Sang quý III, mặc dù tình hình dịch bệnh trong nước tiếp tục có diễn biến phức tạp khi phát hiện ca nhiễm Covid-19 lây lan trong cộng đồng tại Đà Nẵng và Quảng Ngãi hồi cuối tháng 7, như
Trang 1TỈNH THÁI NGUYÊN
Số: /BC-CTK Thái Nguyên, ngày 25 tháng 9 năm 2020
BÁO CÁO Tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2020
tỉnh Thái Nguyên
Trong 9 tháng năm 2020, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh chịu tác động bởi diễn biến phức tạp, khó lường của đại dịch Covid-19 Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế giảm sâu trong quý I/2020, đặc biệt là trong tháng 4 khi cả nước thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 về thực hiện giãn cách xã hội Tuy nhiên, sang tháng 5 các hoạt động của đời sống xã hội đã nhanh chóng thiết lập trạng thái bình thường, hoạt động sản xuất kinh doanh dần được phục hồi và tăng trưởng khá mạnh vào tháng 6 Sang quý III, mặc dù tình hình dịch bệnh trong nước tiếp tục có diễn biến phức tạp khi phát hiện ca nhiễm Covid-19 lây lan trong cộng đồng tại Đà Nẵng và Quảng Ngãi hồi cuối tháng 7, nhưng với quyết tâm cao phấn đấu đạt mục tiêu kép trong phòng chống dịch thành công và đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, tình hình kinh tế của tỉnh tiếp tục có những bước phục hồi mạnh
mẽ trong tháng 8 và dần lấy lại được nhịp độ tăng trưởng như thời kỳ trước dịch bệnh trong tháng 9
Trên cơ sở kết quả thực hiện 8 tháng và ước tính số liệu tháng 9, Cục Thống
kê báo cáo dự ước tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2020 trên địa bàn như sau:
1 Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) trên địa bàn ước đạt
567,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5% so với cùng kỳ và bằng 70,7% kế hoạch cả năm Trong đó, công nghiệp địa phương đạt 24,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng
kỳ, bằng 75,6% kế hoạch cả năm; công nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 16,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, bằng 68,4% kế hoạch cả năm; công nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 526 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so cùng
kỳ và bằng 70,5% kế hoạch năm
2 Giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt khoảng 20,32 tỷ USD, giảm 5,6% so với
cùng kỳ và bằng 68,9% kế hoạch cả năm Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý đạt 304,5 triệu USD, giảm 24,9% so với cùng kỳ và bằng 44,8% kế hoạch; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 20 tỷ USD, giảm 5,3% so với cùng kỳ
3 Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 10.064 tỷ đồng, bằng 64,7%
dự toán năm, giảm 9% so với cùng kỳ Trong đó, thu nội địa ước đạt 7.909 tỷ đồng, bằng 64% dự toán cả năm, giảm 10,6% so cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 2.120 tỷ đồng, bằng 66,3% dự toán năm và giảm 2,3% so cùng kỳ
524
Trang 24 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9 tháng năm 2019 ước đạt 28 nghìn
tỷ đồng, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước
5 Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản:
Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng, giết thịt ước đạt 105,5 nghìn tấn, bằng 71,5% kế hoạch cả năm và tăng 4,4% so cùng kỳ (trong đó, sản lượng thịt lợn hơi ước đạt 63,6 nghìn tấn, giảm 0,8%; thịt gà hơi ước đạt 34,2 nghìn tấn, tăng 14,8%) Diện tích trồng rừng mới tập trung trên địa bàn đạt 4.012 ha, bằng 74,3% cùng kỳ và bằng 100,3% kế hoạch; trong đó, địa phương trồng rừng mới tập trung theo chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững là 1.437 ha, giảm 43,7% so với cùng kỳ và bằng 90% so kế hoạch
Diện tích chè trồng mới và trồng lại là 330 ha, đạt 47,2% kế hoạch cả năm; trong đó, diện tích chè trồng lại là 271 ha, giảm 5,8% so với cùng kỳ và bằng 50,7% kế hoạch cả năm
6 Các chỉ tiêu xã hội: Đã và đang tiếp tục được triển khai thực hiện theo tiến
1 Trồng trọt
* Cây hàng năm
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến 15/9/2020 đạt 114,2 nghìn
ha, giảm 0,73% so với thực hiện năm 2019 (tương đương giảm 841 ha) Cơ bản các nhóm cây trồng đều giảm so với năm 2019 như: cây lúa đạt 69,7 nghìn ha, tăng 2,44% so kế hoạch năm nhưng giảm 0,51% so cùng kỳ; cây ngô giảm 4,8%; cây khoai lang, mía, lạc giảm từ 6% đến gần 9%; cây sắn, đậu tương có diện tích giảm trên 10%; riêng chỉ có cây rau, đậu các loại có diện tích tăng 5,4% (+804 ha) Nguyên nhân diện tích một số cây hàng năm giảm là do người dân thay đổi
Trang 3tập quán canh tác, chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và
chuyển đổi sang các cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa năm 2020 đạt 52,7 nghìn
ha, giảm 1,31% (-700 ha) so với cùng kỳ Chia ra, diện tích cây lúa đạt 39,9 nghìn
ha (-267ha), tương đương giảm 0,7%; cây ngô diện tích đạt 4,5 nghìn ha, giảm 3,94%; nhóm cây lấy củ có chất bột đạt 2,5 nghìn ha, giảm 10,4%; cây có hạt chứa dầu đạt 751 ha, giảm 4,9%; cây mía 149 ha, giảm 8,6%; riêng nhóm cây rau, đậu các loại và hoa đạt 3,8 nghìn ha, tăng 1,4%
Hiện nay, một số diện tích lúa sớm đã được thu hoạch tại một số địa phương như huyện Phú Bình, thị xã Phổ Yên Dự ước sản lượng lúa vụ Mùa đạt 215,4 nghìn tấn, bằng 104,4% kế hoạch trong vụ và giảm 0,62% so vụ Mùa năm 2019
* Cây lâu năm
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có trên địa bàn tỉnh ước đạt 38 nghìn ha, tăng 0,5% so cùng kỳ Đến nay, các loại cây lâu năm đều phát triển tốt
- Cây chè: Tổng diện tích chè hiện có tính đến cuối tháng 9/2020 ước đạt
