Sở từ là thành tựu thi ca miền nam Trung Quốc, chủ yếu là thi ca từ phú của Khuất Nguyên, một nhà thơ yêu nước thiết tha, một nhà chính trị sáng suốt đồng thời là một nhân cách lớn của
Trang 17 G
GIÁO TRÌNH
VĂN HỌC TRUNG QUỐC
TS NGUYỄN ĐÌNH HẢO – NGUYỄN THANH CHÂU
2005
Trang 2MỤC LỤC
Mục lục - 1 -
CHƯƠNG I VĂN HỌC THỜI TIÊN TẦN (1134 trước CN - 221 trước CN) - 3 -
TIẾT 1 : KINH THI - 5 -
TIẾT 2 : SỞ TỪ - 14 -
TIẾT 3 : TẢN VĂN THỜI TIÊN TẦN - 26 -
1.3.1.- TẢN VĂN TRIẾT HỌC và LUẬN THUYẾT: - 26 -
1.3.2- TẢN VĂN LỊCH SỬ: - 42 -
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I - 43 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG I - 44 -
CHƯƠNG II THƠ VĂN THỜI HÁN – NGỤY (206 trước - 220 sau CN) - 45 -
TIẾT 1 : THƠ PHÚ - 45 -
TIẾT 2 : TẢN VĂN - 45 -
2.3.1.- Tư Mã Thiên (145-86 trước Tây lịch) và “Sử ký” : - 45 -
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG II - 65 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG II - 65 -
CHƯƠNG III THƠ VĂN THỜI ĐƯỜNG TỐNG (618 - 1279) - 66 -
TIẾT I : THƠ - 66 -
3.1.-THƠ ĐỜI ĐƯỜNG(618-907): - 66 -
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG III - 96 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG III - 96 -
CHƯƠNG IV TIỂU THUYẾT MINH THANH - 97 -
I.- BỐI CẢNH LỊCH SỬ - 97 -
II TÌNH HÌNH VĂN HỌC - 99 -
1.Tiểu thuyết đời Minh - 101 -
2 Tiểu thuyết đời Thanh (1644 – 1911) - 102 -
III ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỔ ĐIỂN TRUNG QUỐC - 103 -
IV TIỂU THUYẾT CỔ ĐIỂN TRUNG QUỐC - TIỂU THUYẾT CHƯƠNG HỒI VIỆT NAM - 103 -
V KẾT LUẬN - 104 -
TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA - 105 -
I Tác giả La Quán Trung (1330 – 1400) - 105 -
II Tác phẩm Tam quốc chí diễn nghĩa - 106 -
III.NGHỆ THUẬT - 110 -
IV ẢNH HƯỞNG CỦA TAM QUỐC CHÍ - 111 -
TÂY DU KÝ - 113 -
I Tác giả Ngô Thừa Ân (1500? – 1581?) - 113 -
II Tác phẩm Tây Du Ký - 113 -
III NGHỆ THUẬT CỦA TÂY DU KÝ - 116 -
IV ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY DU KÝ - 117 -
HỒNG LÂU MỘNG - 120 -
LIÊU TRAI CHÍ DỊ - 123 -
CÂU HỎI ÔN TẬP - 124 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 125 -
Trang 4CHƯƠNG I VĂN HỌC THỜI TIÊN TẦN (1134 TRƯỚC CN -
247 trước CN) trong đó triều Chu là thời kỳ có nhiều biến động nhất về lịch sử, chính trị, kinh tế, tư tưởng và văn hóa
Đời Chu chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ thứ nhất Chu Vũ vương diệt Trụ, đóng đô ở đất Phong, đất Cảo(miền Thiểm Tây bây giờ), mở đầu thời Tây Chu (1134-
770 trước CN) Đến đời vua thứ 12 U vương, bị rợ Hiểm Doãn và rợ Khuyển Nhung đánh bại, khiến sau đó Chu Bình vương phải dời đô sang phía đông, đóng ở Lạc Dương(Hà Nam), bắt đầu thời kỳ thứ 2 gọi là Đông Chu(770-247 trước CN) Đông Chu lại được chia làm 2 thời kỳ nữa là Xuân Thu(722-479trước CN) và Chiến quốc(479-221 trước CN), xã hội rối ren loạn lạc “đánh nhau để tranh đất giết người đầy đồng; đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành”
Từ khi dời đô sang đông, Nhà Chu suy yếu dần không đủ sức sai khiến chư hầu Đầu thời Đông Chu, số nước chư hầu còn chừng trên 100 trong đó có khoảng
15 nước lớn là Tấn, Tần, Tề, Ngô, Việt, Sở, Yên, Tào, Tống, Trần, Thái, Trịnh, Lỗ, Vệ và Trung Sơn Có 5 nước hùng cường, kế tiếp nhau làm minh chủ, tức là ngũ bá: Tề Hoàn công, Tấn Văn công, Tống Tương công, Sở Trang công và Tần Mục công Đến thời Chiến quốc , số chư hầu giảm xuống còn 12 trong đó có 7 nước mạnh gọi là thất hùng tức Tần, Tề, Sở, Hàn, Ngụy, Triệu và Yên tranh chấp, thôn tính nhau, khi hợp tung, lúc liên hoành, cho đến năm 221 trước CN, Tần Thủy Hoàng diệt sáu nước thống nhất Trung Quốc
Chính bối cảnh lịch sử đầy biến động của đời Chu, đặc biệt là thời Xuân Thu - Chiến quốc, đã nảy sinh sự hưng thịnh, phát triển của tư tưởng học thuật bách gia chư tử và tản văn thời tiên Tần
Về mặt văn học, có thể nói văn học thời tiên Tần chính là văn học đời Chu(1134-247 trước CN) Bởi vì tuy có sách chép một số bài thơ tương truyền làm vào các đời Hoàng Đế(2696-2597 trước CN)) như bài “Đạn ca”: Đoạn trúc, tục
trúc, phi thổ, trục nhục(Chặt tre, nối tre, ném đất, đuổi loài chim muông),
Nghiêu(2357-2255 trước CN) như bài “Kích nhưỡng ca”:Nhật xuất nhi tác, nhật
nhập nhi tức, tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực, đế lực hà hữu ư ngã tai! (Mặt trời mọc thì làm việc, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi; đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn,
Trang 5sức vua cần chi cho ta đâu !), Thuấn(2255-2207 trước CN) như bài “Nam phong
ca”:Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề Nam phong chi thời
hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề(Gió nam mát hề, có thể khuây nỗi giận của dân ta Gió nam phải thời hề có thể tăng tài sản của dân ta) , nhưng thực ra không có bằng
chứng gì xác thực đủ tin Còn đời Thương-Ân(1783-1135 trước CN), tuy văn tự đã hình thành nhưng phải đến cuối đời này mới đạt đến trình độ có thể dùng để ghi chép, trước thuật
Năm thiên Thương tụng trong Kinh Thi là những bài thơ do người đời Chu theo khẩu truyền mà ghi chép lại chứ không phải được ghi chép từ đời Thương-Ân Chỉ có mấy bài ca ngắn trong lời bói toán khắc trên xương trinh bốc được tìm thấy tại làng Tiểu Đồn, huyện An Dương năm1899 và được xác định xuất hiện vào niên đại Aân Thương là di tích đáng tin nhất của thi ca đời này Ví dụ mấy câu thơ trong lời bói đời thượng cổ sau đây:
Qúy mão bốc: Kim nhật vũ
(Ngày quý mão bói: Hôm nay mưa Mưa từ tây lại chăng? Mưa từ đông lại chăng? Mưa từ bắc lại chăng? Mưa từ nam lại chăng?)
Bài thơ rất đơn giản, chất phác, dùng đại từ nghi vấn “kỳ” như thường thấy trong Kinh Thi, có thể bắt nguồn cho bài dân ca nhạc phủ “Giang Nam khả thái liên” rất phổ biến từ đời Hán về sau:
(Hãy đi hái sen bên bờ nam sông Lá sen tươi tốt làm sao !Cá giỡn trong lá sen.Cá giỡn phiá đông lá sen Cá giỡn phiá tây lá sen Cá giỡn phía nam lá sen Cá giỡn phía bắc lá sen)
Tuy nhiên, số lượng thi ca từ đời Ân Thương trở về trước qúa ít, chưa đủ để tạo nên một nền văn học dù là cổ sơ
Văn học thời tiên Tần có 3 thành tựu lớn: Kinh Thi, Sở từ(nổi bật nhất là”Ly
tao”của Khuất Nguyên) và Tản văn(triết học và lịch sử)
Kinh Thi là thành tựu thi ca miền Bắc Trung Quốc, đó là sáng tác của đại đa số quần chúng, là những bài ca dao, dân ca của 15 “nước” (Chu Nam, Thiệu Nam, Bội, Dung, Vệ, Vương, Trịnh, Tề, Ngụy, Đường, Tần, Trần, Cối, Tào và Bân) sinh
sống vùng lưu vực sông Hoàng Hà
Sở từ là thành tựu thi ca miền nam Trung Quốc, chủ yếu là thi ca từ phú của
Khuất Nguyên, một nhà thơ yêu nước thiết tha, một nhà chính trị sáng suốt đồng thời là một nhân cách lớn của nước Sở
Trang 6Tản văn triết học và tản văn lịch sử là thành tựu của cả 2 miền Nam Bắc Trung quốc, trong đó triết học Khổng Mạnh thiết tha nhập thế là tư trào chính của miền Bắc và Lão Trang nhàn dật lánh đời là tư trào chính của miền Nam
Các sáng tác của miền Bắc mang tính hiện thực còn những sáng tác miền Nam lại đậm nét trữ tình Ba thành tựu này ít nhiều đều bị ngọn lửa phần thư năm
213 trước CN đời Tần Thủy Hoàng thiêu đốt (trừ sách về bói toán, nông nghiệp và y dược), đến khi ngọn lửa đốt cung A Phòng do Hạng Vũ dấy lên thì thư tịch trước
thời Tần mới bị thiêu sạch, chỉ nhờ công lao khôi phục của các nhà nho đời Hán, các tác phẩm này mới được lưu truyền đến nay
TIẾT 1 : KINH THI
Kinh Thi là tập thơ cổ nhất của Trung Quốc Nó là tổng tập những bài ca dao, dân ca hay nhất, đẹp nhất của các dân tộc miền Bắc Trung Quốc tức 15“nước”
ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà(Chu Nam, Thiệu Nam, Bội, Dung, Vệ, Vương, Trịnh, Tề, Ngụy, Đường, Tần, Trần, Cối, Tào và Bân), được sáng tác trong khoảng thời
gian từ đầu Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu tức từ thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ thứ 6 trước CN(1134-590 trước CN) Tác giả đại đa số thuộc tầng lớp quần chúng bình dân( Phần Phong và một số bài trong phần Tiểu Nhã) Ban đầu những sáng tác này
chỉ được gọi là Thi(“Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết tư vô tà” : Thi có 300 thiên, một lời nói có thể bao quát cả: đó là không nghĩ đến điều xằng bậy) Danh
xưng “kinh” xuất hiện từ đầu đời Hán(206 trước CN) khi các nhà Hán nho khôi
phục và xếp tác phẩm này vào hàng kinh điển(Thi, Thư, Dịch, Lễ và Xuân Thu)
Đầu đời Hán có 4 bản Kinh Thi, nội dung đại thể giống nhau:
-Tề thi của Viên Cố, thất lạc vào đời Ngụy(220-265)
-Lỗ thi của Thân Bồi, thất lạc vào đời Tây Tấn(265-317)
-Hàn thi của Hàn Anh, thất lạc vào đời Bắc Tống(960-1127)
-Mao thi của Mao Hanh, hiện còn lưu hành
Về nguồn gốc Kinh Thi, có 2 thuyết: thái thi và san thi Thuyết thái thi giả định từ sự kiện thiết lập nhạc phủ thự đời Hán Võ Đế, còn thuyết san thi do Tư Mã
Thiên đưa ra trong sách Sử Ký, thiên Khổng Tử thế gia Về tên gọi, có khá nhiều:
Thi, Kinh Thi, Quốc phong, Thập ngũ quốc phong, Mao Thi…
Bản Kinh Thi hiện nay (tức Mao Thi) có 311 thiên (trong đó 6 thiên chỉ có
đề tựa nên thực tế gồm 305thiên, nói gọn là Thi tam bách), chia làm 3 phần:
-Phong( hay Quốc phong, Thập ngũ quốc phong) gồm những bài ca dao, dân
ca diễn tả các mặt sinh hoạt của đời sống người dân Trung Quốc thời thượng cổ Tổng cộng có160 thiên Đây là phần có giá trị nhất của Kinh Thi -trong đó chủ đề tình yêu nam nữ và ước vọng lứa đôi của quần chúng nhân dân lao động được thể hiện sâu đậm nhất
-Nhã (Đại nhã và Tiểu nhã), gồm những bài thơ do các nhà qúy tộc sáng tác
dùng để ca hát trong yến tiệc Những bài dùng trong yến tiệc của thiên tử triều Chu goị là Đại nhã, có 31 thiên Những bài dùng trong yến tiệc của chư hầu hoặc các
khanh, đại phu goị là Tiểu nhã, có 80 thiên Đặc biệt trong tiểu nhã có một số bài
Trang 7thơ mang nội dung như phần phong, có lẽ khi khôi phục lại, các nhà nho đời Hán đã
thay thế vào
-Tụng (Chu tụng, Lỗ tụng và Thương tụng), gồm những bài thơ ca ngợi thần
linh khi tế lễ hoặc khoa trương thịnh đức các triều đại, dùng trong miếu đường, có
40 thiên
Kinh Thi là sản phẩm văn hóa của miền Bắc Trung Quốc và giá trị chủ yếu của nó là giá trị hiện thực
Về nội dung, Quốc phong là phần tinh túy có giá trị nhất của Kinh Thi, phản
ánh chính xác và sâu rộng sinh hoạt của người dân Trung Quốc thời thượng cổ, nổi bật hơn cả là đời sống lao động nặng nhọc cần cù, đời sống chính trị bị áp bức bóc lột và đời sống tình cảm hồn nhiên phong phú của đại đa số quần chúng nhân dân lao động:
-Những bài miêu tả đời sống lao động nặng nhọc của nhân dân Trung Quốc thời cổ sơ như làm ruộng, trồng dâu, nuôi tằm, nhuộm tơ cho đến săn bắn, chặt gỗ, đục băng, dựng nhà…như : (Thất nguyệt –Bân phong), (Thập mẫu chi gian, Phạt đàn –Ngụy phong) …Ở chủ đề này, người đọc thấy chủ yếu toát lên không khí lao động vui vẻ nhộn nhịp và cảm giác của người lao động là sự nhẹ nhàng sảng khoái:
Thập mẫu chi gian hồ,
Tang giả nhàn nhàn hề,
Hành dữ tử hoàn hề !
