1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đồ án xử lý nước chế biến thủy sản

38 439 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xử lý nước thải trong ngành chế biến thủy sản
Tác giả Nhóm 1
Người hướng dẫn Trần Thanh Tùng, Giảng viên
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Xử lý nước & Công nghệ chế biến thủy sản
Thể loại Đề án xử lý nước chế biến thủy sản
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 306,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các cơ sở chế biến thuỷ sản ở nước ta hầu hết được xây dựng từ lâu, có qui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu và chưa tính đến việc xử lý các chất thải ô nhiễm phát sinh ra từ quá trìn

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngành chế biến thuỷ sản ở nước ta đóng vai trò hết sức quan trọng cả về ý nghĩa kinh

tế và xã hội, là một trong ba ngành đóng góp vào thu nhập quốc dân lớn nhất cả nước.Ngành đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động và đã thu được nguồnngoại tệ lớn Tuy nhiên, các cơ sở chế biến thuỷ sản ở nước ta hầu hết được xây dựng từ lâu,

có qui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu và chưa tính đến việc xử lý các chất thải ô nhiễm phát sinh

ra từ quá trình sản xuất Hiện nay với nhận thức ngày càng cao về chất lượng môi trường,sức khoẻ con người, chúng ta đã thấy việc không xử lý các chất ô nhiễm của công nghiệpchế biến thuỷ sản mà thải ra môi trường là không thể chấp nhận được Hơn nữa, để trở thànhmột ngành mũi nhọn thu hút nguồn ngoại tệ lớn từ thị trường quốc tế, ngành chế biến thuỷsản phải áp dụng một số tiêu chuẩn quản lý chất lượng môi trương quốc tế trong đó bao hàm

cả tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường Vì vậy, các cơ

sở chế biến thuỷ sản cần phải có cá giải pháp hữu hiệu để đảm bảo các yêu cầu này

Theo Nafiqad, hiện nay nước ta có hơn 300 cơ sở chế biến thuỷ sản, và khoảng 220nhà máy chuyên sản xuất các sản phẩm đông lạnh phục vụ xuất khẩu, có tổng công suất 200tấn/ngày Hàng ngày, các cơ sở này thải ra lượng nước thải rất lớn, ảnh hưởng trực tiếpkhông chỉ đến môi trường sinh thái, hoạt động sản xuất nông nghiệp mà qua đó còn ảnhhưởng đến sinh hoạt của người dân, nhất là khu vực nông thôn

Không phải cho đến bây giờ, từ nhiều năm trước, khi bắt đầu xuất hiện nhà máy chếbiến thuỷ sản, việc xử lý chất thải từ các dây chuyền chế biến con tôm, con cá đã được đềcập đến Những yêu cầu đặt ra đối với việc xử lý chất thải cứ bị "treo lơ lửng", thậm chí cànglúc càng tệ hại hơn Đã có kiểm tra, xử phạt nhưng rồi đâu lại vào đấy, tình trạng vi phạm cứlặp đi, lặp lại

Với đề tài “Xử lý nước thải trong ngành chế biến thuỷ sản” là một đề tài có tính thựctiễn sản xuất, có tính thời sự cấp thiết bao hàm cả ý nghĩa kinh tế, kỹ thuật và môi trường

Trang 2

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN

1.1. Khái quát về ngành chế biến thủy sản ở Việt Nam

Ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản đã và đang đem lại những lợi nhuận không nhỏcho nền kinh tế Việt Nam Nó không những đóng góp ngân sách cho nhà nước mà còn giảiquyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động

Việt Nam với đường bờ biển dài 3260km, thềm lục địa kéo dài cùng với hàng ngànđảo lớn nhỏ Biển Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới có nhiều sông lớn cùng nhiều consong nhỏ đổ ra biển Đông dồi dào phù sa kết hợp hai dòng hải lưu nóng ấm hình thành biểnViệt Nam dồi dào phong phú nguồn lợi thủy sản, sản lượng đánh bắt mỗi năm có thể lên tớihàng triệu tấn thủy sản

Bên cạnh đó các đầm phá, rừng ngập mặn ven biển có diện tích gần một triệu hecta,mỗi năm có thể cung cấp gần 3 triệu tấn tôm nuôi và 40 triệu tấn thủy sản có giá trị thươngmại