22,3 nghìn ha, tăng 3% so với cùng kỳ Tính đến ngày 15/9/2020, kết quả đăng ký trồng chè năm 2020 được 850 ha, bằng 121,4% kế hoạch; nghiệm thu diện tích đất được 800 ha/700 ha kế hoạch Dự ước diện tích trồng mới và trồng lại ước đạt 330
ha, đạt 47,2% kế hoạch; diện tích trồng mới đạt 59 ha, đạt 35,8% kế hoạch, giảm 46% so cùng kỳ Toàn tỉnh có 23 vườn ươm được kiểm định chất lượng với tổng
số hom cắm là 36 triệu hom bằng các giống LDP1, Kim Tuyên, TRI 777 và một số giống chè khác
Tổng sản lượng chè búp tươi thu hoạch tính chung 9 tháng năm 2020 ước đạt 202,5 nghìn tấn, tăng 2,6% so cùng kỳ và bằng 84,7% kế hoạch năm
Về tình hình sâu bệnh trên cây chè: Các đối tượng gây hại trên cây chè chủ
yếu là rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ có tỷ lệ hại nhẹ, diện tích nhiễm cao hơn so với cùng kỳ năm trước Tổng diện tích nhiễm bệnh khoảng 3.745 ha, trong đó, rầy xanh diện tích bị nhiễm 1.279 ha, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi và nhện
đỏ diện tích nhiễm từ 735-826 ha
Về công tác tập huấn, chuyển giao khoa học: Trong 9 tháng năm 2020, ngành
chức năng đã tổ chức được 30 lớp tập huấn với 1.700 người tham gia Trong đó,
có 03 lớp do Ban quản lý dự án phát triển chè tổ chức và 13 lớp phối hợp với các
cơ quan chuyên môn của các huyện, thành phố, thị xã tổ chức Nội dung tập huấn bao gồm: kỹ thuật sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho các hộ nông dân và các mô hình chứng nhận sản xuất chè
an toàn; quy trình kỹ thuật sản xuất, thâm canh chè an toàn chất lượng cao
- Cây ăn quả: Trong 9 tháng năm 2020, một số địa phương tiếp tục nhân
rộng mô hình trồng cây ăn quả có chất lượng cao vào sản xuất, đồng thời một số diện tích có hiệu quả kinh tế thấp chuyển sang trồng chè và trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn
Trang 4Diện tích cây ăn quả ước đạt 15,5 nghìn ha, giảm 3% so cùng kỳ năm trước Trong đó, diện tích cây táo, mận và các loại quả có hạt giảm 17%; diện tích cây nhãn, vải giảm 15,2%; tuy nhiên, có một số cây ăn quả có diện tích tăng như cây cam tăng 11%, cây bưởi tăng 27%, cây ổi tăng 8,5%
2 Chăn nuôi
Hiện nay, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm vẫn đang được kiểm soát tốt, không có dịch bệnh, tuy nhiên công tác phòng, chống dịch trên đàn vật nuôi vẫn đang được các địa phương trong toàn tỉnh quan tâm thực hiện Giá lợn giống vẫn duy trì ở mức cao nhưng giá lợn hơi và gia cầm có xu hướng giảm nhẹ
so tháng trước
Công tác tái đàn lợn đang được tích cực thực hiện, trong đó, tập trung chủ yếu theo quy mô trang trại, đảm bảo điều kiện an toàn dịch bệnh; hầu hết các trang trại chăn nuôi đều mở rộng quy mô chăn nuôi, tăng khoảng 20% (tăng mật độ chăn nuôi và trọng lượng xuất bán thịt lợn hơi) Còn tại các hộ có lợn mắc bệnh phải tiêu hủy hoàn toàn có tỷ lệ tái đàn bình quân khoảng 70% (trên 12.000 hộ đã tái đàn); số hộ không tái đàn lợn mà chuyển sang vật nuôi khác như chăn nuôi gà, vịt bò chiếm khoảng 20%; số hộ để trống chuồng (chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ) chiếm tỷ lệ 10%
* Tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi
Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn không có ổ dịch phát sinh mới
- Dịch tả lợn Châu Phi: Tính đến ngày 21/01/2020 toàn tỉnh có 175/175 xã
có dịch đã qua 30 ngày không có lợn ốm chết Đến ngày 07/02/2020 đã thực hiện công bố hết dịch trên tất cả các xã trong toàn tỉnh Công tác kiểm tra, giám sát tình hình dịch bệnh tiếp tục được các địa phương quan tâm, triển khai thực hiện
để dịch bệnh không bùng phát trở lại, hướng dẫn người chăn nuôi an toàn sinh học và tiêm phòng một số vắc xin theo quy định
- Bệnh Lở mồm, long móng trên trâu bò: Xảy ra tại xã La Hiên, huyện Võ
Nhai (tháng 01/2020); xã Phú Xuyên, xã Phú Lạc, huyện Đại Từ (tháng 7, 8/2020)
và xã Linh Thông, huyện Định Hóa (tháng 8/2020) với tổng số 153 trâu bò mắc bệnh thuộc 44 hộ Tại các ổ dịch đã áp dụng đồng bộ các biện pháp chống dịch, tiêm phòng bao vây ổ dịch, khống chế, không để lây lan ra diện rộng; công tác giám sát, theo dõi diễn biến tình hình dịch bệnh vẫn được thường xuyên thực hiện
* Công tác phòng chống dịch và tiêm phòng
Ngành chức năng tiếp tục chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với các địa phương tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm tái bùng phát trở lại
Kết quả thực hiện tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tính đến tháng 9/2020 như sau: vắc xin Tụ huyết trùng trâu, bò: 73.460/85.000 liều đạt 86,4% kế hoạch năm; vắc xin Lở mồm, long móng trâu, bò, lợn: 168.775/165.000 liều đạt 102,3% kế hoạch năm; vắc xin Dịch tả lợn: 241.540/350
Trang 5nghìn liều đạt 69,0% kế hoạch năm; vắc xin Tụ dấu lợn: 182.260/250.000 liều đạt 72,9% kế hoạch năm; vắc xin Dại chó: 145.081/155.000 liều đạt 93,6% kế hoạch năm; vắc xin Lepto: 5.520/10.000 liều đạt 55,2% kế hoạch năm; vắc xin Tai xanh: 9.680/15.000 liều đạt 64,5% kế hoạch năm; vắc xin Cúm gia cầm: 4,4/4,9 triệu liều đạt 90,0% kế hoạch năm
* Sản lượng thịt hơi xuất chuồng
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: Dự ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9
tháng năm 2020 đạt 106,4 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ Trong đó, thịt trâu hơi xuất chuồng khoảng 3,5 nghìn tấn, tăng 9,8% so cùng kỳ; thịt bò hơi xuất chuồng khoảng 2,4 nghìn tấn, tăng 4%; thịt lợn hơi xuất chuồng đạt khoảng 63,6 nghìn tấn, giảm 0,8% so cùng kỳ; thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 35,8 nghìn tấn, tăng 14,6% so cùng kỳ
Tính riêng quý III/2020, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 35,4 nghìn tấn, tăng 11,2% Trong đó, thịt lợn hơi ước đạt 21,4 nghìn tấn, tăng 15,3%; thịt trâu hơi ước đạt 1,2 nghìn tấn, tăng 1,6%; thịt bò hơi ước đạt 765 tấn, tăng 2,4%; thịt gia cầm hơi ước đạt 11,7 nghìn tấn, tăng 6,3%