(Thập mẫu chi gian – Ngụy phong)
Mười mẫu ruộng kìa ! Người trồng dâu nhàn hạ, Cùng con trai trở về nhà chừ
(Mười mẫu ruộng – Ca dao nước Ngụy)
Nhưng ở một số bài cũng đã manh nha thái độ phê phán, oán ghét tầng lớp
thống trị, bóc lột, ngồi mát ăn bát vàng, như bài “Phạt đàn”(Ngụy phong)ï:
Khảm khảm phạt đàn hề,
Trí chi hà thủy can hề
Hà thủy thanh thả liên y
Bất giá bất sắc,
Hồ thủ hòa tam bách triền hề?
Bất thú bất liệp,
Hồ chiêm nhữ đình hữu huyền huyên hề?
Bỉ quân tử hề bất tố san hề !
Khảm khảm phạt bức hề,
Trí chi hà chi trắc hề
Hà thủy thanh thả trực y
Bất giá bất sắc,
Hồ thủ hoà tam bách ức hề?
Bất thú bất liệp,
Hồ chiêm nhữ đình hữu huyền đặc hề?
Bỉ quân tử hề, bất tố thực hề !
Khảm khảm phạt luân hề,
Trí chi hà chi thần hề
Hà thủy thanh thả luân y
Chặt gỗ đàn chan chát chừ, Đặt nó ở bờ sông cao
Nước sông trong và gợn sóng
Chẳng cấy chẳng gặt, Sao thu lúa nhiều đến 300 hộc chừ? Chẳng săn chẳng bắt,
Sao thấy hiên anh có treo chồn chừ? Anh quân tử kia, chớ ăn không chừ ! Chặt gỗ nan hoa chan chát chừ, Đặt nó ở bên bờ sông thấp
Nước sông trong mà sóng thẳng
Chẳng cấy chẳng gặt, Sao thu lúa nhiều đến 300 ức chừ? Chẳng săn chẳng bắt,
Sao thấy hiên anh có treo thú non chừ? Anh quân tử kia, chớ có ăn không chừ ! Chặt gỗ bánh xe chan chát chừ,
Đặt nó ở mé nước sông
Nước sông trong và sóng cuốn tròn
Trang 8Bất giá bất sắc,
Hồ thủ hoà tam bách khuân hề?
Bất thú bất liệp,
Hồ chiêm nhữ đình hữu huyền thuần hề?
Bỉ quân tử hề, bất tố tôn hề !
Chẳng cấy chẳng gặt, Sao thu lúa nhiều đến 300 vựa chừ?
Chẳng săn chẳng bắt, Sao thấy hiên anh có treo chim béo chừ? Anh quân tử kia, chớ ăn không chừ !
-Những bài miêu tả thái độ căm ghét của người dân đối với sự áp bức bóc lột và phản kháng chiến tranh xâm lược thôn tính lẫn nhau giữa các nước thời Xuân Thu-Chiến quốc do giai cấp thống trị gây ra như: (Thạc thử –Ngụy phong), (Bão vũ –Đường phong), (Quân tử vu dịch – Vương phong), (Bá hề –Vệ phong), (Đông sơn – Bân phong), (Thái vi – Tiểu nhã)…
Ở chủ đề thứ 2 này, người đọc có thể tìm thấy nhiều bài thơ có nghệ thuật rất cao Đây là nỗi lo lắng của người lính thú bị bắt đi hành dịch:
Túc túc bão vũ,
Tập vu bao hủ
Vương sự mị cổ,
Bất năng nghệ tắc thử
Phụ mẫu hà hộ ?
Cha mẹ đói lòng biết lấy gì ăn?
Trời cao có biết hay chăng, Chừng nào hết việc mà mong trở về?…
(Chim bão vũ)
Họ lo lắng là lẽ đương nhiên, vì ngày về của họ nếu may mắn có được, cũng chỉ là nỗi xót xa với bao đau thương mất mát:
Ngã tồ Đông sơn,
Thao thao bất qui
Ngã lai tự Đông,
Linh vũ ký mông
Ngã Đông viết qui,
Ngã tâm Tây bi…
Kim ngã lai tư,
Vũ tuyết phi phi
Hành đạo trì trì,
Thả khát thả cơ
Ngã tâm thương bi,
Mạc tri ngã ai
(Thái vi)
Xưa ta ra đi, Dương liễu xanh rì
Nay ta trở về, Mưa rơi lất phất
Đường xa diệu vợi, Đã khát lại đói
Trong lòng đau nhói,
Ai biết đau thương?
(Rau thái vi)
Liệu nỗi đau thương ấy có dịu bớt phần nào với hình ảnh người vợ tao khang vẫn chung thủy chờ chồng? Hay lại thêm nỗi bất hạnh mòn mõi chờ đợi của những mảnh đời “con sâu cái kiến”?
Tự bá chi Đông, Từ ngày chàng trẩy sang đông,
Trang 9Thủ như phi bồng
Khởi vô cao mộc?
Thùy thích vi dung?
Kỳ vũ kỳ vũ,
Cảo cảo xuất nhật
Nguyện ngôn tư bá,
Cam tâm thủ tật
(Bá hề)
Đầu em như thể cỏ bồng gió bay ! Nào không nước gội cho hay, Biết vì ai đó, để gái này vuốt ve?
Trời mưa ! Aáy trời sắp mưa ! Mặt trời đâu đã mọc ra đỏ hồng
Hãy xin để thiếp nhớ chồng, Đầu tuy có nhức nhưng lòng cũng cam
(Chàng ơi!)
-Những bài miêu tả đời sống tình cảm hồn nhiên phong phú nhất là tình yêu nam nữ và ước vọng lứa đôi như: (Quan thư, Quyền nhĩ, Đào yêu, Hán quảng – Chu Nam), (Phiếu hữu mai, Tiểu tinh –Thiệu Nam), (Tĩnh nữ, Yến yến –Bội phong), (Bách chu, Quân tử giai lão – Dung phong)…Ước vọng hạnh phúc lứa đôi của người dân Trung Quốc thời cổ sơ thông qua chủ đề tình yêu nam nữ trong Kinh Thi được thể hiện tinh tế từ sự gặp gỡ, thương nhớ, trằn trọc đến hẹn hò, hờn dỗi, ước mơ nên duyên cầm sắt hoặc luyến tiếc xót xa, đỗ vỡ Đó là ước vọng chân thực, là khát vọng thiết tha, đồng thời cũng là sự đòi hỏi chính đáng quyền được sống hạnh phúc của con người nói chung(Xem phần trích giảng)
Nội dung Kinh Thi có tác động giáo dục rất lớn Chính Khổng tử cũng nhận định: “Tiểu tử, hà mạc học phù Thi? Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả
dĩ oán; nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa chí ư điểu thú thảo mộc chi danh Dương hóa”(Các trò sao không học Thi? Nhờ Thi, ta có thể hưng khởi tâm trí, biết quan sát, biết hợp quần, biết oán giận một cách chính đáng; gần thì biết thờ cha, xa thì biết thờ vua, lại còn ghi chép tên nhiều giống chim muông cây cỏ - thiên Dương Hóa)
-Về nghệ thuật, phương thức biểu đạt của Kinh Thi rất đa dạng Các thể phú,
tỉ, hứng được sử dụng hoặc riêng lẻ hoặc phối hợp một cách nhuần nhuyễn làm nội
dung bài thơ càng thêm nổi bật, tăng thêm tính gợi hình và gây cảm xúc mạnh nơi
người đọc Các thủ pháp trùng chương điệp cú không những khiến nhạc điệu bài thơ
thêm dồi dào mà còn giúp nội dung ý tưởng được khắc họa tinh tế, sâu sắc Ngoài
ra, tiết tấu đơn giản của lối thơ 4 chữ, sự sử dụng ngôn từ bình dị quen thuộc mà gợi tả đã góp phần không nhỏ tạo nên giá trị hiện thực của tác phẩm
Về phương diện văn học, ảnh hưởng của Kinh Thi rất lớn Nó là kho tư liệu, điển cố phong phú, là nguồn cảm hứng vô tận của thi nhân các đời, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam
Ở Trung Quốc, không một thi sĩ nào lại không đọc và không chịu ít nhiều ảnh hưởng của Kinh Thi Lý Bạch đã viết :
Đại nhã cửu bất tác,
(Đại Nhã đã lâu không chấn tác, nỗi niềm ai oán của ta rốt cuộc biết giải bày cùng ai?)
Còn Đỗ Phủ thì chủ trương “Biệt tài ngụy thể thân Phong Nhã”(Riêng ta không theo lối ngụy thể mà chỉ phát triển thơ Phong, Nhã)
Trang 10Đặc biệt, ca dao, dân ca, thơ và nhạc phủ từ Lưỡng Hán đến Lục Triều chịu ảnh hưởng trực tiếp Kinh Thi, cả về nội dung lẫn hình thức
Ở nước ta, các thi gia xưa thường mượn chữ, mượn hình ảnh, mượn ý của Kinh Thi để diễn đạt ý tưởng tâm tình, thậm chí xem Kinh Thi như một tác phẩm mẫu mực, không ngớt lời ca ngợi: “Tứ ngôn độc Mao, ngũ ngôn độc Đào, thất ngôn
độc Tao”(Thơ 4 chữ thì đọc Mao thi, thơ 5 chữ thì đọc Đào Tiềm, thơ 7 chữ thì đọc
Ly Tao) Thật đúng là “Bất học Thi, vô dĩ ngôn”( Không học tập Kinh Thi, không biết lấy gì mà nói cho văn vẻ - Luận Ngữ); “Nhân nhi bất vi Chu Nam, Thiệu Nam, kỳ do chính tường diện nhi lập”(Người ta mà không đọc thơ Chu Nam, Thiệu Nam, thì cũng giống như đứng quay mặt vào tường - Dương Hóa) ; “Tụng Thi tam bách,
thụ chi dĩ chính bất đạt, sứ ư tứ phương bất năng chuyên đối, tuy đa, diệc hề dĩ vi?”(
Đọc hết 300 thiên Thi, nhưng khi được trao việc chính trị làm không đạt, sai đi sứ bốn phương không biết ứng đối lưu loát, thì tuy có đọc nhiều cũng chẳng ích gì -Tử
Lộ)
Trích giảng:
I-Quan thư
Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu lưu chi
Yểu điệu thục nữ,
Ngụ mị cầu chi
Cầu chi bất đắc,
Ngụ mị tư bặc(phục),
Du tai ! Du tai !
Triển chuyển phản trắc
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu thái chi,
Yểu điệu thục nữ,
Cầm sắt hữu chi
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu mạo chi
Yểu điệu thục nữ,
Chung cổ lạc chi
Oâi, nhớ thương hoài !