Tuy ra đời muộn hơn các ngành công nghiệp khác nhưng công nghệ chế biến thủy sản

đã đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản đãtrở thành động lực thúc đẩy kinh tế thủy sản phát triển

Các sản phẩm chế biến thủy sản xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ rất lớn, năm 1998giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 858,6 triệu USD và năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷUSD và theo kế hoạch cảu bộ thủy sản thì tổng kim ngạch xuất khẩu ngành chế biến thủysản sẽ phấn đấu đạt cao hơn vào các năm sau

Trang 3

Bảng 1 Tăng trưởng thủy sản ( 2000 – 2010 )

Năm Tổng sản

lượng

(vạn tấn)

Sản lượng khai thác

Sản lượng nuôi trồng

Diện tích nuôi trồng Giá trị kim

ngạch xuất khẩu

Đầu tư Lao

1.2. Giới thiệu một số công nghệ chế biến thủy sản điển hình

Dựa vào tính chất dặc thù cảu sản phẩm, quá trình chế biến và công nghệ sử dụng cóthể chia công nghệ chế biến thủy sản thành một số công nghệ chế biến điển hình như sau:

- Chế biến thủy sản đông lạnh

- Chế biến sản phẩm đóng hộp

- Chế biến thủy sản khô và chế biến bột cá

- Chế biến agar

1.3. Thực trạng ô nhiễm môi trường ở các cơ sở chế biến thủy sản

Theo Viện nghiên cứu hải sản (Viện NCHS), hiện nay cả nước ta có 1.015 cơ sở chế biến(CSCB) thủy sản quy mô lớn nhỏ khác nhau, sản xuất sản phẩm xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Sựphát triển nhanh chóng của ngành chế biến cũng kéo theo những bất cập trong các lĩnh vực phụ trợkhác, trong đó có quản lý và xử lý chất thải sau chế biến Các thành phần chính gây ô nhiễm môitrường từ chế biến thủy sản gồm phế liệu và chất thải rắn; chất thải lỏng; khí thải và mùi trong chếbiến; môi chất lạnh và nhiều chất thải nguy hại khác Đáng kể nhất là phế liệu và chất thải rắn, chấtthải lỏng như đầu, xương, da, vây, vảy, vỏ tôm….những phế liệu dễ lên men thối rữa và phân hủy.Các chất thải này có khả năng làm xuống cấp nghiêm trọng chất lượng môi trường sống xung quanh

Trang 4

Điều tra mới đây của Viện NCHS cho thấy, trong chế biến thủy sản đông lạnh, cứ sản xuấtđược 1 tấn thành phẩm tôm sẽ thải ra môi trường 0,75 tấn phế thải, cá tra philê là 1,8 tấn, nhuyễn thểchân đầu - 0,45 tấn, nhuyễn thể hai mảnh vỏ - 8 tấn Tỷ lệ phế liệu và chất thải rắn phụ thuộc vàomặt hàng sản xuất và vào loài cũng như chất lượng nguyên liệu …

Chất thải lỏng từ chế biến thủy sản được coi là vấn đề nghiêm trong nhất hiện nay, có chỉ số

ô nhiễm cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại B dùng cho nuôi trồng thủysản (TCVN-2005), như BOD vượt từ 10-30 lần, COD từ 9-19 lần, nitơ tổng có nơi cao gấp 9 lần.Bên cạnh đó còn có một lượng lớn nước thải là các chất tẩy rửa và khử trùng trong vệ sinh nhàxưởng và thiết bị chế biến

Khí thải và mùi trong chế biến bao gồm các loại như khí SO2, CO2, NO2, NH3 , H2S… phátthải từ các CSCB hàng khô và bột cá Một phần khí thải khác là môi chất lạnh rò rỉ từ hệ thống lạnhcủa nhà máy

Để đánh giá thực trạng môi trường ở các CSCB thủy sản, Viện NCHS đã điều tra trực tiếp

402 cơ sở quy mô công nghiệp ở 34 tỉnh và thành phố trong cả nước Kết quả cho thấy đã có 338