Sản lượng sản phẩm chăn nuôi khác: Trong 9 tháng năm 2020 sản phẩm
trứng các loại ước đạt 359,4 triệu quả, tăng 4% so với 9 tháng năm 2019 Tính riêng quý III/2020 ước đạt 130 triệu quả trứng tăng 4,1% so cùng kỳ
* Giá bán sản phẩm chăn nuôi
Do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi, dịch cúm gia cầm xảy ra tại một
số tỉnh lân cận nên giá thức ăn chăn nuôi tăng, giá con giống vẫn ở mức cao, nhưng do các địa phương chủ động trong việc tái đàn, thực hiện theo chỉ đạo của ngành chức năng trong kiểm soát giá nên hiện nay giá lợn hơi đang có xu hướng giảm nhẹ
Giá thịt lợn hơi bình quân tháng 9/2020 là khoảng 77,7 nghìn đồng/kg, tăng 59% so với cùng kỳ nhưng giảm 11,5% so với cùng kỳ; gà ta hơi khoảng 104,8 nghìn đồng, tăng 0,14%; giá gà công nghiệp lông trắng, giảm 19,2% Tuy nhiên, giá lợn giống vẫn duy trì ở mức cao, bình quân khoảng 231 nghìn đồng/kg, gấp 4 lần cùng kỳ
Tính chung quý III/2020, giá lợn hơi bình quân khoảng 85 nghìn đồng/kg, gấp hơn 2 lần cùng kỳ; giá gà ta hơi khoảng 104,8 nghìn đồng/kg, tăng 1,6%; giá
gà lông trắng khoảng 51 nghìn đồng, giảm 15% so với cùng kỳ; giá lợn giống khoảng 233 nghìn đồng/kg, gấp 4,6 lần cùng kỳ
3 Lâm nghiệp
Các đơn vị, địa phương đã chủ động phối hợp rà soát thiết kế diện tích rừng
đủ điều kiện đưa vào trồng rừng Dự ước diện tích rừng trồng mới tập trung trên toàn tỉnh tính đến tháng 9/2020 là 4 nghìn ha, đạt 100,3% kế hoạch Trong đó, địa phương trồng rừng mới tập trung theo chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững đạt 1.437 ha, bằng 56,3% so cùng kỳ và đạt 89,9% kế hoạch giao
Trang 6Về công tác tuyên truyền: Trong 9 tháng năm 2020, ngành chức năng đã
triển khai 49 lớp tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng với 2.846 người tham gia Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đặc biệt tuyên truyền công tác phát triển rừng, trồng rừng gỗ lớn, thâm canh rừng trồng chuyển hóa rừng trồng
gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh
Về công tác quản lý và bảo vệ rừng: Thực hiện chỉ đạo các Ban quản lý
rừng xây dựng phương án quản lý rừng bền vững; chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
Trong tháng 9/2020 không có vụ cháy rừng nào xảy ra Lũy kế từ đầu năm đến tháng 9/2020 trên địa bàn xảy ra 02 vụ cháy rừng với diện tích bị thiệt hại 6,2
ha (tăng 01 vụ so cùng kỳ năm 2019, gồm 4,61 ha tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ
và 1,6 ha tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công); có 10 vụ phá rừng với diện tích 2,36 ha (tăng 2 vụ so cùng kỳ)
Riêng quý III/2020 không có vụ cháy rừng nào xảy ra, tuy nhiên, đã xảy ra
03 vụ phá rừng với diện tích rừng bị thiệt hại là 0,24 ha
Về tình hình khai thác lâm sản: Lũy kế 9 tháng đầu năm 2020, sản lượng gỗ
khai thác đạt 139,7 nghìn m3, tăng 10,6% so với cùng kỳ; củi khai thác ước đạt 177,4 nghìn ste, tăng 1% cùng kỳ Trong quý III/2020, sản lượng gỗ khai thác đạt 50,3 nghìn m3, tăng 7,5% so với cùng kỳ; củi khai thác ước đạt 92,2 nghìn ste, giảm 1% cùng kỳ
Về kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp: Lũy
kế từ đầu năm đến tháng 9/2020 ngành chức năng đã xử lý 81 vụ vi phạm (giảm 38% so với cùng kỳ); tịch thu 104 m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 49% so với cùng kỳ); thu nộp ngân sách Nhà nước 487 triệu đồng (giảm 48% so với cùng kỳ)
4 Thuỷ sản
Các cơ sở/hộ gia đình nuôi thủy sản thương phẩm trong tỉnh tiếp tục chăm sóc và quản lý các đối tượng thủy sản nuôi; thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh, chống nóng và chuẩn bị cơ sở vật chất để phòng chống lụt bão; tiến hành thu hoạch đối tượng thủy sản đạt kích cỡ thương phẩm
Dự ước đến hết tháng 9/2020, sản xuất cá bột đạt 510 triệu con, cá giống đạt 47 triệu con, sản lượng thủy sản thương phẩm thu hoạch đạt 10,4 nghìn tấn, tăng 10% so cùng kỳ và đạt 69,5% kế hoạch năm Trong đó, chủ yếu là sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 10,3 nghìn tấn, tăng 10,1% so cùng kỳ và chiếm 98,4% tổng sản lượng thủy sản
Tính chung quý III/2020, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 4.575 tấn, tăng 10,2% so cùng kỳ Trong đó, sản lượng cá các loại ước đạt 4.479 tấn (chiếm 97,9%), tăng 10,3% so cùng kỳ; còn lại sản lượng tôm và thủy sản khác chiếm rất nhỏ khoảng 2,1%
Ước tính tổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2020 đạt 10.435 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 10.267 tấn,
Trang 7tăng 10,1% so với cùng kỳ (riêng sản lượng cá ước đạt 10.046 tấn, tăng 10,1%); sản lượng thủy sản khai thác chiếm tỷ trọng rất nhỏ, ước đạt 168 tấn, tăng 8,4%
so với cùng kỳ
2 Tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Theo Kế hoạch về thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên năm 2020 tỉnh Thái Nguyên có 02 xã đạt chuẩn “Nông thôn mới”; xây dựng hoàn thành 08 xã đạt “Nông thôn mới nâng cao” và “Nông thôn mới kiểu mẫu”; không có xã đạt dưới 10 tiêu chí
Đến nay, có 103/143 xã đạt chuẩn nông thôn mới (bao gồm 06 xã đã
chuyển thành phường, thị trấn và sáp nhập xã), trong đó, có 02 xã là Tân Thành
và xã Bàn Đạt, huyện Phú Bình được công nhận đạt chuẩn “Nông thôn mới” trong tháng 6 năm 2020 Hiện có 40/143 xã chưa đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2017-2020, trong đó, có 12 xã đạt từ 15-18 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 8,4%; 28 xã đạt
từ 10-14 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 19,6% Tiêu chí bình quân đạt 17,3 tiêu chí/xã
II Sản xuất công nghiệp