Ta trằn trọc khôn nguôi
Rau hạnh so le,
Ta hái rau bên phải, bên trái
Người thục nữ dịu dàng yểu điệu,
Ta gẩy đàn cầm đàn sắt mong có nàng Rau hạnh so le,
Ta hái rau bên phải bên trái về nấu chín Người thục nữ dịu dàng yểu điệu ,
Ta nổi chuông trống cho nàng vui
2.- Tĩnh nữ
Tĩnh nữ kỳ thù ,
Sĩ ngã vu thành ngu
Aùi nhi bất kiến,
Tao thủ trì trù
Cô gái thùy mị
Cô gái dịu dàng xinh đẹp, Đợi ta ở góc thành
Yêu nàng mà không gặp mặt,
Ta vò đầu băn khoăn
Trang 11Tĩnh nữ kỳ luyến ,
Di ngã đan quản
Đan quản hữu vĩ ,
Duyệt dịch nhữ mỹ
Tự mục qui di ,
Tuân mỹ thả dị
Phỉ nhữ chi vi mỹ,
Mỹ nhân chi di
Cô gái dịu dàng đáng yêu, Tặng ta một cây bút son
Cây bút son có vân rực rỡ,
Ta vui lòng vì mi đẹp
Từ ngoài đồng về, nàng tặng ta nhánh cỏ Vừa đẹp vừa lạ
Cỏ ơi, không phải là mi đẹp đâu Mà vì là tặng vật của người đẹp
3.- Hà quảng
Thùy vị hà quảng,
Nhất vỹ hàng chi
Thùy vị Tống viễn,
Kỹ dữ vọng chi
Thùy vị hà quảng,
Tằng bất dung điêu
Thùy vị Tống viễn,
Tằng bất sùng triêu
Sông rộng
Sông kia, ai bảo rộng gì?
Một cái cỏ sậy, ấy thì sang qua ! Tống kia, ai bảo rằng xa?
Kiễng chân một chút, ấy ta trông thấy rồi Sông kia, ai bảo rộng gì?
Một chiếc thuyền nhỏ, ấy thì chật thôí ! Tống kia, ai bảo xa xôi?
Đi không đầy buổi, ấy đến nơi đó mà !
(Tản Đà dịch)
4.- Tử khâm
Thanh thanh tử khâm,
Du du ngã tâm
Túng ngã bất vãng,
Tử ninh bất tự hề?
Thanh thanh tử bội,
Du du ngã tư
Túng ngã bất vãng,
Tử ninh bất lai?
Khiêu hề ! Đạt hề !
Tại thành khuyết hề
Nhất nhật bất kiến,
Như tam nguyệt hề
Giỡn kìa ! Nhảy kìa !
Ở cửa thành kia
Một ngày chẳng thấy,
Ba tháng cách chia
( Vô Danh)
Trang 125.- Yến yến
Yến yến vu phi,
Si trì kỳ vũ
Chi tử vu quy,
Viễn tống vu dã
Chiêm vọng phất cập,
Khấp thế như vũ
Yến yến vu phi,
Hiệt chi hàng chi
Chi tử vu quy,
Viễn vu tương chi
Chiêm vọng phất cập,
Trữ lập dĩ khấp
Yến yến vu phi,
Hạ thượng kỳ âm
Chi tử vu quy,
Viễn tống vu nam
Chiêm vọng phất cập,
Thực lao ngã tâm
Chim én
Kìa trông con én nó bay, Nó sa cánh này nó liệng cánh kia
Cô kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về đến quãng đồng không Trông theo nào thấy mà trông,
Nước mắt ta khóc ròng ròng như mưa
Kìa trông con én nó bay, Bay bổng nơi này bay xuống nơi kia
Cô kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về chẳng quản đường xa
Trông theo nào thấy đâu mà, Một mình thơ thẩn đứng mà khóc thương Kìa trông con én nó bay,
Kêu lên tiếng này, kêu xuống tiếng kia
Cô kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về, xa tiễn sang nam
Lòng ta vơ vẩn ai làm, Trông theo chẳng thấy cho thêm nhọc lòng
(Tản Đà dịch)
6.- Phiếu hữu mai
Phiếu hữu mai,
Kỳ thực thất hề!
Cầu ngã thứ sĩ,
Đãi kỳ cát hề
Phiếu hữu mai,
Kỳ thực tam hề!
Cầu ngã thứ sĩ,
Đãi kỳ kim hề
Phiếu hữu mai,
Khuynh khuông kỵ chi
Cầu ngã thứ sĩ,
Đãi kỳ vị chi
Cây mai rụng
Cây mai rụng, Qủa bảy trên cành
Aáy ai là kẻ cầu mình, Tính sao cho kịp ngày lành hỡi ai ! Cây mai rụng,
Trên cành qủa ba
Aáy ai là kẻ cầu ta, Tính sao cho kịp, ắt là ngày nay
Cây mai rụng, Nghiêng giỏ nhặt mai
Cầu ta, ai đó hỡi ai ! Tính sao cho kịp, một lời bảo nhau !
(Tản Đà dịch)
Trang 13Nhật chi tịch hỹ,
Dương ngưu hạ lai,
Quân tử vu dịch,
Như chi hà vật ưu?
Quân tử vu dịch,
Bất nhật bất nguyệt
Hạt hữu kỳ hoạt,
Kê thê vu kiệt
Nhật chi tịch hỹ,
Dương ngưu hạ quát,
Quân tử vu dịch,
Cẩu vô cơ khát
Chàng chinh chiến phương xa
Chàng chinh chiến phương xa, Ngày về nào hẹn ước
Gà đến lúc lên chuồng, Chàng bao giờ về được?
Trời chiều đà xẩm tối, Dê trâu đã về tới
Chàng còn chinh chiến xa, Lòng thiếp sao chẳng rối?
Chàng chinh chiến phương xa, Tháng ngày đi biền biệt
Gà đã nằm ấm tổ, Ngày chàng về nào biết
Trời chiều bóng đã tà, Dê trâu đã về hết
Chàng còn chinh chiến xa, Mong sao không đói rét
8.- Bá hề
Bá hề ! Yết hề !
Bang chi kiệt hề
Bá dã chấp thù,
Vị vương tiền khu
Tự bá chi đông,
Thủ như phi bồng
Khởi vô cao mộc,
Thùy đích vi dung
Kỳ vũ ! Kỳ vũ !
Kiểu kiểu xuất nhật
Nguyện ngôn tư bá,
Cam tâm thủ tật
An đắc huyên thảo,
Ngôn thụ chi bối
Nguyên ngôn tư bá,
Sử ngã tâm hối
Chàng ơi !
Aáy ai tài giỏi như chàng, Kể xem trong nước, thật hàng trượng phu Chàng nay chạy trước xe vua,
Lăm lăm cầm một cái thù trong tay
Từ ngày chàng trẩy sang đông, Đầu em như thể cỏ bồng gió bay ! Nào không nước gội cho hay, Biết vì ai đó, để gái này vuốt ve?
Trời mưa ! Aáy trời sắp mưa ! Mặt trời đâu đã mọc ra đỏ hồng
Hãy xin để thiếp nhớ chồng, Đầu tuy có nhức, nhưng lòng cũng cam Ước gì được cỏ quên lo,
Đem về chái bắc để cho ta trồng
Hãy xin để thiếp nhớ chồng, Dẫu cho đau đớn trong lòng, quản bao !
(Tản Đà dịch)
Trang 149.- Bách chu
Phiếm bỉ bách chu,
Diệc phiếm kỳ lưu
Cảnh cảnh bất mị,
Như hữu ẩn ưu
Vi ngã vô tửu,
Bạc ngôn vãng tố,
Phùng bỉ chi nộ
Ngã tâm phỉ thạch,
Bất khả chuyển dã
Ngã tâm phỉ tịch,
Bất khả quyển dã
Uy nghi lệ lệ,
Bất khả tuyển dã
Ưu tâm tiễu tiễu,
Uẩn vu quần tiểu
Cấu mẫn ký đa,
Thụ vô bất tiểu
Tĩnh ngôn tư chi,
Ngụ tịch hữu phiếu
Nhật cư nguyệt chư,
Hồ điệt nhi vi
Tâm chi ưu hỹ,
Như phỉ cán y
Tĩnh ngôn tư chi,
Bất năng phấn phi
Chiếc thuyền gỗ bách
Lênh đênh như chiếc thuyền trôi, Chiếc thuyền gỗ bách, ai ơi, giữa giòng! Muốn ngủ mà ngủ chẳng xong,
Vì sao khắc khoải như lòng có lo
Lo này ai có hay cho, Phải rằng không rượu chơi cho đỡ buồn Lòng ta chẳng phải là gương,
Muốn đem mà lường, hồ dễ được chăng? Anh em có cũng gọi rằng:
Có anh em, chẳng chắc bằng vào ai
Ta đi ta nói mấy lời, Gặp cơn giận dữ của người anh em
Chiếu kia cuốn dễ như không, Lòng ta phải chiếu mà mong cuốn dần ! Đá kia thời có người lăn,
Lòng ta phải đá mà vần được sao !
Uy nghi chẳng kém chút nào, Dễ ai kén chọn điều nào được ru ! Lòng ta áy náy lo phiền,
Nghĩ cho những lũ nhỏ nhen bực mình
Nỗi riêng lắm nỗi thương tình, Lại thêm nhiều sự bất bình lắm thay ! Một mình riêng nghĩ ai hay,
Đêm nằm sờ bụng, vỗ tay mà buồn
Mặt trăng kia với mặt trời, Sao mà mờ tối lần hồi như nhau?
Lòng ta xiết nỗi lo sầu, Như áo không giặt mặc lâu thế này
Một mình riêng nghĩ ai hay, Bực mình khôn dễ mà bay được nào !
(Tản Đà dịch)
Trang 1510.-Tiểu tinh
Tuệ bỉ tiểu tinh,
Tam ngũ tại đông
Túc túc tiêu chinh,
Túc dạ tại công
Thực mệnh bất đồng
Tuệ bỉ tiểu tinh,
Duy Sâm dữ Mão
Túc túc tiêu chinh,
Bão khâm dữ trù,
Thực mệnh bất do
Phận lẽ mọn
Oâng sao nho nhỏ, Mọc ở phía đông Năm ông ba ông, Nhấp nha nhấp nháy
Kìa đâu lại thấy, Sao Mão sao Sâm Oâm chăn chăm chắm đi đêm, Nơi công khuya sớm thân em chực chầu Phận trời cho, thực chẳng như nhau
(Tản Đà dịch)
TIẾT 2 : SỞ TỪ
Nếu Kinh Thi là thành tựu thi ca dân gian miền Bắc, có giá trị hiện thực cao thì Sở từ là thành tựu thi ca miền Nam mang đậm dấu ấn cá nhân (nổi bật là Ly Tao của Khuất Nguyên).Tác phẩm Ly tao xuất hiện từ giữa thế kỷ thứ 4 trước CN và được công nhận là đỉnh cao của thi ca Trung Quốc, đạt tới bước phát triển rất lớn về mặt chủ đề tư tưởng cũng như nghệ thuật thể hiện, nhất là sự sử dụng ngôn từ
phong phú và sức tưởng tượng dồi dào Giá trị chủ yếu của Sở từ nói chung, của Ly Tao nói riêng là chất trữ tình lãng mạn, thể hiện trí tưởng tượng phong phú bay bổng của nhà thơ thiên tài Khuất Nguyên
Sở từ là thi ca, từ phú của nước Sở - một nước ở lưu vực sông Trường giang,
tức là miền nam Trung Quốc- trong đó những tác phẩm nổi tiếng nhất là của hai nhân vật có tâm sự gần giống nhau: Khuất Nguyên(343-278 trước CN) và Tống
Ngọc(290-222 trước CN)
-Khuất Nguyên(343-278 trước CN) và “Ly Tao”:
Húy là Bình, tự là Nguyên, hậu duệ của Sở Vũ vương Là người”nghe rộng, chí hùng, rõ
việc trị loạn, giỏi về giấy tờ, vào thì cùng vua bàn việc nước, ban bố hiệu lệnh, ra thì tiếp đãi tân
khách, ứng đối chư hầu”(Sử ký, Khuất Nguyên liệt truyện - Tư Mã Thiên), rất được Sở Hoài vương
tin dùng
Năm 25 tuổi(319 trước CN) được Sở Hoài vương tin dùng, phong chức Tả đồ
Năm 318 trước CN, Khuất Nguyên đi sứ nước Tề, lập nên tung ước Tề - Sở, thực hiện biến pháp khiến Sở trở thành nước hùng mạnh
Năm 314 trước CN, nghe lời Thượng quan Đại phu Cận Thượng ganh tài gièm pha, Sở
Hoài vương không tin dùng Khuất Nguyên nữa, bỏ hợp tung, theo liên hoành, đày ông lên miền Bắc
sông Hán Khuất Nguyên lo buồn, sáng tác thiên Ly Tao để giải bày tâm sự của một bề tôi cô trung hết lòng vì dân vì nước
Năm 312 trước CN, sau khi bị Trương Nghi lừa gạt phải thua trận, mất đất Hán Trung, mất tướng Khuất Cái, Sở Hoài vương hối hận, lại tin dùng Khuất Nguyên, nối lại liên minh Tề-Sở, phong ông làm Tam Lư Đại phu