DN, chiếm tỷ lệ trên 84% cơ sở, có hệ thống xử lý nước thải (HTXLNT), chủ yếu được xây dựngtrong giai đoạn 2001-2010 Trong năm 2011 có 27 DN xây mới HTXLNT

Về lượng phế liệu thủy sản sau chế biến, khoảng gần 50% số DN có từ dưới 50 đến 100tấn/năm; 22,6% có 100-500 tấn/năm, gần 9% có từ 500-300 tấn/năm, 36,5% có trên 500-1.000tấn/năm và trên 27,5% có trên 1.000 tấn/năm

Hiện nay, hầu hết phế liệu được thu gom và tận dụng để sản xuất các sản phẩm phụ như bột

cá, dầu cá, chitin, chitosan và thức ăn chăn nuôi,… Do vậy, phế liệu trong CSCB thủy sản chỉ có ảnhhưởng hạn chế đến môi trường nhưng lại là nguồn thu đáng kể cho các cơ sở đó

Kết quả phân tích nước thải của cơ sở CBTS về 9 chỉ tiêu gồm pH, BOD5, CO,TSS, Amoni,nitơ tổng, dầu mỡ, clo dư và coliform theo QCVN 11:2008 cho thấy, tất cả các cơ sở CB nước mắmđều đạt 100% Các loại hình chế biến như đông lạnh, hàng khô, bột cá và tổng hợp đều có tỷ lệ ônhiễm trên cả 9 chỉ tiêu Trong đó mức độ ô nhiễm của cơ sở CB bột cá là cao nhất, cơ sở CB đônglạnh, hàng khô và tổng hợp tương đương nhau

Trang 5

Kết quả phân tích khí thải các cơ sở CBTS về 7 chỉ tiêu, gồm bụi, SO2, CO, NO2, SO3, NH3

và H2S theo TCVN 5339:2005 (tương ứng QCVN 19:2009) cho thấy mức độ ô nhiễm của CSCB bột

cá là cao nhất, tiếp theo là cơ sở hàng khô CSCB đông lạnh và tổng hợp xấp xỉ nhay CSCB nướcmắm có mức độ ô nhiễm thấp nhất

1.4. Ảnh hưởng của chất thải chế biến thủy sản đối với môi trường và con người

Cũng như các hoạt động của các ngành công nghiệp khác, hoạt động trong ngành chếbiến thủy sản đã đưa vào môi trường nhiều loại chất thải khác nhau, với tải lượng, thànhphần và mức độ ô nhiễm khác nhau tùy theo quy mô, sản lượng và cơ cấu mặt hàng của cácnhà máy chế biến Trong đại đa số trường hợp, chất thải rắn của ngành bao gồm các phế liệuđược thải ra từ cơ thể động vật thủy sinh trong quá trình chế biến như: đầu, ruột, máu, nhớt,

…của các loài cá; các loài nhiễm thể ( mực, trai,…); các loài giáp xác ( các loài tôm, cua,

…); các loài rong tảo và sinh vật khác trong nước Ngoài ra, trong quá trình chế biến cácchất thải rắn từ quá trình sản xuất các bao bì bằng polime, chất dẻo, thủy tinh,…cũng nhưcác chất thải trong sinh hoạt của người sản xuất cũng được thải ra môi trường với lượng lớn

Trang 6

biến được công bố Tuy nhiên, từ nguồn nguyên liệu chế biến thủy sản cũng như trữ lượngkhai thác, nuôi trồng đã có Ta có thể dự đoán được khả năng gây ô nhiễm môi trường bởicác chất thải chế biến thủy sản là rất lớn.

Chương 2 CÁC CHẤT THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN

Trang 7

Ngành chế biến thủy sản là một trong những ngành gây ô nhiễm môi trường nhiềunhất Các chất thải từ các nhà máy chế biến thủy sản như: nước thải, chất thải rắn, khí thải,mùi và tiếng ồn…là những nguồn gây ô nhiễm lớn.