Do tác động tiêu cực của dịch Covid-19 nên sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề khi chỉ số sản xuất công nghiệp liên tục giảm trong quý I và quý II (quý I giảm 4,81%, quý II giảm 5,25% so với cùng kỳ) Tuy nhiên, sang quý III, sản xuất công nghiệp được phục hồi và dần lấy lại được đà tăng trưởng của thời kỳ trước dịch bệnh khi chỉ số sản xuất công nghiệp quý III/2020 ước tăng 13,09% so với cùng kỳ Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,1% so với cùng kỳ
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng tháng 8/2020 tăng 5% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2020, chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp giảm 23,8% (trong đó, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 25,4%; sản xuất trang phục giảm 14,7%; sản xuất kim loại tăng 10,3%; sản xuất xi măng tăng 36,2%) nên chỉ số tồn kho sản phẩm công nghiệp tháng 8/2020 tăng 79,2% so với cùng kỳ Lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 9/2020 như sau: sắt thép tồn 54,2 nghìn tấn, giảm 39,5%; điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn 2,1 triệu sản phẩm, tăng 8,4% so với cùng kỳ; xi măng tồn kho 117 nghìn tấn, tăng 43%; sản phẩm may tồn 14,5 triệu sản phẩm, tăng 91% so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2020, với tình hình sản xuất và tiêu thụ như trên, dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 9/2020 tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 16,4% với cùng kỳ Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện giảm 6,2% so với tháng trước nhưng tăng 16,1%
so với cùng kỳ; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,1% so với cùng kỳ
Về sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 9/2020: Nhóm sản phẩm ước tính có sản lượng tăng trên 9% so với cùng kỳ là: máy tính bảng đạt 2,4 triệu sản phẩm, tăng 68,4%; điện sản xuất đạt 110 triệu kwh, tăng 26,3%; mạch điện tử
Trang 8tích hợp đạt 16,5 triệu sản phẩm, tăng 19,2%; đá khai thác đạt 455 nghìn m3, tăng 11,1%; sắt thép các loại đạt 127,2 nghìn tấn, tăng 9% Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng sản xuất trong tháng 9/2020 tăng dưới 9% hoặc giảm so cùng kỳ là: gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 5,3 triệu viên, tăng 4,6%; nước máy thương phẩm đạt 2,7 triệu m3, tăng 3,8%; điện thương phẩm đạt 450 triệu kwh, tăng 2,9%; điện thoại thông minh đạt 10,3 triệu sản phẩm, tăng 2,5%; xi măng đạt 214 nghìn tấn, tăng 2%; than khai thác đạt 97 nghìn tấn, tăng 1,9%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 3,5 nghìn tấn, giảm 4%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,2 nghìn tấn, giảm 6,2%; camera truyền hình đạt 4,9 triệu sản phẩm, giảm 7,6%; sản phẩm may đạt 6,8 triệu sản phẩm, giảm 9%; tai nghe khác 2,5 triệu sản phẩm, giảm 40% Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III/2020 ước tính tăng 13,09% so với cùng
kỳ Trong đó, hai ngành có chỉ số tăng so với cùng kỳ là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (+13,4%), ngành sản xuất và phân phối điện (+7,6%); còn lại 2 ngành
có chỉ số giảm là ngành khai khoáng (-8,3%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (-3,3%) so cùng kỳ
Về sản phẩm chủ yếu sản xuất trong quý III/2020: Nhóm sản phẩm công nghiệp tăng trên 10% so với cùng kỳ như: giấy và bìa đạt 19,5 nghìn tấn, gấp 2,4 lần; máy tính bảng đạt 6,6 triệu sản phẩm, tăng 64,1%; xi măng đạt 685 nghìn tấn, tăng 17,6%; sắt thép các loại đạt 338,7 nghìn tấn, tăng 10,8% Nhóm sản phẩm ước tính tăng dưới 10% so cùng kỳ là: điện sản xuất đạt 384,3 triệu kwh, tăng 9,7%; mạch điện tử tích hợp đạt 36,1 triệu sản phẩm, tăng 6,8%; điện thương phẩm đạt 1.369 triệu kwh, tăng 4%; than khai thác đạt 302 nghìn tấn, tăng 4%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 15,6 triệu viên, tăng 3,3%; điện thoại thông minh đạt 29,5 triệu sản phẩm, tăng 1,5%; nước máy thương phẩm đạt 7,9 triệu m3, tăng 1,5%; camera truyền hình đạt 15,8 triệu sản phẩm, tăng 1,2% Nhóm sản phẩm
có sản lượng giảm so cùng kỳ là: đồng tinh quặng (Cu<20%) đạt 10,4 nghìn tấn, giảm 3,5%; sản phẩm may đạt 18,9 triệu sản phẩm, giảm 12,2%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 3,5 nghìn tấn, giảm 16,3%; tai nghe khác đạt 8,3 triệu sản phẩm, giảm 30,1%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 298 triệu sản phẩm, giảm 33,2%
Chỉ số sản xuất công nghiệp tính chung 9 tháng năm 2020 ước tính tăng 2,1%
so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,2% (tăng cao ở các nhóm ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 68,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 38,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17,8%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 5,1%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,1%
Về sản phẩm công nghiệp sản xuất 9 tháng năm 2020, nhóm sản phẩm điện
tử, điện thoại thông minh và máy tính bảng ước đạt 84,4 triệu sản phẩm, giảm 2,7% về số lượng sản phẩm so với cùng kỳ và bằng 67,3% kế hoạch cả năm Trong
đó, điện thoại thông minh đạt 69,7 triệu sản phẩm, giảm 5,9% cùng kỳ và bằng 64,6% kế hoạch (nhóm điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên ước đạt 20,5 triệu sản phẩm, tăng 7,1% so với cùng kỳ; nhóm điện thoại có giá từ 3 đến dưới 6 triệu đạt
Trang 923,4 triệu sản phẩm, tăng 7,4%; nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đạt 25,8 triệu sản phẩm, giảm 22,1%); máy tính bảng đạt 14,7 triệu sản phẩm, tăng 16,4% cùng
kỳ và bằng 83,7% kế hoạch