Năm 299 trước CN, lầm kế kết tình thông gia của Tần Chiêu vương, Sở Hoài vương vượt cửa ải Vũ quan, bị giam ở Tần, rồi 3 năm sau mất tại đấy
Năm 296 trước CN, đời Khoảnh Tương vương, Khuất Nguyên lại bị lưu đày xuống miền Giang Nam
Trang 16Năm 278 trước CN, tướng Tần là Bạch Khởi đánh chiếm Sính đô, khai quật phần mộ tổ tiên vua Sở Lúc này Khuất Nguyên đã 66 tuổi, trải qua hơn 20 năm luân lạc, thấy cảnh quốc phá gia
vong, nhân dân đồ thán, ông rất phẫn khích bi ai, làm bài phú Hoài sa rồi tự trầm tại sông Mịch La
vào ngày mồng 5 tháng 5( tết Đoan ngọ)
Theo Ban Cố(Hán thư -Nghệ văn chí), Vương Dật(Sở từ chương cú) và Chu Hy(Sở từ tập
chú), tác phẩm của Khuất Nguyên gồm 25 thiên sau:
Ly tao(1 thiên), Thiên vấn(1 thiên), Viễn du(1 thiên), Bốc cư(1 thiên), Ngư phủ(1 thiên), Cửu ca(11 thiên : Đông hoàng thái nhất, Vân trung thần, Tương quân, Tương phu nhân, Đại tư mệnh,
Thiếu tư mệnh, Đông quân, Hà bá, Sơn quỉ, Quốc thương, Lễ hồn) và Cửu chương(9 thiên : Tích
tụng, Thiệp giang, Ai Sính, Trừu tư, Hoài sa, Tư mỹ nhân, Tích vãng nhật, Quất tụng, Bi hồi phong)
Qua thân thế và sự nghiệp của mình, Khuất Nguyên xứng đáng là một nhà thơ yêu nước
thiết tha, một nhà chính trị sáng suốt và là một nhân cách lớn
“Ly tao” –tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên- gồm 374 câu, sáng tác năm 314 trước CN khi Sở Hoài Vương nghe lời gièm pha của Thượng quan Đại phu Cận Thượng, cách chức Tả đồ và đày ông lên miền bắc sông Hán Bài thơ viết theo
thể “tao”, thể thơ do chính tác giả sáng tạo trên cơ sở dân ca nước Sở Ly tao có nghĩa là mối lo buồn biệt ly( Ly tao giả, ly ưu dã -Sử Ký – Tư Mã Thiên), hoặc gặp mối u sầu(Hán thư – Ban Cố) Hai cách giải thích này đều phù hợp với nội dung
giải bày tâm sự của nhà thơ yêu nước Khuất Nguyên
Tác phẩm Ly Tao được nhà phê bình đời Minh Kim Thánh Thán xếp vào
hàng cổ điển gọi là lục tài tử(Nam Hoa Kinh của Trang Tử, Ly Tao của Khuất Nguyên, Sử Ký cuả Tư Mã Thiên, Luật Thi của Đỗ Phủ, Thủy Hử của Thi Nại Am và Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ) Về sau người đời thêm vào 2 tác phẩm nữa thành bát tài tử là Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị và Hoa Tiên Ký – Khuyết Danh; cũng có người cho là Tam Quốc Chí của La Quán Trung và Hồng Lâu Mộng của
Tào Tuyết Cần – Cao Ngạc
Tác phẩm có thể chia làm 2 phần và một lời loạn : ( tức lời kết):
Phần 1: 184 câu đầu, chủ yếu là thực có pha lẫn ít nhiều hư cấu, tác giả tự
kể về mình, gồm 3 đoạn:
Đoạn 1 trình bày gia thế và chí hướng, hoài bão của tác giả lúc còn trẻ Đoạn 2 kể lại những lo lắng, dằn vặt ưu tư của tác giả về hậu qủa của đường
lối trị nước do nhà vua mù quáng và bọn nịnh thần xúc xiểm gây ra
Đoạn 3 thể hiện tinh thần đấu tranh đến cùng cho lý tưởng, quyết không
thỏa hiệp với cái ác, cái xấu
Phần 2: 186 câu kế tiếp, chủ yếu là hư cấu nhưng phát xuất từ cơ sở hiện thực, gồm 4 đoạn:
Đoạn 1 hóa thân vào mộng tưởng để trình bày lý tưởng hoài bão trí quân trạch dân của mình trước đền vua Thuấn
Đoạn 2 diễn tả cuộc du hành vào thế giới hư ảo (3 lượt) để tìm “người bạn
lòng” nhằm thực hiện lý tưởng hoài bão ấy nhưng thất bại
Đoạn 3 trở về hiện thực trong tâm trạng xót xa dằn vặt, mất phương hướng,
muốn buông xuôi, nhiều lần nghĩ đến cái chết
Đoạn 4 lại du hành vào thế giới hư ảo nhưng vẫn thất bại
Trang 17Lời loạn: 4 câu cuối, tổng kết ý toàn bài và nêu lên dự cảm bi thương về cuộc đời tác giả: theo gương Bành Hàm, tìm đến cái chết để giải bày tấm lòng thiết tha vì thế sự của một nhân cách cao khiết
Trích giảng:
l.-Ly tao(trích)
Đế Cao Dương chi miêu duệ hề,
Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung
Nhiếp đề trinh vu Mạnh Trâu hề,
Duy Canh dần ngô dĩ giáng
Gặp mối lo buồn
Là dòng dõi Cao Dương vua trước, Oâng Bá Dung chính thực phụ thân, Năm Dần, vào tháng đầu xuân,
Canh dần ngày ấy, giáng trần là ta
Hoàng lãm quĩ dư sơ độ hề,
Thiệu tích dư dĩ gia thanh
Danh dư viết Chính Tắc hề,
Tự dư viết Linh Quân
Lúc sơ sinh trông ra mọi sự, Cha ban cho danh tự tốt lành
Này đây Chính Tắc là danh, Linh Quân là tự cho thành tên hay
Phân ngô ký hữu thử nội mỹ hề,
Hựu trùng chi dĩ tu năng
Hỗ giang ly dữ tích chỉ hề,
Nữu thu lan dĩ vi bội
Trong đã sẵn đức dày nết khá, Ngoài lại thêm vẻ lạ, tài nhiều
Giang ly, tích chỉ mang theo, Thu lan thơm ngát kết đeo bên mình
Cốt dư nhược tương bất cập hề,
Khủng niên tuế chi bất ngô dữ
Triêu kiển tỉ chi mộc lan hề,
Tịch giảo châu chi túc mãng
Lo thời gian trôi nhanh qua vội, Sợ tháng năm chẳng đợi chờ ta
Mộc lan ban sáng hái hoa, Cỏ xanh giẫm bóng chiều tà bên sông
Nhật nguyệt hốt kỳ bất yêm hề,
Xuân dữ thu kỳ đại tự
Duy thảo mộc chi linh lạc hề,
Khủng mỹ nhân chi trì mộ
Ngày với tháng hẵn không ở lại, Xuân rồi thu mãi mãi đổi thay Nghĩ điều héo rụng cỏ cây, Sợ cho người đẹp rồi đây sẽ già
Bất phủ tráng nhi khử uế hề,
Hà bất cải thử độ?
Thừa kỳ ký dĩ trì sính hề,
Lai ngô đạo phù tiên lộ
Thời trẻ mạnh, xấu xa chẳng bỏ, Sao không thay pháp độ kỷ cương? Ruổi giong kỳ ký trên đường, Lại đây, ta dẫn cho tường bước đi
Tích tam hậu chi thuần túy hề,
Cố chúng phương chi sở tại
Tạp thân tiêu dữ khuẩn quế hề,
Khởi duy nữu phù huệ xải
Vì ba vua xưa kia tốt đức, Nên cỏ thơm thảy được vun trồng Tiêu kia, quế nọ đều dùng,
Phải đâu lan huệ mới mong đoái hoài
Bỉ Nghiêu Thuấn chi cảnh giới hề,
Ký tuân đạo nhi đắc lộ
Hà Kiệt Trụ chi xương phi hề,
Phù duy tiệp kính dĩ quẫn bộ
Kìa Nghiêu Thuấn sáng ngời ngôi cả, Theo đường ngay nên đã thành công Còn như Kiệt Trụ buông tuồng, Băng theo lối tắt, khốn cùng bước đi
Trang 18Duy phù đảng nhân chi thâu lạc hề,
Lộ u muội dĩ hiểm ải
Khởi dư thân chi đạn ương hề,
Khủng hoàng dư chi bại tích
Bè lũ ấy mãi mê hoan lạc, Khiến tối tăm vướng mắc lối đường; Thân ta há sợ tai ương,
Chỉ e cơ nghiệp quân vương đổ nhào
Hốt bôn tẩu dĩ tiên hậu hề,
Cập tiền vương chi chủng vũ
Thuyên bất sát dư chi trung tình hề,
Phản tín sàm nhi tế nộ
Nên vội vã trước sau chạy chọt, Mong theo chân nối gót tiền vương; Lòng trung chẳng được đoái thương, Tin lời sàm tấu nổi cơn lôi đình
Dư cố tri kiển kiển chi vi hoạn hề,
Nhẫn nhi bất năng xả dã
Chỉ cửu thiên dĩ vi chính hề,
Phù duy Linh tu chi cố dã
Vốn đã biết kiên trinh gây họa, Song nỡ nào bỏ cả nước non ! Chỉ trời mà giải lòng son, Linh tu là đấy, cỗi nguồn bi ai
Viết hoàng hôn dĩ vi kỳ hề,
Khương trung đạo nhi cải lộ
Sơ ký dữ dư thành ngôn hề,
Hậu hối độn nhi hữu tha
Buổi hoàng hôn cùng ai hò hẹn, Mới nửa đường cải biến ngờ đâu ! Nói điều thành thực ban đầu, Cùng ta như thế mà sau đổi lời
Dư ký bất nan phù ly biệt hề,
Thương Linh tu chi xác hóa
Dư ký tư lan chi cửu uyển hề,
Hựu thụ huệ chi bách mẫu
Ta há quản cùng người ly biệt, Thương Linh tu chuyển biến bao lần; Ruộng này chín khoảnh cấy lan, Đồng xa trăm mẫu trồng hàng huệ kia
Huề lưu di dữ yết xa hề,
Tạp đỗ hành dữ phương chỉ
Ký chi diệp chi tuấn mậu hề,
Nguyện sĩ thời hề ngô tương san
Vun yết xa, lưu di khoe vẻ, Xen màu tươi phương chỉ, đỗ hành, Mong sao rậm rạp lá cành,
Đúng thời ta hái cho thành ước ao
Tuy ủy tuyệt kỳ diệc hà thương hề,
Ai chúng phương chi vô uế
Chúng giai cạnh tiến dĩ tham lam hề,
Bằng bất yếm hồ cầu sách
Dầu héo rụng hại nào đáng kể, Thương cỏ thơm hoang phế điêu tàn Tranh nhau chúng chẳng từ nan, Mưu danh đoạt lợi tham tàn chẳng ngơi
(Trần Trọng San dịch)
Chúng bất khả hộ thuyết hề,
Thục vân sát dư chi trung tình?
Thế tịnh cử nhi hiếu bằng hề,
Phù hà quynh độc nhi bất dư thính?
Tăng hư hi dư uất ấp hề,
Ai trẫm thì chi bất đáng
Lãm nhự huệ dĩ yểm thế hề,
Triêm dư khâm chi lãng lãng
Nói với chúng dễ hòng nói xiết,
Ai là người xét biết lòng ta?
Đời đều bè đảng gian tà, Một mình ta nói nói mà ai nghe?
Trang 19
Triêu phát nhẫn ư Thương Ngô hề,
Tịch dư chí hồ Huyền Phố
Dục thiểu lưu thử linh tỏa hề,
Nhật hốt hốt kỳ tương mộ
Ngô linh Hy Hòa nhĩ tiết hề,
Vọng Yêm tu nhi vật bách
Lộ man man kỳ tu viễn hề,
Ngô tương thượng hạ nhi cầu sách
…
Lộ tu viễn dĩ đa gian hề,
Đằng chúng xa sử kính đãi
Lộ bất chu dĩ tả chuyển hề,
Chỉ Tây hải dĩ vi kỳ
Đồn dư xa kỳ thiên thặng hề,
Tề ngọc đại nhi tịnh trì
Giá bát long chi uyển uyển hề,
Tái vân kỳ chi ủy đà
Ưùc chí nhi nhĩ tiết hề,
Thần cao trì chi mạc mạc
Tấu Cửu ca nhi vũ Thiều hề,
Liêu hạ nhật dĩ du lạc
Trắc thăng hoàng chi hách hý hề,
Hốt lâm nghễ phù cựu hương
Bộc phu bi dư mã hoài hề,
Quyền cục cố nhi bất hàng
Loạn viết : Dĩ hỹ tai !
Quốc vô nhân mạc ngã tri hề,
Hựu hà hoài hồ cố đô ?!
