 3.500 triệu USD, tăng 6,6% so với tháng

11/2006; trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 1.350 triệu USD, tăng 6,6% Hầu hết các mặt hàng chủ yếu (trừ dầu thô và gạo) đều

có tốc độ tăng trưởng so với tháng trước, trong đó nhiều mặt hàng đạt tốc độ tăng cao hơn 10% như hàng điện tử máy tính và linh kiện tăng 16,9%; sản phẩm nhựa tăng 16,3%; giày dép tăng 15,9%; cà phê tăng 17,6%; chè các loại tăng 17,6%; sản phẩm gỗ tăng 11,4%

Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2006 là 39.605 triệu USD, tăng 22,1% so với năm

2005, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đóng góp 22.865 triệu USD, tăng 23,2% Nếu không kể dầu thô xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 14.542 triệu USD, tăng 30,1%

Trong năm 2006 nhiều mặt hàng xuất khẩu gặp khó khăn, như giày dép bị áp thuế chống bán phá giá, thủy sản bị kiểm duyệt gắt gao về dư lượng kháng sinh nhưng do chủ động đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất khẩu nên các mặt hàng trên vẫn đạt được kim ngạch xuất khẩu cao Năm 2006, có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, tăng

2 mặt hàng so với năm 2005 (là cà phê và cao su), trong đó có 4 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu vượt 3 tỷ USD đó là: dầu thô đạt 8.323 triệu USD, tăng 12,9% so cùng kỳ năm 2005; dệt may đạt 5.802 triệu USD, tăng 19,9%; giày dép đạt 3.555 triệu USD, tăng 16,9%; thủy sản 3.364 triệu USD, tăng 23,1%; các mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD là sản phẩm gỗ, điện

tử vi tính, gạo, cao su và cà phê

Kim ngạch xuất khẩu bình quân 1 tháng của cả năm 2006 đạt 3.300 triệu USD, cao hơn mức bình quân năm 2005 là 2.703 triệu USD Năm 2006 có 13 mặt hàng xuất khẩu đạt và

vư-ợt kế hoạch đề ra như: than đá, hàng dệt may, thủy sản, cao su, hạt tiêu, chè các loại Kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt mức tăng trưởng cao do có những đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp trong việc chuẩn bị tốt hơn về thị trường; nhìn chung xuất khẩu vào các thị trường đều tăng lên Cơ cấu thị trường xuất khẩu đã có sự thay đổi rõ rệt so với cùng kỳ năm 2005, thị trờng Mỹ tiếp tục là thị trường chính với hầu hết các mặt hàng chủ lực đều tăng trưởng khá Trong năm 2006, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt hơn 7,9 tỷ USD, tăng 35%, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; thị trường EU đạt hơn 7,1 tỷ USD, tăng 30%, chiếm 18%; thị trường Nhật Bản đạt hơn 5,1 tỷ USD, tăng 19%, chiếm 13%

Kim ngạch nhập khẩu tháng 12 năm 2006 ước đạt 4.000 triệu USD, tăng 6,4% so với

tháng 11 Cả năm 2006, kim ngạch nhập khẩu đạt 44.410 triệu USD, tăng 20,1% so với năm 2005; trong đó, nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 16.417 triệu USD, tăng 20,4%

Các mặt hàng nhập khẩu tăng trong năm 2006 chủ yếu là nguyên liệu phục vụ sản xuất như: giấy tăng 24,8%, hóa chất tăng 18,7%, chất dẻo nguyên liệu tăng 13,6%, vải tăng 23,1%, máy tính linh kiện tăng 20,5%, máy móc thiết bị phụ tùng tăng 24,1%…

Nhập siêu năm 2006 thấp hơn năm 2005 cả về giá trị và tỷ lệ so với tổng kim ngạch xuất khẩu Năm 2006 nhập siêu 4.488 triệu USD, bằng 12,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; so với năm 2005 nhập siêu 4,650 tỷ USD, bằng 14,4% tổng kim ngạch xuất khẩu

Trang 5

(5) Thu hút vốn đầu tư đạt khá, nổi bật nhất là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn ODA

Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2006 ước đạt khoảng 390,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,8% so thực hiện năm 2005 và vượt mức kế hoạch đề ra (kế hoạch là 376,6 nghìn tỷ đồng); trong đó vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước đạt 86,4 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2005; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đạt 25,8 nghìn tỷ đồng; thấp hơn kế họach đề ra 10 nghìn tỷ đồng; vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước đạt 60,2 nghìn tỷ đồng, tăng 21,9%; vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân đạt 129,1 nghìn tỷ đồng, tăng 20%; vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 68 nghìn tỷ đồng, tăng 28,3% so với 2005, tăng 11,5% so với số đã báo cáo Quốc hội; các nguồn vốn khác 21 nghìn tỷ đồng Tỷ lệ đầu tư trên GDP ước đạt trên 40%

Thu hút vốn ODA có chuyển biến tích cực Tại Hội nghị CG tổ chức vào đầu tháng

12/2006 tại Hà Nội, các nhà tài trợ đã cam kết hỗ trợ Việt Nam 4,445 tỷ USD, tăng hơn 700 triệu USD so với năm 2005 và là mức hỗ trợ cao nhất từ trước đến nay Đồng thời các nhà tài trợ đã khẳng định sự ủng hộ Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm Đây là một thành công lớn, có tính đột phá, tạo điều kiện để triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn và các dự án giao thông quan trọng quốc gia

Vốn ODA từ đầu năm đến ngày 15/12/2006 đợc hợp thức hoá thông qua các hiệp định ký kết với các nhà tài trợ đạt tổng giá trị 2.666 triệu USD, trong đó vốn vay đạt 2.412 triệu USD và vốn viện trợ đạt 254 triệu USD

Giải ngân nguồn vốn ODA trong năm 2006 ước đạt 1.780 triệu USD, bằng 101% kế

hoạch giải ngân của cả năm 2006, và cao hơn mức giải ngân của năm 2005, trong đó vốn vay đạt 1.577 triệu USD, vốn viện trợ đạt 203 triệu USD

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao nhất từ trước đến nay về cả thu hút vốn (cấp phép mới và vốn tăng thêm) và vốn thực hiện Trong tháng 12, tổng vốn của dự án cấp phép mới và vốn đăng ký tăng thêm của các dự án đang hoạt động đạt 285,4 triệu USD (vốn đăng ký cấp mới là 174,2 triệu USD; vốn tăng thêm là 111,2 triệu USD).

Tính chung cả năm 2006, tổng số vốn cấp phép mới và tăng thêm đạt 10.201 triệu USD, tăng 49,1% so với năm 2005 và vượt 57% kế hoạch đề ra là 6,5 tỷ USD; trong đó vốn đầu tư cấp phép mới là 7.839 triệu USD với 833 dự án được cấp giấy phép đầu tư, vốn tăng thêm là 2.632,3 triệu USD, tăng 66,6% về vốn đăng ký cấp mới và tăng 10,6% về số vốn tăng thêm

Vốn đầu tư đăng ký mới trong năm 2006 chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 66,4% về số dự án và 68,3% về số vốn đăng ký; ngành dịch vụ chiếm 26,6% về

số dự án và 30% tổng vốn đăng ký

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài trong năm

2006 chiếm 22,4% tổng vốn đăng ký của cả nước; thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ hai, chiếm 15,8%; tỉnh Hà Tây đã vượt lên trên tỉnh Bình Dương, đứng thứ 3, chiếm 10,6% (năm

2005 ở vị trí thứ 34) do những tháng cuối năm 2006 đã cấp phép cho một số dự án có vốn đầu

tư nước ngoài có quy mô lớn với tổng vốn đăng ký trên 800 triệu USD

Chất lượng và quy mô của các dự án mới và các dự án tăng vốn trong năm 2006 được nâng cao so với năm trước; đã thu hút được một số dự án quy mô lớn của các tập đoàn xuyên quốc gia, sử dụng công nghệ tiên tiến như dự án sản xuất chip điện tử Intel Products Việt Nam, dự án sản xuất thép Posco, dự án sản xuất thép Tycoons Worldwide Steel, dự án Canon, dự án Matsushita

Trang 6

Quy mô các dự án mới có mức vốn bình quân đạt 9,4 triệu USD/dự án, tăng cao hơn so với năm 2005 (4,6 triệu USD/dự án) và năm 2004 (3 triệu USD/dự án)

Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 4.100 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2005