Nhóm sản phẩm có sản lượng sản xuất trong 9 tháng năm 2020 tăng cao so cùng kỳ và đạt trên 60% kế hoạch là: xi măng đạt 2,1 triệu tấn, tăng 25,9% và bằng 92,2% kế hoạch; sắt thép các loại đạt 1,1 triệu tấn, tăng 18,4% và bằng 89,3%; tai nghe khác đạt 29,9 triệu sản phẩm, tăng 5,5% và bằng 69,5% kế hoạch; than khai thác đạt trên 1 triệu tấn, tăng 2,7% và bằng 79% kế hoạch; mạch điện
tử tích hợp đạt 82,4 triệu sản phẩm, tăng 0,8% và bằng 63,4% Bên cạnh đó, nhóm sản phẩm có sản lượng giảm so với cùng kỳ nhưng đạt trên 60% so với kế hoạch cả năm là: điện thương phẩm đạt 3.633 triệu kwh, giảm 0,2% và bằng 66,7%; nước máy thương phẩm đạt 22 triệu m3, giảm 2,4% và bằng 68,5% kế hoạch; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 10,9 nghìn tấn, giảm 10,1% và bằng 70,7%; camera truyền hình đạt 44 triệu sản phẩm, giảm 15,7% và bằng 64,6% Mặt khác, sản phẩm có sản lượng giảm hơn so với cùng kỳ và đạt thấp so với kế hoạch là: sản phẩm may đạt 53,6 triệu sản phẩm, giảm 13% và bằng 59,8%
Tính theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn
9 tháng năm 2020 ước đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5% so với cùng kỳ và
bằng 70,7% kế hoạch cả năm Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 41,5 nghìn
tỷ đồng, tăng 5,4% so cùng kỳ và bằng 72,5% kế hoạch (bao gồm: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương là 24,7 nghìn tỷ đồng, bằng 75,6% kế hoạch và tăng 6,7% cùng kỳ; công nghiệp Nhà nước Trung ương 16,8 nghìn tỷ đồng, bằng 68,4% kế hoạch, tăng 3,4% cùng kỳ) và công nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 526 nghìn tỷ đồng, bằng 70,5% kế hoạch, tăng 2,3% cùng kỳ
Nếu tính theo giá hiện hành, giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2020 ước đạt khoảng 632,3 nghìn tỷ đồng, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm 98,8% tổng số); ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện (chiếm tỷ trọng rất nhỏ khoảng 0,6%) ước đạt khoảng 3,8 nghìn tỷ đồng; ngành công nghiệp khai khoáng (chiếm tỷ trọng rất nhỏ khoảng 0,45%) ước đạt 2,8 nghìn tỷ đồng; còn lại là ngành công nghiệp cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải
Với kết quả sản xuất của quý III và ước tính 9 tháng năm 2020 như trên, để đạt được mục tiêu kế hoạch cả năm 2020 thì giá trị sản xuất công nghiệp trong quý IV/2020 cần đạt 235,7 nghìn tỷ đồng (trong đó, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đạt 220 nghìn tỷ đồng, tăng 24,8% so cùng kỳ; công nghiệp địa phương đạt 7,9 nghìn tỷ, tăng 14,7% so với cùng kỳ và công nghiệp Trung ương đạt 7,8 nghìn tỷ, tăng 16,3% so với cùng kỳ) Như vậy, để đạt được mục tiêu kế hoạch năm 2020, nhiệm vụ của cả 3 khu vực công nghiệp (khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực địa phương quản lý và khu vực trung ương) trong quý IV/2020 đều rất nặng nề Với tình hình sản xuất và tiêu thụ như hiện nay, để hoàn thành được kế hoạch năm 2020 là hết sức khó khăn
Trang 10Nếu theo kịch bản tăng trưởng đưa ra cuối tháng 6/2020, để tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2020 đạt 6% thì giá trị sản xuất công nghiệp trong quý IV/2020 cần đạt 220,8 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ Để đạt được như vậy thì trong quý IV/2020 các ngành công nghiệp cần tiếp tục tăng cường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh như sản xuất điện thoại thông minh, máy tính bảng, linh kiện điện tử, hàng may mặc
III Hoạt động tài chính, ngân hàng
1 Thu, chi ngân sách Nhà nước
Trên địa bàn tỉnh công tác quản lý thu, chi ngân sách 8 tháng năm 2020 đã đáp ứng kịp thời kinh phí để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng; đáp ứng được nhu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị và
thực hiện nhiệm vụ của các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh
* Thu ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2020 đạt 8.350,4 tỷ đồng, đạt 53,7% dự toán giao năm 2020, giảm 13,5% so với cùng kỳ Trong đó, thu nội địa đạt 6.547,2 tỷ đồng, chiếm 78,4% tổng thu và bằng 53% dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.772 tỷ đồng, chiếm 21,2% tổng thu ngân sách, giảm 5,5% so cùng kỳ và bằng 55,4% dự toán cả năm; còn lại các khoản thu quản lý
qua ngân sách đạt 31 tỷ đồng (chiếm 0,4% tổng thu)
Trong thu nội địa, có 4/14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu phí,
lệ phí đạt 143 tỷ đồng, tăng 16,9% và bằng 57,2% dự toán năm; thuế bảo vệ môi trường đạt 322,8 tỷ đồng, tăng 5,6% và bằng 70,2% dự toán; thu khác ngân sách đạt 129,3 tỷ đồng, tăng 25,3%, bằng 51,7% dự toán Còn lại 7/10 khoản thu giảm
so với cùng kỳ và đạt trên 50% dự toán như: Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.284,5 tỷ đồng, giảm 5,8%, bằng 53,4% dự toán năm; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 890 tỷ đồng, giảm 12,1% và bằng 57,1% dự toán; thuế thu nhập cá nhân đạt 844 tỷ đồng, giảm 2,3% và bằng 76,7% dự toán năm; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 15 tỷ đồng, giảm 2,7% so cùng kỳ và bằng 88,1% dự toán Có 01 khoản thu chưa đạt 50% so với cùng kỳ và dự toán năm là thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 86,6 tỷ đồng, giảm 64,3% so cùng
kỳ và đạt 26,2% dự toán
Ước tính 9 tháng năm 2020, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 10.064 tỷ, bằng 64,7% dự toán năm và giảm 9% so với cùng kỳ Trong đó, thu nội địa ước đạt 7.909 tỷ đồng, bằng 64% dự toán và giảm 10,6% so cùng kỳ; thu
từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 2.120 tỷ đồng, bằng 66,3% dự toán năm và
giảm 2,3% so cùng kỳ; thu quản lý qua ngân sách 35 tỷ đồng
* Chi ngân sách trên địa bàn