Ký mạc túc dữ vi mỹ chính hề,
Ngô tương tòng Bành Hàm chi sở cư
Sớm Thương Ngô chiều ra Huyền Phố, Đền thần linh xa ngó cửa ngoài
Chốn này muốn tạm nghỉ ngơi,
Chiều hôm bảng lảng mặt trời xuống nhanh
Hy Hòa hỡi nể tình ta với, Lối non đoài chớ vội xông pha
Quản bao nước thẳm non xa, Để ta tìm kiếm cho ra bạn lòng
Xa thăm thẳm cõi đường hiểm trở, Dồn các xe giúp đỡ ta cùng
Đường xa lối tả đi vòng, Hẹn ngày tháng chỉ qua vùng bể Tây Đều tay sắp giật dây cương ngọc, Nghìn xe cùng một lúc ra đi
Tám rồng bay lộn trước xe, Cờ mây phất phới bóng che rợp trời Hãy ngừng bước tạm nguôi dạ tủi, Buông thần hồn lên cõi cao xa
Múa Thiều hát khúc Cửu ca, Tháng ngày thong thả liệu mà làm khuây Cất mình khoảng trời mây rộng rãi, Chợt ngoảnh đầu trông lại quê hương Ngựa buồn đầy tớ thảm thương,
Co ro nhớn nhác ngại đường chẳng đi Vãn rằng :
Thôi ! Thương tiếc làm chi cho cực!
Biết ta đâu một nước không người
Chính lành làm sức với ai?
Bành Hàm đâu đó ta thời đi theo !
Tu lộ u ế, đạo viễn hốt hề !
Hoài chất bảo tình, độc vô thất hề !
Bá Nhạc ký một, ký yên trình hề !
Lời kết rằng:
Mênh mông Nguyên Tương, sông Mịch La chia nhánh a !
Đường xa man mác, ngất tạnh mù khơi a ! Oâm tình giữ chất, đành phải mồ côi a ! Bá Nhạc đã mất, ngựa Ký ai coi a ! Nhân sinh có mệnh, đều đã định rồi a !
Trang 20Dân sinh bẩm mệnh, các hữu sở thố hề !
Định tâm quảng chí, dư hà sở úy cụ hề !
Tăng thương viên ai, vĩnh thán vị hề !
Thế hỗn trọc mạc ngô tri, nhân tâm bất
khả vị hề !
Tri tử bất khả nhượng, nguyện vật ái hề !
Minh cáo quân tử, ngô tương dĩ vi loại hề!
Vững lòng rộng chí, ta chẳng sợ a ! Xót thương chẳng dứt, than thở mãi a ! Đời ngàu đục không biết ta, lòng người khó lường a !
Biết chết không tránh được, nguyện không tiếc đời a !
Nói rõ cùng quân tử, ta mong theo đòi a !
(Đào Duy Anh dịch)
3 Ngư phủ
Khuất Nguyên ký phóng, du ư giang đàm, hành ngâm trạch bạn, nhan sắc tiều tụy, hình dung khô cảo Ngư phủ kiến nhi vấn chi viết:”Tử phi Tam lư đại phu dư? Hà cố chí ư tư?”
Khuất Nguyên viết:”Thế nhân giai trọc, ngã độc thanh; chúng nhân giai túy, ngã độc tỉnh, thị dĩ kiến phóng”
Ngư phủ viết:”Thánh nhân bất ngưng trệ ư vật, nhi năng dữ thế thôi di Thế nhân giai trọc, hà bất quật kỳ nê nhi dương kỳ ba? Chúng nhân giai túy, hà bất bô kỳ tao nhi suyết kỳ si? Hà cố thâm tư cao cử, tự linh phóng vi?”
Khuất Nguyên viết:”Ngô văn chi: tân mộc giả, tất đàn quan; tân dục giả tất chấn y; an năng dĩ thân chi sát sát, thụ vật chi môn môn giả hồ?! Ninh phó Tương lưu, táng ư giang ngư chi phúc trung, hựu an năng dĩ hạo hạo chi bạch nhi mông thế chi trần ai hồ?!
Ngư phủ hoãn nhĩ nhi tiếu, cổ duệ nhi khứ Nãi ca viết :
“Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh;
Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc “
Toại khứ, bất phục dữ ngôn
Lão chài
Sau khi bị đày, Khuất Nguyên dạo chơi bên sông, vừa đi vừa ngâm bên bờ đầm, vẻ mặt hốc hác, hình dáng gầy guộc Lão chài trông thấy, hỏi rằng :
- “Ngài không phải là quan Tam lư đại phu đó ư? Vì sao đến nỗi này?”
Khuất Nguyên đáp :
- “Người đời đều đục, riêng mình tôi trong; mọi người đều say, riêng mình tôi tỉnh, vì thế bị đày”
Lão chài nói :
- “Thánh nhân không ngưng đọng vì sự vật, mà có thể dời đổi theo đời Người đời đều đục, sao ông không khuấy bùn khua sóng? Mọi người đều say, sao ông không ăn bã uống hèm? Tại sao lại nghĩ nhiều, ở cao, để bị đày đọa?”
Khuất Nguyên nói :
- “Tôi nghe :Vừa gội xong, ắt phải phủi mũ ; vừa tắm xong, ắt phải giũ áo.Há nên đem tấm thân trong trắng mà chịu sự nhơ bẩn của sự vật?! Thà rằng đến sông Tương, chôn mình trong bụng cá, chớ đâu nên đem tấm lòng thanh khiết mà chịu buị bặm của cõi đời?!”
Lão chài mỉm cười, gõ vào mái chèo mà đi Hát rằng :
“Nước sông Thương Lang trong hề, có thể lấy giặt giải mũ ta;
Trang 21Nước sông Thương Lang đục hề, có thể lấy rửa chân ta”
Rồi bỏ đi, không nói với nữa
(Trần Trọng San dịch)
Nguyễn Du và Khuất Nguyên:
Tương Đàm điếu Tam Lư Đại phu
Kỳ nhất Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải,
Thử địa do văn lan chỉ hương
Tông quốc tam niên bi phóng trục,
Sở Từ vạn cổ thiện văn chương
Ngư long giang thượng vô tàn cốt,
Đỗ nhược châu biên hữu chúng phương
Cực mục thương tâm hà xứ thị?
Thu phong lạc mộc qúa Nguyên Tương
Kỳ nhị
Sở quốc oan hồn oán thử trung,
Yên ba nhất vọng diểu hà cùng
Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ,
Hà hữu Ly Tao kế Quốc phong?
Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh,
Tứ phương hà xứ thác cô trung?
Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục,
Sở bội tiêu lan cánh bất đồng
Qua Tương Đàm điếu Quan Tam Lư Đại phu
Hai nghìn năm vắng người sửa đức, Nơi đây còn thơm nức chỉ lan
Ba năm đất trích phủ phàng, Sở Từ muôn thủa rỡ ràng văn chương Sông cá rồng nắm xương khôn giữ, Bãi hoa lồng trăm thứ cỏ thơm
Nơi nào gởi mối thương tâm!
Lá thu gió rụng nẻo tầm Nguyên Tương.
Nơi đây chôn hồn oan Sở quốc, Mắt muôn trùng khói nước chơi vơi
Ví ban hiến lệnh xuống đời,
Ly Tao đâu để nối lời Quốc phong?
Hồn độc tỉnh ai lòng tưởng tới, Niềm cô trung biết gởi phương nao?
Đời nay chuộng lạ xiết bao, Đeo lan giắt ngọc nhưng nào giống xưa
(Quách Tấn dịch)
Phản chiêu hồn
Hồn hề ! hồn hề ! hồ bất qui ?
Đông tây nam bắc vô sở y
Thướng thiên há địa giai bất khả,
Yên Dĩnh thành trung lai hà vi?
Thành quách do thị, nhân dân phi,
Trần ai cổn cổn ô nhân y
Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,
Tọa đàm lập nghị giai Cao, Qùi
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,
Giảo tước nhân nhục cam như di !
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,
Chỉ hữu sấu tích vô sung phì
Hồn hề ! hồn hề ! suất thử đạo
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì,
Tảo liễm tinh thần phản Thái cực
Thận vật tái phản linh nhân si,
Hậu thế nhân nhân giai Thượng quan,
Đại địa xứ xứ giai Mịch La
Ngư long bất thực sài hổ thực,
Chống bài”Chiêu hồn”
Hồn hỡi hồn sao không về chứ?
Khắp phương trời không chỗ tựa nương Lên trời xuống đất hết đường,
Mà thành Yên Dĩnh chớ mường để chân Thành quách thế nhân dân khác hẵn, Bụi bay trong nhơ bẩn áo người
Vênh vang xe cộ lâu đài, Đứng ngồi bàn tán sánh vai Cao, Qùi Họ ngoài mặt không thò nanh vuốt, Cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon
Hồ Nam kia mấy trăm chòm,
Gầy còm xơ xác không còn thịt da ! Nếu hồn cứ thiết tha lối trước, Sau Tam Hoàng không được hợp thời Chi bằng sớm liệu chầu trời,
Chớ về đây nữa mà người quở quang Đời sau họ Thượng quan hết thảy, Khắp nơi nơi dòng chảy Mịch La
Cá không rỉa, hùm cũng tha, Hồn ơi ! hồn hỡi ! biết là làm sao?
Trang 22Hồn hề ! hồn hề ! nại hồn hà ! (Theo bản dịch cũ)
Biện Giả
Bất thiệp Hồ Nam đạo,
An tri Tương thủy thâm?
Bất độc Hoài sa phú
An thức Khuất Nguyên tâm?
Khuất Nguyên tâm, Tương giang thủy
Thiên thu vạn thu thanh kiến để
Cổ kim an đắc đồng tâm nhân,
Giả sinh nhất phú đồ vi nhĩ
Liệt nữ tòng lai bất nhị phu,
Hà đắc thê thê “tướng cửu châu”?
Vị tất cổ nhân tri hữu ngã,
Nhãn trung Tương thủy không du du !
Bác lại Giả Nghị
Không đi qua Hồ Nam, Làm sao biết được sông Tương sâu
Không đọc bài phú”Hoài sa”, Làm sao biết được lòng Khuất Nguyên Lòng Khuất Nguyên, nước sông Tương Nghìn năm vạn năm trong suốt đáy
Xưa nay kẻ đồng tâm được mấy người? Bài phú Giả Nghị cũng chỉ là vô ích
Liệt nữ xưa nay chỉ thờ một chồng, Sao phải tất tả đi khắp chín châu?
Vị tất người xưa đã biết có ta?