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt kết quả khả quan với tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của nước ta So với cùng kỳ năm trước, doanh thu của các doanh nghiệp thuộc khu vực này tăng 31,3%; kim ngạch xuất khẩu tăng 31,2%; nộp ngân sách đạt 1.267 triệu USD, tăng 17,3% Đến nay, khu vực này đang tạo ra việc làm cho 1.129 nghìn lao động, tăng 20% so với cùng

kỳ năm trước

(6) Thu chi ngân sách

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng 12 ước đạt 42.030 tỷ đồng; tính chung cả

năm 2006, tổng thu ngân sách ước đạt 262.100 tỷ đồng, tăng 1.000 tỷ đồng so với số báo cáo Quốc hội, bằng 110,2% dự toán năm; trong đó thu nội địa đạt 136.000 tỷ đồng, bằng 103% dự toán năm; thu từ dầu thô đạt 79.900 tỷ đồng, bằng 126% dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 42.500 tỷ đồng, bằng 106,3% dự toán

Trong thu nội địa, thu từ khu vực kinh tế quốc doanh đạt 44.500 tỷ đồng, bằng 105,3%

dự toán năm, thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24.150 tỷ đồng, bằng 86,8% dự toán năm; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 21.834 tỷ đồng, bằng 105,7% dự toán năm; thu từ nhà đất đạt 115 tỷ đồng, bằng 135,3% dự toán năm; thu từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 5.181 tỷ đồng, bằng 101,6% dự toán năm, thu xổ

số kiến thiết đạt 6.165 tỷ đồng, bằng 113,1% dự toán năm

Chi ngân sách nhà nước trong tháng 12 ước đạt 55.040 tỷ đồng Tính chung cả năm

2006, tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 319.110 tỷ đồng, bằng 108,4% dự toán năm, trong

đó chi đầu tư phát triển đạt 86.409 tỷ đồng, bằng 105,9% dự toán năm (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 81.951 tỷ đồng, bằng 105,7 dự toán năm; chi thường xuyên đạt 153.614 tỷ đồng, bằng 105,6% dự toán năm; chi trả nợ và viện trợ đạt 40.800 tỷ đồng, bằng dự toán năm; chi cải cách tiền lơng đạt 25.737 tỷ đồng, bằng 168,9% dự toán năm

Bội chi ngân sách nhà nước cả năm 2006 bằng 4,98% GDP.

(7) Về hoạt động tiền tệ và giá cả

Hoạt động tiền tệ: Tổng phương tiện thanh toán đến cuối tháng 12 ước tăng 4,9% so với

cuối tháng 11; tính chung cả năm 2006, tổng phương tiện thanh toán tăng 30,5%

Nguồn vốn huy động đến cuối tháng 12 tăng xấp xỉ 34,6% so với cuối năm 2005; trong

đó tiền gửi bằng VNĐ tăng 38,6%, bằng ngoại tệ tăng 28,1%

Dư nợ cho vay toàn nền kinh tế đến 31 tháng 12 ước tăng 22,8% so với 31/12/2005, cao hơn hơn so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm trước; trong đó cho vay bằng VNĐ tăng 26,8%, cho vay bằng ngoại tệ tăng 10%

Về giá cả: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2006 tăng 0,5%, thấp hơn mức tăng của tháng

11/2006 Cụ thể là: giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,7% (lương thực tăng 2,4%, thực phẩm tăng 0,1%); may mặc mũ nón giày dép và thiết bị và đồ dùng gia đình cùng tăng 0,7%; các nhóm hàng khác tăng từ 0,1 đến 0,5%; riêng đồ uống và thuốc lá giảm 0,1%

Tính chung cả năm 2006, chỉ số giá tiêu dùng tăng 6,6%, thấp hơn mức tăng trưởng kinh tế (mức tăng GDP là 8,17%) và thấp hơn mức tăng giá năm trước (năm 2005 là 8,4%);

Trang 7

trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 7,9% (lương thực tăng tới 14,1%, thực phẩm tăng 5,5%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 6,2%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,9%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,2%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 5,8%; dược phẩm y tế tăng 4,3%; phương tiện đi lại và bưu điện tăng 4,0% (trong đó giá bưu chính viễn thông giảm 2,9%); giáo dục tăng 3,6%; văn hoá, thể thao giải trí tăng 3,5%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 6,5%

Trong tháng 12, thị trường vàng diễn biến phức tạp, chỉ số giá vàng tăng 3,2%, trong khi giá đô la Mỹ không tăng Tính chung cả năm 2006, giá vàng tăng 27,2%, giá đô la Mỹ tăng 1%

(8) Một số hoạt động trong lĩnh vực xã hội thu được kết quả tốt.