Thực hiện chi ngân sách trong 8 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh là 7.574,8 tỷ đồng, giảm 0,4% so cùng kỳ năm 2019 Trong đó, chi đầu tư phát triển thực hiện được 1.811 tỷ đồng, giảm 11,7%; chi thường xuyên thực hiện chi được 5.067,7 tỷ
đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ
Trang 11Trong tổng chi thường xuyên, có 5/11 khoản tăng so cùng kỳ như: chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 38,2 tỷ đồng tăng 25% và bằng 82,8% dự toán năm; chi đảm bảo xã hội đạt 383,5 tỷ đồng tăng 71,3% và đạt 98% dự toán; chi quản lý hành chính đạt 1.113,8 tỷ đồng, tăng 3,2% cùng kỳ; chi quốc phòng an ninh địa phương đạt 190,1 tỷ đồng, tăng 1,5% và bằng 73,4% dự toán; chi khác ngân sách đạt 64,6 tỷ đồng, tăng 17% Còn lại 6 khoản chi giảm so cùng kỳ như: chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 1.985,7 tỷ đồng, giảm 0,9% và đạt 52,8% dự toán; chi sự nghiệp y tế, dân số đạt 531,9 tỷ đồng, giảm 2,1% tỷ đồng
và đạt 62,4% dự toán; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình giảm 10,3% và mới đạt 47,4% dự toán năm; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt 141,5 tỷ đồng, giảm
tỷ đồng, tăng 0,8% so với cùng kỳ và bằng 65,9% dự toán cả năm) Chi chương trình mục tiêu quốc gia, dự án và nhiệm vụ khác ước đạt 880 tỷ đồng, tăng 35,9%
cùng kỳ và bằng 60,2% dự toán cả năm
2 Ngân hàng
Trong 9 tháng năm 2020, Ngân hàng Nhà nước nói chung đã điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để ổn định thị trường Thanh khoản của hệ thống tổ chức tín dụng thông suốt Các chính sách tiền đệ được điều hành linh hoạt, chủ động và thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách kinh tế
vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ
và ngoại hối, hỗ trợ phục hồi kinh tế trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19
Để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh từ ngày 13/5/2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh giảm lần 2 các mức lãi suất: giảm 0,5%/năm các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước và các chỉ đạo Tổ chức tín dụng giảm 0,3-0,5%/năm trần lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam các
kỳ hạn dưới 6 tháng và giảm 0,5%/năm trần lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam đối các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao)
Về tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam
không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 01 tháng là 0,2%/năm; kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới
06 tháng là 4,25%/năm; từ 06 tháng trở lên là 4,5-7,3%/năm Lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 5%/năm Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9-11%/năm đối với trung và dài hạn
Về hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín
dụng trên địa bàn đến 31/8/2020 đạt 72,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,12% so với
Trang 1231/12/2019 Ước đến 30/9/2020 nguồn vốn huy động đạt 73,2 nghìn tỷ đồng tăng 11,87% so với 31/12/2019
Về hoạt động tín dụng: Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đến 31/8/2020
đạt 60,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,25% so với 31/12/2019 Ước đến 30/9/2020 dư nợ cho vay đạt 60,6 nghìn tỷ đồng tăng 6,03% so với 31/12/2019
Tính đến 31/8/2020 nợ xấu là 484 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 0,8%/tổng dư nợ Ước đến 30/9/2020 nợ xấu là 480 tỷ đồng chiếm 0,79%/tổng số dự nợ
Về kết quả thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng vay bị ảnh hưởng của dịch Covid-19: Tính lũy kế từ 23/01/2020 đến ngày 31/8/2020, các Tổ chức tín
dụng đã thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng do ảnh hưởng của dịch Covid -19 như sau:
- Miễn giảm lãi vay: Tổng dư nợ được miễn giảm là 5,4 nghìn tỷ đồng cho 3.890 khách hàng với số lãi được miễn giảm là 4,2 tỷ đồng
- Cơ cấu thời hạn trả nợ và tạm thời giữ nguyên nhóm nợ: Tổng dư nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là 5.076 tỷ đồng cho 1.824 khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ
- Cho vay mới với lãi suất ưu đãi: Doanh số cho vay mới với lãi suất ưu đãi
Dự tính quý III/2020 tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đạt khoảng 11.549 tỷ đồng, tăng 38,9% so với quý trước nhưng giảm 3,6% so với cùng kỳ Trong đó, vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.389,7 tỷ đồng, tăng 63% so với quý trước và bằng 133,6% so với cùng kỳ; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 6.819,4
tỷ đồng, tăng 45,8% so với quý trước và bằng 112,3% so với cùng kỳ (vốn đầu tư của hộ dân cư đạt 3.553,6 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ, vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 3.265,7 tỷ đồng, gấp 2,2 lần quý trước); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2.340 tỷ đồng, tăng 7,6% so với quý trước nhưng giảm 43% so với cùng kỳ Trong quý III/2020, vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ do Công ty Cổ phần Thương mại Thái Hưng đầu tư dự án Khu đô thị Thái Hưng Ecocity thêm 202 tỷ đồng, tăng 46,7%
Trang 13so với quý trước; Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG đầu tư dự án Nhà máy may TNG Võ Nhai dự kiến hoàn thành mức đầu tư 290,4 tỷ đồng…
Tính chung 9 tháng năm 2020, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 28 nghìn tỷ đồng, giảm 0,9% so với cùng kỳ Trong đó, khu vực Nhà nước đạt 4.940
tỷ đồng, tăng 24,5%; khu vực ngoài Nhà nước ước đạt 16 nghìn tỷ đồng, tăng 19,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,1 nghìn tỷ đồng, giảm 35,1% so với cùng kỳ
Về tình hình thực hiện giải ngân vốn đầu tư công: Tính đến hết ngày