Trước mắt, sông Tương cứ lặng lẽ trôi
PHẦN ĐỌC THÊM
Truyện Khuất Nguyên
Khuất Nguyên tên là Bình, cùng họ với vua Sở, tả đồ của Sở Hoài vương Ông là người học rộng, chí hùng, am tường lẽ quốc gia trị loạn và rất giỏi về từ lệnh Ở chốn triều đình thì ông bàn tính việc nước với vua để ban hành các hiệu lệnh; ngoài chốn triều đình thì ông tiếp đãi tân khách và ứng đối với chư hầu Vua Sở rất tín nhiệm ông
Đồng hàng với ông có quan Thượng quan đại phu(tên là Cận Thượng) cũng muốn được vua yêu và ngấm ngầm ganh tị, có ý muốn làm giảm giá tài năng ông Hoài vương giao cho ông công việc dự thảo các điều luật; có lần bản thảo viết chưa xong hẳn thì Thượng quan đại phu trông thấy và muốn chiếm đoạt nhưng ông không chịu Vì chuyện đó mà Thượng quan đại phu gièm pha với vua Sở rằng:
-Bệ hạ sai Khuất Bình thảo hiến lệnh, điều đó chẳng ai là không biết Mỗi khi một sắc lệnh ban hành là Bình khoe công, bảo: “Không có ta thì không ai làm nổi”
Vua giận, xa dần và bãi chức Khuất Bình Khuất Bình đau lòng vì nỗi vua thiếu sáng suốt, bị lời gièm pha làm lú lấp để cho thói gian tà làm hại việc công và lời ngay thẳng không được dung nạp Cho nên ông sinh lo buồn, viết nên tập Ly Tao, nói lên niềm xót xa vì những việc bất như ý mà mình đã gặp phải
Trời là khởi thủy của loài người, cha mẹ là nguồn gốc của thân ta; con người gặp bước đường cùng thì nghĩ đến cội rễ, cho nên chả bao giờ khó nhọc, mệt mỏi đến cực độ mà không kêu trời; chả bao giờ đau đớn thảm thương mà người ta không kêu cha mẹ Khuất Bình thẳng bước theo con đường ngay, một dạ trung thành, dùng hết tài trí để thờ vua, thế mà vẫn bị người ta gièm pha ly gián, vận mệnh như vậy có thể nói là gặp hồi cùng Thành tín mà bị nghi ngờ, trung thực mà bị phỉ báng thì có thể nào không hờn oán được không? Khuất Bình viết tập Ly Tao, ý hẳn là oán hận đời mình không gặp được cơ hội tốt Thơ Quốc Phong là thơ hiếu sắc mà không dâm đãng, thơ Tiểu Nhã căm lời hủy báng mà không “nổi loạn” Đến như thơ Ly Tao thì có thể nói được rằng vừa có chất Quốc Phong vừa có chất Tiểu Nhã Thoạt đầu nói từ Đế Cốc, cuối cùng nói đến Tề Hoàn công, khoảng giữa thuật lại việc vua Thang
Trang 23vua Vũ, với dụng ý chê trách sự tình đang xảy ra lúc bấy giờ và thuyết minh chỗ cao rộng của đạo đức; duyên do trị loạn nhất nhất được trình bày một cách rốt ráo, có mạch lạc đầu đuôi, không mảy may thiếu sót; văn chương thật giản ước, lời lẽ thật tế nhị; chí khí ông cao khiết, phẩm hạnh ông thanh liêm Văn thể tuy thuộc loại tiểu phẩm, nhưng dụng ý cực kỳ lớn lao; những tỉ dụ đưa ra thì thiển cận thôi, nhưng ý nghĩa chưá đựng thì thật là sâu rộng Chí khí ông cao khiết, cho nên ông nói nhiều đến hoa thơm cỏ lạ, phẩm hạnh ông thanh liêm nên đến chết ông vẫn không hối tiếc; xô vào bùn nhơ, ông tự gột trở nên trong sạch, khác nào thân ve vấy bẩn, thoát xác khỏi vòng ô trọc, lâng lâng ngoài cõi trần ai, chẳng còn dính dấp với cái dơ dáy của cuộc đời, trắng ngần, trong giá, đúng là “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Xét từ chí hướng ông xét đi, vinh quang ông có thể giành phần sáng láng với ánh mặt trăng, mặt trời
Sau khi Khuất Bình bị bãi chức, nước Tần định đánh nước Tề Nước Tề vốn kết thân với nước Sở Tần Huệ vương thấy vậy lấy làm lo, sai Trương Nghi giả vờ phạm tội, sợ bị trừng phạt nên trốn khỏi nước Tần, đem nhiều lễ vật và của làm tin chạy sang xin thờ nước Sở, nói với vua Sở:
-Nước Tần chúng tôi rất giận nước Tề, nhưng nước Tề lại rất thân thiện với nước Sở của đại vương Nếu như nước Sở tuyệt giao với nước Tề thì nước Tần xin dâng đất Thương Ô rộng sáu trăm dặm
Sở Hoài vương tham đất và tin lời Trương Nghi, bèn tuyệt giao với Tề và sai sứ sang Tần nhận đất, Trương Nghi tráo trở nói:
-Nghi tôi nói với vua Sở là 6 dặm, chứ làm gì có chuyện 600 dặm bao giờ ! Sứ giả giận bỏ đi, về tâu lại với vua Sở Sở Hoài vương cả giận, cất đại quân đánh Tần Tần xuất quân ứng chiến, phá tan quân Sở ở Đan Chiết, chém tám vạn chiếc đầu, bắt sống tướng Sở là Khuất Cái và chiếm đất Hán Trung của Sở Hoài vương tức tốc dốc toàn quân kéo sâu vào đất Tần đánh nhau ở Lam Điền Hay tin, nước Ngụy liền đánh úp Sở, tiến tới đất Đặng; quân Sở sợ, phải rút từ đất Tần về Tề giận Sở tuyệt giao với mình nên bỏ mặc không cứu Sở nguy to Năm sau, Tần cắt đất Hán Trung cho Sở để giảng hòa Vua Sở nói:
-Không dám xin đất, chỉ xin được Trương Nghi là hả lòng
Nghe tin ấy, Trương Nghi tâu với vua Tần:
-Một Trương Nghi mà đổi được cả đất Hán Trung thì xin cho Nghi tôi sang Sở
Đến Sở, Trương Nghi lại đem nhiều lễ vật hối lộ Cận Thượng và bày mưu cậy sủng cơ của Hoài vương là Trịnh Tụ nói giúp Rốt cuộc Hoài vương nghe lời Trịnh Tụ mà thả Trương Nghi
Lúc đó Khuất Bình đã bị bãi chức, không còn tham dự triều chính và bị cử đi sứ Tề Ở Tề về, ông can Hoài vương:
-Sao không giết Trương Nghi đi?
Hoài vương hối, sai đuổi theo bắt Trương Nghi lại nhưng không kịp Sau đó, các hầu quốc hợp lực đánh Sở, cả phá quân Sở và giết chết tướng Sở là Đường Muội Bấy giờ Tần Chiêu vương đã kết thân làm rể Sở Chiêu vương mời Hoài vương sang Tần hội kiến Hoài vương muốn đi Khuất Nguyên nói:
-Tần là nước độc ác như hùm sói, không tin được, chi bằng không đi thì hơn Con nhỏ của Hoài vương là Tử Lan thì lại khuyên nên đi, bảo:
Trang 24-Sao lại làm cho vua Tần không vui?
Rốt cuộc, Hoài vương đi Hoài vương vào Vũ Quan, Tần cho quân mai phục chặn hậu, giữ lại không cho về, để buộc Sở phải cắt đất cho Tần Hoài vương nổi giận, không chịu, lẻn trốn sang nước Triệu Triệu không cho ở, Hoài vương lại phải quay về Tần và sau chết ở đấy, thây được đưa về chôn trên đất Sở
Con trưởng của Hoài vương là Khoảnh Tương vương lên ngôi Khoảnh Tương vương cho em ruột là Tử Lan làm lệnh doãn Dân Sở qui cho Tử Lan cái tội đã khuyên Hoài vương sang Tần để rồi đến nỗi một đi không trở về
Khuất Bình tuy giận Hoài vương, song khi bị phóng trục, lòng lẫn nhớ nước Sở và luôn luôn nghĩ đến Hoài vương, lúc nào cũng muốn trở về, những mong một ngày nào đó, vua sẽ tỉnh ngộ, thói đời sẽ đổi thay Tấc lòng muốn cho vua hiền, nước khá, tấc lòng ấy khắc khoải không thôi, cho nên trong một thiên sách, ba lần ông nhắc nhở tới Nhưng chung quy vẫn không tìm được cách thế, thành ra vẫn không thể trở về, đủ hiểu thủy chung Hoài vương vẫn không tỉnh ngộ Phàm là vua, bất luận là trí hay ngu, hiền đức hay không hiền đức, có ai lại chẳng muốn tìm cho được bầy tôi trung để bảo vệ mình, cất nhắc người hiền tài để giúp đỡ mình Vậy mà những ông vua làm cho quốc phá gia vong cứ kế tiếp nhau hết ông này đến ông khác, còn các đấng thánh quân đưa được quốc gia đến chỗ thịnh trị thì hằng bao nhiêu đời không gặp Lý do chỉ là vì người vua cho là trung, thật ra lại chẳng trung; người vua cho là hiền, thật ra lại chẳng hiền Cũng vì không biết phân biệt thế nào là bầy tôi trung, cho nên Hoài vương bên trong bị Trịnh Tụ mê hoặc, bên ngoài bị Trương Nghi lừa dối, ruồng bỏ Khuất Bình mà tin dùng Thương quan đại phu và lệnh doãn Tử Lan, để đến nỗi thua trận, hao đất, mất sáu quận, chính mình bỏ xác ở đất Tần, làm trò cười cho thiên hạ Ấy cái họa không biết dùng người là như thế đấy Kinh Dịch nói :
“Giếng bẩn chẳng uống, lòng ta lo âu Có thể múc nước(đổ đi cho sạch) Vua mà sáng suốt(hiểu rõ lẽ ấy), toàn dân được nhờ” Vua đã chẳng sáng suốt, thì còn mong chờ nỗi gì?
Về sau, hay tin Khuất Bình không bằng lòng mình, lệnh doãn Tử Lan nổi giận, xui Thượng quan đại phu nói xấu Khuất Bình với Khoảnh Tương vương Khoảnh Tương vương giận, đày Khuất Bình đi xa Khuất Nguyên đi tới bên sông, xỏa tóc, ngâm thơ, lang thang dọc theo các đầm nước, mặt mày tiều tụy, hình dung khô đét Một lão đánh cá gặp ông, hỏi:
-Ông không phải là quan Tam Lư đại phu đấy ư ? Cớ sao lại đến chốn này? Khuất Nguyên nói:
-Đời đục, mình ta trong; đời say, mình ta tỉnh, cho nên ta bị ruồng bỏ
Lão chài nói:
-Đã là bậc thánh nhân thì chẳng chịu để cho ngoại vật cản ngăn, ràng buộc mà có thể cùng thời thế đổi thay Đời đục ư ? sao ta chẳng theo dòng mà khuấy sóng? Đời say ư ? sao ta chẳng húp rượu nhạt và nuốt hèm? Can chi mà khư khư giắt viên ngọc cận, nắm viên ngọc du để cho người đời ruồng bỏ
Khuất Nguyên nói:
-Tôi nghe nói: mới gội đầu thì ắt phải sửa lại mũ cho ngay ngắn; mới tắm rửa thì ắt phải xốc lại áo cho chỉnh tề Phàm là người, có ai lại chịu để cho tấm thân trong sạch vấy bẩn giây nhơ ? Chẳng thà nhảy quách xuống sông mà gởi mình nơi
Trang 25bụng cá cho rồi, chứ sao lại đành tâm để cho tấm thân trắng phau phau kia bị đời làm lem luốc?
Ông bèn làm bài phú “Hoài sa”, lời văn có đoạn như trên Rồi ông ôm một tảng đá, nhảy xuống sông Mịch La mà tự trầm
Sau khi Khuất Nguyên mất, thì có bọn Tống Ngọc, Đường Lặc và Cảnh Sai đều là những người giỏi từ chương và nổi tiếng về tài làm phú, nhưng vẫn là rập theo khuôn mẫu của Khuất Nguyên Tuy nhiên, không có một người nào còn dám thẳng lời can gián nữa Từ đó trở đi, nước Sở mất dần đất, và rốt cuộc mấy chục năm sau,
bị nước Tần kiêm tính
Khuất Nguyên nhảy xuống sông Mịch La được hơn một trăm năm thì, dưới triều Hán, có Giả sinh làm Thái phó Trường Sa, khi đi ngang qua Tương Thủy, có ném xuống sông một bài văn điếu Khuất Nguyên
Thái sử công nói:
Tôi đọc tập Ly Tao, đến mấy thiên Thiên vấn, Chiêu hồn, Ai Dĩnh…, thương cho chí hướng Khuất Nguyên; trên đường đi Trường Sa, nhìn chỗ ông trầm mình, lần nào cũng nhỏ lệ, tưởng tượng hình bóng ông Đến khi đọc bài điếu văn của Giả sinh, tôi lại rất lấy làm lạ rằng Khuất Nguyên tài năng như thế mà sao khi ông chu du các nước, lại không một nước nào dùng ông, để đến nỗi thân lâm cảnh ấy ! Đọc xong bài phú “Phục điểu”, trong đó tử sinh được đồng nhất, khứ tựu được xem khinh, ta lại sửng sốt như vừa bừng tỉnh vậy
(Giản Chi Nguyễn Hữu Văn dịch)
Trang 27TIẾT 3 : TẢN VĂN THỜI TIÊN TẦN
Văn học Trung Quốc thời tiên Tần, ngoài hai thành tựu lớn Kinh Thi và Sở
từ, tản văn triết học và tản văn lịch sử thời này cũng đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, nhất là những mẫu truyện ngụ ngôn Tác giả của bộ phận văn học này là bách gia chư tử, sống vào thời Xuân thu - Chiến quốc
Theo Hán thư của Ban Cố, bách gia chư tử gồm 104 người với 189 trước tác Trong số này có rất nhiều tác phẩm bị thất lạc một phần hoặc bị thất lạc hoàn toàn hoặc là ngụy tác của người đời sau
Bách gia chư tử được chia làm 9 nhà (trừ tiểu thuyết gia) gọi là cửu lưu:
Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Aâm dương gia, Pháp gia, Tung hoành gia, Nông gia và Tạp gia
Sau đây là một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu:
1.3.1.- TẢN VĂN TRIẾT HỌC và LUẬN THUYẾT:
1.3.1.1-NHO GIA:
-Khổng Tử(551-479 trước Tây lịch):
Húy là Khâu, tự là Trọng Ni, người ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ(nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông)