Tách khuôn, bao gói

(Vào túi PE, đóng hộp carton)

Xếp khuôn, cấp đông

(Dạng Block, IQF)

Phân loại, rửa sạch

(Phân hạng, phân cỡ, cân đo)

Xử lý, rửa sạch nguyên liệu

(Chặt, cắt, mổ, bóc, tách, đánhvảy…)

Tiếp nhận nguyên liệu(kiểm tra chất

lượng, rửa sơ bộ, bảo quản nguyên liệu)

Nước thải, nộitạng, xương, vây

Trang 8

2.1.1 Nguồn phát sinh

Nước thải sản xuất trong CBTS chiếm khoảng 85 – 90% tổng lượng nước thải và chủyếu được tạo ra từ các quá trình sau:

Nước rửa trong công đoạn xử lý, chế biến, hoàn tất sản phẩm

Nước vệ sinh nhà xưởng trang thiết bị, dụng cụ

Từ các thiết bị công nghệ như: nước giải nhiệt, nước ngưng

Tùy thuộc vào loại hình và trình độ công nghệ chế biến, đặc tính nguyên liệu và yêucầu về chất lượng sản phẩm mà nước thải từ các nguồn phát sinh có sự khác biệt về thànhphần, tính chất, lưu lượng cũng như chế độ thải nước Nước thải từ chế biến sản phẩm đônglạnh, sản phẩm ăn liền, đồ hộp và sản xuất agar được tạo ra gần như liên tục từ hầu hết cáccông đoạn sản xuất, trong đó chủ yếu là từ xử lý nguyên liệu và chế biến sản phẩm Nướcthải từ chế biến đồ khô phần lớn tập trung ở khâu xử lý nguyên liệu Trong chế biến mắm vàbột cá, ngoài công đoạn rửa nguyên liệu còn tạo ra nhiều nước thải xả theo đợt từ vệ sinhđịnh kỳ thiết bị máy móc Riêng đối với sản xuất bột cá, còn phát sinh một lượng nước thải

có hàm lượng hữu cơ rất cao từ công đoạn ép cá

Trang 9

Nước thải sinh hoạt tại các cơ sở CBTS thường chiếm từ 10 – 15% tổng lượng nước thải, được phát sinh ra từ quá trình phục vụ cho nhu cầu ăn, uống, tắm, rửa, vệ sinh…của người lao động.

Nguồn gốc nước thải: sơ chế nguyên liệu, giết mổ, luộc, tẩm, hấp, vệ sinh dụng cụ, diệntích nhà xưởng, nước thải sinh hoạt…

Nước thải từ khâu sơ chế nguyên liệu là nước thải là nước thải từ khâu rã đông ( tan đáướp), rửa nguyên liệu, thùng, bao bì đựng nguyên liệu Tùy thuộc vào dạng nguyên liệu( tôm, cá, cá mưc, bạch tuột, cua, nghêu, sò) kích cỡ nguyên liệu, thời gian bảo quản, mức độ

sử dụng nước vệ sinh, nước thải có độ ô nhiễm khác nhau và biến động: BOD nằm trongkhoảng 1000 – 10000 mg/l, độ oxy hóa( CODMn) bằng khoảng 30% của BOD Nước thải có

độ ô nhiễm cao về hàm lượng cặn không tan, protein, dầu mỡ cá ở dạng phân tán và máu.Nước thải từ quá trình luộc, hấp, tẩm ướp gia vị là quá trình tiếp theo quy trình sơ chế.Nước sau luộc chứa protit, chất béo, muối khoáng với hàm lượng cao Nước thải thườngđược thu hồi để sản xuất bột cá (sấy khô cùng với bột cá)

Nước thải từ công đoạn giết mổ: làm vây, tách xương (phi lê), moi lòng, bỏ chân, càng,râu tôm, bóc vỏ có mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào sản phẩm chế biến: nước thải chế biếntôm, mực, bạch tuộc có mức độ ô nhiễm cao hơn so với chế biến cá đông lạnh

Với cùng loại sản phẩm thì nguyên liệu có kích thước lớn ít gây ô nhiễm hơn loại có kíchthước bé Hiện nay rất nhiều cơ sở ứng dụng công nghệ sản xuất sạch, tiết kiệm nước Lượngnước sử dụng ít nhưng mức độ ô nhiễm cao

Nước vệ sinh nhà xưởng có mức độ ô nhiễm không cao so với các dòng thải khác nhưngvới lưu lượng lớn, tập trung vào cuối các ca làm việc

Lượng nước thải của một cơ sở chế biến thủy sản xấp xỉ 90% lượng nước cấp hằng ngàyvới điều kiện tách triệt để nguồn nước mưa

Trang 10

Như đã trình bày mức độ ô nhiễm dòng nước thải chế biến thủy sản biến động rất mạnhphụ thuộc vào sản phẩm chế biến, sản phẩm chế biến thay đổi theo mùa, vụ và thậm chí ngaytrong ngày làm việc.