31/8/2020 tổng số vốn giải ngân đạt 2.227,87 tỷ đồng, đạt 45,3% kế hoạch vốn; trong đó, dự án Trung ương quản lý đạt 52,9 tỷ đồng, đạt 16,4% kế hoạch vốn, dự
án địa phương quản lý đạt xấp xỉ 2.175 tỷ đồng, đạt 47,3% kế hoạch vốn Trong
số các dự án do địa phương quản lý, nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã đạt 1.319 tỷ đồng, đạt 46,8%; nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương đạt 560 tỷ đồng, đạt 51,9%; nguồn vốn trái phiếu chính phủ do địa phương quản lý chưa giải ngân được
2 Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Tính từ đầu năm 2020 đến ngày 15/9/2020 có 11 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng số vốn đăng ký là 30,97 triệu USD So với thời điểm cùng kỳ số dự án FDI cấp phép mới tương đương nhưng số vốn đăng ký chỉ đạt 15,3% Trong đó, có 10 dự án được cấp phép mới thuộc Ban quản lý các khu công nghiệp Thái Nguyên có tổng vốn đăng ký là 30,95 triệu USD; còn lại 01 dự án được cấp phép mới thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên có vốn đăng
ký khoảng 15 nghìn USD Trong tổng số 11 dự án được cấp phép mới có 9 dự án thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo; 01 dự án thuộc ngành kinh doanh bất động sản và 01 dự án thuộc ngành chuyên môn khoa hoc công nghệ
Tính lũy kế đến thời điểm ngày 15/9/2020, trên địa bàn tỉnh số dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực là 156 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 8,2
tỷ USD (tương đương khoảng 189 nghìn tỷ đồng)
9 tháng năm 2020 ước đạt 15.543,8 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ Trong đó, quý
I giảm 0,6%; quý II tăng 11,6% và quý III/2020 ước tăng 11,3% so với cùng kỳ
Tính riêng quý III/2020, giá trị sản xuất xây dựng trên địa bàn tỉnh ước đạt 6.035,2 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ Chia ra, giá trị công trình kỹ thuật dân dụng ước đạt 1.366 tỷ đồng, tăng 13,5%; giá trị công trình nhà không để ở ước đạt 1.300,6 tỷ đồng, tăng 15,9%; giá trị công trình nhà ở ước đạt 2.581,8 tỷ đồng, tăng 6,8%; còn lại là giá trị hoạt động xây dựng chuyên dụng ước tăng 11,9% so với cùng
kỳ Nếu chia theo loại hình sở hữu, doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 7,86 tỷ đồng, tăng
Trang 14113,8% so với quý trước nhưng giảm 47% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 2.789,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 46,2%), so với quý trước tăng 28,5% và
so với cùng kỳ tăng 27%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 490,4 tỷ đồng, tăng 64,5% so với quý trước và bằng 91,3% so với cùng kỳ; loại hình khác gồm giá trị sản xuất của hộ dân cư và xã, phường, thị trấn đạt 2.747,53 tỷ đồng, tăng 12,6%
so với quý trước và tăng 2,8% so với cùng kỳ
Tính chung 9 tháng năm 2020, giá trị sản xuất xây dựng trên địa bàn ước đạt 15.543,8 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ Nếu chia theo loại công trình, giá trị công trình nhà ở ước đạt 7.074,4 tỷ đồng, tăng 8,6%; giá trị công trình nhà không để ở ước đạt 3.627,8 tỷ đồng, tăng 17,4%; giá trị công trình kỹ thuật dân dụng ước đạt 2.924,6
tỷ đồng, giảm 2,1%; giá trị công trình kỹ thuật dân dụng ước đạt 1.917 tỷ đồng, tăng 3,3% so với cùng kỳ Nếu chia theo loại hình sở hữu, giá trị của doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 14,9 tỷ đồng, giảm 64,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 7.094,8
tỷ đồng, tăng 17,5%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.080,8 tỷ đồng, giảm 15,5%; còn lại là loại hình khác ước tăng 3,7% so với cùng kỳ (riêng khu vực hộ dân cư ước đạt 7.134,4 tỷ đồng, tăng 4,3%)
4 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Hiện nay, tình hình dịch bệnh trong nước đã được kiểm soát tốt, các hoạt động kinh tế - xã hội đang dần được khôi phục Doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng, bám sát chính sách hỗ trợ của Chính phủ, từng bước đưa sản xuất kinh doanh vào hoạt động trở lại, mặc dù chưa thể hoàn toàn khôi phục so với thời điểm trước dịch bệnh Số doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng năm 2020 giảm 7% so với cùng kỳ; số doanh nghiệp đóng mã số thuế và ngừng hoạt động tăng 10,9%
so với số doanh nghiệp đăng ký mới và hoạt động trở lại Tuy nhiên, kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo và ngành xây dựng cũng cho thấy các doanh nghiệp kỳ vọng tình hình sản xuất kinh doanh của quý IV tiếp tục khả quan hơn quý III
* Về tình hình đăng ký doanh nghiệp
Dịch Covid-19 bùng phát trở lại đã tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ vốn chưa được phục hồi “sức khoẻ” sau đợt dịch lần đầu Có thể thấy rõ, dịch bệnh ảnh hưởng tiêu cực ngay lập tức đến ngành du lịch và ngành vận tải hành khách (khách du lịch huỷ tua, huỷ hợp đồng, vận tải hành khách bị ngưng trệ…) Ngoài hoạt động như du lịch, vui chơi, giải trí gần như ngừng hẳn, nhiều loại hình thương mại, dịch vụ khác như thời trang, điện tử, ô tô, xe máy, nhà hàng, khách sạn… đều vắng khách Từ đó tiếp tục tác động xấu đến hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất và thương mại khác Bên cạnh đó, do tâm lý lo sợ dịch bệnh kéo dài, người dân đã chủ động tiết giảm chi tiêu khiến nhiều hoạt động kinh tế cũng bị ảnh hưởng Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do vẫn đang phải đối mặt với những hệ luỵ xấu từ dịch Covid-19
Tính đến ngày 15/9/2020, toàn tỉnh đã cấp mới đăng ký kinh doanh cho 505 doanh nghiệp (giảm 7% so với cùng kỳ) với số vốn đăng ký là 2,9 nghìn tỷ đồng