Năm 532 trước CN, làm chức ủy lại trông coi kho thóc rồi làm chức tư chức lại coi việc chăn nuôi ở nước Lỗ
Sau hơn 30 năm xuất chính, có lúc giữ đến chức vụ quyền tể tướng khiến Lỗ hùng cường thịnh trị Rồi Lỗ Định công lầm kế ly gián của Tề, say mê nữ nhạc, trể nãi triều chính nên ông từ chức
Năm 496 trước CN, Khổng tử rời nước Lỗ, chu du liệt quốc nhưng cũng không được chư hầu trọng dụng
Năm 484 trước CN Khổng tử trở về Lỗ, chuyên tâm vào việc trước thuật: san định kinh Thi, Thư; hiệu đính kinh Lễ, Nhạc; viết lời giải thích kinh Dịch và biên soạn kinh Xuân Thu
Khổng tử mất vào tháng 4, năm thứ 16 đời Lỗ Ai Công, thọ 73 tuổi
Những tác phẩm do Khổng Tử san định, biên soạn hoặc do các môn đệ của ngài biên soạn hay ghi chép lại phần lớn thuộc vào loại tản văn triết học như Kinh Dịch, Kinh Lễ, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử…còn Kinh Thư, Kinh Xuân Thu thuộc tản văn lịch sử
Hà chính mãnh ư hổ
Khổng tử qúa Thái sơn trắc, hữu phụ nhân khốc ư mộ giả nhi ai Phu tử thức thính chi, sử Tử Lộ vấn chi viết: “Tử chi khốc dã, nhất tự trùng hữu ai giả?” Nãi viết: “Nhiên Tích giả ngô cữu tử ư hổ, ngô phu hựu tử yên, kim ngô tử hựu tử yên” Phu tử viết: “Hà vi bất khứ dã?” Viết: “Vô hà chính” Phu tử viết: “Tiểu tử chí chi Hà chính mãnh ư hổ dã”
Chính sách hà khắc tàn bạo hơn cọp
Khổng Tử đi qua bên núi Thái Sơn Có một người đàn bà khóc bên mộ rất thảm thương Phu tử cúi đầu xuống tấm gỗ bên xe mà nghe, sai Tử Lộ hỏi rằng:
“Tiếng khóc của bà dường như có nhiều nỗi đau buồn?” Người đàn bà liền trả lời rằng: “Đúng thế Ngày trước cha chồng tôi chết vì cọp, chồng tôi cũng chết vì cọp, nay con tôi lại chết vì cọp” Phu tử nói rằng: “Tại sao bà không bỏ đi?” Người đàn bà đáp: “Vì không có chính sách hà khắc” Phu tử nói rằng: “Các trò ghi nhớ lấy điều đó.Chính sách hà khắc tàn bạo hơn cọp”
Trang 28(Trần Trọng San dịch)
-Mạnh Tử(372-239 trước Tây lịch):
Húy là Kha, vốn dòng dõi hoàng tộc Mạnh Tôn thị nước Lỗ, sau dời sang nước Trâu(nay là huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông) Cha mất sớm, mọi việc nuôi dạy đều nhờ mẹ là Mạnh mẫu, nổi tiếng là mẹ hiền biết giáo dục con cái thành nhân
Có công nối chí Khổng tử, hoằng dương Nho giáo, được tôn xưng là Á thánh Nổi tiếng với
thuyết tính thiện Có tư tưởng đi trước thời đại: “Dân vi qúy, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
Giỏi tài biện thuyết, có tài văn chương, trước tác sách Mạnh tử, gồm 7 thiên (Lương Huệ vương, Đằng Văn công, Ly Lâu, Vạn Chương, Cáo tử, Tận tâm –mỗi thiên lại chia làm 2 phần
thượng và hạ), được đánh giá là tác phẩm có giá trị nghệ thuật nhất của kinh điển Nho gia
1.Yển miêu trợ trưởng
Tống nhân hữu mẫn kỳ miêu chi bất trưởng nhi yển chi giả, mang mang nhiên qui, vị kỳ nhân viết:”Kim nhật bệnh hỹ; dư trợ miêu trưởng hỹ” Kỳ tử xu nhi vãng thị chi, miêu tắc cảo hỹ
Nhớm gốc cho lúa chóng lớn
Nước Tống có người lo cho lúa không lớn nên nhổ lên, mệt nhọc trở về nhà, bảo vợ rằng: “Hôm nay mệt qúa, ta giúp cho lúa chóng lớn” Đứa con trai chạy ra xem thì lúa đã héo hết rồi
(Nguyễn Thanh Châu dịch)
2.Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp
Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp nhi xử thất giả
Kỳ lương nhân xuất tắc tất ứ tửu nhục nhi hậu phản Kỳ thê vấn sở dữ ẩm thực giả, tắc tận phú qúy dã
Kỳ thê cáo kỳ thiếp viết: “Lương nhân xuất, tắc tất ứ tửu nhục nhi hậu phản, vấn kỳ ẩm thực giả, tận phú qúy dã, nhi vị thường hữu hiển giả lai Ngô tương hám lương nhân chi sở chi dã”
Tảo khởi thí tòng lương nhân chi sở chi, biến quốc trung vô dữ lập đàm giả Tốt chi đông quách bàn gian chi tế giả, khất kỳ dư; bất túc hựu cố nhi chi tha Thử kỳ vi ứ túc chi đạo dã
Kỳ thê qui, cáo kỳ thiếp viết: “Lương nhân giả, sở ngưỡng vọng chi chung thân giả dã; kim nhược thử” Dữ kỳ thiếp sán kỳ lương nhân nhi tương khấp vu trung đình, nhi lương nhân vị chi tri dã, thi thi tòng ngoại lai, kiêu kỳ thê thiếp
Do quân tử quan chi, tắc nhân chi sở dĩ cầu phú qúy lợi đạt giả, kỳ thê thiếp bất tu dã, nhi bất lương khấp giả, cơ hi hỹ
Vợ cả vợ lẽ người nước Tề
Người nước Tề có hai vợ, một cả một lẽ, cùng ở với nhau một nhà Người chồng ngày nào cũng ra đi, no say rồi mới về Người vợ cả hỏi chồøng ăn uống với ai thì đáp là đi ăn toàn với bậc giàu sang
Vợ cả bảo với vợ lẽ: “Chồng chúng ta ra đi thì no say rồi mới về, hỏi ăn uống với những ai thì đáp là toàn với bậc giàu sang mà chưa từng thấy một người giàu sang nào đến chơi nhà Tôi muốn rình xem chàng đi đâu”
Hôm sau dậy sớm, vợ cả lẻn theo chồng, đi khắp nơi chẳng thấy ai đứng trò chuyện với chồng mình Sau cùng thấy người chồng đến phía đông ngoài thành, nơi
Trang 29có đám tế lễ cất mả, xin ăn cơm thừa canh cặn; chưa no lại nghễnh cổ đi tìm chỗ khác Sở dĩ chàng no say là nhờ cách ấy
Người vợ cả về bảo với vợ lẽ: “Chồng chúng ta là người cho chị em mình trông cậy suốt đời, mà nay như vậy đó !” Vợ cả kể xấu chồng với vợ lẽ rồi cả hai ôm nhau khóc trong sân giữa; người chồng không biết, hớn hở từ ngoài về, lại lên mặt kiêu với vợ nữa
Cứ như bậc quân tử mà xem xét thì con người ta sở dĩ mong cầu lợi lộc giàu sang mà vợ con không xấu hổ, không ôm nhau khóc lóc thì hầu như hiếm có lắm thay
(Nguyễn Hiến Lê dịch)
-Tuân Tử (315-236 trước Tây lịch):
Tên là Huống, tự là Khanh, người nước Triệu, sống ở thế kỷ thứ 3 trước CN, vốn theo đạo Khổng, có tinh thần khoa học, lập luận chắc chắn, tư tưởng có khác Mạnh Tử Oâng cho tính người vốn ác, nếu nó được thiện là nhờ sự dạy dỗ, nên ông khuyên chúng ta tích thiện và dùng lễ nhạc để tiết chế tình dục Oâng không cần biết có trời hay không, chủ trương lấy nhân sự làm gốc, lại có óc bài xích dị đoan, khuyên người ta đừng sợ sệt cúng lạy trời đất mà cứ làm hết bổn phận là sẽ được hưởng phúc
Về trước thuật có sách Tuân tử gồm 32 thiên và một số bài phú.Văn ông giản dị, mở đường
cho lối nghị luận có chứng cứ sau này
Tinh trụy, mộc minh, quốc nhân giai củng, viết: “Thị hà dã?” Viết: “Vô hà dã Thiên địa chi biến, âm dương chi hóa, vật chi hãn chí giả dã; quái chi khả dã nhi úy chi phi dã”
Phù, nhật nguyệt chi hữu thực, phong vũ chi bất thời, quái tinh chi đảng hiện, thị vô thế nhi bất thường hữu chi Thượng minh nhi chính bình, tắc thị tuy tịnh thế khởi, vô thương dã Thượng ám nhi chính hiểm, tắc thị tuy vô nhất chí giả, vô ích dã
Phù tinh chi trụy, mộc chi minh, thị thiên địa chi biến, âm dương chi hóa, vật chi hãn chí giả dã, quái chi khả dã, nhi úy chi phi dã Vật chi dĩ chí dã, nhân yêu tắc khả úy dã Khô canh thương giá, vân nậu thất tuế, chính hiểm thất dân, điền uế giá ác, địch qúy dân cơ, đạo lộ hữu tử nhân, phù thị chi vị nhân yêu Chính lệnh bất minh, cử thế bất thố, bản sự bất lý, phù thị chi vị nhân yêu Lễ nghĩa bất tu, nội ngoại vô biệt, nam nữ dâm loạn, thị phụ tử tương nghi, nam nữ quai ly, khấu nạn tịnh chí, phù thị chi vị nhân yêu Yêu thị sinh ư loạn Tam giả thác, vô an quốc Kỳ thuyết thâm nhĩ, kỳ tai thậm thảm
Truyện viết: “Vạn vật chi quái, thư bất thuyết” Vô dụng chi biện, bất cấp chi sát, khí nhi bất trị Nhược phù quân thần chi nghĩa, phụ tử chi thân, phu phụ chi biệt, tắc nhật thiết tha nhi bất xả dã
Khi thấy sao sa, cây kêu, người trong nước ai cũng sợ, hỏi: “Thế là làm sao?” Đáp: “Không sao cả Những cái đó là cái biến hóa của trời đất, âm dương, là sự ít xảy ra của vạn vật; cho là quái lạ thì nên, mà lo sợ thì không nên”
Mặt trời mặt trăng có khi ăn lẫn nhau, mưa gió có khi không hợp thời, những ngôi sao lạ có khi hiện từng chùm, những cái đó không thời nào không thấy Người
Trang 30trên sáng suốt mà chính trị phải lẽ thì dù tất cả những cái quái lạ đều xuất hiện thì cũng không sao Người trên mờ ám mà chính trị hiểm ác, thì dù không có quái lạ nào xuất hiện cũng không hay gì
Sao sa, cây kêu, đó là cái biến hóa của trời đất, âm dương, là sự ít xảy ra của vạn vật, cho là quái lạ thì nên mà lo sợ thì không nên Những cái đó xảy ra rồi mà loài người lại có những việc quái gở thì mới đáng lo sợ Đất khô cày không được, hại cho việc cấy cày lỡ mùa; chính trị hiểm ác mất lòng dân, ruộng đầy cỏ, lúa không tốt, gạo đắt, dân đói, trên đường có thây người, đó là những quái gở của loài người Chính lệnh không rõ ràng, làm việc không hợp lúc, việc mình không lo, đó là những quái gở của người Lễ nghĩa không sửa, trong ngoài không phân biệt, trai gái dâm loạn thì cha con nghi nhau, vợ chồng xa lìa nhau, giặc cướp nổi lên, đó là những quái gở của người Quái gở do loạn mà sinh Ba việc cấy cày, chính lệnh, lễ nghĩa mà lầm lỡ thì nước không yên Những cái đó là việc rất gần mà hại rất sâu
Kinh truyện nói: “Những cái quái lạ của vạn vật, sách không chép” Bàn tới vô ích, không phải việc gấp mà xét tới, bỏ đi đừng nói Còn như nghĩa vua tôi, tình cha con, đạo vợ chồng là những điều cần thiết mỗi ngày không bỏ được
(Nguyễn Hiến Lê dịch)
1.3.1.2-ĐẠO GIA:
-Trang Tử(369-298 trước Tây lịch):
Nhân vật thứ 3 của phái Đạo gia, sau Dương Chu vàLão tử
Trang tử Húy là Chu, người đất Mông, nước Tống, từng làm chức lại tại Tất Viên Sở Uy vương nghe tiếng, mời ra làm quan, nhưng ông từ chối
Về trước tác, ông đứng đầu bách gia chư tử thời Xuân thu - Chiến quốc với Nam hoa kinh còn gọi là Trang Tử, một trong 6 tác phẩm cổ điển kiệt xuất được Kim Thánh Thán tôn xưng là lục
tài tử
Nam hoa kinh gồm 33 thiên: 7 nội thiên, 15 ngoại thiên và 11 tạp thiên Ngoại thiên và tạp
thiên có nhiều chỗ pha tạp, mâu thuẫn nhau, có lẽ do người đời sau viết Nội thiên nhất quán về nội
dung tư tưởng, thuần nhất về phong cách nghệ thuật nhất là các thiên Tiêu dao du, Tề vật luận,
Dưỡng sinh chủ , chắc là của chính Trang Chu
Nam hoa kinh là tác phẩm triết học mang nhiều giá trị văn học Lời văn trau chuốt bóng
bẩy, sức tưởng tượng dồi dào phong phú, ưa dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật ngụ ngôn, trùng ngôn
và chi ngôn, xứng danh là một kiệt tác
1.Hồ điệp chi mộng
Tích giả, Trang Chu mộng vi hồ điệp, hủ hủ nhiên hồ điệp dã, tự dụ thích chí dữ bất tri Chu dã Nga nhiên giác, tắc cừ cừ nhiên Chu dã Bất tri Chu chi mộng
vi hồ điệp dư? Hồ điệp chi mộng vi Chu dư? Chu dữ hồ điệp, tắc tất hữu phận hỹ Thử chi vị vật hóa
Giấc mộng hồ điệp
Xưa Trang Chu chiêm bao thấy mình là bướm, hớn hở vui phận làm bướm, tự thấy thích chí không còn biết có Trang Chu nữa Chợt tỉnh giấc, lại nhơn nhơn tự đắc mình là Trang Chu Không biết Trang Chu chiêm bao là bướm? Hay bướm chiêm bao là Trang Chu? Trang Chu và bướm ắt phải có danh phận khác nhau Đó gọi là vật hóa
(Nguyễn Thanh Châu dịch)
2.Sinh tử
Trang 31Lệ chi Cơ, ngãi phong nhân chi tử dã Tấn quốc chi thủy đắc chi dã, thế khấp triêm cân Cập kỳ chí ư vương sở, dữ vương đồng khuông sàng, thực sô hoạn, nhi hậu hối kỳ khấp dã Dư ô hồ tri phù tử giả bất hối kỳ thủy chi ký sinh hồ?