Giáo dục đào tạo: Việc tuyển sinh các cấp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp

năm 2006-2007 đã hoàn thành và đạt được kết quả khá tốt Toàn ngành giáo dục đào tạo đang tích cực thực hiện cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; thực hiện nhiều biện pháp để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học Trong tháng 12/2006, ngành giáo dục và đào tạo phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao sinh viên Đông Nam á lần thứ 13 Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục hoàn thiện Đề án học phí trong các cơ sở giáo dục để tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân; hoàn thiện đề án quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015; tổ chức Hội nghị phát triển giáo dục và đào tạo khu vực Tây Nguyên đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

Về chỉ tiêu tuyển mới đào tạo cho năm học 2007 - 2008, sẽ không giao kế hoạch đào tạo như những năm trước đây mà thực hiện đổi mới theo hướng ban hành bộ tiêu chí về điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo; căn cứ vào đó các trường xác định chỉ tiêu đào tạo

Giải quyết việc làm: Trong tháng 12, nhiều địa phương đã tổ chức thành công hội chợ

việc làm, giới thiệu việc làm và hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động Số lao động được giải quyết việc làm trong tháng 12/2006 ước đạt khoảng 15 vạn lượt người, đa tổng số lao động được giải quyết việc làm cả năm 2006 lên 165 vạn lượt người, bằng 103% kế hoạch năm Số lao động đi xuất khẩu ước đạt trên 7.000 người, đa số lao động xuất khẩu cả năm lên 78,85 nghìn người, tăng 3% so với kế hoạch, trong đó cú trên 27 nghìn lao động nữ, chiếm 34,3% số lao động xuất khẩu Trong các tháng cuối năm, tình trạng lao động vi phạm hợp đồng tại Nhật bản, Hàn Quốc giảm đáng kể do các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác quản lý lao động nước ngoài

Y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân: Do làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, nhất là

đối với vùng bị thiên tai, nên trong năm 2006, nhiều dịch bệnh tả, sốt rét đã giảm cả về số người mắc bệnh và người chết so với năm trước Trong tháng 12, ngành y tế đẩy mạnh chăm sóc cho các nạn nhân do bão gây ra, chú ý phòng chống các bệnh thường xảy ra sau bão như tiêu chảy, sốt rét, nhiễm khuẩn hô hấp, cảm cúm, sốt xuất huyết; kịp thời cung cấp đầy đủ các loại hóa chất phục vụ cho việc bảo vệ môi trường sau bão lũ

Ban Chỉ đạo Vệ sinh an toàn thực phẩm của các thành phố lớn triển khai kế hoạch kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ tết dương lịch và tết Nguyên đán năm 2007, tập trung kiểm tra ở cả 3 cấp: thành phố - quận, huyện - xã, phường; tập trung vào việc thực hiện các quyết định vệ sinh an toàn thực phẩm như công bố tiêu chuẩn, chất lượng thực phẩm, phiếu kiểm nghiệm thực phẩm , ngoài ra còn kiểm tra các mặt hàng phụ gia thực phẩm ở các siêu thị, cơ sở đại lý, kinh doanh buôn bán các loại thực phẩm và các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố

Trang 8

Văn hóa - Thông tin: Trong tháng 12, các hoạt động văn hóa thông tin tập trung đưa tin

về các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đón tiếp các phái đoàn Lãnh đạo các nước sang thăm Việt Nam; các hợp tác về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội được thông tin kịp thời; đưa tin về tình hình phòng chống bão số 9, số 10 và tuyên truyền về công tác trợ giúp các địa phương khắc phục thiệt hại, ổn định cuộc sống và sản xuất sau bão

Thể dục, thể thao: Trong tháng 12/2006, ngành thể dục thể thao đã tổ chức thành công

Đại hội thể dục thể thao sinh viên Đông Nam Á lần thứ 13 tại Hà Nội Đại hội đã gây ấn tượng tốt đẹp cho cho bạn bè quốc tế và thúc đẩy phong trào tập luyện thể thao rộng khắp trong sinh viên toàn quốc, tăng cường tình hữu nghị, hợp tác giữa các thành viên trong Hội đồng thể thao đại học Đông Nam Á và các quốc gia trên thế giới Cũng trong tháng 12/2006,

đã tổ chức Hội thi thể thao Dân tộc Chăm toàn quốc lần thứ 2 Hội thi đã giúp tăng cường giao lưu, tạo tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, đồng thời góp phần phát động phong trào thể dục, thể thao quần chúng, nâng cao sức khỏe, tăng cường thể lực cho đồng bào dân tộc

2 Một số khó khăn, tồn tại của nền kinh tế

Bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được trong năm 2006, nền kinh tế đang còn một

số khó khăn, tồn tại sau:

(1) Dịch cúm gia cầm và hạn hán sẽ tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp.