Trang 15(giảm 44,2%) Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 5,8 tỷ đồng (bình quân cùng kỳ là 9,6 tỷ đồng/1 doanh nghiệp) Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký mới, tập trung nhiều nhất là ở thành phố Thái Nguyên có 268 doanh nghiệp (chiếm 53,1%) với 1,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký; thành phố Sông Công có 57 doanh nghiệp với 336 tỷ đồng vốn đăng ký; thị xã Phổ Yên có 68 doanh nghiệp với 284 tỷ đồng vốn đăng ký; huyện Phú Bình có 35 doanh nghiệp với 130 tỷ đồng vốn đăng ký; huyện Đại Từ có 29 doanh nghiệp với 116 tỷ đồng vốn đăng ký; huyện Đồng Hỷ 21 doanh nghiệp với 85 tỷ đồng vốn đăng ký…
Ngoài ra, trong 9 tháng năm 2020 có 211 doanh nghiệp mới hoạt động trở lại
Từ đầu năm đến ngày 15/9/2020 đã có 434 doanh nghiệp đóng mã số thuế (gồm 368 doanh nghiệp và 66 chi nhánh doanh nghiệp) và 360 doanh nghiệp ngừng hoạt động (345 doanh nghiệp và 15 chi nhánh doanh nghiệp) Như vậy số doanh nghiệp đóng
mã số thuế và ngừng hoạt động tăng 10,9% so với số doanh nghiệp đăng ký mới và hoạt động trở lại
* Về tình hình sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2020 tăng 0,51% so với tháng trước nhưng giảm 10,27% so với cùng thời điểm năm trước Trong đó, doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,25% so với tháng trước nhưng giảm 3,16% so với cùng kỳ; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,67% so với tháng trước nhưng giảm 13,08% so với cùng kỳ Tính chung 9 tháng năm 2020, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm 9,58% so với cùng kỳ (doanh nghiệp Nhà nước giảm 4,03%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,88%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 12,12%)
* Về xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2020
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng trong quý III/2020 như sau: Có 53,8% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản
xuất kinh doanh quý III/2020 tốt hơn quý trước; 30,2% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 16% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định Dự kiến quý IV/2020 có 54,7% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 31,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 14,2% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2020 cho thấy: Có 46,15% số doanh nghiệp
đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2020 tốt hơn quý II/2020; 26,2%
số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 27,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định Dự kiến quý III/2020 so với quý II/2020, có 52,3% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 15,4% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 32,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định
Trang 16* Về tình hình triển khai điều tra tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong 9 tháng năm 2020, tình hình dịch Covid-19 đã và đang tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt ảnh hưởng nặng nề đến tình hình sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp Trước yêu cầu đòi hỏi cung cấp thông tin kịp thời, làm cơ sở để Chính phủ, các cấp ngành và địa phương đưa ra những chính sách điều hành phù hợp, ngành Thống kê đã triển khai cuộc điều tra đánh giá tác động của dịch Covid-19 đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vào tháng 4/2020 và đã nhận được sự đánh giá cao
từ các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp
Trong bối cảnh dịch Covid-19 quy trở lại từ cuối tháng 7/2020 với diễn biến phức tạp, ngành Thống kê tiếp tục tiến hành cuộc điều tra đột xuất đánh giá tác động của dịch Covid-19 tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lần thứ hai theo Quyết định số 1369/QĐ-BKHĐT ngày 07/9/2020 của Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư Mục đích của cuộc điều tra lần này nhằm thu thập thông tin
về ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cũng như đánh giá mức độ hỗ trợ và sự lan tỏa của các chính sách của Chính phủ, các cấp, các ngành đối với doanh nghiệp trong thời gian qua Thông qua đó, Chính phủ, các cấp, các ngành và địa phương có các chính sách, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp ứng phó tốt hơn trước dịch Covid-19 lần 2
Cuộc điều tra được thực hiện từ ngày 10-18/9/2020 bằng phương pháp điều tra trực tuyến, thông qua sử dụng bảng hỏi web-form, điều tra viên trực tiếp hướng dẫn doanh nghiệp cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử trực tuyến của cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2020 Kết thúc thời gian thu thập thông tin, trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có 1.985 doanh nghiệp tham gia trả lời bảng hỏi trực
tuyến Dự kiến kết quả cuộc điều tra sẽ được công bố vào cuối tháng 9/2020
V Thương mại, dịch vụ và giá cả
1 Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Hoạt động thương mại, dịch vụ nói chung trong 9 tháng năm chịu tác động trực tiếp từ dịch Covid-19 khiến doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 28,4 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ Doanh thu bán lẻ hàng hoá quý I/2020 chỉ tăng 4,6%; quý II/2020 giảm 6,5% so với cùng kỳ nên mặc dù ước tính quý III/2020 tăng 12,6%, tính chung 9 tháng năm 2020, doanh thu bán lẻ trên địa bàn ước đạt 22,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ Ảnh hưởng rõ nét nhất là ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch, lữ hành khi nhu cầu của người dân sụt giảm mạnh, doanh thu hoạt động dịch
vụ nói chung 9 tháng ước đạt 5.989 tỷ đồng, giảm 10,2% so với cùng kỳ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 9/2020 ước đạt 3,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng kỳ Trong đó, khu vực Nhà nước ước đạt 185,3 tỷ đồng,