Đặc trưng ô nhiễm nước thải chế biến thủy sản dao động mạnh và được đặc trưng bởi cáckhoảng giá trị thể hiện trong bản:

2.2 Chất thải rắn

2.2.1 Nguồn gốc

Đặc điểm chung cho hầu hết các dạng công nghệ CBTS là tổn hao nguyên liệu

khá lớn do tỷ lệ phần không sử dụng được (đầu, xương, vây, vẩy, nội tạng…) cho chế

biến lớn Vì vậy đã tạo ra một lượng lớn các phế liệu thủy sản từ quá trình sản xuất

2.2.2 Nguồn phát sinh

Trang 11

Nguồn phát sinh chất thải rắn sản xuất tập trung chủ yếu ở công đoạn xử lý nguyênliệu và chế biến sản phẩm Tùy thuộc vào chủng loại, giá trị sử dụng nguyên liệu và mụcđích chế biến mà các phế liệu thủy sản có thể là các loại: đầu, vỏ, xương,

da, nội tạng…

Ngoài phế liệu thủy sản, còn có thể có các thành phần chất thải rắn khác như:

giấy bao gói, túi PE, vỏ hộp cacton…từ đóng gói sản phẩm, tro xỉ từ lò hơi cấp nhiệt

Đặc điểm chung của chất thải rắn: Phế thải từ các nguyên liệu thủy sản có thành phầnchủ yếu là các hợp chất hữu cơ như protein, lipit, hydratcacbon… Ngoài ra còn chứa cácthành phần khoáng vô cơ, vi lượng như Ca, K, Na, Mg, P, S, Fe, Zn, Cu… và nước Các vụnphế liệu thủy sản dễ bị phân hủy bởi nhiều loại vi sinh vật làm phát sinh các hơi khí có mùikhó chịu, độc hại như Metan, Amoniac, Indol, Scatol, Mecaptan, gây ô nhiễm môi trườngkhông khí và bất lợi cho sức khỏe con người

2.2.3 Đánh giá chung

Tình hình quản lý chất thải rắn hiện tại về cơ bản không còn là vấn đề đáng lo

ngại đối với công nghiệp CBTS nhưng vẫn cần thiết phải có những giải pháp đồng bộ, toàn diện để duy trì công tác ngăn ngừa, kiểm soát và sử dụng có hiệu quả nguồn phế

liệu thủy sản

2.3 Khí thải

2.3.1 Mùi hôi tanh

Tồn tại trong suốt quá trình chế biến các sản phẩm, mùi được phát ra từ các gian trong

cơ sở, từ nơi chứa chất thải rắn, lắng đọng nước từ các thùng chứa nguyên liệu, rác và cáccông trình thoát nước Mùi hôi tanh tạo ra chủ yếu là mùi của các hợp chất hữu cơ meetylamin, trimêtyl, NH3, indol, mêcaptan, H2S

2.3.2 Bụi hơi

Khí độc phát ra từ các quá trình của thiết bị đun nóng nước

2.3.3 Hơi Clorine

Trang 12

Tạo thành trong quá trình sử dụng nước sạch có pha hóa chất Clorine để khử trùngnguyên liệu, thiết bị, dụng cụ chế biến, nhà xưởng… Hơi Clorine có mùi hắc khóchịu xuấthiện thường xuyên trong nhà xưởng và chủ yếu tại các khu vực tiếp nhận, sơ chế nguyênliệu, vệ sinh thiết bị, dụng cụ tập trung.