Sau một năm kiềm chế được dịch cúm gia cầm, trong tháng 12/2006 đã phát sinh một

số ổ dịch cúm gia cầm mới ở 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau Mặc dù các địa phương có dịch và các ngành chức năng đã triển khai các biện pháp phòng chống dịch, tiến hành tiêu hủy, khoanh vùng, bao vây ổ dịch, phun thuốc tiêu độc khử trùng toàn bộ khu vực, nhưng nguy cơ dịch cúm gia cầm lan rộng trong vùng đồng bằng sông Cửu Long rất cao do người dân chưa

có ý thức đầy đủ trong việc phòng chống dịch và thời tiết bắt đầu chuyển sang mùa lạnh, thuận lợi cho virut phát triển

Theo Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn, đến giữa tháng 12/2006, các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đang thiếu nước cho vụ Đông Xuân Lượng nước thiếu hụt tại các tỉnh này ở mức từ 67% - 90% so với trung bình nhiều năm Tại Bắc bộ, nớc từ thượng nguồn tiếp tục giảm 1530% Nước trên sông Hồng tại Hà Nội thấp hơn cùng kỳ năm 2005 từ 0,5m -0,7m và thấp hơn trung bình nhiều năm 1,7m - 2m Việc thiếu nước sẽ gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của ngành nông nghiệp

(2) Việc điều chỉnh giá điện và một số nguyên liệu sản xuất (than, xi măng ), sẽ tác

động trực tiếp đến sản xuất và giá cả sinh hoạt Đặc biệt từ nay đến Tết Nguyên đán, giá một

số mặt hàng có thể sẽ tăng lên do nhu cầu tiêu dùng tăng cao nhưng dịch bệnh, ma đá làm ảnh hưởng đến khả năng cung cấp thực phẩm và một số nhu cầu thiết yếu phục vụ tết

(3) Một số vấn đề xã hội còn bức xúc Tình hình trật tự an toàn giao thông chưa có tiến

bộ tích cực; số vụ tai nạn giao thông và số người chết vì tai nạn vẫn còn cao Trong tháng 11

xẩy ra 1.250 vụ tai nạn giao thông, làm 1.052 ngời chết và 974 người bị thương Tính chung

cả 11 tháng năm 2006, đã xảy ra 13.253 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11.489 người và bị thương 10.213 người So với cùng kỳ năm trước tuy giảm được 259 vụ nhưng số người chết tăng 945 người (tăng 8,9%) Trung bình trong cả nước mỗi ngày xảy ra 39 vụ tai nan giao thông, làm chết 34 người và bị thương 30 người

II một số nhiệm vụ cần tập trung chỉ đạo thực hiện trong những tháng đầu năm 2007

Trang 9

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 75/2006/QH11 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2007, nêu rõ trong năm 2007 phải phấn đấu đạt được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 8,2 - 8,5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 17,4%, tổng vốn đầu tư xã hội đạt mức 40% GDP, chỉ số giá thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm mới cho 1,6 triệu người Quốc hội cũng đã có Nghị quyết số 68/2006/QH11 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2007, Nghị quyết số 69/2006/QH11 về phân bổ ngân sách Trung ương năm 2007

Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1506/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm 2006 về giao dự toán ngân sách nhà nước năm

2007 và Quyết định số 1643/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2006 về giao chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2007 Đồng thời trong tháng 1 năm 2007, Chính phủ sẽ sớm ban hành Nghị quyết về các giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm

2007

Ngay từ đầu năm 2007, các Bộ, ngành, địa phương cần nhanh chóng xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch và ngân sách nhà nước năm 2007, trước mắt tập trung chỉ đạo thực hiện ngay các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, tổ chức tốt việc giao kế hoạch và dự toán ngân sách Nhà nước của các cấp các

ngành cho các đơn vị theo các Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Các bộ, ngành, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty 91, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần hoàn tất việc giao chỉ tiêu kế hoạch năm 2007 cho các đơn vị cơ sở theo đúng thời gian quy định để kịp thời triển khai thực hiện ngay từ đầu năm 2007 Bảo đảm việc triển khai

kế hoạch phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch và các quy định của Nhà nước, chấp hành nghiêm túc Nghị quyết Quốc hội, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Hai là, triển khai thực hiện các giải pháp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