Lẽ sống chết
Lệ Cơ là một thiếu nữ xinh đẹp có tài thơ văn Lúc vua Tấn mới thu nạp, nàng khóc nước mắt ướt đẫm áo khăn Kịp khi đến hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm mùi phú qúy, lại hối hận giọt lệ ngày trước Ta biết đâu kẻ chết lại không hối hận vì mình trước đây đã mong được sống lâu?
(Nguyễn Thanh Châu dịch)
3.An tri ngư lạc
Trang tử dữ Huệ tử du ư hào lương chi thượng Trang tử viết: “ Du ngư xuất
du thung dung, thị ngư lạc dã.” Huệ tử viết: “Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?” Trang tử viết: “Tử phi ngã, an tri ngã bất tri ngư chi lạc?” Huệ tử viết: “Ngã phi tử, cố bất tri tử hỹ Tử cố phi ngư dã, tử chi bất tri ngư chi lạc toàn hỹ.” Trang tử viết: “Thỉnh tuần kỳ bản Tử viết: nhữ an tri ngư lạc vân giả, ký dĩ tri ngô tri chi nhi vấn ngã Ngã tri chi hào thượng dã.”
Sao biết niềm vui của cá?
Trang tử cùng Huệ tử dạo chơi trên cầu hào Trang tử nói: “Cá du thong thả
ra chơi, đó là niềm vui của cá.” Huệ tử nói: “Bác không phải là cá, thì làm sao biết niềm vui của cá?” Trang tử nói: “(Vậy thì) bác không phải là tôi, làm sao biết rằng tôi không biết niềm vui của cá?” Huệ tử nói: “Tôi không phải là bác, thì đành là không biết bác Bác vốn không phải là cá, thì bác hẳn là không biết niềm vui của cá.” Trang tử nói: “Xin trở lại từ gốc Bác nói: bác sao biết niềm vui của cá, thế là đã biết rằng tôi biết, nên hỏi tôi Còn tôi, tôi biết niềm vui đó trên hào này.”
(Trần Trọng San dịch)
4.Xư thụ
Huệ tử vị Trang tử viết: “Ngô hữu đại thụ, nhân vị chi xư Kỳ đại bản ủng thũng nhi bất trúng thằng mặc Kỳ tiểu chi quyển khúc nhi bất trúng quy củ Lập chi đồ, tượng giả bất cố Kim tử chi ngôn đại nhi vô dụng, chúng sở đồng khử dã”
Trang tử viết: “Tử độc bất kiến ly tinh hồ? Ti thân nhi phục, dĩ sĩ ngao giả, đông tây khiêu lương, bất tị cao hạ, trúng ư cơ tịch, tử ư võng cổ Kim phù ly ngưu, kỳ đại nhược thiên thùy chi vân; thử năng vi đại hỹ, nhi bất năng chấp thử Kim tử hữu đại thụ, hoạn kỳ vô dụng, hà bất thụ chi ư vô hà hữu chi hương, quảng mạc chi dã, bàng hoàng hồ vô vi kỳ trắc, tiêu dao hồ tẩm ngọa kỳ hạ, bất yểu cân phu, vật vô hại giả Vô sở khả dụng, an sở khốn khổ tai !”
Cây Xư
Huệ Tử nói với Trang Tử rằng: “Tôi có một cây to, người ta gọi nó là cây xư Gốc to lớn của nó xù xì lồi lõm không đúng giây mực Cành nhỏ bé của nó cong queo không đúng khuôn mẫu Đem trồng nó nơi đường đi, người thợ mộc chẳng ngoảnh cổ đoái nhìn Nay lời ông nói thì to tát lớn lao mà vô dụng, nên người người đều bỏ ngoài tai”
Trang Tử nói: “Oâng riêng chẳng thấy con hồ ly tinh đó sao? Nó co mình đứng núp để rình vật đi rong, nhảy đông nhảy tây, chẳng nề cao thấp, rồi giẫm vào hầm
Trang 32bẫy, chết trong lưới rập Nay như con trâu rừng kia, to lớn như đám mây rủ ngang trời, con vật đó hẵn thực là to nhưng chẳng bắt được chuột Nay ông có cây lớn lại lo nó vô dụng, sao không trồng nó vào nơi không có làng mạc thôn xóm, giữa chốn đồng không mông quạnh để rồi nhởn nhơ ngồi bên cạnh mà chẳng làm gì, thảnh thơi nằm khểnh dưới gốc cây Nó sẽ không chết yểu vì rìu búa, cũng không sợ vật gì làm hại Nó vốn là vật không có chỗ để dùng thì sao lại bị nguy khốn được?”
(Nguyễn Thanh Châu dịch)
5.Tiêu diêu du
Bắc minh hữu ngư, kỳ danh vi côn Côn chi đại, bất tri kỳ kỷ thiên lý dã; hóa nhi vi điểu, kỳ danh vi bằng, bằng chi bối, bất tri kỳ kỷ thiên lý dã Nộ nhi phi, kỳ dực nhược thùy thiên chi vân Thị điểu dã, hải vận tắc tương tỉ ư Nam minh Nam minh dã, thiên trì dã
Tề hài giả, chí quái giả dã Hài chi ngôn viết: Bằng chi tỉ ư nam minh dã, thủy kích tam thiên lý, đoàn phù dao nhi thượng giả cửu vạn lý, khứ dĩ lục nguyệt tức giả dã
Dã mã dã, trần ai dã, sinh vật chi dĩ tức tương xuy dã
Tiêu diêu dạo chơi
Biển bắc có loại cá tên là côn Cá côn lớn không biết mấy ngàn dặm; hóa thành chim, gọi là chim bằng; lưng chim bằng lớn không biết mấy ngàn dặm Chim bằng giận mà bay thì cánh nó như đám mây trên trời rủ xuống Con chim đó, khi biển Bắc động, dời xuống biển Nam Biển Nam là giếng của trời vậy Sách Tề hài là sách chép truyện quái dị Sách ấy nói rằng chim bằng dời xuống biển Nam; đập nước
3000 dặm, đụng gió mà bay lên 9 vạn dặm, bay một mạch 6 tháng mới nghỉ
Nó bay như vậy mà có phải gắng sức không? Không, vẫn thảnh thơi, tiêu diêu như con ngựa ngoài đồng, hạt bụi trong không, vì hết thảy đều do hơi của tạo vật thổi mà bay chạy được
(Nguyễn Hiến Lê dịch)
6.Đông Thi hiệu tần
Tây Thi bệnh tâm nhi tần kỳ lý Kỳ lý chi xú nhân kiến nhi mỹ chi, qui diệc phủng tâm nhi tần kỳ lý Kỳ lý chi phú nhân kiến chi, kiên bế môn nhi bất xuất, bần nhân kiến chi khiết thê tử nhi khứ chi tẩu Bỉ tri tần mỹ, nhi bất tri tần chi sở dĩ mỹ
Đông Thi bắt chước chau mày
Tây Thi mắc chứng đau bụng nên chau mày Người con gái xấu xí ở xóm bên thấy đẹp, về nhà cũng ôm bụng chau mày Trong xóm, người giàu trông thấy thì đóng chặt cửa không ra khỏi nhà, người nghèo thì dắt díu vợ con bỏ chạy Cô ấy biết chau mày là đẹp mà không biết như thế nào chau mày mới đẹp
(Nguyễn Thanh Châu dịch)
7.Dưỡng đấu kê chi thuật
Kỷ Sảnh tử vị vương dưỡng đấu kê Thập nhật nhi vấn kê dĩ hồ? Viết: “Vị dã, phương hư kiêu nhi thị khí” Thập nhật hựu vấn Viết: “Vị dã, do ứng hưởng cảnh” Thập nhật hựu vấn Viết: “Vị dã, do tật thị nhi thịnh khí” Thập nhật hựu vấn Viết: “Cơ hĩ, kê tuy hữu minh giả, dĩ vô biến hĩ; vọng chi tự mộc kê hĩ, kỳ đức toàn hĩ, dị kê vô cảm ứng giả, phản tẩu hĩ”
Trang 33Thuật nuôi gà chọi
Kỷ Sảnh nuôi gà chọi cho vua Được 10 hôm, vua hỏi gà đem chọi được chưa? Đáp: “Chưa, còn kiêu mà hung hăng” Mười hôm sau lại hỏi Đáp: “Chưa được Gà thấy tiếng, bóng gà khác đã muốn chọi rồi, vẫn còn hăng” Mười ngày sau lại hỏi Đáp: “Chưa được, gà còn thịnh khí, trông gà khác còn ghét” Mười ngày sau lại hỏi Đáp: “Gần được Gà khác gáy, gà mình không biến động; coi thì tựa như gà gỗ mà thực đủ các tài, gà khác không dám chọi với nó, phải lùi chạy”
(Nguyễn Hiến Lê dịch)
8 Trang Chu thải túc
Trang Chu gia bần, cố vãng thải túc ư Giám Hà hầu Giám Hà hầu viết: “ Nặc Ngã tương đắc ấp kim, tương thải tử tam bách kim, khả hồ?”
Trang Chu phẫn nhiên tác sắc viết: “ Chu tạc lai, hữu trung đạo nhi hô giả Chu cố thị xa triệt trung, hữu phụ ngư yên Chu vấn chi viết: “Phụ ngư lai ! Tử hà vi giả da?” Đối viết: “ Ngã, Đông Hải chi ba thần dã Quân khởi hữu thăng đẩu chi thủy nhi hoạt ngã tai?” Chu viết: “ Nặc Ngã thả nam du Ngô Việt chi vương, kích Tây giang chi thủy nhi nghinh tử, khả hồ?” Phụ ngư phẫn nhiên tác sắc viết: “ Ngã thất ngã thường dữ, ngã vô sở xứ Ngô đắc thăng đẩu chi thủy nhiên hoạt nhĩ Quân nãi ngôn thử, tằng bất như tảo sách ngã ư khô ngư chi tứ !”
Trang Chu vay lúa
Trang Chu nhà nghèo nên đến Giám Hà hầu vay lúa Giám Hà hầu trả lời:
“Được Ta sắp có tiền thuế đất thực ấp, sẽ cho ông vay 300 tiền vàng, được không?” Trang Chu giận, đổi sắc mặt nói: “Hôm qua Chu tôi đến đây, trên đường
đi nghe tiếng kêu cứu, ngoảnh lại nhìn thấy trong vết bánh xe có con cá chép Chu tôi hỏi rằng: “ Kìa con cá chép kia ! Ngươi làm gì lại ở đấy?” Nó đáp rằng: “Tôi là thần sóng biển Đông Hải, ngài có thể giúp một vốc nước cho tôi được sống chăng?” Chu tôi đáp rằng: “Được Ta sắp xuống phương Nam đi du thuyết các vua Ngô, vua Việt; lúc về ta sẽ đem nước sông Tây giang đón ngươi, được không?” Cá giếc nổi giận, đổi sắc mặt, nói rằng: “ Tôi mất chỗ vũng nước vẫn thường sống nên mới không có chốn yên thân, tôi chỉ cần một vốc nước là có thể cứu mạng mà ngài lại nói thế, chẳng khác nào sẽ sớm tìm gặp tôi ở chợ cá khô”
(Nguyễn Thanh Châu dịch)
9 Luân Biển luận độc thư
Hoàn Công độc thư ư đường thượng Luân Biển trác luân ư đường hạ Thích chùy tạc nhi thướng, vấn Hoàn công viết: “ Cảm vấn, công chi sở độc giả, hà ngôn dã?” Công viết: “Thánh nhân chi ngôn dã” Viết: “ Thánh nhân tại hồ?” Công viết: “Dĩ tử hỹ” Viết: “Nhiên tắc quân chi sở độc giả, cổ nhân chi tao phách dĩ phù
!” Hoàn Công viết: “Qủa nhân độc thư, luân nhân an đắc nghị hồ? Hữu thuyết tắc khả, vô thuyết tắc tử”
Luân Biển viết: “ Thần dã dĩ thần chi sự quan chi Trác luân, từ tắc cam nhi bất cố, tật tắc khổ nhi bất nhập, bất từ bất tật, đắc chi ư thủ nhi ứng chi ư tâm, khẩu bất năng ngôn, hữu số tồn yên ư kỳ gian Thần bất năng dĩ dụ thần chi tử, thần chi tử diệc bất năng thụ chi ư thần, thị dĩ hành niên thất thập nhi lão trác luân Cổ chi nhân dữ kỳ bất khả truyền dã tử hỹ, nhiên tắc quân chi sở độc giả, cổ chi nhân tao phách dĩ phù !”