2.3.4 Tác nhân lạnh rò rỉ

Có thể có vì trong nhà máy chế biến thủy sản sử dụng nhiều thiết bị lạnh để cấp đông,bảo quản, sản xuất nước đá Khi đó các hơi độc chủ yếu là NH3, CFC

2.3.5 Điều kiện vi khí hậu

Môi trường làm việc của người lao động tại phần lớn các xí nghiệp CBTS thường có

độ ẩm cao do sử dụng nhiều nước cho các công đoạn chế biến và khả năng thông thoáng bịhạn chế do yêu cầu cách ly để đảm bảo các điều kiện vệ sinh thực phẩm Tùy theo loại hìnhcông nghệ chế biến, môi trường vùng làm việc có thể có những chênh lệch lớn về nhiệt độ sovới ngoài trời gây bất lợi cho sức khỏe người lao động

Phát sinh từ thiết bị động lực như máy phát điện, máy lạnh Mức độ ô nhiễm nóichung không lớn, mang tính chất cục bộ

Trang 13

Chương 3 CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN3.1 Những vướng mắc ở Việt Nam

Hiện nay, các DN đang áp dụng các văn bản quy định về quản lý môi trường chủ yếu

là Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 2005), Nghị định 80/06/ NĐ-CP, Nghị định21/08/NĐ- CP, Thông tư 05/08/TT-BTNMT, Thông tư 14/09/TT-BNN, Nghị định29/11/NĐ-CP và các văn bản của địa phương

Đến nay đã có trên 52,2% DN áp dụng “Sản xuất sạch hơn”, và một số đang trongbước đầu triển khai biện pháp này Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 về môi trường củacác DN còn rất thấp, chỉ đạt 3,2% số DN chế biến và tiêu chuẩn về khí thải cũng chưa cao.Tuy vậy về nước thải CBTS, việc áp dụng các quy chuẩn và tiêu chuẩn của các DN đạt khácao

Hiện nay, ngoài lý do phải giải toả và di dời, khó khăn lớn nhất trong việc thực hiệnnhiệm vụ môi trường của các DN là vấn đề tài chính Hơn một nửa số DN vướng phải bấtcập này, nhất là trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiện nay Bên cạnh đó, là những khókhăn về mặt bằng, hạn chế về công nghệ xử lý và nhân lực thực hiện Sự phối hợp khôngchặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước cũng gây khó khăn phần nàotrong hoạt động kiểm tra và giám sát về môi trường tại các DN

Hầu hết các DN tham gia trong khảo sát đều có nhu cầu xây mới hoặc nâng cấp hệthống xử lý nước thải và khí thải, cũng như đào tạo nhân lực về quản lý môi trường, về côngnghệ và các vấn đề như “sản xuất sạch hơn”, sản xuất bền vững, …

Trang 14

Bảng 2 Thống kê các địa điểm còn bất cập trong quản lý môi trường.

ST

1 KCN Hòa Trung ( Cà Mau)

( tháng 12/2012)

Bóc mùi hôi thối, nước

xả đen ngòm, tanh hôiảnh hưởng tới dân

Chi cục Bảo vệ môi trường

Cà Mau còn chậm chạptrong quá trình giải quyết,

Không đầu tư hệ thống xử

lý chất thải hoặc mang hìnhthức đối phó mà chưa đạtquy chuẩn theo quy định

3 Khu công nghiệp dịch vụ

thủy sản Đà Nẵng

( tháng 5 /2012)

Mùi hôi thối nồng nặc

từ trạm xử lý nước thải Đầu tư thấp vào hệ thống

4 Công ty TNHH khoa học,

công nghệ môi trường Quốc

Việt (trụ sở tại TP.HCM, gọi

tắt là Công ty Quốc Việt)

Nước thải chưa qua xử

lý thải ra ngoài

Chi phí xả thải cách công tyquá cao.Hệ thống xây dựngvới công suất thiết kế2.000m3 nước/ngày đêmnhưng hiện chỉ tiếp nhậnkhoảng 500m3 nước/ngàyđêm

Trang 15

Sáng 15/12/2011, Tổng cục Môi trường phối hợp với Dự án hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị

dự án VIPMP tổ chức hội thảo về công tác quản lý và quan trắc môi trường khu công nghiệp(KCN)

Ngày 29/6/2012, kỳ họp thứ 4 của Ủy ban Điều phối chung (JCC) Dự án “Nâng caonăng lực quản lý môi trường nước tại Việt Nam” đã diễn ra tại thành phố Vũng Tàu