(1) Các bộ, ngành tổ chức thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế, trước hết là các cam kết trong khuôn khổ WTO, AFTA và các cam kết đa phương, song phương khác

(2) Thực hiện các giải pháp để bảo đảm ngành công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng sản xuất cao ngay từ những tháng đầu năm, đặc biệt là các sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn, các địa phương có tỷ trọng công nghiệp lớn

Năm 2007, tình hình khô hạn có thể diễn ra trầm trọng hơn năm 2006, Bộ Công nghiệp cần chỉ đạo Tổng công ty Điện lực Việt Nam xây dựng các phương án sản xuất, cung ứng, tiết kiệm điện, bảo đảm chủ động cung cấp đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, nhất

là trong những tháng nguồn nước xuống thấp

Lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp giảm chi phí trung gian, thực hành tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu, đồng thời tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm

(3) Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng chống lây lan dịch cúm gia cầm H5N1 và các dịch bệnh khác, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, khôi phục đàn gia cầm

Tình hình khô hạn có thể diễn ra gay gắt hơn trong những tháng đầu năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các địa phương xây dựng phương án bảo đảm nguồn nước phục vụ nước tới vụ Đông Xuân; sử dụng nước tiết kiệm, hợp lý; đồng thời hướng dẫn

Trang 10

nông dân những vùng không cân đối đủ nước tới chủ động bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng để vừa đảm bảo đợc an ninh lương thực, xuất khẩu gạo vừa làm tăng thu nhập sản xuất nông nghiệp

Theo dõi sát diễn biến dịch bệnh để chủ động các giải pháp phòng chống Thực hiện tốt các chỉ đạo của Chính phủ về phòng chống dịch cúm gia cầm, hạn chế thấp nhất các thiệt hại cho người chăn nuôi; tổ chức tiêu huỷ hợp lý gia cầm trong vùng bị bệnh Tiếp tục công tác khử trùng, tiêu độc, tạo môi trường sạch để sớm chấm dứt dịch bệnh

Chuẩn bị tốt các điều kiện, nhất là phân bón, giống để sản xuất vụ Đông Xuân bảo đảm diện tích và đạt năng suất cao

(4) Chú trọng phát triển mạnh hơn nữa các hoạt động dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ viễn thông, vận tải, du lịch, nghiên cứu mở rộng việc miễn visa du lịch cho các nước là thị trường

du lịch lớn của Việt nam, đồng thời quan tâm nâng cao chất lượng dịch vụ

Thực hiện tốt các chính sách khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ

Ba là, phấn đấu bình ổn giá cả, thị trường.

Việc tăng giá điện và một số nguyên liệu sẽ tác động sản xuất, giá cả đầu ra và đời sống nhân dân Cần tăng cường thu thập, phân tích thông tin, dự báo sự tác động dây chuyền của việc tăng giá của những sản phẩm có tác động lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân để chủ động có biện pháp xử lý

Đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối trong nước Các Tổng công ty lớn áp dụng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ giá bán sản phẩm trên thị trường

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, niêm yết giá và bán theo giá niêm yết, chống đầu cơ, đẩy giá thị trường lên cao, nhất là các mặt hàng có nhu cầu cao trong dịp Tết Nguyên đán

Bốn là, chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ nhân dân đón tết Đinh Hợi vui vẻ, lành

mạnh

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc tổ chức đón Tết Nguyên đán Bộ Thương mại chỉ đạo ngành thương mại chủ động chuẩn bị sẵn sàng lượng hàng hoá đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư trong dịp tết Nguyên đán sắp tới, tránh gây ra những biến động lớn về giá cả, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra bảo đảm an toàn thực phẩm Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra thị trường, hạn chế tình trạng hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng, đặc biệt trên địa bàn các vùng sâu, vùng xa,

Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo các Tổng công ty (Đường sắt, Hàng không) và ngành vận tải các địa phương chuẩn bị tốt các điều kiện vận tải (tăng tần xuất vận chuyển, nâng cao chất lượng phục vụ ) để đáp ứng tốt nhất nhu cầu đi lại tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán năm 2007

Các Bộ, ngành, địa phương tổ chức chu đáo việc thăm hỏi, tặng quà cho thơng binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, đồng thời vận động nhân dân giúp đỡ các gia đình nghèo khó khăn để mọi người đón tết vui vẻ

Bảo đảm trật tự an toàn giao thông, hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông trong dịp Tết

Nguồn: Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ngày đăng: 12/11/2022, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w