Trung tâm Đào tạo – Công ty Cố phần Tư vấn môi trường và Quản lý chất lượngCEM trân trọng thông báo mở khoá đào tạo xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý môitrường theo tiêu chuẩn 14001:2004 Khai giảng ngày 26/12/2012

Ngày 11/10/2013, tại Cần Thơ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môitrường phối hợp với Dự án AKIZ (Đức) tổ chức Hội thảo quốc tế quản lý tổng hợp nước thảitại khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long

Tháng 4/2013, Tăng cường quản lý của địa phương trong kiểm soát ô nhiễm côngnghiệp là nội dung của Dự án Quản lý Nhà nước về Môi trường cấp tỉnh (VPEG) thuộc Dự

án Môi trường Việt Nam-Canada, với mục đích xây dựng năng lực về thể chế cho cấp trungương và địa phương để quản lý ô nhiễm công nghiệp có hiệu quả

3.2 Các công cụ quản lý chính

Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động nhằm thực hiện công tácquản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi công cụ có mộtchức năng và phạm vi tác động nhất định, chũng liên kết và hỗ trợ lẫn nhau

Theo bản chất, có thể chia công cụ quản lý môi trường thành các loại cơ bản như sau:

Trang 16

Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnhmối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loạitrừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi sử dụngcủa quốc gia.

Luật môi trường quốc gia là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lýđiều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặctác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương phápđiều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người Hệthống luật bảo vệ môi trường của một quốc gia thường gồm luật chung và luật sử dụng hợp

lý các thành phần môi trường hoặc bảo vệ môi trường cụ thể của một địa phương, mộtngành

Quy định là các văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thực hiện các nộidung của luật Quy định có thể do chính phủ trung ương hay địa phương, do cơ quan hànhpháp hay lập pháp ban hành

Quy chế là các quy định về chế độ thể lệ, tổ chức quản lý bảo vệ môi trường chẳnghạn như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, Bộ, Sở khoa học, côngnghệ và môi trường…

Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùnglàm căn cứ để quản lý môi trường Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự pháttriển bền vững của mỗi quốc gia Việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường một mặt dựa trên cácquy định đã được kiểm nghiệm thực tế, mặt khác phải có nhiều căn cứ khoa học, nhằm đảmbảo cho tiêu chuẩn môi trường phù hợp với nhu cầu bảo vệ sinh thái, đồng thời khả thi vềmặt kinh tế, xã hội Hệ thống tiêu chuẩn môi trường phản ánh trình độ khoa học, công nghệ ,

tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế xã hội có tính đến dự báo phát triển Cơ cấu của hệ thốngtiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau:

- Những quy định chung

- Tiêu chuẩn nước ( nước mặt, nước ngầm, nước thải…)

Trang 17

- Tiêu chuẩn không khí ( khói, bụi, khí thải…).

- Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa

Chính sách bảo vệ môi trường giải quyết những vấn đề chung nhất về quan điểm quản

lý môi trường, về các mục tiêu bảo vệ môi trường cơ bản cần giải quyết trong một giai đoạndài 10 – 15 năm và các định hướng lớn thực hiện mục tiêu, chú trọng việc huy động cácnguồn lực cân đối với mục tiêu bảo vệ môi trường

3.2.2. Công cụ kinh tế

3.2.2.1 Thuế môi trường

Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản phẩmtheo nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền” thuế môi trường nhằm hai mục đích chủyếu: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăngnguồn cho ngân sách

Trên thực tế, thuế môi trường được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tùy thuộcmục tiêu và đối tượng ô nhiễm như: thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế đánh vào sảnphẩm gây ô nhiễm, phí đánh vào người sử dụng

3.2.2.2. Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường

Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó cóthể quy định quyền sở hữu và vì thế thường sử dụng bừa bãi như không khí, đại dương,sông…

Để thực hiện công cụ này, trước hết Nhà nước phải xác định mức sử dụng môi trườngchấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép Việc này không đơn giản và đòi hỏichi phí thực hiện khá lớn Sau khí quy định mức thải tối đa trong vùng, có thể phát khônggiấy phép cho doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn dựa trên một số căn cứ nào đó hoặc tổchức bán đấu giá Cách thực hiện được nhiều người tán thành nhất là phân phối giấy phépdựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng tác động môi trường của từng doanh nghiệp, nóicách khác là thừa kế quyền được thải quá khứ Khi đã có giấy phép, các doanh nghiệp tự

Trang 18

giao dịch, mua bán lại một số giấy phép đó; giá giấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu cầutrong phạm vi tổng hạn mức.

Ưu điểm lớn nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả và hạn mức ônhiễm So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thì thị trường giấy phép mang tínhchắc chắn, đảm bảo hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường

3.2.2.3. Hệ thống đặt cọc – hoàn trả

Hoàn trả - đặt cọc được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằng cách quyđịnh các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trảthêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm bảo đảm cam kết sau khi tiêu dùng sẽđem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn vị thu gom phếthải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy theo cách antoàn đối với môi trường Nếu thực hiện đúng, người tiêu dùng sẽ nhận lại khoản đặt cọc docác tổ chức thu gom hoàn trả lại

Mục đích của hệ thống đặt cọc – hoàn trả là thu gom những thứ mà người tiêu thụ đãdùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường.3.2.2.4. Ký quỹ môi trường

Là công cụ kinh tế được áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm

và tổn thất môi trường Nguyên lý hoạt động của hệ thống ký quỹ môi trường là yêu cầu cácdoanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải

kí gởi một khoản tiền tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết và thựchiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường

Mục đích của việc kí quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môitrường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngănngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường

Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu các doanh nghiệp/cơ sở có các biệnpháp chủ động ngăn chặn khắc phục không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường,

Trang 19

hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như cam kết thì họ sẽ được nhận lại số tiền đã kýquỹ đó Ngược lại nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản thì số tiền dã

kí quỹ sẽ được rút ra từ tải khoản ngân hàng/tổ chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục

sự cố, suy thoái môi trường

Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinh phí khắcphục môi trường từ ngân sách Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh nghiệp tíchcực trong hoạt động bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại được vốnkhi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường

3.2.2.5. Trợ cấp môi trường

Là công cụ quan trọng được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các tổchức OECD Trợ cấp môi trường có thể dưới các dạng sau:

- Trợ cấp không hoàn lại

- Các khoản cho vay ưu đãi

- Cho phép khấu hao nhanh

- Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế)

Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công – nông nghiệp vàcác ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môitrường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối vớiviệc xử lý ô nhiễm Trợ cấp cũng còn nhằm khuyến khích các cơ quan nghiên cứu và triểnkhai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm

Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả, các nhà sản xuất có thể đầu tư quámức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với mức tối ưu cũng làkhông hiệu quả)

Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéodài sẽ dẫn đến phi hiệu quả kinh tế vì trợ cấp đi ngược lại với nguyên tắc “người gây ônhiễm phải trả tiền”, nó tạo ra sự thay đổi số công ty (vào – ra tự do đối với nghành công

Ngày đăng: 26/05/2014, 17:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Web: http://www.agroviet.gov.vn Link
5. Web: http://www.rimf.org.vn Link
1. Nguyễn Thị Vân Hà, Quản lý chất lượng môi trường, NXB Đại học Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh, 2007 Khác
2. Web: www.tinmoitruong.vn Khác
3. Web: www.luanvan.net.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tăng trưởng thủy sản ( 2000 – 2010 ) - Đồ án xử lý nước chế biến thủy sản
Bảng 1. Tăng trưởng thủy sản ( 2000 – 2010 ) (Trang 3)
Hình 1. Sơ đồ chế biến đông lạnh. - Đồ án xử lý nước chế biến thủy sản
Hình 1. Sơ đồ chế biến đông lạnh (Trang 7)
Bảng 2. Thống kê các địa điểm còn bất cập trong quản lý môi trường. - Đồ án xử lý nước chế biến thủy sản
Bảng 2. Thống kê các địa điểm còn bất cập trong quản lý môi trường (Trang 14)
Bảng 1: Giá trị các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép - Đồ án xử lý nước chế biến thủy sản
Bảng 1 Giá trị các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w